Ý định khởi nghiệp CNS tại Việt Nam

Ý định khởi nghiệp CNS tại Việt Nam

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Bối cảnh nghiên cứu

1.1.1. Bối cảnh thực tiễn

Sựhội nhập ngày càng sâu rộng của kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu, cùng với tác động sâu sắc của Cách mạng công nghiệp 4.0, đặt ra yêu cầu cấp bách về nghiên

cứu và đề xuất các giải pháp đổi mới chính sách kinh tế – tài chính và quản lý kinh tế nhằm thích ứng hiệu quả với bối cảnh mới. Đối với trường hợp các quốc gia đang phát triển như Việt Nam đang hướng đến một mô hình tăng trưởng bền vững đặt ra yêu cầuđộng lực cho sự phát triển mới, trong đó phải có khát vọng vươn lên với trọng tâm là ýchí khởi nghiệp, tinh thần đổi mới sáng tạo. Một trong những hướng đi quan trọng để Việt Nam tăng tốc phát triển kinh tế và xã hội là phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, tạo lập môi trường thuận lợi để thúc đẩy, hỗ trợ quá trình hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới (CESTI, 2018). Hoạt động khởi nghiệp là nơi mà các ý tưởng mới, sáng tạo và đột phá được sinh ra. Các doanh nghiệp mới hoạt động thường tập trung vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn và cung cấp sản phẩm, dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu của thị trường (Baumol và cộng sự, 2007). Đồng thời, các doanh nghiệp mới khởi nghiệp có tính cạnh tranh cao giữa công ty lớn và nhỏ. Do đó sẽ thúc đẩy sự đổi mới trong nền kinh tế, cải tiến chất lượng sản phẩm và dịch vụ, cải thiện chất lượng cuộc sống và giúp tăng trưởng kinh tế tổng thể của một quốc gia (Saha và cộng sự, 2023; Amini Sedeh và cộng sự, 2022; Caiazza, 2016). Nhiều quốc gia và khu vực đã nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động khởi nghiệp và đãxây dựng các chương trình hỗ trợ đi cùng với các chính sách thuận lợi để khuyến khích sựphát triển của các doanh nghiệp khởi nghiệp. Chính phủ Việt Nam cũng đã xác định chuyển đổi số là một trong những chiến lược trọng tâm để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và phát triển kinh tế số. Các chính cách hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sángtạonhưđề án 844, chương trình quốc gia phát triển công nghệ số (CNS) và các vườn ươm khởi nghiệp đang được triển khai rộng rãi. Đáng chú ý, Nghị quyết 198/2025/QH15mới được Quốc hội ban hành về cơ chế, chính sách đặc biệt nhằm phát triển kinh tế tư nhân đã quyđịnhmiễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong 03 năm kể từngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Đồng thời, miễn thuế thu

1

nhập doanh nghiệp trong thời hạn 02 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 04 năm tiếp theo đối với thu nhập từ hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, công ty quản lýquỹ đầu tưkhởi nghiệp sáng tạo, tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Theo báo cáo khởi nghiệp toàn cầu – GEM (2018), kết quả hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam năm 2017/18 được đánh giá có những thay đổi tích cực so với năm 2015/16. Nhiều trường đại học đã và đang phát triển các chương trình đào tạo về khởi nghiệp như một ngành học hoặc một học phần của chương trình đào tạo. Nghiên cứu của Turker và Selcuk (2009) cho thấy nếu các trường đại học đảm bảo được kiến thức và khơi dậy nguồn cảm hứng vềkhởi nghiệp thì sinh viênsẽcó nhiều khả năng khởi nghiệp hơn. Giáo dục khởi nghiệp là công cụ chính để thúc đẩy các ý định, tư duy và hành vi kinh doanh; tuy nhiên, liệu giáo dục có hiệu quả hay không còn gây tranh cãi (Gautam và cộng sự, 2015; Singh và cộng sự, 2015). Hơn nữa, chất lượng của giáo dục khởi nghiệp dựa trên sự hiểu biết các yếu tố dẫn đến ý định kinh doanh (Abdullah và cộng sự, 2016), trau dồi kỹ năng khởi nghiệp và khả năng ra quyết định (Singh và cộng sự, 2015). Từ đó cho thấy giáo dục khởi nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp của quốc gia.Thực tếở Việt Nam cho thấy sinh viênmới tốtnghiệp lại có xuhướngđi làm thuê thay vì chọn con đường kinh doanh cho riêng mình để khởi nghiệp. Theo Nguyen

(2018), sinh viên Việt Nam sau khi tốt nghiệp rất chật vật để tìm kiếm việc làm cũng nhưkhởi nghiệp. Do đó, các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới cũng đang nỗ lực tìm hiểu vàkhám phá ra nhữngyếutố cóảnhhưởngđếný định khởi nghiệp của một cá nhân. Bởi vìtinh thần khởi nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩysựphát triển của ý tưởng kinh doanh, cung cấp kiến thức về cáchlập kếhoạch, thực hiện và phát triển doanh nghiệp, đồng thời rèn luyện những yếutố cần thiết để trởthành một doanh nhân

(Hutasuhut & Saidun, 2018). Thế hệ trẻ và doanh nhân ngày càng coi trọngsựsáng tạo, tạo ra giá trị và tác động tích cực trong cộng đồng. Không chỉ tập trung vào việc tạo ra lợi nhuận, họ còn quan tâm đến việc giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường, từđóthúc đẩy sựphát triển của các doanh nghiệp khởi nghiệp hướng đến trách nhiệm xã hội.

Chính sự đam mê và tinh thần kiên nhẫn của những doanh nhân trẻ đã tạo ra những ý tưởng đột phá và dẫn đến sựphát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp khởi nghiệp.

2

Cùng với đó, tinh thần sẵn sàng chấp nhận rủi ro và học hỏi từ thất bại cũng là yếu tốquan trọng giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp vươn lên thành công.

Trong thếgiới của kỷnguyên số, các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu

lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT) và công nghệ blockchain, … ngày càng phát triển mạnh mẽ thì nhucầuđổi mớisáng tạo vàứngdụng công nghệ trong kinh doanh trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Có thể nói, xu hướng ứng dụng dịch vụ Internet tốc độ cao, thiết bị và điện thoại thông minh tại Việt Nam bắt đầu từnăm 2003. Đó được xem làbước khởi đầu cho hàng loạt hoạt động khởi nghiệp mới nổi liên quan đến CNS tại Việt Nam. Năm 2016, dịch vụ gia công phần mềm công nghệ thông tin đạt doanh thu khoảng 3 tỷ USD, đưa Việt Nam vượt qua Ấn Độ để trở thành quốc gia có ngành công nghiệp phần mềm lớn thứ hai, sau Trung Quốc (Bộ Tài chính, 2017). Công nghệ Thông tin vàTruyền thông (ICT) là một trong những lĩnh vực phát triển nhanh nhất tại Việt Nam, bằng chứng là trong năm 2022, Việt Nam có hơn 40.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, doanh thu xuất khẩu phần mềm và dịch vụ ICT đạt 2,2 tỷ USD (Tạp chíđiệntử, 2023). Theo báo cáo của Cameron và cộngsự(2019), tính đến giữa năm 2018, đã có tổng cộng 9.500 doanh nghiệp tại Việt Nam tạo ra phần mềm số trong các lĩnh vực như tài chính, viễn thông, nông nghiệp thông minh và chínhphủ, đạttổng doanh thu toàn ngành ICT là 98,9 tỷ USD, gấp 13 lần doanh thu năm 2010 (7,6 tỷ đô la Mỹ).

Bên cạnh đó, sự phát triển vượt bậc của công nghệ kỹ thuật số đã làm thay đổi bản chất của khởi nghiệp, mang đến những cơ hội, quy trình và thách thức mới, cũng như sựxuất hiện của các ngành kỹ thuậtsốmới(Denoo & Yli-Renko, 2019). Công nghệ ngày càng tiến bộ và hiện đại đã tạo ra những cơ hội mới và giảm thiểu ngưỡng gia nhập vào thị trường. Số hóa mang đến cho các doanh nhân nhiều cơ hội để tích hợp công nghệ kỹthuật số vào tất cả các hoạt động khởi nghiệp, cho phép họ phát triển các sản phẩm, dịch vụ, quy trình và mô hình kinh doanh mới, khám phá các thị trường và cơ hội mới, giảm thiểu chi phí và gắn kết tốt hơn với các bên liên quan (Kollmann và cộng sự, 2021; Sahut và cộng sự, 2021; Elia và cộng sự, 2020; Kraus và cộng sự, 2019; Ladeira và cộng sự, 2019; Rusu & Roman, 2020). Việc sử dụng internet và các ứng dụng CNS đã giúp cho các doanh nghiệp khởi nghiệp có thể tiếp cận đến khách hàng và thị trường toàn cầu một cách dễ dàng hơn bao giờ hết. Các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, khoa họcdữliệu,

big data, công nghệ blockchain, v.v… đã tạo ra một không gian mở cho sựđổi mới và

3

phát triển kinh doanh. Theo báo cáocủaCB Insights về xu hướng khởi nghiệp năm 2021 cho thấy ngành công nghệ vẫn là lĩnh vực được quan tâm nhất. Trong số 677 nhà đầu tưkhởi nghiệp được thăm dò ý kiến thì có hơn một nửa (53%) cho rằng các công ty công nghệ sẽ là ngành phát triển nhanh nhất trong 5 năm tới. Hơn nữa, thống kê của Starup Genome (2021) cũng cho thấy sựtăng trưởng đáng kể của lĩnh vực này, trong số 250 thành phố khởi nghiệp đáng chú ý trên thế giới thì đã có 80% đang phát triển trong các lĩnh vực công nghệ, bao gồm trí tuệ nhân tạo, chăm sóc sức khỏe và bảo mật thông tin. Báo cáo của GEM 2020-2021 cho thấy Việt Nam có nhiều bước tiến đáng kể trong lĩnh vực khởi nghiệp công nghệ. Năm 2021, Việt Nam xếp hạng thứ 3 trên thế giới về tốc độ tăng trưởng của các công ty khởi nghiệp công nghệ, sau Ấn Độ và Trung Quốc (GEM, 2021). Báo cáo của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia cho thấy trong năm 2024 chỉ số hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam xếp thứ 5 tại khu vực Đông Nam Á, thứ12 tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và tăng 4 bậc so với năm 2022 vươn lên vị trí44/133 quốc gia khởi nghiệp toàn cầu (CESTI, 2024).Đồngthời, Báo cáo đổi mới sáng

tạo và công nghệ Việt Nam 2023 của Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC) cho rằng đầutư công nghệ tại quốc gia chịu sựảnh hưởng từnền kinh tế toàn cầu, vốn đầu tư

mạo hiểm vào nước tađã giảm65% vào nửa cuối năm 2022 vì khủng hoảng trong ngành công nghệ ngày càng tăng, tuy nhiên lĩnh vực Fintech vẫn tiếp tục thu hút vốn đầu tư dồi dào, chiếm khoảng 39% tổng giá trị đầu tư (NIC, 2023). Doanh thu công nghiệp CNS năm 2024 ước đạt 3,636 triệu tỷ đồng, với 50.350 doanh nghiệp CNS đang hoạt động (Phạm Lâm, 2024).

Nhu cầu nội tại từ thực tiễn, xu hướng hợp tác, hội nhập quốc tế sâu rộng và kinh nghiệm thành công của các quốc gia khởi nghiệp đã và đang tác động đến tinh thần khởi nghiệp của Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, do tác động của công nghệ kỹ thuật số trởthành một rào cảnlớnđối với những ngườicó ý định bắt đầukinh doanh trong lĩnh vực CNS (Mir và cộng sự, 2022). Người học bậc sau đại học là những người lao động trong các ngànhkỹthuật – công nghệ có nhiềuđiềukiện thuận lợi đểtiếp cận tri thức và triển khai các dự án công nghệ số. Đặc biệt, học viên sau đại học là lực lượng với nền tảng tri thức chuyên môn vững chắc, có tư duy nghiên cứu khoa học và trải nghiệm thực tiễn đa dạng, đang trở thành một lực lượng tiềm năng trong hệ sinh thái khởi nghiệp CNS. Nhiều học viên đang theo học các ngành liên quan đến công nghệ, quản trị, kinh tế, giáo dục,

4

…, đã bắt đầu quan tâm đến việc ứng dụng CNS để giải quyết các vấn đề thực tiễn trong lĩnh vực chuyên môn của mình thông qua con đường khởi nghiệp. Tuy nhiên, việc hiện thực hóa ý tưởng khởi nghiệp CNS ở nước ta đang gặp phải nhiều rào cản như thiếu vốn, kinh nghiệm quản lý, kỹ năng gọi vốn đầu tư, hiểu biết hạn chế về thị trường và tâm lý e ngại rủi ro. Hoạtđộngkhởi nghiệp đang trở thành xuhướngvà có ảnh hưởng trong bối cảnh thực tiễn hiện nay. Cùng với đó là sự tiến bộ của công nghệ, sự thay đổi quan điểm kinh doanh và sự hỗ trợ của các tổ chức và chính phủ, phi chính phủ đã tạo ra những cơhội và thách thức cho những ai muốn tham gia sân chơi khởi nghiệp này.

Trong nền kinh tế chuyển đổi số, khởi nghiệp CNS bắt đầu thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển (Nathani & Dwivedi, 2019). CNS làm thay đổi cơcấu tổchức của các doanh nghiệp truyền thống, những thay đổinày được gọi là “chuyển đổi kỹ thuật số” tạo ra nhiều cơ hội cho hoạt động khởi nghiệp (Garcez và cộng sự, 2023). Xu hướng vận động kinh tế – xã hội hiện nay và tương lai chủ yếu diễn

ra trên nền tảng số như kinh tế số, thương mại số, tài chính số và xã hội số, …đặt ra yêu cầu không chỉ cho hoạt động khởi nghiệp và còn khởi nghiệp trên nền tảng CNS. Chính vì vậy, nghiêncứu vềý địnhkhởi nghiệp CNS là hết sức cần thiếtđể hiểu được độnglực, rào cản vàđịnhhướngchính sách, từđótăngcường hỗtrợvà thúcđẩythế hệ khởi nghiệp trẻ hiện nay.

1.1.2. Bối cảnh lý thuyết

Khởi nghiệp là một khái niệm thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu từ những năm thế kỷ 19. Cách đây khoảng 30 năm, kể từ khi Shapero đưa ra các kết quả nghiên cứu có ảnh hưởng lớn về chủ đề khởi nghiệp (Shapero 1984; Shapero và Sokol 1982), các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp (YĐKN) đã dành được sự quan tâm của rất nhiều học giả. Từđó, xã hội cũng đã chứng kiến sự bùng nổ của việc sử dụng các mô hình ýđịnh khởi nghiệp, đồng thời khẳng định khả năng ứng dụng các lý thuyết này trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

Có hai hướng nghiên cứu riêng biệt xuất hiện liên quan đến YĐKN. Trước tiên, xuất phát từ tâm lý học xã hội nhằm mục đích phân tích các hành vi nói chung và làm sáng tỏquá trình từý định dẫn từthái độ và niềm tin đi đến hành động một cách hiệu quả. Trong đó, phải kể đến hai đóng góp chính của lĩnh vực này đặc biệt phù hợp với nghiên cứu vềYĐKN, là của Ajzen và Fishbein (1980) và của Bandura (1997). Một bước tiến xa hơn

5

khi Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) được Ajzen (1991) phát triển và hoàn thiện đã trở thành một trong những lý thuyếtđược sử dụng rộng rãinhất trong tâm lý học xãhội nói chung. Nghiên cứu của Krueger và Carsrud (1993) được cho là có ý nghĩa rất lớn trong việc biến TPB thành lý thuyết “tham chiếu” trong hầu hết các nghiên cứu về YĐKN. Krueger và Brazeal (1994) đã cố gắng dung hòa TPB với lý thuyết về sự kiện khởi nghiệp

(EEM) của Shapero và Sokol (1982). Ngay sau đó, hai đóng góp nổi tiếng của Kolvereid (1996a, b) đã khẳng định chắc chắn khả năng ứng dụng và tính hữu dụng của mô hình TPB trong hầu hết các nghiên cứu về khởi nghiệp.

Hướng thứhai dành riêng cho lĩnh vực kinh doanh (Shapero 1984; Shapero và Sokol 1982; Bird 1988). Sự giao thoa của cả hai hướng nghiên cứu này phần lớn là nhờ vào một số đónggóp rất thuyết phục cho việc áp dụng các công cụ và lý thuyết từ tâm lý học trong việc nghiên cứu về ý định khởi nghiệp (Shaver và Scott, 1991). Kể từ đó, nghiên cứu vềEI đã đượcmở rộng, tập trung vào nhiều khía cạnh khác nhau. Chẳng hạn, một số bài nghiên cứu ý định ở cấp độ doanh nghiệp (Xiao và cộng sự, 2013). Điều này sẽ gần hơn với khái niệmđịnhhướng kinh doanh – Entrepreneurial Orientation – EO) (Kraus và cộng sự, 2012; Rigtering và cộng sự, 2014) – là một đặc điểm của tổ chức. Trong khi đó, khái niệm về YĐKN trước đây chỉ được nghiên cứu ở cấp độ cá nhân (Krueger và cộng sự, 2000; Werner và cộng sự, 2014).

Nhiều lý thuyết khác nhau đã được xây dựng để nghiên cứu ý định khởi nghiệp nhưMô hìnhsựkiện khởi nghiệp – EEM (Shapero & Sokol, 1982), Lý thuyết hành vi có kế hoạch – TPB (Ajzen, 1991), v.v.. Sau này,mộtsố môhình bắt nguồn từ các mô hìnhtrướcđó được gọi là Lý thuyết Mô hình kinh doanh hành vi có kế hoạch – TPBEM (Krueger & Carsrud, 1993) được xây dựng từ lý thuyết TPB của Ajzen; Mô hình ý định khởi nghiệp

– EIM (Boyd & Vozikis, 1994) là sự mở rộng của mô hình Bird (1998) và Mô hình tiềm năng khởi nghiệp – EPM (Krueger & Brazeal, 1994) được phát triển từ mô hình EEM của Shapero và Sokol (1982). Năm 2002, Douglas và Shepherd đề xuất một mô hình mớiđược gọi là Mô hình ý định khởi nghiệp (DEIM) để kiểm tra tác động của thái độ cá nhân với ý địnhkhởi nghiệp. Sau này, Lý thuyết cấu trúc về ý định khởi nghiệp (SEMI) được Lutthje và Franke đề xuất năm 2003 chỉ ra tầm quan trọng của đặc điểm tính cách trong giải thích thái độ và hành vi kinh doanh của một cá nhân.

6

Sựtích hợp các lý thuyết từ lĩnh vực tâm lý xã hội đã góp phần làm tăng sức mạnh về mặtlý thuyết và tính chặt chẽ về mặt phương phápcủacác đóng góp nêu trên (Ajzen, 1991; Bandura, 1982). Mặc dù về sau này đã có sự ra đời và tồn tại các mô hình lý thuyết thay thế khác nhau nhưng vẫn tồn tại một số bằng chứng về tính tương thích của các môhình dựa trên ý định (Boyd và Vozikis, 1994; Krueger và cộng sự, 2000). Ngoài ra, với việc xuất hiện ngày càng nhiều nghiên cứu dựa trên khái niệm YĐKN,ứng dụng mới vào nhiều lĩnh vực khác nhau dẫn đến kết quả của nhiều nghiên cứu không còn phù hợp với tình hình hiện tại (Carsrud và Brännback, 2011; Krueger, 2009; Krueger và Day, 2010). Phần lớn các nghiên cứu này thiếu hệ thống hóa và có xu hướng lặp lại các nghiên cứuđã thực hiện trước đây. Do đó, dẫn đến một hệ lụylà nghiên cứu trong lĩnh vực khởi nghiệp dần trở nên bị lỗi thời và thiếu thực tế (Fayolle và Liñán, 2014). Vì vậy, đặt ra yêu cầu phải xây dựng một cách có hệ thống các lý thuyết cũng như kết quả nghiên cứu mới để đóng góp vào sự tiến bộ hơn nữa trong lĩnh vực này. Đặc biệt, điều này sẽ giúp xác định không chỉ các chủ đề chính trong nguồn dữ liệu hiện có, mà còn cả những khiếm khuyết hiện tại và các hướng nghiên cứu mới có liên quan.

Khởi nghiệp CNS là một hình thái khởi nghiệp mới nổi, trong đó công nghệ đóng vai trò cốt lõi trong việc tạo giá trị mới, mô hình kinh doanh mới hoặc giải quyết các vấnđề kinh tế – xã hội. Lĩnh vực này đang trở thành chủ đề nghiên cứu thú vị thu hút sự quan tâm của học giả ở các nước phát triển và đang phát triển vì nó đóng vai trò căn bản trong việc thay đổi cục diện kinh tế và tạo điều kiện cho các nỗ lực sáng tạo và đổi mới cho sựphát triển của các nhà khởi nghiệp mới (Wibowo và cộng sự, 2023). Khác với các loại hình khởi nghiệp truyền thống, CNS đòi hỏi khởi nghiệp không chỉ có tư duy kinh doanh mà còn biết cách khai thác công nghệ đểđổimới sáng tạo. Trong những nămgầnđây, các nghiên cứu về hành vi khởi nghiệp ngày càng được quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế số. Liên quan đến khởi nghiệp CNS, một số công trình nghiên cứu tiên phong đãchỉ ra rằng sự đa dạng hóa trong nhiều lĩnh vực bao gồm phương tiện truyền thông, giải trí, quảng cáo, bán lẻ,vận tảivà khu vực đãcó sựchuyển biến rõrệt nhờ đổimới mô hình kinh doanh, chẳnghạnnhư thị trường kỹ thuật số đa diện, phương tiện truyền thông xãhội, thương mại điện tử và phần mềm dưới dạng dịch vụ (Zaheer và cộng sự, 2019). Sựtồn tại của nền kinh tếkỹ thuật số đang dần mở rộng phần lớn là nhờ hoạt động kinh doanh được hỗ trợ bởi các công nghệ kỹ thuật số. Trên thực tế đã chứng kiến các công ty

7

khởi nghiệp CNS như Facebook, Google, Uber, Alibaba, Amazon,… hiện đượccoi lànhững công ty khổng lồ của thế giới. Cho nên, nền kinh tế công nghệ kỹ thuậtsố được ca ngợi là một trong những bước phát triển kinh tế quan trọng nhất kể từ cuộc cách mạng công nghiệp và tinh thần khởi nghiệp CNS nằm ngay tại nguồn gốc của cuộc cách mạng này (Kraus và cộng sự, 2019; Nambisan, 2019). Theo Nguyễn và cộng sự(2025), bối cảnh Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, do đó, công nghệ và các doanh nhân CNS vẫn còn khá mới mẻ đối với sinh viên nên kết quả của các nghiên cứu trong tương lai cóthểkhác so với kếtquảcủa nghiên cứu này khi bối cảnh thay đổi. Vì vậy,về mặt lýthuyết, ý định khởi nghiệp CNS đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả và doanh nghiệp trong bối cảnh sự phát triển nhanh chóng của CNS và ngành công nghiệp 4.0.

Mặc dù các nghiên cứu đã được thực hiện và gợi mở các lý thuyết để tìm hiểu về vấnđề ý định khởinghiệp CNS, tuy nhiên vẫn còn nhiềuvấnđề tồn tại và chưađược làm rõ. Thứ nhất, mối quan hệ giữa ý định khởi nghiệp CNSvà sựhiểu biết về khởi nghiệp

CNS. Mặc dù ý định khởi nghiệp CNS đòi hỏi sự hiểu biết về hoạt động khởi nghiệp, nhưng mối quan hệ giữa hai yếu tố này vẫn chưa được làm rõ. Có thể nhiều người cóýđịnh khởi nghiệp CNS nhưng thiếu sự hiểu biết về hoạt động khởi nghiệp, hoặc ngược lại, những người có sự hiểu biết về công nghệ cũng nhưsựhiểu biết về hoạt động khởi nghiệp nhưng không có ý định khởi nghiệp.

Thứ hai, tác động của yếu tố cá nhân và yếu tố môi trường khác chưa được xem xét trong tổng thể mối tương quanđếný địnhkhởi nghiệp CNS. Các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp CNS trước đây chưa đi sâu phân tích tác động của các yếu tố môi trường (bao gồmSựhiểu biết về khởi nghiệp CNS, Trải nghiệm CNS và Năng lực CNS) đến ýđịnh khởi nghiệp CNS. Điều này gây khó khăn cho việc đi sâu tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp CNS.

Thứ ba, tầm quan trọng của yếu tố năng lực CNS đối với ý định khởi nghiệp CNS chưa được khai thác và kiểm tra trong bối cảnh khởi nghiệp. Năng lực CNS, hay nói khác hơn là khả năng hoặc sự ứng dụng CNS vào kinh doanh hoặc làm việc gì đó có liên quanđến CNS, đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp CNS. Năng lực CNS bao hàm những sự hiểu biết, cảm nhận và tương tác của ngườisửdụng với các sản phẩm, dịch vụ và ứng dụng CNS. Các nghiên cứu hiện cóchủ yếu tập trung vào việc giải thích vai trò hỗ trợ của công nghệ kỹ thuật số như vai trò

8

ngữcảnh, nhưng lại bỏ qua vai tròcủacá nhân và khả năng của họ trong việcsửdụng các công nghệđó(von Arnim và Mrozewski, 2020). Hàng loạt các khả năngvềCNS liên quan đến cá nhân như kỹ thuật, hành vi, thể chất, quản lý và mối quan hệ đã đãđược nghiên cứu trước đây (Garrison và cộng sự, 2015), nhưng chưa được nghiên cứu nhiều trong bối cảnh của hoạt động khởi nghiệp.

Thứ tư, các thuật ngữsửdụng trong nghiên cứu về khởi nghiệp CNS gây ra nhiều sựnhầm lẫn. Khi các xu hướng nhanh chóng xuất hiện và biến mất, người ta sử dụng các thuật ngữ khác nhau thay thế cho nhau từ một khái niệm hay thuật ngữ mới nổi (Matlay, 2004). Thuật ngữ “ý định khởi nghiệp trên internet” bắt đầu xuất hiện vào năm 2000 – 2001 đã dẫn đến làn sóng khởi nghiệp kinh doanh trên mạng và điện tử vào khoảng năm 2004, và chođến hiện tại dườngnhưđãđượcchấp nhận thống nhất với thuật ngữđược gọi là “ý định khởi nghiệp CNS”. Ý định khởi nghiệp CNS đã kế thừa bản chất riêng lẻ và khác biệt của nghiên cứu về kinh doanh và quản trị (Moroz và Hindle, 2012; Tranfield và cộng sự, 2003). Theo đó, cũng cho thấy sựthiếu rõ ràng hoặc khôngđồng nhất về phạm vi, bản chất và ranh giới của lĩnh vực nghiên cứu (Davidsson và Gordon, 2012; Welter và cộng sự, 2017). Các mô hình, quy trình khởi nghiệp CNS không hài hòa (Moroz và Hindle, 2012). Ngoài ra, nghiên cứu không phải lúc nào cũng đi sát với thực tiễn, đặc biệt nghiên cứu học thuật chủ yếu vẫn mang tính giải thích trong cách tiếp cận (Dimov, 2016). Hiện nay xu hướng chấp nhận và kỳvọng rằng sẽ ngày càng có nhiều người nghiêm túc cân nhắc tham gia vào hoạt động kinh doanh CNS (Ladeira và cộng sự, 2019). Quan trọng hơn, có rất nhiều nguyên tắc khi tham gia vào quy trình kinh doanh CNS nhưphát triển phần mềm bắt nguồntừhệ thống thông tin (IS), khái niệm hóa các mô hình kinh doanh và xây dựng chiến lược nằm trong hệ thống quản lý, trong khi đó, việc tạo ra các dự án kinh doanh mới đều bắt nguồn từ ý định khởi nghiệp. Đồng thời, trong giới học thuật hiện cũng đang thiếu vắng các lý thuyết mới và mô hình nghiêncứu về ý địnhkinh doanh CNS nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh này phát triển phù hợp với xu thế hiện

tại của nền kinh tế CNS. Nambisan (2017) đã đề xuất đưa ra lý thuyết rõ ràng hơn về các khái niệm và cấu trúc liên quan đến CNS, như quan điểm về công nghệ kỹ thuật số, nhằm nghiên cứu các hiện tượng khởi nghiệp trong một thế giới số hóa. Vì vậy, công nghệ kỹthuật số không chỉ đơn thuần là một bối cảnh trong nghiên cứu về ý định khởi nghiệp. Thay vào đó, tác động của các công nghệ kỹ thuật số buộc phải xem xét lại và đưa ra lý

9

thuyết mới về các mô hình quản lý và kinh doanh trong một thế giới số hóa, từ đó mở ra nhiều cơ hội nghiên cứu hơn cho giới học giả sau này.

1.2. Lý do chọn lĩnh vực nghiên cứu

Các hoạt động khởi nghiệp không chỉ là vườn ươm đổi mới công nghệ mà còn tạo ra cơ hội việc làm và thúc đẩy khả năng cạnh tranh (Zahra, 1999). Chúng ta không thể phủnhận vai trò quan trọng của hoạtđộngkhởi nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế.Đólà một trong những ngành kinh tế chủ chốt góp phần to lớn thúc đẩy tăng trưởng kinh tếquốc gia, giải quyết vấn nạn thất nghiệp và tạo ra công ăn việc làm cho xã hội (Wibowo và cộng sự, 2023; Resurreccion, 2011; Lee và cộng sự, 2006). Hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam được thúcđẩy bởilàn sóng khởi nghiệp từđầunhững năm 2000đếntừcác chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ. Đơn vịdẫn đầu cả nước và giữvững vị thế cạnh tranh chođến nay phải kể đếnlà VNC Corp, VNG, Topica, Nhaccuatui, và sau này là

Tiki, Foody, VNPay, Grab v.v… Theo đó, Chính phủ cũng quan tâm và xem khởi nghiệp là nguồn động lực mới cho sự phát triển nền kinh tế quốc dân, mang lại hiệu quả trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội. Hàng loạt chính sách hỗ trợ doanh nghiệpđã được thực hiện để thúc đẩy hoạt động khởinghiệp. Đáng chú ý, Chính phủ Việt Namđã ban hành một số nghị định, chính sách mới nhằm khuyến khích khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, chẳng hạn như Nghị định 13/2019/NĐ-CP quy định miễn thuế trong 4 năm đầu hình thành, và trong 9 năm tiếp theođượcgiảm 50% lãi suất cho vay (áp dụng cho doanh nghiệp thực hiện dựán đầu tưmới trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ). Nhà nước cũng quan tâm và tài trợ cho các chương trìnhđàotạo nguồn nhân lực chất lượng cao, các sự kiện lớn liên quanđếnkhởi nghiệp như TechFest, Startup Wheels, Vietnam Venture Summit 2019, Trung tâm Hỗ trợ Khởi nghiệp (BSSC), Vietnam Silicon Valley (VSV), v.v… Bên cạnhđó,hàng loạt khu công nghệ cao tại các thànhphốlớn đãvà đang được xây dựng như Khu Công nghệ cao TP.HCM (SHTP), Khu Công nghệ caoĐà Nẵng. Trong khi triển vọng khởi nghiệp được đánh giá là rất lạc quan, số lượng người Việt Nam kì vọng trở thành doanh nhân ngày càng tăng, và vai trò của doanh nhân ngày càng được công nhận trong xã hội, thì Việt Nam vẫn còn kém xa so với các nước ở trìnhđộ phát triển tương đương về nhận thức cơ hội kinh doanh.

Ngoài ra, theo số liệu báo cáocủaTổngcụcThống kê (GSO, 2025) cho biết trong năm 2024 cả nước có gần 1,06 triệungườithất nghiệp trong độ tuổi lao động. Theo số

10

liệu khảo sát tại 1.500 doanh nghiệp khởi nghiệp của Hiệp hội khởi nghiệp quốc gia, hầu hết người học mới tốt nghiệp trong nước chưa đáp ứng được kỳ vọngcủa hoạt độngkhởi nghiệp (Thùy Lê, 2018). Để lý giải điều này, đã có nhiều ý kiến cho rằng, chương trình giáo dục phổ thông và đại học hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu sự hiểu biết về khởi nghiệp; giáo trình chú trọng vào lý thuyết và học thuật, chưa đề cao tính thực hànhvà sựhiểu biết thực tiễn. Học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông chưa được trang bị những nguyên lý cơ bản của kinh tế học và cách tiếp cận thực tế trong kinh doanh, dẫn đến kết quả là nhiều học sinh sau khi tốt nghiệp vẫn chưa có khái niệm đầy đủ về tính độc lập hay tinh thần khởi nghiệp (Võ Duy Khương, 2021). Có một nghịch lý là hầu hết các nhàkhởi nghiệpđềucósựkhởi đầu rất chật vậtở giaiđoạnđầu,ít có cơ hộiđượchọctập chính quy, do đóhầuhết các doanh nghiệp khởi nghiệpở Việt Nam đềucó trìnhđộchuyên môn thấp. Ngược lại, nhữngngườicó trìnhđộhọcvấnvà chuyên môn cao, trải qua nhiều cơ hội khởi nghiệp cóthểthành công lại có xuhướngđi làm thuê (Rocha & Pozzoli, 2021). Đây cũng là một đặc điểm riêng biệt của Việt Nam đã tạo rào cản lớn cho quá trình hình thành cộng đồng khởi nghiệp trong xu thế ngày nay.

Trong khi bài toán giải quyết việc làm vẫn chưa có lời giải thì việc ươm mầm cho những doanh nhân tương lai có thể tự khởi nghiệp là một xu hướng tất yếu. Khởi nghiệp là một trong những lựa chọn nghề nghiệp mà người học có thể cân nhắc ngay trước hoặc sau khi tốt nghiệp (Beeka và Rimmington, 2011). Theo Jaya và Manvi(2019), hoạt động khởi nghiệp có hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề thất nghiệp và cho thấytỷ lệ thất nghiệp thấp hơn ở những khuvực có sốlượngsáng kiến trong kinh doanh cao (Audretsch và cộng sự, 2002). Nghiên cứu tiền đề về ý định khởi nghiệp có thể giúp các chuyên gia, cố vấnvà nhà hoạch định chính sách biết thêm về cách thức hình thành niềm tin, nhận thức, và kinh nghiệm ảnh hưởngđếnýđịnhkhởi nghiệp (Wang và cộng sự, 2011; Zellweger và cộng sự, 2011). Bên cạnh đó, Tổng cục Thống kê cho biết trong năm 2024, cả nước có hơn 157,2 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn hơn 1.547,0 nghìn tỷ đồng, đồng thời có gần 76,2 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động

(GOS, 2024). Với những lợi thế sẵn có và sự phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, Ngành, địa phương, hệ thống giải pháp đề xuấtsẽlà cơ sở đểxây dựng, ban hành các cơ chế, chính sách cần thiết, hỗ trợ, thu hút nhiều nhà đầu tư, khai phá tiềm năng phát triển các hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam trong thời gian tới. Việt Nam vẫn đang

Ý định khởi nghiệp CNS tại Việt Nam
Ý định khởi nghiệp CNS tại Việt Nam

đối mặt với nhiều thách thức trong việc phát triển hoạt động khởi nghiệp công nghệ, bao gồm thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, hạ tầng kỹ thuật kém, hạn chế về quản lý vàchiến lược kinh doanh. Ngoài ra, một số nguồn tài nguyên cần thiết cho hoạt động khởi nghiệp nhưvốnđầutưvà hỗtrợtừchính phủ còn hạn chế. Hoạtđộng khởinghiệp công nghệ tại Việt Nam đang có xu hướng phát triển tốt, tuy nhiên vẫn còn nhiều thách thức cần được giải quyết để tiếp tục thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực này trong tương lai.

Tinh thần kinh doanh và công nghệđã được kết nốichặt chẽ trong những thậpkỷqua. Theo Yáñez-Valdés & Guerrero (2024), sựphát triển của CNS và các yếu tố bên ngoài đã mang đến cho các doanh nhân những cơ hội và thách thức mới. Khởi nghiệp CNS cóthểlà giải pháp tiềm năng để giải quyết những thách thức màngười họcvà người lao động tương lai ở châu Á phải đối mặt (Sahrah và cộng sự, 2023). Đồng thời, cần cócác nghiên cứu bổ sung để nâng cao hiểu biết về ý định khởi nghiệp CNS do còn thiếu các nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện trong lĩnh vực này. Nghiên cứu ý định khởi nghiệp CNScủa người họcViệt Nam, cụthểlà học viên trìnhđộ sau đại họctạikhu vực TP.HCM, là một trong những lĩnh vực nghiên cứu quan trọng và hấp dẫn trong nghiên cứu về khởi nghiệp, vì những lý do sau đây:

Thứnhất, về tiềmnăng và đóng góp cho nền kinh tế. người học là lực lượng lao động tiềm năng trẻ tuổi và năng động, đại diện cho tương lai của đất nước. Theo Hafezieh vàcộng sự(2011), độ tuổi trung bình củangườihọckhởi nghiệp liên quan đến lĩnh vực CNS là từ25 đến 35 tuổi. Nghiên cứu ý định khởi nghiệp của người học Việt Nam có thể xácđịnh đượctiềm năng sáng tạo,ý tưởngkinh doanh và động lực cá nhân củahọđểtham gia vào lĩnh vực khởi nghiệp. Trong khiđó,những ý tưởng này có thể phản ánh xu hướng và tham vọng của tương lai về việc tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới hoặc giải pháp sáng tạo để giải quyết các vấn đề của nền kinh tế và cho xã hội. Nếu được khuyến khích và hỗtrợ thích hợp, ý định khởi nghiệp của người học có thể dẫn đến việc thành lập các công

ty mới, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, đóng góp vào thuế thu nhập và thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

Thứ hai, về sự gia tăng trong ý định khởi nghiệp. Trong những năm gần đây, ý định khởi nghiệp của ngườihọcViệt Nam đã gia tăng đáng kể. Báo cáo Kinh tế Toàn cầu (GEM, 2021) cho thấy tỷ lệ người dân có ý định khởi nghiệp tại Việt Nam trong năm 2020 đạt 44.9%, có dấu hiệu tăng lên đáng kể so với năm trước đó. Do đó, nghiên cứu về

12

chủ đề này cóthể giúp hiểu rõ hơn về nguyên nhân và yếu tố thúc đẩy sự gia tăng này và đề xuất các biện pháp hỗ trợ cũng như khuyến khích hoạt động khởi nghiệp cho người học. Tầng lớp trẻ đóng vai trò quan trọng trong việc định hình tương laicủa mộtquốc gia. Do vậy, việc khuyến khích khởi nghiệp trong tầng lớp trẻ không chỉ giúp thúc đẩy sự đổi mới và sáng tạo, mà còn giúp xây dựng tinh thần tự chủ, tinh thần khởi nghiệp vàkỹ năng quản lý trongthế hệ trẻ, thúc đẩy sựphát triểnbềnvững và manglạilợiích dài hạn cho đất nước.

Thứba, về những thách thức và cơ hội hiện có. Người học Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong hoạt động khởi nghiệp, bao gồm những hạn chế về vốn, sựhiểu biếtvà kỹnăng quản lý kinh doanh. Về nguồn vốn, dẫn theo Xenia Tech (2024), vốn đầu tưmạo hiểm cho startup Việt Nam trong năm 2023 giảm mạnh so với năm 2021 từ1,4 tỷ USD giảm xuống còn chỉ 529 triệu USD (giảm khoảng 17%), số lượng thương vụ giảm đến40%, và các khoản đầu tư nhỏ (< 500.000 USD) giảm tới 50%. Khởi nghiệp yêu cầu sự hiểu biết về các khía cạnh quản lý như tài chính, tiếp thị, quản lý nhân sự vàchiến lược kinh doanh. Chính sự thiếu hụt sự hiểu biết này có thể khiến cho việcđưa ýtưởng từgiaiđoạnkhởi đầu đến sựthịnh vượng trở nên khó khăn. Hơn nữa, người học thường chưa có cơ hội thực hành các kỹ năng này trong môi trường doanh nghiệp thực

tế. Họ cũng thiếu kinh nghiệm trong việc tìm kiếm nguồn hỗ trợ và thiết lập mối quan hệkết nối trong ngành công nghiệp. Trong một số trường hợp, văn hóa gia đình và tư duy truyền thống có thể làm cho việc khởi nghiệp trở nên khó khăn hơn, bởi áp lực từ gia đìnhđể theođuổiconđường cómộtcông việcổnđịnh hơn thay vì rủi romạohiểmđốivới hoạt động khởi nghiệp. Tuy nhiên, thế hệ trẻ ngày nay cũng có nhiều cơ hội trong lĩnh vực CNS và các ngành công nghiệp mới nổi.

Thứtư, về giáo dục và đào tạo. Nghiên cứu ý định khởi nghiệp của người học có thểđưa ra những đề xuất về cải thiện giáo dục và đào tạo về khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dục đại học. Từviệc nghiên cứu ý định khởi nghiệp CNS của người học giúp hiểu rõ hơn nhu cầu và mong muốn của họ trong việc họcvề khởinghiệp, xác định được lỗ hỏng sựhiểu biết và kỹ năng còn thiếuđểchuẩn bị cho hoạtđộngkhởi nghiệp. Từđócóhướngđề xuất nội dung chương trình đào tạo, hoặc các khóa học tăng cường liên quan đến khởi nghiệp. Nghiên cứu của Nguyễn và cộng sự (2021) cho thấy sinh viên Việt Nam có ýđịnh khởi nghiệp cao hơn khi được tham gia các môn học khởi nghiệp theo hướng thực

13

hành và trải nghiệm, thay vì chỉ học lý thuyết. Đồng thời, việc nghiên cứu có thể cung cấp thông tin về các hoạt động hỗ trợ và tư vấn mà người học cảm thấy cần thiết trong quá trình khởi nghiệp, thúc đẩy việc tạo lập môi trường khởi nghiệp tích cực trong các cơsở giáo dục. Những hoạt động này có thể tạo tiền đề vềsựchuẩn bị tốt hơn cho người họctrước khi bước vào con đường khởi nghiệp.

Thứnăm, hàng loạt những công nghệ kỹ thuật số mới xuất hiện đã làm thayđổi cơcấu tổ chức (Nambisan & Baron, 2013)và dẫn đến việctạo ra ý tưởng kinh doanh mới

(Song, 2019). Vì vậy, nảy sinh nhu cầu về những cá nhân có năng lực đóng vai trò là tác nhân của sự đổi mới. Tình trạng này tách biệt và phân biệt giữa ý định khởi nghiệp CNS với hình thức kinh doanh truyền thống vì khởi nghiệp CNS đòi hỏi phải có kiến thức cũng nhưsựhiểu biết về công nghệkỹthuật số (Hair và cộng sự, 2012). Theo đó,ngườihọc ngày nay thừa hưởng nền văn minh tiên tiến và được đào tạo trong một môi trường liên quan hầu hết đến công nghệ. Trong bối cảnh này, điều cực kỳ quan trọng đối với bất kỳmột quốc gia nào, đặc biệt là quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì việc bồi dưỡng và đào tạo năng lực khởi nghiệp cho sinh viên, cập nhật các loại hình công nghệ tiên tiến trên thế giới để phát triển khả năng khởi nghiệp học thuật kỹ thuật số của người học là vôcùng quan trọng. Trên thực tế, do tỷlệngười họctham gia vào hoạt động khởi nghiệp CNS còn hạnchếdo rào cản về sự thiếu kiến thức kinh doanh,kỹnăng khởi nghiệp, tâm lý e ngại rủi ro cũng như chưa đầy đủ tiềm năng ứng dụng công nghệ trong hoạt động kinh doanh. Từ đó đặt ra câu hỏi điều gì ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp CNS của họ. Và liệu các yếu tố như cảm nhận về tính hữu ích và tính dễsửdụng của công nghệ hay thái độ với khởi nghiệp CNS và nền tảng gia đình có vai trò gì trong việc hình thành ýđịnh khởi nghiệp?

Xuất phát từ nhữngvấn đềtrên, tác giả cho rằng vấnđềnghiên cứu về Ý địnhkhởi nghiệp CNS tại Việt Nam là hết sức cần thiết. Nghiên cứu trong lĩnh vực này không chỉ góp phần làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến YĐKNcủamộtnhóm đối tượng tiềm năng cao, mà còn cung cấp cơ sở khoa học cho các chương trình đào tạo, hỗ trợ và chính sách phát triển khởi nghiệp CNS tại các cơ sở giáo dục đại học. Đồng thời, việc áp dụng các mô hình lý thuyết như TAM vào lĩnh vực khởi nghiệp cũng là một hướng tiếp cận mới, giàu giá trị học thuật và thực tiễn.

1.3. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

14

1.3.1. Mục tiêu chung

Mục tiêu tổng quát của luận án là xác định và kiểm định thành phần các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởinghiệp CNS, nhằm nâng cao hiểu biết về cách thức các yếu tố thuộc về nhận thức, yếu tố cá nhân liên quan đến công nghệ và hành vi chấp nhận công nghệ, có thể kích thích ý định khởi nghiệp CNS. Từđó luậnán đề xuất các hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy tinh thần và hành vi khởi nghiệp trong bối cảnh hiện nay.

1.3.2. Mục tiêu cụ thể

(1) Xác định thành phần các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp CNS.

(2) Phân tích, đánh giá và kiểm định vai trò tác động trực tiếp của các yếu tố, bao gồm: Nhận thức kiểm soát hành vi, Thái độ đối với khởi nghiệp CNS, Sự hiểubiết vềkhởi nghiệp, Trải nghiệm CNS, Năng lực CNS, Nhận thức về tính hữu ích và Nhận thức tính dễ sử dụng của công nghệ đến ý định khởi nghiệp CNS.

(3) Phân tích, đánh giá và kiểm định vai trò trung gian của các yếu tố Nhận thức kiểm soát hành vi, Tháiđộ đối với khởi nghiệpCNS trongmốiquanhệ giữa Sựhiểu biết về khởi nghiệp, Trải nghiệm CNS, Năng lực CNS với ý định khởi nghiệp CNS.

(4) Phân tích, đánh giá và kiểm định vai tròđiều tiết củaNền tảng gia đình trong mối quan hệ giữa Thái độ đối với khởi nghiệp CNS và ý định khởi nghiệp CNS.

(5) Đề xuất hàm ý quản trị từkết quả nghiên cứu để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp CNS đối với người học. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo từ hạn chế của đề tài.

1.3.3. Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết được các mục tiêu trên, cần phải trả lời được các câu hỏi sau:

(1) Các thành phần nàotạo động lực tác động đếný định khởi nghiệp CNS?

(2) Vai trò tácđộngtrực tiếp của Nhận thức kiểm soát hành vi,Thái độđối vớikhởi nghiệp CNS,Sựhiểu biết về khởi nghiệp, Trải nghiệm CNS, Năng lực CNS, Nhận thức về tính hữu ích và Nhận thức tính dễ sử dụng đến ý định khởi nghiệp CNS được phân tích, đánh giá và kiểm định như thế nào?

(3) Vai trò trung gian của Nhận thức kiểm soát hành vi, Thái độ đối với khởi nghiệp CNS trong mối quan hệ giữa Sự hiểu biết về khởi nghiệp, Trải nghiệm CNS, Năng lực CNS với ý định khởi nghiệp CNS được phân tích, đánh giá và kiểm định như thế nào?

(4) Vai trò điều tiết của Nền tảng gia đình được phân tích, đánh giá và kiểm định như thế nào?

15

(5) Hàm ý quản trị nào được đề xuất từkết quả nghiên cứu để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp CNS tại Việt Nam?

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là Ý định khởi nghiệp CNS: vai trò của hành vi chấp nhận công nghệ, Sự hiểu biết về khởi nghiệp, Năng lực CNS và Trải nghiệm CNS.

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Nghiên cứu phân tích trên góc độ ý định khởi nghiệp CNS của người học sau đại học tại Việt Nam với trọng tâm là dựa trên nền tảng Lý thuyết hành vi có kếhoạch và Mô hình chấp nhận công nghệ. Đây là hai lý thuyết phù hợp và diễn giải tốt nhất cho cácvấn đềquan trọng cần thiết trong việc giải quyết mục tiêu nghiên cứu.Vềkhía cạnh thực tiễn, luận án xác định mức độ của ý định khởi nghiệp CNS, không đi sâu phân tích kết quả hành vi khởi nghiệp hay hiệu quả của hoạt động kinh doanh CNS. Bên cạnh đó, khởi nghiệp CNS trong luận án đề cập đến hoạt động kinh doanh diễn ra trên các nền tảng CNS.

Về không gian: Học viên đang theohọctrìnhđộ sau đạihọckhối ngành kinh tế, công nghệ và kỹ thuật của các Trường đại học khu vực TP.HCM. Theo Reynolds vàMiller (1992), những người có độ tuổi từ 25 đến 34 tuổi là những đối tượng có ý định khởi nghiệp cao nhất. Hơn nữa, theo kết quả báo cáo của Đại học Kinh tế tại ngày hội Thanh niên khởi nghiệp – Future Founders Fest 2024, thực tế cho thấy tỷ lệ người Việt Nam khởi nghiệp thời gian gần đây thuộc nhómtuổi từ30 đến 34 tuổi. Nhưvậy đối tượng khảo sát là người học sau đại học sẽ phù hợp hơn đối tượng là sinh viên trong các nghiên cứu trước đây đã thực hiện.

Về thời gian: khảo sát được thực hiện từ tháng 05/2024 – 08/2024. 1.5. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng. Nghiên cứu định tính được thực hiện trong giai đoạn đầu nhằm xác lập nền tảng lý thuyết và khung phân tích cũng như các biến số đo lường phù hợp với bối cảnh nghiên cứu. Từ việc lược khảo nghiên cứu và tổng quan lý thuyết liên quan, tác giả đưa ra những hạn chế mà các nghiên cứu trước đây chưa thực hiện hoặc đã thực hiện nhưng chưa đầy đủ. Từ đó, tác giả đềxuất mô hình nghiên cứu, thang đo đo lường các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp

16

CNS. Tác giả đã thực hiện khảo sát và lấy ý kiến chuyên gia (06 chuyên gia) tại các doanh nghiệp, tổ chức khởi nghiệp và giảng viênđại học, nhằm đảm bảo việc dịchnghĩa của thang đó được kế thừa từ các nghiên cứu nước ngoài theo phương pháp dịchngược (dịch

từ Tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại) (Bùi Nhất Vương & Hà Nam Khánh Giao, 2019). Đồng thời, tác giả cũng tiến hành thảo luận nhóm học viên sau đại học (03 nhóm với số lượng 20 học viên) để kiểm tra, sàn lọc các thông tin đa chiều có liên quan đến các câu hỏi khảo sát, giúp phát hiện hoặc hiệu chỉnh các phát biểu của từng câu hỏi,đảm bảo việc chuyển ngữ bảng khảo sát dễ hiểu và gần gũi nhất với đáp viên. Đồng thời, bước này còn giúp phát hiện, bổ sung, và khám phá thêm những yếu tố có thể ảnh hưởng đến ýđịnh khởi nghiệp CNS.

Bên cạnh đó, nghiên cứu định lượng được tiến hành thực hiện thông qua việc khảo sát bằng bảng câu hỏi đã được hiệu chỉnh/bổ sung để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu. Nghiên cứu định lượng sơ bộ với cỡ mẫu khảo sát là 315 theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Quá trình thu thập dữ liệu được thực hiện từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2024. Nghiên cứu định lượng sơ bộ dùng để xác định độ tin cậy của thang đo, giá trị hội tụ và giá trịphân biệt của thang đo. Sau bước kiểm định sơ bộ, tác giả thiết lập thang đo chính thức. Kết quả khảo sát sơ bộ dùng để thực hiện các kiểm định sơ bộ bao gồm kiểm tra hệ sốtương quan, kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng phương pháp phân tíchdữ liệu sửdụng phần mềm SPSS và SmartPLS. Nghiên cứu địnhlượngchính thức được thực hiện sau bước nghiên cứu định lượng sơ bộ với các bước và quy trình tương tự nhưng với cỡmẫu lớn hơn. Nghiên cứu định lượng chính thức được thực hiện trên bộ dữ liệu từ 1.243 người học sau đại học, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, các mối quan hệ trực tiếp vàtrung gia bằng kỹ thuật bootstrap với cỡ mẫu lặp lại 5000 lần. Đồng thời kiểm định vai trò điều tiết bằng phương pháp phân tích đa nhóm MGA.

Ngoài ra các phương pháp khác bao gồm phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp cũng được sử dụng trong quá trình thực hiện luận án để giải quyết mục tiêu nghiên cứu.

1.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.6.1. Về mặt lý luận

Nghiên cứu nhằm góp phần bổ sung vào lý thuyết liên quan đến ý định khởi nghiệp của người họcsau đại học trong bối cảnh sự tác động của CNS, từsựtiếp cận và bổ sung

17

các nhân tố thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trên nền tảng CNS ở nước ta. Hơn nữa, kết quả từnghiên cứu này phù hợp khi xây dựngđược môhình nghiên cứu thông qua xácđịnh các biến mới để bổ sung vào khung lý thuyết về ý định khởi nghiệp CNS.

Mặt khác, nghiên cứu mở rộng khung lý thuyết TPB và TAM trong bối cảnh khởi nghiệp thông qua việc áp dụng và điều chỉnh các khái niệm về cảm nhận tính hữu ích, cảm nhận tính dễ sửdụng, nhận thức kiểm soát hành vi, thái độcá nhân đối vớikhởi nghiệp, năng lực CNS, kiến thức về khởi nghiệp CNS, trải nghiệm CNS và nền tảng giađình. Từ đó đề xuất mô hình mở rộng của TPB và TAM phù hợp với đặc thù bối cảnh nghiên cứu khởi nghiệp CNS.

Bên cạnh đó, nghiên cứu bổ sung và kiểm định vai trò trung gian bao gồm thái độ cánhân, nhận thức kiểm soát hành vi thuộc TPB trong bối cảnh khởi nghiệp CNS. Đồng thời kiểm tra vai trò điều tiết của yếutốnền tảng gia đình trong mối quan hệ giữa các yếu tố trong mô hình với ý định khởi nghiệp CNS.

Hơn nữa, kết quả nghiên cứu đóng góp vào nghiên cứu về hành vi khởi nghiệp bằng việc cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố thái độ – nhận thức ảnh hưởng đếný định, các yếu tố bối cảnh bao gồm năng lực CNS, trải nghiệm CNS, kiến thức về khởi nghiệp, các yếu tố thuộc mô hình hành vi chấp nhận công nghệ, đặc biệt làm rõ hơn vai trò của nền tảng gia đình trong việc thúc đẩy ý định khởi nghiệp CNS. Qua đó làm phong phú hơn cơ sở dữliệu trong nghiên cứu về ýđịnh khởi nghiệp CNS.Sựkết hợp giữa phương pháp khảo sát định lượng và phỏng vấn, thảo luận nhóm định tính để kiểm chứng lý thuyết góp phần gợi ý phương pháp phân tích hỗn hợp cho các công trình nghiên cứu trong tương lai.

1.6.2. Về mặt thực tiễn

Kết quả của nghiên cứu sẽ khám phá ra một số yếu tố nhất định ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp CNS của người học. Từđó, mở rộng sựhiểu biết của các đối tượng liên quan baogồmcác cơ quan, tổ chức giáo dục đại học và bản thânngười họcvề khởi nghiệp CNS, do đó đóng góp vào việc cải thiện và nâng cao tinh thần khởi nghiệp tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, kết quả từ nghiên cứu sẽ góp phần vào việc cung cấp thêm cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định chính sách và xây dựng các chương trình đào tạo khởi nghiệp, có lộ trình cụ thể nhằm nâng cao nhận thức, khơi dậy tinh thần khởi nghiệp cho các tầng

18

lớp nhân dân trong xã hội; hỗ trợ, động viên tinh thần, niềm tin khởi nghiệp, tâm lý theođuổi và noi theo những tấm gương doanh nhân thành đạt trong tầng lớp trẻ.

Về phía các Trường, khi hiểu được điều gì tạo nên chất lượng cho chương trình đào tạo khởi nghiệp thành công, chẳng hạn như tập trung nhấn mạnh sự tham gia và gắn kết của doanh nghiệp, với doanh nhân, tạođiềukiện cho người học tìm hiểu về cơ chế hoạtđộng, tổ chức bộ máy nhân sự của doanh nghiệp. Sự gắn kết này cũng mang lại lợi ích to lớn cho nhà trường, bởi việc này góp phần nâng cao uy tín của Trường trong xã hội vàđưa các Trường trở thành một nhân tố không thể thiếu trong hệ sinh thái khởi nghiệpđổi mới sáng tạo của quốc gia. Điều này giúp thúc đẩy mô hình liên kết “đào tạo – nghiên cứu – khởi nghiệp” thông qua cácdựán thực tế, chương trình thực tập, hỗ trợ công nghệ, vốn và thị trường cho những người có ý định khởi nghiệp trong người học.

Ngoài ra, đối với bản thân người học, khi hiểu được ý nghĩa của những yếu tố tạođộng lực cho tinh thần khởi nghiệp, họ sẽ trở nên tích cực hơn để tự trao dồi và nâng cao sựhiểu biết cho bản thân. Điều quan trọng nhất là họ sẽ có cơhộitìm hiểu những kiến thức, kỹ năng cần thiết để có thể khởi nghiệp trong bối cảnh hội nhập hiện nay.

Luận án này nhằm mục đích tạo ra cách thức thúc đẩy hành vi khởi nghiệp và phát triển các ý tưởng và ý định khởi nghiệp trong người học, đặc biệt trong bối cảnh chuyển mình của công nghệ số, kinh tế và xãhộisố.Tuy nhiên, luận án chỉ dừng lạiở việc tạo lập và khai thác ý định hành vi, không phải đưa ra quyết định khởi nghiệp.

1.7. Kết cấu nội dung nghiên cứu:

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của Luận án gồm các chương:

Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu. Chương này cung cấp nền tảng của luận án dựđịnh nghiên cứu, tuyên bố vấn đề, mục đích, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Ngoài ra, tác giả tóm tắt ý nghĩa, những đóng góp dựkiến về sựhiểu biết, phạm vi, phương pháp luận và bố cục của luận án.

Chương 2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương này lược khảo các nghiên cứu lý thuyết, tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước liên quan đến đềtài nghiên cứu. Trên cơ sởđó xác định khoảng trống nghiên cứu và đềxuất khung phân tích nội dung nghiên cứu. Chương này còn trình bày cơsở lýthuyết liên quan đến các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp CNS. Bên cạnh đó, xây dựng mô hình nghiên

19

cứu và giả thuyết nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp CNS của người học.

Chương 3. Thiết kế nghiên cứu. Nội dung chương này bao gồm quy trình nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích dữ liệu nghiên cứu.

Chương 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này trình bày kết quả nghiên cứu của Luận án, bao gồm các yếu tố cấu thành tác động đến ý định khởi nghiệp CNS của người học.

Chương 5. Kết luận và hàm ý quản trị. Dựa trên kết quả đưa ra định hướng và đềxuất các giải pháp nhằm thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp tại Việt Nam. Ngoài ra, tác giả đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo dựa trên giới hạn của đề tài.

20

Tóm tắt chương 1

Chương 1 trình bày tổng quanvềbốicảnh và lý dolựa chọn đềtài nghiên cứu. Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, khởi nghiệp công nghệ số đang trở thành xu hướng tất yếu, góp phần tạo ra giá trị mới, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tếsố.Tuy nhiên, tại Việt Nam, mặcdù hệsinh thái khởi nghiệp số đang từng bước hình thành, nhưng tỷ lệ khởi nghiệp thành công còn thấp và ý định tham gia khởi nghiệp công nghệ số của người trẻ vẫn chưa thực sự mạnhmẽ.Điềunày đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu sâu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp trong lĩnh vực này. Từkhoảng trống thực tiễn và học thuật đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xácđịnh các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp công nghệ số thông qua việc tích hợp hai mô hình lý thuyết: Mô hình Chấp nhận công nghệ và Lý thuyết Hành vi có kế hoạch. Việc kết hợp hai mô hình này cho phép đánh giá đồng thời các yếu tố công nghệ (nhận

thức tính hữu ích, nhận thức tính dễ sử dụng) và yếu tố tâm lý – xã hội (thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi), các yếu tố bối cảnh bao gồm Năng lực công công nghệ số, Sự hiểu biết về khởi nghiệp và Trải nghiệm công nghệ số trong việc hình thành ý định khởi nghiệp công nghệ số của người học. Chương này cũng trình bày rõ ràng mục tiêu, câuhỏinghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, đồng thời nêu lên ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài. Bên cạnh đó, chương cũng định hình cấu trúc tổng thể củaluận án, giúp định hướng cho các nội dung sẽ trình bày trong các chương tiếp theo.

21

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1. Các khái niệm nghiên cứu

2.1.1. Ý địnhkhởi nghiệp công nghệ số2.1.1.1. Ý định

Ý định được xem là hoạt động kiểm soát hành vi nhận thức dự đoán chính xác hành vi đó (Ajzen, 1991). Theo Lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991), ý định bao hàm sựtựnguyện của một cá nhân, để nó trở thành yếutốquyếtđịnhcho một hành vicụthể:“Ý định được giả định để nắm bắt các yếu tố động cơ ảnh hưởng đến một hành vi, lànhững dấu hiệu cho thấy mọi người sẵn sàng cố gắng đến mức nào, họ dự định sẽ nỗ lực như thế nào để thực hiện hành vi đó”.

Theo Fishbein & Ajzen (1975), Ý định là “xác suất chủ quan của một cá nhân vềviệc thực hiện một hành vi nhất định”. Cho nên ý định gắn với niềm tin và kỳ vọng cánhân về kết quả hành vi cụ thể. Searle (1983) xem ý định như một cam kết có nhận thức hướng đếnkết quả mong muốn, là “kế hoạch hành động cóý thức nhằm đạtđược một mục tiêu cụ thể trong tương lai”.

Ý định được định nghĩa là trạng thái nắm bắt được các yếu tố thúc đẩy ảnh hưởngđến hành vi, xác suất chủ quan của một người thực hiện một số hành vi, hoặc đại diện cho động cơ mà một cá nhân có để cố gắng thực hiện một hành vi có kế hoạch hoặc một quyết định được đưa ra (Armitage và Conner, 2001).

Ý địnhđược xácđịnhbởi ba yếu tố: (1) Thái độ đối với hành vi, (2) Chuẩn chủ quan, và (3) Nhận thức kiểm soát hành vi (Ajzen, 1991). Thái độ đối với hành vi đề cập đến mức độ mà một ngườiđánh giá tích cực hoặc tiêu cực về hành vi đang được đề cập. Chuẩn chủ quan phản ánh áp lực xã hội theo nhận thức để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi. Nhận thức về kiểm soát hành vi liên quanđến mức độ nhận thức dễdàng hoặc khó khăn khi thực hiện hành vi, và nó được cho là phản ánh kinh nghiệm trong quá khứcũng như những trở ngại dự kiến trong tương lai. Theo nguyên tắc chung, thái độ vàchuẩn chủ quan đối với một hành vi càng thuậnlợivà khả năng nhận thức kiểm soát hành vi càng lớn thì ý định của một cá nhân để thực hiện hành vi đang được xem xét càng mạnh mẽ. Tầm quan trọng tương đối của thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi trong dựđoán về ý định dựkiến sẽ khác nhau giữa các hành vi và tình huống. Vìvậy, trên thực tế có thể thấy rằng chỉ có thái độ mới có tác động đáng kể đến ý định, ở

22

một số người thì thái độ và khả năng nhận thức kiểm soát hành vi là đủ để giải thích cho ý định, và ở những người khác thì cả ba yếu tốdựđoán đều có những đóng góp độc lập

(Ajzen, 1991).

Trên cơsở đó, ý địnhlà điểm khởi đầu của việc theo đuổi quyền tự chủ và tạo ra các dựán mới, làyếu tố dựbáo tốt nhất cho các hành động liên quan và đóng vai trò rất quan trọng trước khi thực sự thành lập doanh nghiệp (Abdullah và cộng sự, 2017). Đồng thời, khía cạnh quan trọng nhất của việc bắt đầumột doanh nghiệp mớilà ý định của một doanh nhân (Nguyen và cộng sự, 2019). Cuối cùng, ý định có thể không trở thành hiện thực, nhưng trên thực tế không ai có thể thành lập doanh nghiệp hoặc tham gia vào các hoạt động kinh doanh mà không có ý định trước (Ita John và cộng sự, 2014). Đồng thời,ý định để tham gia vào một hành vi cụ thể nào đó càng mạnh mẽ thì khả năng thực hiện hành viđócàng cao (Ajzen, 1991). Cho nên, ý định luôn gắn với một mục tiêu hoặc kết quả cụ thể. Ý định càng mạnh mẽ thì khả năng hành vi đó xảy ra càng cao (Ajzen, 1991).

Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu ý định là sự cam kết và mong muốn có ý thức của cá nhân trong việc thực hiện một hành vi cụ thể, thể hiện mức độ sẵn sàng và nỗ lực để đạt được mục tiêu đã định. Ý định đóng vai trò cầu nối giữa các yếu tố nhận thức vàhành vi thực tế, đồng thời là yếu tố dự báo mạnh mẽ nhất của hành vi theo các mô hình nghiên cứu tâm lý và quản trị. Do đó, tác giả tin rằng nghiên cứu dựa trên tiền đề vềýđịnh sẽ cung cấp những ý tưởng quan trọng trong bối cảnh nghiên cứu về khởi nghiệp nói chung và trong môi trường CNS nói riêng.

2.1.1.2. Khởi nghiệp

Khởi nghiệp là một khái niệm đa chiều trong nghiên cứu học thuật, được định nghĩa dưới nhiều gốc độ quan điểm khác nhau.

Khởi nghiệp là “quá trình đổi mới thông qua việc kết hợp các nguồn lực theo cách thức mới để tạo ra sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình kinh doanh mới” (Schumpeter, 1934). Quan điểm này nhấn mạnh tính đổi mới sáng tạo là cốt lõi của khởi nghiệp.

Bên cạnh có, Gartner (1985) cho rằng khởi nghiệp là“quátrình mà qua đó các cánhân tạo ra các tổ chức mới”, điều này tập trung vào khía cạnh hình thành doanh nghiệp mới. Shane & Venkataraman (2000) xem khởi nghiệp như quá trình quản trị cơ hội, là “quá trình khám phá, đánh giá và khai thác các cơ hội kinh doanh nhằm tạo ra hàng hóa, dịch vụ hoặc quy trình mới”.

23

Ủy ban cộng đồng Châu Âu (Commission of the European Communities – CEC, 2003) định nghĩa “Khởi nghiệp là mô thức tư duy và quy trình để tạo ra và phát triển hoạtđộng kinh tế bằng cách kết hợp chấp nhận rủi ro, sángtạovà/hoặc đổi mớivớiquản lýhợp lý, trong một tổ chức mới hoặc hiện hữu”.

Ireland và cộng sự (2003) lạiđịnhnghĩa rằng“Khởinghiệp là một quá trình xã hội phụ thuộc vào bối cảnh mà qua đó các cá nhân và nhóm người tạo ra của cải bằng cách tập hợp các nguồn tài nguyên hữu hạn để khai thác các cơ hội thị trường”.

Theo Hull vàcộng sự(2007), “Khởi nghiệp liên quanđếnviệc nhận thấy vànắmbắt các cơ hội, biến những cơ hội đó thành hàng hóa hoặcdịch vụcó thể bánđược trên thịtrường, chấp nhận rủi ro và mang lại lợi nhuận và có thể xảy ra trong nhiều bối cảnh khác nhau, bao gồm liên doanh mới và cũ, các tổ chức phi lợi nhuận và khu vực công. Nói tóm

lại, việc tạo ra giá trị mới là đặc điểm nổi bật của tinh thần kinh doanh”.

Quan điểm của Ahmad và Hoffmann (2008) cho rằng “Khởi nghiệp là hiện tượng gắn liền với hoạt động kinh doanh. Hoạt động kinh doanh là hành động dám nghĩ dám làm của con người nhằm theo đuổi việc tạo ra giá trị, thông qua việc tạo ra hoặc mở rộng hoạt động kinh tế, bằng cách xác định và khai thác các sản phẩm, quy trình hoặc thịtrường mới”.

Hơn nữa, Khởi nghiệp gắn với vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm, là “hoạt động khởi sựvà điều hành một doanh nghiệp mới, thường liên quan đến việc đổi mới, chấp nhận rủi ro và tìm kiếm lợi nhuận” (OECD, 2019).

Theo Shepherd và cộngsự(2019), khởi nghiệp bao gồm từ việc bắt đầu, tham gia vàthực hiện các nỗ lực kinh doanh gắn liền với các điều kiện môi trường, trong đó ý định khởi nghiệp là đầu tư các nguồn lực (tức là nhận thức, hành vi, tài chính và các nguồn

lực khác) vào việc theo đuổi (thăm dò hoặc khai thác) các cơ hội tiềm năng. Ngoài ra, Youssef và cộng sự (2021) cho rằng, khởi nghiệp là một quá trình năng động của sự sáng tạo, tầm nhìn và thay đổi; đòi hỏi sự hình thành và thực hiện các ý tưởng và giải pháp mới.

Từgóc độ cá nhân, về cơ bản khởi nghiệp có thể được hiểu là việc mộtcá nhân (một mình hoặc một nhóm người) bắt đầu kinh doanh, tận dụng các cơ hội thị trường sẵn cóđể tạo ra và bắt đầu một công việc kinh doanh mới (Bird, 1988; Kuckertz & Wagner, 2010), hoặc hànhđộngđổi mớiliên quanđếnviệc cung cấp các nguồn lực hiện có với

24

khả năng tạo ra của cải mới (Drucker, 1985), nói cách khác, là tự kinh doanh. Đối với các tổ chức, doanh nghiệp khởi nghiệp (start-up) thường dùng để chỉ các công ty đang trong giai đoạn thành lập, bao gồm một loạt các hoạt động kinh doanh liên quan đến quá trình thiết kế và tổ chức để cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mới. Khởi nghiệp theo nghĩa thông thường là bắt đầu một công việc kinh doanh mới và đơn giản là theo đuổi những

quyết định mạo hiểm trong tương lai. Tavakoli (2013) cho rằng hoạtđộngkhởi nghiệp liên quan đến quá trình tạo ra những thứ mới mẻ, và cần thời gian, sự nỗ lực cũng nhưchấp nhận các rủi ro về mặt tài chính, tâm lý và xã hội, có liên quan đến việc đạt được các nguồn tài chính, sự hài lòng trong công việc và sự độc lập của bản thân. Ngoài ra, khởi nghiệp được xem như một hành vi có kế hoạch (Ajzen, 1991; Krueger và cộng sự, 2000).

Tóm lại, có thểhiểu khởi nghiệp là quá trình nhận diện và khai thác cơ hội kinh doanh thông qua việc sáng tạo sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình mới, đồng thời huy động và quản lý các nguồn lực để hình thành và phát triển doanh nghiệp. Khởi nghiệp luôn gắn liền với đổi mới sáng tạo, tinh thần chấp nhận rủi ro và tạo ra giá trị cho sự phát triển kinh tế – xã hội.

2.1.1.3. Ý định khởi nghiệp

Khi nghiên cứu về ý định khởi nghiệp (YĐKN), các học giả trên thế giới cũng cónhiều quan điểm khác nhau. Nói chung, YĐKN được định nghĩa là “niềm tin của một cánhân để thực hiện một hoặc nhiều hành động cụ thể trong quá trình khai thác một cơ hội kinh doanh mới” (Ahmad & Hoffman, 2008), là sự nhận thức và tin tưởng của một cánhân với mục đích tạo ra một doanh nghiệp mới và nỗ lực thực hiện nó trong tương lai

(Bird và Jellinek, 1988; Krueger và Carsrud, 1993; Thompson, 2009), hay đó làsựsẵn sàng tiến hành hoạt động kinh doanh của một cá nhân, tham gia vào một hoạt động kinh doanh hoặc thiết lập một doanh nghiệp mới (Alexei & Lars, 1999; Souitaris và cộng sự, 2007; Krueger & Welpe, 2014), và tìm kiếm thông tin sẵn có sử dụng được để giúp hoàn thành mục tiêu một cách sángtạo(Katz & Gartner, 1988; Choo & Wong, 2006; Devonish và cộng sự, 2010).

Pihie và cộng sự (2009) cho rằng ý định là một trạng thái của tâm trí hoặc thái độảnh hưởng đến hành vi kinh doanh, là một quá trình diễn ra theo thời gian đối với một cánhân (Shane, 2000). Hamidi và cộngsự(2008) nói về YĐKN là thái độ của cá nhânđối

25

với một doanh nghiệp cụ thể, cùngvớicác chuẩn mực xã hội là xu hướng cũng như mứcđộ hiệuquảcủatừng cá nhân.Đâylàmộtquá trình baogồmtừđịnh hướng lậpkếhoạchđến thực hiện kế hoạch tạo dựng một doanh nghiệp (Gupta & Bhawe, 2007). Cho nên, YĐKN là hành động có ý định – chính là một đặc tính của con người (Singh & Onahring, 2019).

Theo Ajzen (1985), quyết định thực hiện hay không thực hiện một hoạt động nào đóđược gọi là ý định. Cácbiến độngcơ thúc đẩy và tác động lên hành vi được cho là do ýđịnh nắm bắt. Chúng chứng tỏ mọi người đang cố gắng và có ý định thực hiện hành vi của mình chăm chỉ như thế nào. Bird (1988) định nghĩa YĐKN là “trạng thái tâm lý định hướng sựchú ý, kinh nghiệm và hành động của một cá nhân vào việc khởi sựkinh doanh nhưmộtmụctiêuđãđược lựa chọn”.Điềunày nhấn mạnh rằng YĐKN làđộng lực định hướngcác nỗ lực của cá nhân để hình thành và phát triển doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Krueger và cộngsự(2000) cho rằng YĐKN là “sựcam kết có ý thức của một cá nhân trong việc khởi sự một doanh nghiệp mới” (Krueger và cộng sự, 2000), cho thấy YĐKN là yếu tốdựbáo mạnhmẽ nhấtcho hành vi khởi nghiệp thực tế. Theo Liñán và Chen (2009), YĐKN là “mức độ nỗ lực mà cá nhân sẵn sàng bỏ ra để thực hiện hoạt động kinh doanh mới” (Liñán & Chen). Khái niệm này tập trung vào cường độ nỗ lực và cam kết của cá nhân đối với hành vi khởi nghiệp. Mặt khác, YĐKN còn được xem là “kế hoạch kinh doanh bất thành văn” thể hiện tầm nhìn của người sáng lập tổ chức mới thành lập (Norris & Alan, 1994). Như vậy, ý định khởi nghiệp đóng vai tròrấtquan trọng trong việc định hình hành vi kinh doanhcủangườihọc trong việcđịnhhướng nghề nghiệp tương lai.

Tóm lại, YĐKN có thể hiểu là mong muốn, kế hoạch và sự sẵn sàng của cá nhân trong việc khởi sự một hoạt động kinh doanh mới, phản ánh cam kết tâm lý và định hướng hành vi nhằm trở thành một doanh nhân trong tương lai. Đây là bước trung gian quan trọng giữa thái độ, nhận thức và hành vi khởi nghiệp thực tế.

Trong nghiên cứu về khởi nghiệp, việc nghiên cứu YĐKN được cho làbiến dựbáo chính cho hành vi khởi nghiệp (Ajzen, 1991; Krueger và cộng sự, 2000), giúp các nhàhoạch định chính sách và giáo dục đolườngtiềm năng khởi nghiệp trong cộnn đồng,đồng thời là cơ sở để phát triển các mô hình như Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) và Mô hìnhsựkiện khởi nghiệp (SEE). Việc đo lường YĐKN đang trở thànhmột chủ đề

26

nghiên cứu thú vị (Al-Mamary và cộng sự, 2022). Trước đây, những trở ngại như thiếu vốn, nguyên liệu thô và nhân viên không có tay nghề được coi là ràocản lớnđốivớiviệc khởi nghiệp và phát triển hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, do sự quan tâm và xây dựng các quy định khác nhau bởi các cơ quan hữu quan ban hành, YĐKN đã nổi lên như một thành phần quan trọng. YĐKN có thể được mô tả là mong muốn bắt đầu kinh doanh hoặc làm việc cho chính mình. Định hướng cá nhân có thể dẫn đến phát triển liên doanh cũngđược coi là khát vọng kinh doanh. Do đó, YĐKN là một trong những biến số quan trọng nhất trong quá trình hình thành, tăng trưởng và phát triển của tinh thần kinh doanh

(Muhammad và cộng sự, 2015). Nó khuyến khích sựtựlực và chủ động. YĐKN được coi là yếu tố quyết định trong việc quyết định theo đuổi sự nghiệp doanh nhân (Wahidmurni & Baihaqi, 2019; Alferaih, 2022a). Để khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến YĐKN, cần phải có sự hiểu biết thấu đáo về các thành phần thúc đẩy YĐKN. Elnadi vàGheith (2021) nhận thấy rằng sẽ không có bước khởi nghiệp nào nếu không có YĐKN. Do đó, các học giả đã tập trung vào YĐKN để hiểu rõ hơn về cách thức và lý do mọi người tham gia vào việc tạo dựng doanh nghiệp.

Lý thuyết về hành vi có kế hoạch của Ajzen nói rằng ý định của một người đối với hoạt động nhận thức kiểm soát hành vi dự đoán chính xác hành vi đó. Dựa trên lý thuyết này, ý định chỉ ra sự sẵn sàng của một cá nhân và trở thành một yếu tố quyết định cho một hành vi cụ thể. Ý định hướng tới tinh thần kinh doanh được xác định bởi ba thành phần: Thái độ đối với tinh thần kinh doanh, Các chuẩn mực chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi (Ajzen, 1991). Bên cạnh đó, mô hình EEM của Shapero xác định ý định kinh doanh dựa trên ba thành phần là Nhận thức khả năng mong muốn, Tính khả thi và xu hướng hành động (Van Gelderen và cộng sự, 2008). Theo Linan và cộng sự (2011), Nhận thức khả năng mong muốn có nghĩa là được tạo ra bởi sự hấp dẫn đối với hành vi cụ thể, ham muốn là kết quả của các ảnh hưởng xã hội và văn hóa, và Tính khả thilà mức độ màmọi người tựcho rằng bản thân cóthểthực hiện mộtsốhành vi nhất định. Do đó, ý định khởi nghiệp là quy trình tương tác giữa nhận thức của cá nhân và các yếu tố ngữ cảnh

(tức là yếu tố văn hóa và xã hội) ảnh hưởng đến nhận thức này. Các yếu tố ngữ cảnhhình thành sự nhận biết,hỗ trợ hoặccótác động đến việcbiếnmộtý tưởng thànhmộthànhđộng cụ thể. Ngoài ra, các rào cản vềthủ tụchành chính hoặc chi phí khởi nghiệp sẽ tác động đến nỗ lực khởi nghiệp của một cá nhân (Dvouletý, 2017). Hầu hết các nghiên cứu

27

đưa ra các so sánh về YĐKN xem xét về khía cạnh các quốc tịch hoặc giới tính khác nhau. Hơn nữa, để nâng cao hiểu biết trong lĩnh vực nghiên cứu YĐKN, có thể xem xét các yếu tố nhân khẩu học khác, chẳng hạn như giáo dục trực tuyến so với môi trường giáo dục hiện tại, các cá nhân khuyết tật so với những người bình thường. Hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào lý thuyết về mô hình hành vi có kế hoạch và do đó trong tương lai có thểkếthợp các mô hình YĐKN khác nhauđể khámphá và mở rộng phạm vi nghiên cứu nhằm gia tăng giá trị và đóng góp cho nguồn dữliệu vốn đã tồntại từtrướcđến nay (Maheshwari và cộng sự, 2022).

2.1.1.4. Ý định khởi nghiệp công nghệ số

Sự phát triển của CNS dẫn đến môi trường sống thay đổi với đặc điểm là công nghệphát triển rất nhanh, càng rộng mở cùng với các giải pháp mới liên quan đến công nghệ, môi trường làm việc thay đổi và tư duy con người ngày càng hiện đại. Khi đó, làn sóng chuyển đổi số toàn cầu được thúc đẩy bởi trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới nổi, đãđịnh hình lại sâu sắc bối cảnh khởi nghiệp (Liang và cộng sự, 2025). Vấn đề này đặt ra những câu hỏi quan trọng về khởi nghiệp CNS nằm ở giao điểm của ý định khởi nghiệp và công nghệ kỹ thuật số. Những yếu tố hấp dẫn kích thích sự xuất hiện của các công ty khởi nghiệp mới chủ yếu dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông là do khả năng chi trả cho công nghệ kỹ thuật số (Nambisan, 2017), các rào cản gia nhập và rút lui khác nhau đã được giảm đến mức tối thiểu (Ghezzi, 2019), đặc biệt là mức đầu tư cần thiết đểbắt đầu kinh doanh trực tuyến thấp hơn và rất ít chi phí chìm phát sinh (Ben Youssef vàcộng sự, 2020). Đo đó, khuynh hướng này đang kích thích sự xuất hiện của các công ty khởi nghiệp mới chủ yếu dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông.

Sự xuất hiện của côngnghệ kỹthuật số và việc ứng dụng CNS trong lĩnh vực kinh doanh đã ảnh hưởng đáng kể đến sức hấp dẫn của hoạt động khởi nghiệp như một lựa chọn nghề nghiệp (Ben Youssef và cộng sự, 2020). Hầu hết các dự án khởi nghiệp mới được liên kết theo một cách nào đó với thế giới kỹ thuật số. Các công nghệ kỹ thuật sốthể hiện trong lĩnh vực khởi nghiệp dưới dạng bayếutố riêng biệt nhưng có liên quan với nhau, bao gồm: (1) Tạo ra sản phẩm kỹ thuật số (Digital Artifacts), (2) Nền tảng kỹthuật số (Digital Platforms) và (3) Cơsở hạtầng kỹ thuật số(Digital Infrastructure)

(Nambisan, 2017). Do vậy, tinh thần khởi nghiệp CNS liên quan đến khả năng nhận biết và xác định được các cơ hội cũng như việc tiếp cận với các sản phẩm và dịch vụ có thể

28

bán được trên thị trường mà không thể tách rời khả năng chấp nhận rủi ro cao và thu lợi luận lớn (Permatasari & Anggadwita, 2019). Phần lớn công việc liên quan đến quảng cáo

tốn nhiều thời gian và công sức, bao gồm cả việc tiếp cận thị trường và tạo lập mối quan hệ bền vững với người tiêu dùng đều được xử lý bởi Internet. Nhờ vậy giảm bớt rủi ro, tạo sự dễ dàng và linh hoạt hơn trong việc kinh doanh, nhờ công nghệ kỹ thuật số mang lại. Chính vì vậy sẽ dẫn đến ngày càng có nhiều người muốn tham gia vào các hoạt động kinh doanh hơn trước. Khởi nghiệp CNS được hiểu là mộtnhánh của hoạt động khởi nghiệp nói chung, trong đómộtphần hoặctấtcả những gìthuộc về một tổchức truyền

thống đã được số hóa (Hull và cộng sự, 2007), hoặc được định nghĩa là việc mua và bán các sản phẩm trực tuyến hoặc dịch vụ công nghệ kỹ thuật số (Guthrie, 2014). Theo Lê Dinh và cộng sự (2018), khởi nghiệp CNS là quá trình khởi nghiệp dựa trên các tài sản công nghệ như internet, công nghệ thông tin và truyền thông. Vì vậy, các doanh nhân trong lĩnh vực CNS chịu nhiều áp lực hơn so với các doanh nhân truyền thống, nơi màsản phẩm, hoạt động tiếp thị và nơi làm việc là tiêu chí phân biệt chính giữa họ (Kraus và cộng sự, 2019).

Các nghiên cứu gần đây đã áp dụng khái niệm khởi nghiệp trong bối cảnh CNS đểxác địnhcấutrúcmớicủa ý địnhkhởi nghiệp CNS. Vì vậy, khởi nghiệp CNS cũng làkhởi nghiệp nhưng có liên quan đến công nghệ kỹ thuật số, mà bản chất các thuật ngữcốt lõi là sự tương tác dựa trên Internet, đượcgọi là “kinh doanh trên Internet”, “kinh doanh kỹ thuật số” hoặc “khởi nghiệp dựa trên công nghệ thông tin”. Do đó, khởi nghiệp CNS được môtả làcách thức các doanh nhân có ý định tận dụng cơ hội thị trường thông qua việc sử dụng phương tiện kỹ thuật số, công nghệ thông tin và truyền thông

(KrischananKampanthong, 2021). Zaheer, Breyer & Dumay (2019) đưa ra quan điểm rằng: Ý định khởi nghiệp CNS được định nghĩa là “ý định củamột cá nhân đểbắt đầu một công việc kinh doanh mới thông qua các phương tiện công nghệ kỹ thuật số bao gồm Internet, World Wide Web, công nghệ di động, Web 2.0 và các công nghệ liên quan”. Như vậy khái quát chung nhất, khởi nghiệp CNS là quá trình xây dựng và phát triển một doanh nghiệp mới dựa trên các nền tảng công nghệ kỹ thuật số, bao gồm việc sử dụng internet, phần mềm, ứng dụng di động, trí tuệ nhân tạo-AI, dữ liệu lớn-Big Data, công nghệ blockchain, và các công nghệ nền tảng số khác để cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụmới, cải tiến mô hình kinh doanh hoặc giải quyết các vấn đề trong xã hội.

29

Khởi nghiệp CNS liên quan đến các đặc điểm của khởi nghiệp truyền thống với cácđặc trưng cụ thể của lĩnh vực kỹ thuật số, với độ nhạy cao hơn đối với rủi ro, tính sáng tạo hoặc sựnhanh nhẹn (von Arnim & Mrozewski, 2020). Do vậy, kinh doanh CNS không chỉ giới hạn các mô hình kinh doanh trực tuyến mà còn bao gồm cả việc sử dụng CNS để cải thiện các hoạt động kinh doanh truyền thống. Hull và cộng sự (2007) cũngđề cập rằng mức độ số hóa có thể được suy ra thông qua các yếu tố sau: (1) Mức độ tiếp thị kỹ thuật số được thực hiện bởi công ty, (2) Bán hàng kỹ thuật số của một công ty, (3) Bản chất kỹthuật số của hàng hóa hoặc dịchvụ củacông ty, (4) Tiềm năng phân phốikỹthuật số của hàng hóa hoặc dịch vụ, (5) Các tương tác kỹ thuật số tiềm năng với các bên liên quan chính bên ngoài trong chuỗi giá trị và (6) Tiềm năngkỹthuật số của các hoạtđộng nội bộ ảo gắn liền với hoạt động của công ty.

Afuah và Tucci (2003) cho rằng bất kỳ tổ chức nào dựa trên hoặc chịu ảnh hưởng bởi Internet đều nên có một mô hình kinh doanh chuyên dụng. Trên thực tế, doanh nghiệpảo sửdụng mô hình kinh doanh hoàn toàn khác (Walker, 2006).Sựkhác biệt cơbảnnày cần được xem xét nếu không doanh nghiệp sẽ thất bại hoặc bỏ lỡ các cơ hội sinh lời. Mộtđiểm khác biệt lớn giữa khởi nghiệp công nghệ kỹ thuật số và hình thức truyền thống làdo cách doanh nhân tiếp thị sản phẩm của mình. Bản thân sản phẩm (hàng hóa hoặc dịch vụ) tạo thành một yếu tố khác. Một yếu tố khác tạo ra sự khác biệt quan trọng giữa khởi nghiệp CNS và truyền thống là nơi làm việc. Các doanh nghiệp CNS có thể sử dụng công nghệ máy tính làm phương tiện liên lạc chính trong tổ chức của họ, giữa tổ chức và các bên liên quan chính của họ (ví dụ: nhà cung cấp và khách hàng) hoặc cả hai (DeSanctis & Monge, 1999). Điều này làm giảm nhu cầu bố trí các nhóm làm việc về mặt địa lý, dođó họ có thể kiểm soát nhiều hơn về chi phí của mình (Okkonen, 2004).

Theo Hull và cộng sự (2007), khởi nghiệp CNS có thể được chia thành 03 loại hình như sau:

(1) Loại 1: Có sự tham gia của CNS như một sự bổ sung hoặc bổ sung cho bối cảnh kinh doanh truyền thống;

(2) Loại 2: Có sự tham gia đáng kể vào nền kinh tế CNS đòi hỏi “sựtậptrung lớn vào các sản phẩm kỹ thuật số, phân phối kỹ thuật số hoặc các thành phần kỹ thuật số khác của doanh nghiệp”. Hoạt động khởi nghiệp CNS phải được thành lập trên cơ sở cơ sở hạtầng kỹ thuật số.

30

(3) Loại 3: Tham gia hoàn toàn vào nền kinh tế CNS trongđó “toàn bộhoạt động kinh doanh là CNS, bao gồm sản xuất, bản thân hàng hóa hoặc dịch vụ, quảng cáo, phân phối và khách hàng”.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

KHO TÀI LIỆU.rar\TÀI LIỆU 2026 – RAR archive, unpacked size 26,427,243 bytes/ Huynh Thi My Dieu – LATS

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *