Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập tại Kho bạc Nhà nước huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
Chi NSNN những năm qua, ngoài việc đảm bảo hoạt động có hiệu quả của bộ máy nhà nước, phát triển kinh tế – xã hội, ổn định đời sống Nhân dân, còn tạo tiền đề, những cơ sở vật chất quan trọng góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tác động tích cực vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Bên cạnh những kết quả đạt được cũng còn bộc lộ những hạn chế, tồn tại, vướng mắc.
Công tác kiểm soát chi NSNN đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi đã có những chuyển biến tích cực, tạo tiền đề cho NSNN được sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả. Tuy nhiên trong công tác kiểm soát chi NSNN đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn huyện do KBNN Ba Tơ thực hiện cũng còn những bất cập, hạn chế.
Từ tình hình trên, tác giả chọn đề tài: “Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập tại Kho bạc Nhà nước huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
– Hệ thống hóa lý luận về kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập tại KBNN.
– Đánh giá thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tại KBNN huyện Ba Tơ trong những năm qua đồng thời đưa ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết.
– Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường kiểm soát chi thường xuyên NSNN đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tại KBNN huyện Ba Tơ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
– Ðối tuợng nghiên cứu của đề tài là công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tại KBNN.
– Phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN đối với đơn vị sự nghiệp công lập tại KBNN huyện Ba Tơ từ năm 2012 đến năm 2017.
Đề tài sử dụng các phương pháp cụ thể sau: phương pháp tổng hợp – phân tích, phương pháp phỏng vấn, quan sát, phương pháp thống kê và suy luận….
5. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Về lý luận và thực tiễn, các tác giả đã nêu lên những vấn đề quan trọng liên quan đến công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nướ. Tuy nhiên, tại Kho bạc Nhà nước huyện Ba Tơ hiện tại chưa có công trình nghiên cứu về kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn huyện. Mặt khác, công tác đổi mới ở kho bạc nhà nước trong quản lý chi NSNN trong giai đoạn hiện nay đang được chú trọng nên việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết.
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tại KBNN.
Chương 2: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên NSNN đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tại KBNN huyện Ba Tơ.
Chương 3: Các giải pháp tăng cường kiểm soát chi thường xuyên NSNN đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tại KBNN huyện Ba Tơ.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ
NGHIỆP CÔNG LẬP TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.1. TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT TRONG QUẢN LÝ
Có nhiều quan điểm khác nhau về kiểm soát. Trên cơ sở các quan điểm khác nhau về kiểm soát và nhận diện vai trò của nó trong quản lý, có thể đưa ra khái niệm về kiểm soát như sau: Kiểm soát là một chức năng quan trọng của quản lý được thực hiện liên tục ở mọi cấp quản lý và hoạt động của tổ chức thông qua các hoạt động thiết lập tiêu chuẩn, đánh giá thực tế bằng cách so sánh thực tế với tiêu chuẩn, tìm ra được các nguyên nhân và chỉnh sửa các sai lệch nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức đó.
1.1.2. Phân loại kiểm soát
– Theo mục tiêu thực hiện, kiểm soát được phân thành kiểm soát hướng dẫn, kiểm soát “có”/ “không”, kiểm soát hành động.
– Theo thời điểm tiến hành có thể có kiểm soát trước, kiểm soát trong và kiểm soát sau.
– Theo mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng kiểm soát gồm kiểm soát từ xa, kiểm soát trực tiếp và kiểm soát gián tiếp.
– Theo chức năng cụ thể, kiểm soát sẽ có kiểm soát phòng ngừa, kiểm soát phát hiện, kiểm soát bù đắp, kiểm soát bổ sung.
– Theo mối quan hệ với phạm vi áp dụng, kiểm soát trong đơn vị bao gồm: kiểm soát chung và kiểm soát cụ thể.
– Theo mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể, kiểm soát có thể phân thành ngoại kiểm và nội kiểm.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.2.1. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập
1.2.1.1. Khái niệm
1.2.1.2. Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập
1.2.1.3. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập
1.2.1.4. Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
1.2.2. Chi ngân sách nhà nước và kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước của kho bạc nhà nước
1.2.2.1. Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [21, tr.3].
1.2.2.2. Chi ngân sách nhà nước
Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi đầu tư phát triển, chi dự trữ quốc gia, chi thường xuyên, chi trả nợ lãi, chi viện trợ, các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
– Đặc điểm của chi NSNN:
+ Chi NSNN thể hiện các quan hệ tài chính – tiền tệ được hình thành trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm bảo đảm các nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng chính trị, kinh tế, xã hội của Nhà nuớc.
+ Chi NSNN là sự kết hợp hài hoà giữa quá trình phân phối quỹ NSNN để hình thành các quỹ tài chính của các cơ quan, đơn vị và quá trình sử dụng các quỹ tài chính này.
+ Chi NSNN là các khoản cấp phát, thanh toán từ quỹ NSNN cho các cơ quan, đơn vị và cá nhân có tính không hoàn lại.
+ Chi NSNN gắn chặt với bộ máy quản lý nhà nước và việc triển khai thực hiện những nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội.
+ Chi NSNN là một quá trình liên tục, gắn bó mật thiết với sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế và đời sống xã hội, việc xây dựng dự toán và quyết toán chi NSNN được thực hiện theo đúng niên độ.
+ Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất có quyền quyết định quy mô, nội dung, cơ cấu chi NSNN; quyết định tổng dự toán và tổng quyết toán NSNN; quyết định bổ sung, điều chỉnh chi NSNN.
+ Chi NSNN được phân cấp cho chính quyền địa phương quản lý và điều hành. Ở Trung ương do Chính phủ trực tiếp quản lý, ở địa phương do Uỷ ban nhân dân quản lý dưới sự giám sát của Hội đồng nhân dân.
+ Việc bố trí các khoản chi NSNN thường được xem xét đến tính hiệu quả ở tầm vĩ mô, có tính đến lợi ích quốc gia, các vùng lãnh thổ, các khu vực, các địa phương trên cơ sở thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.
+ Các khoản chi NSNN nói chung thường không mang tính bồi hoàn trực tiếp; ngoại trừ một số khoản chi NSNN cho vay hỗ trợ, ưu đãi.
+ Các khoản chi NSNN gắn liền với các phạm trù kinh tế và thường chịu sự tác động trực tiếp của các phạm trù giá trị.
– Phân loại chi ngân sách nhà nuớc
Phân loại chi NSNN là việc sắp xếp các khoản chi NSNN vào các nhóm, các loại chi khác nhau theo những tiêu chí nhất định.
+ Theo mục đích kinh tế – xã hội của các khoản chi.
+ Theo tính chất các khoản chi.
+ Theo chức năng của Nhà nuớc.
+ Theo tính chất pháp lý.
+ Theo yếu tố các khoản chi.
1.2.2.3. Kiểm soát chi ngân sách nhà nước của KBNN
a. Khái niệm
Kiểm soát chi NSNN là quá trình những cơ quan có thẩm quyền thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN theo các chính sách, chế độ, định mức chi tiêu do Nhà nuớc quy định và trên cơ sở những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong từng giai đoạn.
Kiểm soát chi NSNN là việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN diễn ra theo các khâu của quy trình NSNN, từ lập dự toán, chấp hành dự toán được duyệt đến quyết toán NSNN nhằm đảm bảo mỗi khoản chi NSNN đều được dự toán từ trước, được thực hiện đúng theo dự toán được duyệt, đúng theo định mức, tiêu chuẩn được duyệt và đem lại hiệu quả về kinh tế – xã hội.
b. Yêu cầu đối với công tác kiểm soát chi NSNN của KBNN
– Chính sách và cơ chế kiểm soát chi NSNN cần làm cho các hoạt động của tài chính nhà nước đạt hiệu quả cao.
– Công tác quản lý và kiểm soát chi NSNN là một quy trình phức tạp, bao gồm nhiều khâu, nhiều giai đoạn; đồng thời nó liên quan đến tất cả các Bộ, ngành, địa phương.
– Tổ chức bộ máy kiểm soát chi NSNN phải gọn nhẹ theo hướng cải cách hành chính, thu gọn đầu mối quản lý, đơn giản quy trình và thủ tục sao cho đạt hiệu quả nhưng không gây phiền hà, tốn nhiều thời gian và kinh phí.
– Kiểm soát chi NSNN cần được thực hiện đồng bộ, nhất quán, thống nhất với quy trình quản lý NSNN. Ðồng thời, phải có sự phối hợp với việc thực hiện các chính sách, cơ chế quản lý tài chính khác.
c. Nội dung, quy trình kiểm soát chi NSNN của KBNN
Nội dung kiểm soát chi NSNN của KBNN bao gồm:
– Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ chi NSNN.
– Kiểm tra tính hợp lệ về con dấu và chữ ký của thủ truởng và kế toán của đơn vị sử dụng NSNN.
– Kiểm tra các điều kiện chi theo chế độ quy định.
– Truờng hợp sử dụng vốn, kinh phí NSNN để đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc và các công việc khác phải qua công tác đấu thầu hoặc thẩm định giá theo quy định của pháp luật.
– Ðối với các khoản chi có tính chất thường xuyên sẽ được chia đều trong năm để chi, các khoản có tính chất thời vụ hoặc chỉ phát sinh vào một số thời điểm và các khoản chi có tính chất không thường xuyên khác phải thực hiện theo dự toán quý được đơn vị dự toán cấp I giao cùng dự toán năm.
– Trong quá trình thực hiện kiểm soát chi NSNN, nếu phát hiện thấy các vi phạm về chính sách, chế độ quản lý tài chính, KBNN có quyền từ chối thanh toán.
1.3. KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TẠI KBNN
Hình 1.2. Quy trình kiểm soát chi ngân sách nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tại kho bạc nhà nước
1.3.2. Kiểm soát hồ sơ, chứng từ các khoản chi NSNN
Khi có nhu cầu thanh toán, ngoài các hồ sơ gửi một lần vào đầu năm như: dự toán chi NSNN, quy chế chi tiêu nội bộ…; đơn vị SNCL gửi KBNN nơi giao dịch các hồ sơ, tài liệu, chứng từ có liên quan đến từng lần thanh toán, bao gồm:
– Giấy rút dự toán Ngân sách: ghi rõ nội dung chi thuộc nguồn kinh phí chi thường xuyên và chi tiết theo đúng quy định của mục lục NSNN làm căn cứ để KBNN kiểm soát và hạch toán chi NSNN.
– Các hồ sơ, chứng từ khác phù hợp với tính chất của từng khoản chi.
KBNN sẽ tiến hành kiểm soát hồ sơ thanh toán ở các nội dung sau:
– Kiểm soát, đối chiếu các khoản chi so với dự toán NSNN được giao, đảm bảo các khoản chi có trong dự toán chi NSNN được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cho đơn vị sự nghiệp để thực hiện chế độ tự chủ.
– Kiểm tra, kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của các hồ sơ, chứng từ theo quy định đối với từng khoản chi.
– Kiểm tra, kiểm soát các khoản chi đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.
– Đối với các khoản chi bằng tiền mặt, KBNN còn phải thực hiện kiểm soát, thanh toán bằng tiền mặt theo đúng quy định của Bộ Tài chính về quản lý thu, chi bằng tiền mặt qua hệ thống KBNN.
Sau khi kiểm soát hồ sơ, chứng từ, KBNN thực hiện:
– Trường hợp đảm bảo đầy đủ các điều kiện chi trả theo quy định, KBNN thực hiện chi trả, thanh toán cho đơn vị.
– Trường hợp chưa đủ điều kiện thanh toán, nhưng thuộc đối tượng được tạm ứng, KBNN làm thủ tục tạm ứng cho đơn vị.
– Trường hợp không đủ điều kiện chi theo quy định, KBNN được phép từ chối thanh toán và thông báo rõ lý do; đồng thời, chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
1.3.3. Phương thức chi trả, thanh toán các khoản chi NSNN
Việc chi trả, thanh toán được thực hiện dưới hai hình thức là tạm ứng và thanh toán.
1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát chi NSNN đối với đơn vị sự nghiệp công lập tại KBNN
– Quy định của pháp luật và các quy định của Nhà nước về kiểm soát chi NSNN và về chế độ, định mức chi NSNN.
– Năng lực tổ chức kiểm soát chi NSNN của KBNN
– Cơ chế quản lý NSNN
– Cơ chế quản lý tài chính và trách nhiệm của đơn vị sử dụng NSNN
1.3.5. Kiểm soát thanh toán đối với một số khoản chi chủ yếu
– Kiểm soát tiền lương, tiền công
– Kiểm soát thu nhập tăng thêm
– Kiểm soát chi đối với những khoản chi quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ thường xuyên
– Chi mua sắm tài sản, trang thiết bị, phương tiện, vật tư
– Kiểm soát các khoản chi phục vụ công tác thu phí, lệ phí
– Kiểm soát, thanh toán đối với những khoản chi khác
– Kiểm soát việc sử dụng kết quả tài chính
THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
CÔNG LẬP TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN BA TƠ
2.1. TỔNG QUAN VỀ KBNN HUYỆN BA TƠ
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của KBNN huyện Ba Tơ
2.1.2.1. Chức năng của KBNN huyện Ba Tơ
2.1.2.2. Nhiệm vụ của KBNN huyện Ba Tơ
2.1.2.3. Quyền hạn của KBNN huyện Ba Tơ
2.1.3. Tổ chức bộ máy quản lý tại KBNN huyện Ba Tơ
2.2. THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TẠI KBNN HUYỆN BA TƠ
2.2.1. Tình hình chi NSNN đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tại KBNN huyện Ba Tơ giai đoạn 2012 – 2017
Bảng 2.3. Chi thường xuyên NSNN đối với các đơn vị SNCL tại KBNN huyện Ba Tơ giai đoạn 2012 – 2017
Đơn vị tính: tỷ đồng
| TT | Chỉ tiêu | Tổng chi thường xuyên NSNN | Tổng chi thường xuyên đối với đơn vị SNCL | Chia ra các năm | |||||
| 2012 | 2013 | 2014 | 2015 | 2016 | 2017 | ||||
| 1 | Chi NSTW | 403 | 284 | 48 | 50 | 49 | 46 | 44 | 47 |
| 2 | Chi NS tỉnh | 292 | 281 | 43 | 48 | 52 | 48 | 48 | 42 |
| 3 | Chi NS huyện | 1.136 | 966 | 146 | 151 | 181 | 149 | 162 | 177 |
| 4 | Chi NS xã | 560 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 |
| Tổng cộng | 2.391 | 1.531 | 237 | 249 | 282 | 243 | 254 | 266 | |
(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác kiểm soát chi NSNN tại KBNN huyện Ba Tơ từ năm 2012 – 2017)
Bảng 2.4. Chi theo lĩnh vực hoạt động của các đơn vị SNCL tại KBNN huyện Ba Tơ giai đoạn 2012 – 2017
Đơn vị tính: tỷ đồng
| TT | Lĩnh vực hoạt động | Tổng cộng | Chia ra các năm | |||||
| 2012 | 2013 | 2014 | 2015 | 2016 | 2017 | |||
| 1 | Sự nghiệp GD-ĐT, dạy nghề | 827 | 122 | 127 | 149 | 131 | 146 | 152 |
| 2 | Sự nghiệp y tế | 155 | 23 | 27 | 27 | 27 | 26 | 25 |
| 3 | Sự nghiệp văn hóa, thông tin, thể thao, phát thanh | 12 | 3 | 3 | 3 | 1 | 1 | 1 |
| 4 | Đảm bảo xã hội | 369 | 66 | 67 | 67 | 55 | 55 | 59 |
| 5 | Sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác | 167 | 23 | 25 | 36 | 28 | 26 | 29 |
| Tổng cộng | 1.531 | 237 | 249 | 282 | 243 | 254 | 266 | |
(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác kiểm soát chi NSNN tại
2.2.2. Quy trình và thủ tục kiểm soát chi ngân sách nhà nước các đơn vị sự nghiệp công lập do kho bạc nhà nước huyện Ba Tơ thực hiện
2.2.2.1. Phân công nhiệm vụ kiểm soát chi NSNN đối với các đơn vị SNCL tại KBNN huyện Ba Tơ
2.2.2.2. Quy định về mở tài khoản trong công tác kiểm soát chi đối với các đơn vị SNCL tại KBNN huyện Ba Tơ
2.2.2.3. Quy trình kiểm soát chi NSNN đối với các đơn vị SNCL do KBNN huyện Ba Tơ thực hiện
Từ ngày 01.10.2017, Kho bạc nhà nước huyện Ba Tơ tổ chức thực hiện thống nhất đầu mối kiểm soát chi. Quy trình kiểm soát chi NSNN đối với các đơn vị SNCL được thực hiện như sau:
Chuyên viên kiểm soát chi
Kế toán trưởng
Giám đốc
phụ trách
Khách hàng
Thanh toán viên
Kế toán viên
Thủ quỹ
(2)
(3)
(1)
(9)
(7a)
(4)
(8)
(7b)
(5)
(6b)
(6a)
Hình 2.2. Quy trình kiểm soát chi NSNN đối với các đơn vị SNCL
2.2.2.4. Thủ tục kiểm soát thanh toán đối với một số khoản chi NSNN chủ yếu của các đơn vị SNCL tại KBNN huyện Ba Tơ
Trên cơ sở các quy định về chế độ kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN tại Thông tư số 161/2012/TT-BTC ngày 02/10/2012 của Bộ Tài chính và Thông tư số 39/2016/TT-BTC ngày 01/3/2016 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 161/2012/TT-BTC. Ngoài các hồ sơ gửi ngay từ đầu năm, tùy theo từng nội dung chi và các tài liệu, chứng từ đơn vị gửi kèm theo mà có các thủ tục kiểm soát hồ sơ, chứng từ tương ứng.
a. Kiểm soát các khoản tiền lương, tiền công, thanh toán cá nhân
Theo số liệu báo cáo năm 2017 của KBNN huyện Ba Tơ thì kết quả kiểm soát chi đối với Trung tâm y tế huyện Ba Tơ là 19,2 tỷ đồng, bao gồm tiền lương là 7,5 tỷ đồng, tiền công trả cho lao động theo hợp đồng là 0,4 tỷ đồng, phụ cấp là 9,4 tỷ đồng và các khoản đóng góp là 1,9 tỷ đồng.
Qua công tác kiểm soát thanh toán tiền lương, phụ cấp và tiền công cũng còn có những khó khăn, hạn chế trong quá trình thực hiện như danh sách chi trả lương được chuyên viên kiểm soát chi thực hiện tính toán bằng thủ công, nên mất rất nhiều thời gian, nhất là vào những ngày đầu tháng.
b. Kiểm soát thu nhập tăng thêm cho người lao động
Trong năm 2017, KBNN huyện Ba Tơ đã thực hiện kiểm soát, chi trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ, viên chức Trung tâm y tế huyện từ nguồn ngân sách là 251 triệu đồng sau khi đã thực hiện trích lập các quỹ theo quy định là 396 triệu đồng.
c. Kiểm soát chi đối với những khoản chi quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ thường xuyên
Năm 2017, KBNN huyện Ba Tơ đã thực hiện kiểm soát, thanh toán các khoản chi này từ nguồn ngân sách cấp đối với Trung tâm y tế huyện là 1,765 tỷ đồng. Nhìn chung, việc kiểm soát thanh toán đối với các khoản chi này được thực hiện theo đúng quy định. Tuy nhiên, do KBNN không kiểm soát các hóa đơn dưới 20 triệu đồng nên có thể cùng một hóa đơn mà đơn vị lập bảng kê thanh toán hai lần trở lên.
d. Kiểm soát chi sửa chữa, mua sắm tài sản, trang thiết bị, phương tiện
Qua tình hình kiểm soát chi năm 2017 của KBNN huyện Ba Tơ đối với Trung tâm y tế huyện, đã thực hiện kiểm soát, thanh toán kinh phí về sửa chữa, mua sắm tài sản, trang thiết bị là 4,072 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 16,28% tổng dự toán đã sử dụng trong năm.
e. Kiểm soát thanh toán đối với những khoản chi khác
Năm 2017, KBNN huyện Ba Tơ đã thực hiện kiểm soát, thanh toán khoản chi này đối với Trung tâm y tế huyện là 0,355 tỷ đồng. Trong đó, chi sắp xếp lao động trong đơn vị là 0,168 tỷ đồng; chi hỗ trợ khác là 0,162 tỷ đồng; còn lại là tiếp khách, chi các khoản khác, chi các khoản phí và lệ phí.
f. Kiểm soát các khoản chi từ thu sự nghiệp
Căn cứ chế độ về thu – chi phí, lệ phí, quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị, KBNN huyện Ba Tơ kiểm soát, thanh toán cho đơn vị.
Năm 2017, dự toán thu của đơn vị Trung tâm y tế huyện lập là 13,8 tỷ đồng; KBNN huyện Ba Tơ đã thực hiện kiểm soát và thanh toán là 13,277 tỷ đồng.
g. Kiểm soát việc sử dụng kết quả tài chính
Kết quả tài chính là phần chênh lệch thu lớn hơn chi của đơn vị SNCL. Căn cứ vào bảng xác định kết quả hoạt động tài chính trong năm, đơn vị lập giấy rút dự toán ngân sách gửi đến và KBNN huyện Ba Tơ kiểm soát để thanh toán.
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TẠI KBNN HUYỆN BA TƠ
– Đối với cơ chế chính sách của nhà nước: các văn bản về chính sách, chế độ từng bước được hoàn thiện và ngày càng đáp ứng các yêu cầu công tác quản lý ngân sách nhà nước nói chung, công tác kiểm soát chi thường xuyên đối với các đơn vị SNCL nói riêng.
– Đối với công tác kiểm soát chi của KBNN huyện Ba Tơ: đã tạo ra sự chuyển biến căn bản về công tác kiểm soát chi NSNN đối với các đơn vị SNCL.
– Đối với đơn vị sự nghiệp công lập: các đơn vị sự nghiệp huyện Ba Tơ đến nay toàn bộ đã thực hiện xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ để áp dụng, quy chế được lập trên cơ sở các văn bản hướng dẫn đảm bảo dân chủ, công khai, có sự bàn bạc, thống nhất của cán bộ, công chức và người lao động.
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân
2.3.2.1. Những hạn chế
a. Về quy trình nghiệp vụ thống nhất đầu mối kiểm soát chi
Theo quy trình kiểm soát thanh toán mới thì vai trò kiểm soát chi thuộc về lãnh đạo KBNN huyện, cho nên khối lượng công việc của lãnh đạo KBNN huyện tăng lên rất nhiều.
Mỗi lần giao nhận chứng từ lại phải xác nhận mật khẩu trên Hệ thống TABMIS nên mất khá nhiều thời gian để xử lý một bộ chứng từ.
Với quy trình kiểm soát chi như hiện nay, chỉ thực hiện kiểm soát qua hai cấp là chuyên viên kiểm soát chi và lãnh đạo KBNN huyện, do vậy chưa đảm bảo an toàn nghiệp vụ, chủ động phòng ngừa, kiểm soát rủi ro.
b. Hạn chế thuộc về thực hiện quy trình, tổ chức hoạt động kiểm soát chi NSNN
– Kiểm soát mẫu dấu, chữ ký mà đơn vị SNCL đăng ký tại Kho bạc
– Kiểm soát tiêu chuẩn, định mức, chế độ theo quy chế chi tiêu nội bộ
– Hạn chế trong công tác kiểm soát các hồ sơ chứng từ liên quan đến kiểm soát chi
– Hạn chế trong kiểm soát chi đối với các khoản chi từ thu sự nghiệp
c. Hạn chế về công tác kiểm tra, phúc tra việc chấp hành các quy định về thủ tục, quy trình nghiệp vụ kiểm soát chi trong nội bộ kho bạc
Qua công tác kiểm tra, phúc tra nhằm kịp thời phát hiện và xử lý kịp thời các sai sót trong hoạt động kiểm soát chi của kho bạc.
Hiện nay công tác kiểm tra lại việc chấp hành các thủ tục, các quy trình nghiệp vụ trong công tác kiểm soát chi của chuyên viên kiểm soát chi kho bạc thuộc trách nhiệm của Phòng thanh tra kho bạc tỉnh.
d. Hạn chế trong phương thức quản lý, kiểm soát chi NSNN
KBNN thiên về kiểm soát, khống chế các khoản chi NSNN theo các khoản mục chi như chi bao nhiêu, định mức tiêu chuẩn có đúng chế độ quy định hay không.
Việc kiểm soát chi theo kết quả đầu vào như hiện nay không phù hợp với chủ trương đổi mới cơ chế cấp phát ngân sách của chính phủ.
Mặt khác, việc kiểm soát chi theo kết quả đầu vào như hiện nay còn hạn chế cho việc cung cấp thông tin cho các cơ quan chức năng trong công tác phân tích, đánh giá hiệu quả chi tiêu ngân sách để có được kết quả đầu ra giữa các đơn vị sự nghiệp.
e. Hạn chế trong cơ chế, chính sách chế độ quản lý chi NSNN đối với các đơn vị SNCL
– Các văn bản, chính sách chế độ về cơ chế tự chủ về kinh phí, biên chế lao động tuy ngày càng được hoàn thiện, song không theo kịp sự biến đổi khá nhanh của nền kinh tế, nhất là trong thời kỳ Việt Nam hội nhập thế giới.
– Hệ thống các văn bản quy định về tiêu chuẩn định mức của một số ngành, lĩnh vực còn thiếu đồng bộ, chậm được đổi mới, bổ sung cho phù hợp yêu cầu hiện tại.
– Việc phân bổ ngân sách cho các đơn vị SNCL hiện nay vẫn dựa theo biên chế hiện có và định mức phân bổ theo đầu người, chưa căn cứ vào nhiệm vụ cụ thể của các đơn vị sự nghiệp để áp dụng.
– Việc ban hành các văn bản kiểm soát chi của cấp có thẩm quyền còn tình trạng chồng chéo, còn nhiều bất cập.
f. Hạn chế trong quản lý sử dụng ngân sách, việc chấp hành kỷ luật tài chính của các đơn vị NSCL
Hiện nay cũng còn tình trạng một số đơn vị SNCL chưa thực hiện nghiêm túc, còn vi phạm kỷ luật tài chính thông qua việc lợi dụng kẻ hở, sự không rõ ràng minh bạch của chính sách.
2.3.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế
a. Quy trình nghiệp vụ thống nhất đầu mối kiểm soát chi chưa phù hợp
b. Năng lực kiểm soát chi NSNN của kho bạc chưa đáp ứng yêu cầu
c. Cơ chế, chính sách của nhà nước đối với các đơn vị SNCL còn có những hạn chế, bất cập
d. Phương thức quản lý, kiểm soát chi NSNN đối với các đơn vị SNCL chậm được thay đổi
e. Công tác quản lý tài chính các đơn vị SNCL chưa chặt chẽ
CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN BA TƠ
3.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TẠI KBNN HUYỆN BA TƠ
Chi thường xuyên NSNN là một trong những nội dung chi quan trọng của Nhà nước nhằm duy trì sự ổn định và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng.
Hệ thống KBNN nói chung, KBNN huyện Ba Tơ nói riêng đang thực hiện Chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020 theo Quyết định 138/2007/QĐ-TTg ngày 21/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, phải đổi mới công tác quản lý, kiểm soát chi qua KBNN trên cơ sở xây dựng cơ chế, quy trình quản lý, kiểm soát, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước qua KBNN phù hợp với thông lệ quốc tế để vận hành hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc; thực hiện kiểm soát chi theo kết quả đầu ra. Đến năm 2020 về cơ bản, KBNN không thực hiện giao dịch bằng tiền mặt.
Để đáp ứng yêu cầu mới của công tác quản lý, chất lượng kiểm soát chi NSNN đối với các đơn vị SNCL do KBNN huyện Ba Tơ. Mặt khác, thực hiện chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020, đòi hỏi công tác kiểm soát chi cần có những đổi mới như về phương thức kiểm soát, các quy trình nghiệp vụ.
3.2. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN BA TƠ
3.2.1. Hoàn thiện quy trình nghiệp vụ kiểm soát chi
Để công tác kiểm soát chi được thuận lợi và đạt hiệu quả hơn, đã thống nhất đề xuất quy trình chi NSNN, chi từ tài khoản tiền gửi đối với KBNN huyện không tổ chức phòng như sau:
Giám đốc
Giao dịch viên
Thanh toán viên
Kế toán trưởng
Thủ quỹ
Khách hàng
(1)
(7)
(6a)
(5a)
(5b)
(2)
(6c)
(3)
(4)
Hình 3.1. Quy trình chi NSNN, chi từ tài khoản tiền gửi
Quy trình này sẽ khắc phục các hạn chế của quy trình đang thực hiện ở các điểm như:
– Không phân định nhiệm vụ của chuyên viên kiểm soát chi hay kế toán viên trong quy trình kiểm soát chi mà gọi chung là giao dịch viên, trực tiếp giao dịch với khách hàng để tiếp nhận và xử lý hồ sơ, chứng từ. Từ đó, giảm được các bước luân chuyển, bàn giao chứng từ; rút ngắn quy trình từ 9 bước như hiện nay xuống còn 7 bước; tăng biên chế thực hiện nhiệm vụ giao dịch với khách hàng.
– Giao dịch viên và kế toán trưởng đều tham gia vào cả quy trình kiểm soát chi và hạch toán kế toán.
– Lãnh đạo KBNN huyện giảm bớt vai trò kiểm soát chi như hiện nay.
3.2.2. Sửa đổi kết cấu tổ hợp tài khoản tiền gửi thu phí của đơn vị sự nghiệp công lập
Theo quy định tại các đơn vị SNCL, việc kiểm soát chi đối với phần kinh phí từ phí, lệ phí thuộc NSNN được để lại đơn vị, tương tự như kiểm soát đối với kinh phí dự toán do NSNN cấp. Tuy nhiên hiện nay tổ hợp tài khoản “Tiền gửi thu phí của đơn vị hành chính sự nghiệp” chưa được theo dõi các đoạn mã “Nội dung kinh tế”, “Ngành kinh tế” nên chuyên viên kiểm soát chi kho bạc sẽ không theo dõi được đơn vị SNCL đã chi từ tài khoản thu sự nghiệp những nội dung gì, đã chi bao nhiêu cho các nội dung chi đó. Do vậy để kiểm soát chặt chẽ các khoản chi từ thu sự nghiệp tại các đơn vị SNCL, trong tổ hợp tài khoản tiền gửi thu phí cần quy định phải theo dõi thêm các đoạn mã “Nội dung kinh tế”, “Ngành kinh tế”.
3.2.3. Hoàn thiện phương pháp nghiệp vụ kiểm soát chi thường xuyên
Một là, đổi mới việc kiểm soát chi theo hướng trọng tâm, trọng điểm gắn với việc nâng cao tính chủ động, tính trách nhiệm của đơn vị SNCL.
Hai là, hoàn thiện cơ chế quản lý tiền mặt.
3.2.4. Hoàn thiện hệ thống chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi NSNN
Cần quy định thống nhất các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi trong những lĩnh vực cụ thể. Về lâu dài, để tránh tình trạng các nội dung, định mức chi tiêu của NSNN không còn phù hợp và thấp hơn nhu cầu chi thực tế, cần nghiên cứu định mức chi theo tỷ lệ (%) với mức lương cơ bản.
Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản chế độ về kiểm soát chi thường xuyên của NSNN nói chung và đối với các đơn vị SNCL nói riêng để tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị SNCL vừa đảm bảo quản lý NSNN một cách chặt chẽ, hiệu quả vừa đảm bảo thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Đối với các cơ quan, đơn vị liên quan trong việc quản lý, điều hành và sử dụng NSNN cần phải phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm; cần tăng cường công tác chỉ đạo điều hành của Ủy ban nhân dân, sự giám sát của Hội đồng nhân dân; cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị SNCL, cơ quan chủ quản, cơ quan Tài chính và KBNN huyện Ba Tơ.
Các đơn vị SNCL cần tăng cường hơn nữa tính chủ động, tự chịu trách nhiệm trong việc chi tiêu gắn liền với việc tăng cường kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan thanh tra, kiểm toán,…
3.2.5. Nâng cao năng lực, phẩm chất và trách nhiệm trong việc chấp hành các quy trình nghiệp vụ của cán bộ kiểm soát chi tại KBNN huyện Ba Tơ
Để nâng cao năng lực, trình độ, ý thức trách nhiệm và phẩm chất cán bộ KBNN huyện Ba Tơ cần quan tâm đến những vấn đề sau:
– Một là, nâng cao ý thức trách nhiệm của chuyên viên kiểm soát chi kho bạc
– Hai là, phải tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ
– Ba là, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ
– Bốn là, làm tốt công tác quy hoạch phát triển nguồn nhân lực
– Năm là, có cơ chế khen thưởng, kỷ luật rõ ràng
3.2.6. Hiện đại hoá hoạt động kiểm soát chi NSNN của KBNN huyện Ba Tơ dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin
– Hoàn thiện phần mềm tin học phục vụ cho công tác đối chiếu, kiểm soát chặt chẽ mẫu dấu, chữ ký mà các đơn vị SNCL đã đăng ký với kho bạc với mẫu dấu, chữ ký trên các chứng từ liên quan đến việc sử dụng kinh phí.
– Xây dựng phần mềm tin học quản lý các đơn vị SNCL. Khi có nhu cầu thông tin, chuyên viên kiểm soát chi kho bạc chỉ cần nhập mã đơn vị quan hệ với ngân sách thì có thể truy xuất được các thông tin như biên chế quỹ tiền lương; dự toán chi sự nghiệp; tình hình sử dụng kinh phí từ thu sự nghiệp, qua đó tạo thuận lợi trong công tác kiểm soát chi của chuyên viên kiểm soát chi.
3.2.7. Thành lập kiểm soát nội bộ kho bạc theo khu vực
Bộ phận thanh tra KBNN có trách nhiệm kiểm tra, phúc tra lại hoạt động kiểm soát chi của chuyên viên kiểm soát chi kho bạc. Theo quy trình, chuyên viên kiểm soát chi sau khi kiểm soát hồ sơ, phải trình giám đốc ký duyệt trên chứng từ mới được xuất quỹ thanh toán cho đối tượng thụ hưởng. Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động hiện nay, bộ phận thanh tra lại thuộc quyền quản lý của Giám đốc. Do không có được sự độc lập tương đối nên công tác kiểm tra, phúc tra việc chấp hành các quy định trong quá trình tác nghiệp kiểm soát chi bị hạn chế.
Do vậy cần chuyển đổi mô hình kiểm tra, kiểm soát hiện nay sang mô hình kiểm tra, kiểm toán nội bộ, bảo đảm nâng cao tính độc lập, thống nhất về hoạt động nghiệp vụ của hệ thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ, đủ thẩm quyền cần thiết trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các dấu hiệu bất thường trong hoạt động KBNN. Để thực hiện điều này cần chuyển đổi Bộ phận thanh tra các KBNN các tỉnh, thành hiện nay để hình thành kiểm toán nội bộ kho bạc theo khu vực.
3.2.8. Thực hiện việc kiểm soát chi NSNN đối với các đơn vị SNCL theo kết quả đầu ra
Quản lý theo đầu ra là giao cho người cung cấp sản phẩm đầu ra quyền tự chủ trong quản lý để quyết định những đầu vào cần thiết. Điều đó đảm bảo cho thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp có được vai trò, vị trí hợp lý trong việc quyết định các yếu tố đầu vào cần có cho hoạt động của đơn vị mình.
Việc kiểm soát chi không còn hướng tới kiểm tra tính tuân thủ theo từng mục chi mà trao quyền cho đơn vị SNCL đảm bảo hiệu quả của việc chi tiêu NSNN. KBNN thực hiện kiểm soát căn cứ vào kết quả đầu ra mà đơn vị SNCL cung cấp cho xã hội. Đơn vị SNCL có được quyền chủ động và đi đôi với nó là trách nhiệm giải trình sử dụng nguồn lực tài chính được phân bổ.
Để thực hiện tốt việc quản lý chi NSNN theo kết quả đầu ra cần thiết lập hệ thống các tiêu chí, chỉ tiêu, chỉ số đo lường và đánh giá kết quả đầu ra; phân bổ ngân sách theo mục lục chi tiết sang phân bổ tổng thể; thủ trưởng đơn vị SNCL phải thực hiện trách nhiệm giải trình việc sử dụng NSNN.
Mặt khác, việc kiểm soát chi NSNN thay vì chú trọng từ bên ngoài sẽ được tăng cường tại hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị SNCL.
3.2.9. Nâng cao trách chi ở đơn vị sự nghiệp công lập
Khi các đơn vị sự nghiệp công lập tự giác chấp hành nghiêm các chế độ chi tiêu ngân sách thì việc kiểm soát chi qua KBNN sẽ trở nên đơn giản và hiệu quả cao. Do đó, cần có các đợt tập huấn cho kế toán trưởng hoặc phụ trách kế toán và thủ trưởng đơn vị sự nghiệp công lập về chế độ quản lý, chi tiêu ngân sách và qua đó tăng cường ý thức sử dụng ngân sách nhà nước đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả.
Thủ trưởng đơn vị SNCL phải có biện pháp kiểm soát nội bộ, kiểm tra chặt chẽ từ khâu lập dự toán, quyết định chi tiêu đến khâu quyết toán. Chứng từ, bảng kê phải đúng mẫu, có thực và được lãnh đạo duyệt chi trên bản chính. Có cơ chế quản lý tiền mặt, cụ thể những trường hợp có thể thanh toán trực tiếp thì giá trị bao nhiêu cũng chuyển khoản và không tạm ứng.
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỂ THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
3.3.1. Đối với Bộ Tài chính, Kho bạc nhà nước
Một là, hoàn thiện các chính sách, chế độ đáp ứng yêu cầu công tác quản lý ngân sách cũng như công tác kiểm soát chi phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Hai là, có quy định rõ ràng về trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm vật chất đối với người đứng đầu cũng như kế toán tại các đơn vị SNCL trong việc chi tiêu NSNN.
Ba là, xây dựng hệ thống định mức chi phù hợp thực tế. Đổi mới tiêu thức, các định mức phân bổ ngân sách cho phù hợp với nhiệm vụ cụ thể giữa các đơn vị SNCL.
Bốn là, tiếp tục thực hiện đổi mới cơ chế tài chính đối với nhóm các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp các dịch vụ công có khả năng xã hội hoá.
3.3.2. Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập
– Nâng cao chất lượng người làm công tác kế toán tại các đơn vị SNCL
– Nâng cao kiến thức về công tác quản lý tài chính cho chủ tài khoản đơn vị SNCL.
– Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ, tự kiểm tra kế toán tại các đơn vị SNCL
KẾT LUẬN
Kiểm soát chặt chẽ các khoản chi NSNN luôn là mối quan tâm lớn của Nhà nước và của các cấp, các ngành, góp phần quan trọng trong việc giám sát sự phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính một cách đúng mục đích, có hiệu quả; đồng thời là một biện pháp hữu hiệu để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Cải cách tài chính công là một nội dung quan trọng trong chương trình tổng thể cải cách nền hành chính quốc gia ở nước ta, với mục tiêu nâng cao tính minh bạch trong quản lý tài chính công, hạn chế tiêu cực trong việc sử dụng NSNN. Vì vậy hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN đối với các đơn vị SNCL qua KBNN là một trong những yêu cầu cần thiết.
Tăng cường công tác kiểm soát chi NSNN đối với các đơn vị SNCL do KBNN huyện Ba Tơ thực hiện là nội dung thiết thực, cần thiết. Đây là nội dung tương đối phức tạp không chỉ liên quan đến cơ quan KBNN, mà có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp. Trong quá trình nghiên cứu luận văn về cơ bản đã giải quyết được mục tiêu đặt ra, thể hiện ở các nội dung sau:
Thứ nhất, đi từ lý luận về kiểm soát và các loại hình kiểm soát, quản lý chi NSNN để thấy được vai trò kiểm soát chi NSNN, các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát chi NSNN nói chung, đối với các đơn vị SNCL nói riêng.
Thứ hai, mô tả và phân tích, đánh giá thực trạng công tác kiểm soát chi NSNN qua KBNN đối với các đơn vị SNCL do KBNN huyện Ba Tơ thực hiện. Rút ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân và là cơ sở để đề xuất các giải pháp thực hiện.
Thứ ba, đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường công tác kiểm soát chi NSNN đối với các đơn vị SNCL do KBNN huyện Ba Tơ thực hiện trong giai đoạn hiện nay.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\LE THANH PHUONG


