Quản trị rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân tại Agribank Chi nhánh Huyện Buôn Đôn
Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế đất nước, trải qua hơn 30 năm xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, cùng với ý chí, bản lĩnh vượt lên mọi khó khăn, thử thách, với những đột phá sáng tạo, cách làm mới. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) với những sáng kiến đổi mới và các giải pháp tích cực đã khẳng định vai trò chủ đạo trong đầu tư lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, đóng góp tích cực đối với thành tựu đổi mới kinh tế nông thôn Việt Nam.
Hoạt động tín dụng đã và đang là một trong những hoạt động kinh doanh chính mang lại thu nhập chủ yếu cho các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam nói chung và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) Việt Nam Chi nhánh Huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk nói riêng. Tín dụng là sự đánh đổi giữa rủi ro và sinh lời trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Vì thế quản trị rủi ro tín dụng tốt tức là tối ưu hóa khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Trong hoạt động tín dụng của ngân hàng trong thời gian qua cũng cho thấy rủi ro tín dụng trong cho vay chưa được kiểm soát một cách hiệu quả. Chính vì vậy, việc nhận diện, đánh giá và kiểm soát rủi ro tín dụng là một trong những hoạt động mà chi nhánh luôn luôn quan tâm. Tuy nhiên Agribank chi nhánh Huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong công tác xử lý nợ, đặc biệt là xử lý nợ xấu. Điều này chứng tỏ công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank chi nhánh Huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk vẫn còn những hạn chế nhất định. Đây là vấn đề mà Agribank chi nhánh Huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk hết sức quan tâm và tìm giải pháp nhằm hoàn thiện hơn công tác này. Đối với Agribank Chi nhánh Huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk, tỷ lệ cho vay đối với khách hàng cá nhân chiếm trên 97% trên tổng dư nợ toàn chi nhánh. Việc nghiên cứu rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân là cần thiết để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của Chi nhánh.
Với mong muốn góp phần hoàn thiện hơn công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank chi nhánh Huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk tôi chọn đề tài “Quản trị rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân tại Agribank Chi nhánh Huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk” để nghiên cứu làm luận văn là cấp thiết.
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam để đánh giá các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Buôn Đôn Đăk Lắk.
Phân tích rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Agribank Chi nhánh Huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk trong 3 năm 2020 – 2022, từ đó đề xuất các giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Agribank Chi nhánh Huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk trong thời gian tới.
+ Về lý luận: Tập trung nghiên cứu các lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng và các vấn đề có liên quan đến rủi ro tín dụng của NHTM;
+ Về thực trạng: Tập trung phân tích thực trạng và đánh giá hoạt động quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Agribank chi nhánh Huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk để hạn chế những rủi ro trong thời gian tới.
+ Về giải pháp: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân, góp phần hạn chế nợ xấu, nâng cao năng lực tài chính tại Agribank chi nhánh Huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhận dạng, đo lường, phân tích các nhân tố gây ra rủi ro tín dụng và đề ra các giải pháp nhằm hạn chế, phòng ngừa rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của Agribank Chi nhánh Huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk.
– Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Agribank Chi nhánh Huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk. Bao gồm các khách hàng cá nhân tại văn phòng (hội sở) và 02 phòng giao dịch (PGD Tân Hòa, PGD Thành Nhất).
– Phạm vi thời gian: Số liệu được sử dụng trong nghiên cứu là những khoản vay của khách hàng cá nhân đã phát sinh trong giai đoạn từ 2020 – 2022 và hiện đang còn dư nợ tại thời điểm 31/12/2022.
– Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng các nhân mà không nghiên cứu quản trị rủi ro khác. Do vậy, tên chương, tên các mục, tiểu mục và các thuật ngữ trong bài sẽ được bổ sung thêm từ “tín dụng” để thống nhất với nội dung nghiên cứu nhằm đảm bảo tính chặt chẽ và logic.
Để nghiên cứu này giải quyết tốt mục tiêu nghiên cứu, cần làm rõ những câu hỏi nghiên cứu sau:
(i) Tác động của rủi ro tín dụng? Chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại Agribank huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk?
(ii) Nghiên cứu sử dụng phương pháp và kiểm định nào để xây dựng và kiểm định mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro khoản vay?
(iii) Những hướng giải pháp nào nhằm hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân cho Agribank huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk?
Cơ sở xuyên suốt quá trình nghiên cứu của đề tài là:
– Phương pháp phân tích định tính, định lượng để đo lường rủi ro tín dụng đối với một khoản tín dụng hay với danh mục tín dụng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.
– Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp số liệu nhằm làm sáng tỏ vấn đề quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Agribank huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk.
Đồng thời cũng vận dụng kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan để làm phong phú và sâu sắc hơn các cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
6. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
– Những vấn đề cơ bản về tín dụng cũng như những rủi ro của tín dụng được hệ thống hóa rõ ràng như quy trình quản trị rủi ro tín dụng của hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của NHTM
– Tổng hợp, phân tích, đánh giá nhân tố gây ra rủi ro và thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Agribank huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk
– Luận văn đã đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân trong bối cảnh và điều kiện đặc thù riêng tại Agribank huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ cái viết tắt, danh mục các bảng biểu, nội dung của luận văn gồm 3 chương chính sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại.
Chương 2. Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Agribank Chi nhánh Huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk.
Chương 3. Một số giải pháp nâng cao công tác quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Agribank Chi nhánh Huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk.
8. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Theo quy định tại Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa 12 thông qua ngày 16/6/2010, “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Trong đó, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
1.1.2. Khái niệm hoạt động tín dụng
Có thể nói, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng tài sản giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong nền kinh tế mà ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay và vừa là người cho vay. Tín dụng ngân hàng bao gồm các hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính. Vì vậy, tín dụng là một khái niệm rộng hơn cho vay bởi nó bao hàm cả cho vay, tuy nhiên trong hoạt động tín dụng thì nghiệp vụ cho vay lại là nghiệp vụ quan
1.1.3. Nguyên tắc cho vay của ngân hàng thương mại
– Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
– Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
– Ngân hàng chỉ xem xét và quyết định cấp tín dụng khi khách hàng có đủ các điều kiện sau:
+ Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật, không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự mà pháp luật đã quy định cụ thể;
+ Nhu cầu vay vốn sử dụng vào mục đích hợp pháp;
+ Có khả năng tài chính để trả nợ;
+ Có dự án đầu tư, phương án sử dụng vốn khả thi;
+ Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo đúng quy định của pháp luật.
1.2. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
Khái niệm rủi ro
Rủi ro là các yếu tố ngẫu nhiên, có thể đo lường xác suất xuất hiện, xảy ra và có thể gây nên các thiệt hại đối với con người hay quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của nó. Đồng thời, con người cũng có thể tìm thấy cơ hội bên trong các rủi ro.
1.2.1. Khái niệm Rủi ro tín dụng của NHTM
Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì: “Rủi ro tín dụng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Như vậy, có thể hiểu RRTD là những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, do khách hàng vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ (bao gồm lãi vay và gốc) hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng như đã cam kết trong hợp đồng. Đây là rủi ro gắn liền với hoạt động tín dụng, dẫn đến tổn thất tài chính như giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn.
1.2.2. Đặc điểm của rủi ro tín dụng
Rủi ro mang tính gián tiếp
Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng tiền đó để cho vay. Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng. Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng gặp tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn. Do đó, rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân gián tiếp gây nên rủi ro tín dụng của ngân hàng.
Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp
Sự đa dạng, phức tạp thể hiện ở nguyên nhân, hình thức và hậu quả của rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay. Do đó, cần chú ý đến mọi dấu hiệu để phòng ngừa rủi ro nhanh chóng và kịp thời.
Rủi ro mang tính tất yếu, luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
Tình trạng thông tin bất cân xứng làm cho ngân hàng không thể nắm bắt các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện. Do đó, tất cả các khoản vay nào cũng tồn tại những rủi ro tiềm ẩn. Vì thế, ngân hàng cần phải cân nhắc giữa lợi nhuận và mức rủi ro có thể chấp nhận được.
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia như sau:
– Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
– Rủi ro danh mục: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà những nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng được chia thành 2 loại:
Nếu phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro thì rủi ro tín dụng được phân loại thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan. Rủi ro khách quan là rủi ro do những nguyên nhân khách quan như thiên tai, người vay chết, mất tích hay các biến động khác ngoài dự kiến làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện đúng những quy định về cho vay. Rủi ro chủ quan do những nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hoặc vì những lý do chủ quan khác.
Ngoài ra, còn có thể phân loại rủi ro tín dụng theo nhiều hình thức khác như phân loại căn cứ theo cơ cấu các loại hình rủi ro, theo đối tượng sử dụng vốn vay,…
1.2.3. Những căn cứ chủ yếu để xác định rủi ro tín dụng
Để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng, người ta thường dùng chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu và kết quả phân loại nợ…
Hệ số nợ quá hạn:
Nợ quá hạn là khoản vay của khách hàng mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn (Nợ nhóm 2, 3, 4 và 5).

Tỷ lệ nợ xấu:
Nợ xấu là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ tiêu chuẩn để được gia hạn nợ (Nợ nhóm 3, 4 và 5).

Phân loại nợ: Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc NHNN thì TCTD thực hiện phân loại nợ theo 5 nhóm sau:
– Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
– Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
– Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
– Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
– Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
1.2.4. Những nhân tố dẫn đến rủi ro tín dụng
a. Những nhân tố từ phía khách hàng vay vốn
– Năng lực của khách hàng
– Sự trung thực của khách hàng
– Rủi ro trong kinh doanh của khách hàng
– Tài sản đảm bảo
b. Những nhân tố từ phía ngân hàng Thương mại
– Chính sách tín dụng:
– Quy trình tín dụng:
– Kiểm soát nội bộ:
c. Những nhân tố từ phía môi trường kinh doanh
– Môi trường kinh tế
– Những yếu tố thuộc về quản lý vĩ mô của nhà nước
– Môi trường xã hội, môi trường tự nhiên
1.2.5. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
a. Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng:
Lợi nhuận của ngân hàng bị giảm sút do RRTD, RRTD ngoài việc gây ra các khoản nợ khó đòi còn phát sinh thêm các chi phí khác như chi phí quản lý, trích lập dự phòng rủi ro, giám sát, thu nợ… cao hơn nhiều so với khoản thu nhập từ việc tăng lãi suất nợ quá hạn (NQH). Thực tế, ngân hàng khó có thể thu hồi đầy đủ gốc và lãi của món nợ này, khiến lợi nhuận của ngân hàng giảm đáng kể, thậm chí là nguy cơ phá sản của ngân hàng.
b. Đối với khách hàng:
Những khoản nợ do không trả gốc và lãi đúng hạn bị chuyển xuống nhóm nợ khác sẽ càng tăng thêm áp lực và gánh nặng cho người đi vay. Nếu RRTD xảy ra nhiều các ngân hàng sẽ thắt chặt quy trình tín dụng hơn, khiến cho thủ tục cấp vốn ngày một thêm phức tạp, tốn thời gian và khách hàng khó tiếp cận nguồn vốn hơn.
c. Đối với nền kinh tế – xã hội:
RRTD mở đầu cho chu kỳ lạm phát mới, làm trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp và các doanh nghiệp sẽ ngần ngại vay vốn để mở rộng sản xuất. RRTD còn gây tâm lý hoang mang cho quần chúng, khiến họ giảm lòng tin vào sự lành mạnh và vững chắc của hệ thống tài chính quốc gia, vào chính sách tiền tệ của nhà nước, dẫn đến quyết định tiêu dùng và tích lũy cho đầu tư không hiệu quả. Ngày nay, nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Vì vậy, chỉ cần hệ thống ngân hàng của một quốc gia gặp khó khăn cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu.
1.3. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1. Khái niệm và sự cần thiết của quản trị rủi ro tín dụng
a. Khái niệm Quản trị rủi ro tín dụng
Theo quan điểm hiện đại, Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, chính sách quản trị và kinh doanh tín dụng nhằm tối đa hoá lợi nhuận trong phạm vi mức rủi ro có thể chấp nhận. Kiểm soát rủi ro tín dụng ở mức có thể chấp nhận là việc NHTM tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, nhằm tăng doanh thu tín dụng, giảm thấp chi phí bù đắp rủi ro, nhằm đạt được hiệu quả trong kinh doanh tín dụng cả trong ngắn hạn và dài hạn. “Hiệu quả Quản trị rủi ro tín dụng là một bộ phận quan trọng trong cách tiếp cận rủi ro tổng thể và được coi là đóng vai trò cốt tử cho sự thành công của ngân hàng trong dài hạn” (Basel Committee on Banking Supervision, 2000).
Tóm lại, có thể đề cập khái niệm quản trị rủi ro tín dụng ở các góc độ khác nhau, nhưng bản chất là giống nhau và đứng trên góc độ của quản trị học, chúng ta có thể diễn giải khái niệm: “Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình các Ngân hàng tiến hành hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện và giám sát kiểm tra toàn bộ hoạt động cấp tín dụng, nhằm tối đa hoá lợi nhuận của Ngân hàng với mức rủi ro có thể chấp nhận.”
b. Sự cần thiết phải thực hiện công tác quản trị rủi ro tín dụng
Một số nhân tố chủ yếu làm cho rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày càng gia tăng:
Thứ nhất, do quá trình tự do hoá, nới lỏng quy định trong hoạt động ngân hàng trên phạm vi toàn thế giới cũng như tại nước ta.
Thứ hai, hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngày càng theo xu hướng đa năng phức tạp, với công nghệ ngày càng phát triển, cùng với xu hướng hội nhập cạnh tranh gay gắt vừa tăng thêm mức độ rủi ro và nguy cơ rủi ro mới.
Thứ ba, đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước đang trong quá trình chuyển đổi như Việt Nam, thì môi trường kinh tế chưa ổn định, hệ thống pháp luật đang xây dựng, mức độ minh bạch của thông tin thấp, thì hoạt động ngân hàng càng trở nên rủi ro hơn.
c. Mục tiêu của công tác quản trị rủi ro tín dụng
– Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng là để tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở giữ mức độ rủi ro hoặc tổn thất tín dụng ở mức ngân hàng có thể chấp nhận được và trong phạm vi nguồn lực tài chính của ngân hàng.
– Bảo vệ ngân hàng tránh khỏi những tổn thất, mất mát khi rủi ro xảy ra.
– Bảo đảm mức độ rủi ro mà ngân hàng phải gánh chịu không vượt quá khả năng về vốn và tài chính của ngân hàng đó.
– Bảo đảm không ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và khả năng tồn tại của ngân hàng.
– Hỗ trợ ngân hàng đạt kết quả kinh doanh cao trong giới hạn rủi ro có thể giám sát và khắc phục được trước những rủi ro tín dụng bất ngờ có thể xảy ra.
– Đảm bảo cho ngân hàng hoạt động an toàn hiệu quả, phát triển bền vững trong điều kiện thị trường đầy biến động với nguy cơ rủi ro ngày càng cao như tình hình hiện nay.
– Kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo việc thực hiện theo đúng kế hoạch nhằm phòng chống rủi ro đặt ra, phát hiện các rủi ro tiềm ẩn, các sai sót khi thực hiện giao dịch, trên cơ sở đó đề nghị điều chỉnh và bổ sung nhằm ngày một hoàn thiện hơn.
1.3.2. Nội dung quản trị rủi ro tín dụng
Quá trình quản trị rủi ro bao gồm 4 nội dung: Nhận biết, Đo lường, Quản trị và Kiểm soát, Xử lý tổn thất.
a. Nhận dạng rủi ro tín dụng
Các phương pháp nhận dạng rủi ro:
Phương pháp thẩm định thực tế
CBTD trực tiếp đi thẩm định thực tế đến nhà khách hàng để xem xét về công việc, cuộc sống, gia đình, tỉnh cảm, hoàn cảnh cũng như môi trường sống của khách hàng, cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Phương pháp lập bảng điều tra
Đây phương pháp thông qua bảng điều tra các câu hỏi về những vấn đề có thể xảy ra, để từ đó nhận dạng và đánh giá mức độ tác động của từng loại rủi ro.
Phương pháp phân tích số liệu hồ sơ tổn thất trong quá khứ
Với phương pháp này đòi hỏi ngân hàng phải thu thập thông tin, phân tích số liệu, thống kê, lưu trữ số lượng thông tin lớn trong một thời gian dài, một cách có hệ thống, khoa học để nhận biết cơ chế và nguồn gốc gây ra rủi ro; nhờ đó có thể đánh giá đúng các yếu tố rủi ro mà trước đây đã bị xem nhẹ hoặc bỏ qua. Giúp dự báo được xu hướng diễn biến rủi ro thông qua dữ liệu trong quá khứ.
Phương pháp phân tích lưu đồ
Phương pháp lưu đồ là một phương pháp có thể giúp ngân hàng liệt kê trình tự các bước đối với một quy trình đầu tư tài chính. Từ những bước liệt kê này, có thể dễ dàng xác định rủi ro khi thực hiện từng bước để có những biện pháp khắc phục nhất định.
b. Đo lường rủi ro tín dụng
Đo lường xác suất và mức độ thiệt hại có thể xảy ra của các rủi ro đã được xác định: Là việc thu thập số liệu và phân tích đánh giá, từ đó xác định xác suất và mức độ thiệt hại có thể xảy ra.
– Mô hình định tính: Mô hình 6C
Trọng tâm của mô hình này là xem xét người vay có thiện chí và khả năng thanh toán các khoản vay khi đến hạn hay không. Cụ thể bao gồm 6 yếu tố sau:
+ Tính cách người vay (Character)
+ Năng lực của người vay (Capacity)
+ Thu nhập của người vay (Cash)
+ Bảo đảm tiền vay (Collateral)
+ Các điều kiện (Conditions)
+ Kiểm soát (Control)
Việc sử dụng mô hình 6C tương đối đơn giản, tuy nhiên lại phụ thuộc quá nhiều vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập được, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá chủ quan của cán bộ tín dụng.
+ Mô hình 1: Mô hình xếp hạng Moody’s và Standard & Poor’s
Rủi ro tín dụng thường được thể hiện bằng việc xếp hạng các khoản cho vay. Việc xếp hạng này được thực hiện bởi một số dịch vụ xếp hạng tư nhân trong đó có Moody’s và Standard & Poor’s là những dịch vụ tốt nhất.
Đối với Moody xếp hạng cao nhất từ Aaa nhưng đối với Standard & Poor’s thì cao nhất là AAA. Việc xếp hạng giảm dần từ Aaa (Moody’s) và AAA (Standard & Poor’s) sau đó thấp dần để phản ánh rủi ro không được hoàn vốn cao. Nhưng thực tế vì phải xem xét mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa rủi ro và lợi nhuận nên những khoản cho vay tuy được xếp hạng thấp (rủi ro không hoàn vốn cao) nhưng lại có lợi nhuận cao nên có lúc ngân hàng vẫn chấp nhận đầu tư vào các khoản cho vay này.
Bảng 1.1. Xếp hạng doanh nghiệp của Moody’s
| Xếp hạng | Tình trạng hoạt động của doanh nghiệp | Tỷ lệ rủi ro hàng năm (%) |
| Aaa | Chất lượng cao nhất | 0,02 |
| Aa | Chất lượng cao | 0,04 |
| A | Chất lượng khá | 0,08 |
| Baa | Chất lượng vừa | 0,2 |
| Ba | Nhiều yếu tố đầu cơ | 1,8 |
| B | Đầu cơ | 8,3 |
(Nguồn: Theo báo cáo của Moody’s)
+ Mô hình 2: Mô hình điểm số Z
Chỉ số Z là một trong những công cụ để phát hiện dấu hiệu báo trước sự phá sản của khách hàng vay luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu về rủi ro. Đến nay, hầu hết các nước vẫn còn sử dụng vì nó có độ tin cậy khá cao.
Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5
Chỉ số Z bao gồm 5 yếu tố = X1, X2, X3, X4, X5:
X1 = Vốn lưu động/Tổng tài sản.
X2 = Lợi nhuận giữ lại/Tổng tài sản.
X3 = Lợi nhuận trước lãi vay và thuế/Tổng tài sản.
X4 = Giá trị thị trường của Vốn chủ sở hữu/Giá trị sổ sách của tổng nợ.
X5 = Doanh số/Tổng tài sản.
Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro đối với người đi vay và phụ thuộc vào:
Trị số của các chỉ số tài chính của người vay.
Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác xuất vỡ nợ của người vay trong quá khứ.
Trị số Z càng cao, thì xác suất vỡ nợ của người đi vay càng thấp. Ngược lại, khi trị số Z thấp hoặc là một số âm thì đó là căn cứ xếp hạng khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao.
+ Mô hình 3: Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng bao gồm: Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại cố định, số tài khoản cá nhân, thời gian công tác…
+ Mô hình 4: Chấm điểm tín dụng và xếp loại tín dụng
Hiệp ước Basel II cho phép ngân hàng lựa chọn giữa “đánh giá tiêu chuẩn” và “xếp loại nội bộ”. Về cơ bản có hai công cụ là xếp loại tín dụng (Credit rating) đối với khách hàng doanh nghiệp và chấm điểm tín dụng (Credit scoring) đối với KHCN. Về bản chất cả hai công cụ đều dùng để xếp loại tín dụng.
Chấm điểm tín dụng: chỉ áp dụng trong hệ thống ngân hàng để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng đối với khoản vay của doanh nghiệp nhỏ và cá nhân. Chấm điểm tín dụng chủ yếu dựa vào thông tin phi tài chính và các thông tin cần thiết trong giấy đề nghị vay vốn cùng các thông tin khác về khách hàng do ngân hàng thu thập được nhập vào máy tính, thông qua hệ thống thông tin tín dụng để phân tích, xử lý bằng phần mềm cho điểm. Kết quả chỉ ra mức độ rủi ro tín dụng của người vay. Hiệu quả kỹ thuật này cao sẽ giúp ích đắc lực cho quản trị rủi ro đối với KHCN và doanh nghiệp nhỏ.
c. Quản trị, kiểm soát các rủi ro tín dụng
Áp dụng các biện pháp giảm thiểu tổn thất do rủi ro tín dụng
Ngăn ngừa rủi ro tín dụng thông qua việc ngân hàng nâng cao hiệu quả công tác thẩm định trước trong và sau khi cho vay đồng thời giám sát chặt chẽ các khoản giải ngân, các khoản nợ sau khi giải ngân, phát hiện ra những dấu hiệu của các khoản vay có vấn đề để ngăn ngừa và giảm thiểu.
Phân tán rủi ro tín dụng nhằm hạn chế và tránh những tổn thất quá lớn, vượt quá khả năng chống đỡ của ngân hàng. Để phân tán rủi ro, ngân hàng thường sử dụng các biện pháp như đa dạng hóa khách hàng, đa dạng hóa các loại hình cho vay, đa dạng hóa các lĩnh vực và ngành nghề.
Đây là khâu cuối cùng của quá trình quản trị rủi ro tín dụng. Theo đó, tổn thất dự kiến được coi là chi phí hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó thường được tính vào giá của khoản tín dụng và được bù đắp bằng nguồn dự phòng. Tổn thất ngoài dự kiến nếu quỹ dự phòng không đủ bù đắp thì phải bù đắp bằng nguồn vốn tự có.
Tài trợ rủi ro bằng nguồn xử lý nợ xấu
Thu hồi nợ xấu là biện pháp tích cực nhất được áp dụng nhằm hạn chế mức độ ảnh hưởng của rủi ro tín dụng phát sinh, CBTD trực tiếp quản lý món vay là người thường xuyên nắm bắt diễn biến nợ, khi nợ xấu phát sinh, CBTD trực tiếp thương thảo với khách hàng nhằm đưa ra các phương án xử lý và được ghi nhận thông qua các biên bản làm việc, nhiều biện pháp có thể áp dụng tuỳ thuộc vào tình huống cụ thể là: Bán hàng hoá tồn kho, thanh lý bớt tài sản cố định chưa thật cần thiết để tạo nguồn trả nợ.
Tài trợ rủi ro bằng nguồn phát mại TSĐB
Căn cứ vào thoả thuận trước đây trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng cầm cố, thế chấp TSBĐ, ngân hàng và khách hàng cùng thoả thuận phương thức xử lý TSBĐ, các phương thức thường được sử dụng là:
Thoả thuận để khách hàng tự tìm đối tác để bán TSBĐ trong một thời gian nhất định.
Khách hàng uỷ quyền cho bên thứ ba bán TSBĐ, thường là các trung tâm môi giới, sàn giao dich bất động sản.
Khách hàng uỷ quyền cho ngân hàng bán TSBĐ để thu hồi nợ.
Ngân hàng khởi kiện việc vi phạm hợp đồng vay vốn ra Toà án, căn cứ vào bản án để đưa ra Cơ quan thi hành án để xử lý TSBĐ.
Ngân hàng nhận chuyển quyền sở hữu TSBĐ rất mất thời gian vì phải qua nhiều công đoạn, vấn đề là trong hợp đồng cầm cố, thế chấp TSBĐ thường không có điều khoản uỷ quyền cho ngân hàng bán TSBĐ trong trường hợp xảy ra nợ xấu, do đó, khách hàng thường có tâm lý chây ì, không chịu trả nợ.
Nguồn dự phòng RRTD
“Dự phòng rủi ro” là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Dự phòng rủi ro bao gồm: dự phòng cụ thể và dự phòng chung.
Dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các khoản nợ để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra.
Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của các tổ chức tín dụng khi chất lượng các khoản nợ suy giảm.
Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN của NHNN Việt Nam ngày 21 tháng 01 năm 2013 về việc “Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” và Thông tư 09/2014/TT-NHNN của NHNN Việt Nam ngày 18 tháng 03 năm 2014 về việc sữa đổi một số nội dung của Thông tư 02 nói trên. Hai thông tư này điều chỉnh cho Quyết định số 493/2005/QĐ- NHNN ngày 22/04/2005 và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007.
Quy định tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ của NHTM: Nhóm 1: 0%; Nhóm 2: 5%; Nhóm 3: 20%; Nhóm 4: 50%; Nhóm 5: 100%. Tỷ lệ trích lập dự phòng chung 0,75% tổng số dư tín dụng từ nhóm 1 đến nhóm 4.
Việc trích lập dự phòng bù đắp rủi ro là nhằm giúp Ngân hàng chủ động đối phó với các tổn thất dự kiến.
Tài trợ rủi ro bằng nguồn bảo hiểm:
Đối với các khoản vay có mua bảo hiểm (bảo an, cháy nổ, hàng hoá vận chuyển…) thì khi rủi ro xảy ra, ngân hàng là đơn vị thụ hưởng phần đền bù của các công ty bảo hiểm, phần thu này sẽ được hạch toán để bù đắp rủi ro.
Đối với nguồn bù đắp từ bảo hiểm tín dụng, hiện nay Ngân hàng nhà nước chưa có quy định cụ thể cho việc triển khai loại hình này.
1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản trị rủi ro tín dụng của NHTM
a. Nhân tố chủ quan
– Môi trường quản trị rủi ro tín dụng
– Chính sách tín dụng và Quy trình tín dụng (hay gọi là Quy trình cho vay) của Ngân hàng
– Cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, chất lượng nhân sự đối với bộ phận quản trị rủi ro tín dụng
– Hệ thống kiểm soát, theo dõi đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng
– Hệ thống kiểm soát, theo dõi đo lường rủi ro tín dụng đảm bảo
– Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụng
b. Nhân tố khách quan
– Những vấn đề xuất phát từ phía khách hàng vay vốn
– Môi trường kinh tế
– Môi trường chính trị và pháp lý
1.3.4. Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân
a. Đặc trưng của tín dụng khách hàng cá nhân và rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân
Cho vay KHCN có những đặc điểm riêng thể hiện sự khác biệt với các loại hình cho vay khác như sau:
Đối tượng cho vay là cá nhân, cá nhân là chủ hộ kinh doanh hoặc chủ doanh nghiệp tư nhân.
Quy mô khoản vay: hầu hết các khoản cho vay KHCN có quy mô nhỏ nhưng số lượng khoản vay rất nhiều, do cho vay KHCN đáp ứng nhu cầu của cá nhân và các hộ gia đình nhằm mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ, lẻ nên quy mô của một khoản vay tương đối nhỏ so với tài sản của ngân hàng, số lượng các khoản vay lại rất nhiều do đối tượng của cho vay là các cá nhân và các hộ gia đình với số lượng nhiều và nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng và phong phú
Mục đích vay: nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân, hộ gia đình. Do đó, nhu cầu vay vốn phụ thuộc vào tâm lý khách hàng và chu kỳ kinh tế của người đi vay. Nhu cầu vay của khách hàng thường kém nhạy cảm với lãi suất, thông thường người đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu. Mức thu nhập và trình độ dân trí là hai nhân tố tác động rất lớn đến nhu cầu vay của khách hàng.
Tài sản đảm bảo: Một đặc điểm khác biệt của loại hình tín dụng KHCN là phần lớn tài sản đảm bảo cho khoản vay là tài sản hình thành từ vốn vay hoặc vay không có tài sản bảo đảm. Hiện nay các ngân hàng cho khách hàng vay mua nhà, mua xe ô tô trong đó tài sản đảm bảo cho khoản vay chính là tài sản mà khách hàng sẽ mua.
b. Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân
Đặc điểm của rủi ro tín dụng KHCN
Nguyên nhân rủi ro đa dạng hơn các loại hình tín dụng khác: Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng KHCN rất đa dạng và phong phú có khi xuất phát từ bản thân khách hàng vay vốn có thể có sự biến động về tình hình tài chính, tình hình gia đình, hoàn cảnh, bão lụt, thiên tai, động đất sóng thần dẫn đến mất khả năng chi trả hay khi khách hàng cố tình không chịu trả nợ, hoặc do sự biến động về tình trạng sức khoẻ, công việc… Trước những biến động lớn về tình hình kinh tế, việc làm KHCN cũng có khả năng chống đỡ kém hơn so với doanh nghiêp. Đặc biệt việc kiểm tra tình hình khả năng trả nợ của các cá nhân hoặc hộ gia đình cũng hết sức khó khăn, nhất là những cá nhân hay hộ gia đình trốn đi khỏi địa phương, lẫn tránh, né tránh, hay cố tình không trả nợ. Ngoài ra, để có được những khoản vay có nhiều khách hàng giấu các thông tin về tình hình sức khoẻ và công việc trong tương lai của mình nên các ngân hàng dễ gặp phải rủi ro đạo đức khi cho vay. Do khoản cho vay KHCN có rủi ro cao nhất nên các ngân hàng thường yêu cầu phải có tài sản đảm bảo khi vay, nhưng với đặc thù là miền núi của tỉnh Quảng Ngãi cho vay theo Nghị định 55 khách hàng khi đến ngân hàng vay vốn tín chấp thì ngân hàng giữ hộ tài sản và yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm bảo hiểm bảo an tín dụng, bảo hiểm xe ôtô, bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm hàng hoá,…
Nguy cơ xảy ra rủi ro lớn hơn: Trước những biến động ngày càng nhiều của điều kiện kinh tế, môi trường kinh tế xã hội, môi trường kinh doanh cũng như khả năng chống đỡ, vượt qua khó khăn của cá nhân và hộ gia đình là yếu hơn so với các doanh nghiệp, các tổ chức. Vì đối với mỗi cá nhân, hộ gia đình thì tình hình tài chính của mỗi người là không giống nhau, hơn thế nữa bản thân mỗi cá nhân hay hộ gia đình mối quan hệ quen biết để gồng gánh vượt qua khó khăn yếu hơn so với doanh nghiệp, bởi vậy cũng chính vì những lý do này, các khoản tín dụng KHCN có tính chất cực kì phức tạp và gặp nhiều rủi ro hơn so với hình thức tín dụng nào.
Khả năng nhận biết rủi ro khó hơn: Việc thu thập thông tin của cá nhân cũng rất khó khăn so với doanh nghiệp. Bởi lẽ, các thông tin của doanh nghiệp thưởng xuyên được kiểm toán hàng năm, được cơ quan thuế kiểm tra… trong khi đó các thông tin về cá nhân không có cơ sở để kiểm tra, đối chiếu, cũng gây ra nhiều khó khăn cho cán bộ tín dụng.
Quản trị rủi ro khách hàng cá nhân
Các nội dung quản trị rủi ro phải tập trung chính vào chủ thể của khoản vay: Rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân phụ thuộc nhiều vào yếu tố chủ quan hơn so với các loại hình rủi ro khác. Vì đối tượng của trong cho vay chủ yếu là cá nhân nên chịu ảnh hưởng bới các yếu tố liên quan đến cá nhân nhiều hơn. Tư cách đạo đức, uy tín, lịch sử trả nở đối với khách hàng cũ và đặc biệt là tình trạng sức khỏe của người vay là yếu tố quyết định đến mức độ rủi ro của khoản vay. Chính vì vậy trong quá trình quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân thì yếu tố được quan tâm hàng đầu là người đứng vay đối với khoản vay đó. Xuất phát từ những đặc điểm trên đòi hỏi quá trình nhận biết rủi ro phải kịp thời, nhanh chóng và chính xác công tác kiểm soát rủi ro phải tiến hành thường xuyên hơn, liên tục và không được bỏ sót, chú trọng đến các dấu hiệu liên qua đến yếu tố cá nhân của người vay. Khi phát hiện phải báo cáo và xử lí nhanh nhất để không lên nhóm nợ cao hơn. Từ đó các phải xây dựng những chính sách, những biện pháp để có thể kiểm soát rủi ro và nhận biết một cách tốt nhất những rủi ro liên quan đến yếu tố cá nhân nhằm hạn chết thấp nhất rủi ro.
Quy trình quản trị rủi ro: Vì số lượng khoản vay đối với khách hàng cá nhân là rất lớn trong khi giá trị của các khoản vay lại nhỏ dẫn đến công việc quản trị rủi ro là rất nhiều. Do đó để có thể quản trị rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân được tốt đòi hỏi một quy trình chặt chẽ hơn cũng như lượng thời gian lớn hơn nhằm quan tâm sâu sát mới có thể giải quyết hết được lượng công việc cần xử lý. Vậy nên công tác kiểm tra sau cho vay và kiểm tra tài sản đảm bảo, tỉnh hình hoạt động sản xuất kinh doanh phải được tiến hành thường xuyên và liên tục hơn.
Đối với việc quản trị rủi ro khách hàng cá nhân thì rủi ro rất cao nhưng việc cho vay khách hàng cá nhân có nhiều triển vọng phát triển trong tương lai. Theo mô hình phát triển của các ngân hàng trên thế giới khoản mục này sẽ chiếm tới 70% tổng dư nợ của các ngân hàng. Vì vậy phát triển tín dụng cá nhân là một xu thế tất yếu đối với các NHTM tại Việt Nam và để phát triển được một cách vững chắc thì công tác quản trị rủi ro phải được tiến hành thường xuyên và liên tục. Sau đây sẽ đi vào tìm hiểu thực trạng công tác này tại Ngân hàng Agribank Huyện Buôn Đôn – ĐăkLăk
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI AGRIBANK HUYỆN BUÔN ĐÔN – ĐĂKLĂK
2.1. GIỚI THIỆU AGRIBANK HUYỆN BUÔN – ĐĂKLĂK
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) huyện Buôn Đôn được thành lập theo quyết định số 519/QĐ-TCCB ngày 15/2/1997 của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam. Là một doanh nghiệp nhà nước, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Buôn Đôn được quyền tự chủ hoàn toàn về tài chính từ khâu lựa chọn các phương thức huy động vốn, cho vay, …đến quyết định lãi suất phù hợp với quan hệ cung cầu từng thị trường theo hướng dẫn của NHNN Việt Nam và Agribank Việt Nam.
Trụ sở: Trung tâm Huyện Buôn Đôn, tỉnh ĐăkLăk.
Agribank Huyện Buôn Đôn có văn phòng (hội sở) và 02 phòng giao dịch (PGD Tân Hòa, PGD Thành Nhất).
Đến 31/12/2022, Agribank Buôn Đôn có 36 cán bộ, nhân viên.
Phòng
Giao dịch
Tân Hòa
Phòng
Giao dịch
Thành Nhất
Phòng
Kế hoạch
Kinh doanh
Phòng
Kế toán
Ngân quỹ
2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của Agribank huyện Buôn Đôn – ĐăkLăk
D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE CUONG CHI TIET/ Quản trị rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân tại Agribank Chi nhánh Huyện Buôn Đôn – Đăk Lăk
Quản trị rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân tại Agribank Chi nhánh Huyện Buôn Đôn Quản trị rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân tại Agribank Chi nhánh Huyện Buôn Đôn Quản trị rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân tại Agribank Chi nhánh Huyện Buôn Đôn

