Hoàn thiện công tác kế toán tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Hội An

Hoàn thiện công tác kế toán tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Hội An

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội, hệ thống kế toán Việt Nam đã không ngừng được hoàn thiện và đã thực sự trở thành một công cụ quan trọng trong quản ký kinh tế.

Là một bộ phận cấu thành của hệ thống kế toán Việt Nam, kế toán hành chính sự nghiệp luôn được đổi mới và càng thích ứng với yêu cầu của cơ chế tài chính mới, phù hợp với tinh thần của Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/06/2021 của Chính phủ (thay thế cho Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015) về quy định quyển tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập; góp phần nâng cao chất lượng quản lý và sử dụng tài chính, tài sản phù hợp, hiệu quả ở các đơn vị này. Với yêu cầu vừa phát triển, vừa phải đảm bảo chất lượng hoạt động, đồng thời phải huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực còn hạn chế từ ngân sách nhà nước và nguồn thu sự nghiệp khác đòi hỏi đơn vị cần quan tâm đến công tác kế toán tài chính trong đơn vị mình.

Tổ chức công tác kế toán là một trong những nội dung quan trọng trong tổ chức quản lý. Tổ chức công tác kế toán tốt có ý nghĩa hết sức quan trọng và to lớn trong việc nâng cao hiệu quả quản lý, thực hiện đúng chế độ quản lý kinh tế tài chính của nhà nước mà còn cung cấp chính xác, đầy đủ kịp thời thông tin về kinh tế tài chính giúp nhà quản trị điều hành đơn vị ra quyết định đúng đắn nhằm sử dụng tốt tài sản, nguồn vốn đem lại hiệu quả kinh tế cao và tạo ra môi trường hoạt động hiệu quả. Tổ chức công tác kế toán không đơn thuần là tổ chức một bộ phận quản lý trong doanh nghiệp mà nó còn là việc xác lập các yếu tố, điều kiện cũng như các mối liên hệ tác động qua lại trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kế toán, đảm bảo cho tổ chức sử dụng công cụ đó một cách khoa học, hợp lý và nâng cao hiệu quả.

Bệnh viện Đa khoa thành phố Hội An là đơn vị sự nghiệp công lập, trước đây bệnh viện hoạt động dựa vào chủ yếu nguồn NSNN, phần lớn quan tâm đến các hoạt động chuyên môn, tổ chức kế toán hầu như không được để ý. Tuy nhiên, hiện nay bệnh viện là một đơn vị kinh tế dịch vụ, tự chủ toàn bộ chi thường xuyên. Đơn vị kinh tế dịch vụ thông qua các hoạt động dịch vụ của mình để có thu nhập và tích cực hoạt động. Chính vì thế với mục tiêu vừa phát triển quy mô, vừa đảm bảo nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, vừa phải huy động và sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực đòi hỏi tổ chức kế toán của đơn vị phải thay đổi phù hợp với thực tiễn hoạt động của đơn vị.

Bệnh viện Đa khoa thành phố Hội An đã có những thay đổi tích cực đạt được những kết quả đáng kể trong công tác quản lý tài chính nói chung và tổ chức kế toán nói riêng. Cơ chế tự chủ tài chính đã tạo điều kiện cho bệnh viện tạo nguồn thu lớn, việc mua sắm trang thiết bị máy móc hiện đại, phục vụ khám chữa bệnh được nâng cao, thu nhập hàng năm của cán bộ nhân viên được tăng… Tuy nhiên, do đang trong giai đoạn hoàn thiện nên cơ chế quản lý tài chính nói chung và tổ chức kế toán tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Hội An nói riêng còn nhiều hạn chế, chưa có sự thống nhất chặt chẽ kết nối liền mạch rõ ràng, dẫn đến một số khía cạnh của tổ chức kế toán cần hoàn thiện.

Từ các lý do về mặt lý luận và những nội dung đã khảo sát thực tiễn tại Bệnh viện nêu trên, tôi lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Hội An” để thực hiện bản luận văn thạc sĩ của mình.

Hoàn thiện công tác kế toán tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Hội An
Hoàn thiện công tác kế toán tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Hội An

2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu chính của đề tài:

+ Hệ thống hóa lý luận về công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập.

+ Phân tích và đánh giá thực trạng công tác kế toán tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Hội An.

+ Đề xuất các giải pháp cụ thể, khoa học nhằm hoàn thiện công tác kế toán tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Hội An.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức công tác kế toán tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Hội An.

Phạm vi nghiên cứu:

+ Về mặt không gian: Tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Hội An.

+ Về mặt thời gian: Số liệu nghiên cứu giai đoạn từ năm 2019-2021.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, bao gồm: phương pháp tổng hợp, phân tích, khảo sát tư liệu, điều tra, tổng hợp thông tin và các phương pháp kỹ thuật cụ thể như so sánh đối chiếu để giải quyết mục tiêu nghiên cứu. Thông tin, số liệu phục vụ cho việc phân tích, đánh giá bao gồm dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Hội An ở thời điểm năm 2019-2021, cụ thể là:

Nguồn dữ liệu sơ cấp cho luận văn có được thông qua việc quan sát, ghi chép lại từ các nhân viên Phòng Tài chính kế toán, các khoa/ phòng có liên quan đến cơ chế quản lý tài chính và thu nhập dữ liệu thứ cấp chủ yếu là dựa vào các chế độ tài chính, công văn, các quy định tổ chức thông tin kế toán trong các đơn vị sự nghiệp y tế có thu, chứng từ, sổ sách và báo cáo tài chính của Bệnh viện Đa khoa thành phố Hội An.

Các dữ liệu thu thập được dùng để mô tả, phân tích và đánh giá nhằm thể hiện rõ thực trạng công tác kế toán tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Hội An, từ đó đưa ra các giải pháp giúp hoàn thiện công tác kế toán tại Bệnh viện.

5. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được bố cục gồm 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập.

Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Hội An.

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Hội An.

6. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI
CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP

1.1. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập

      1. 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại đơn vị sự nghiệp công lập

1.1.1.1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập

Theo Điều 2, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP: “Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”. [7]

Đơn vị sự nghiệp công lập được nhận diện thông qua các yếu tố sau:

– Được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định;

– Là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội;

– Có tư cách pháp nhân;

– Cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước;

– Viên chức là lực lượng lao động chủ yếu, bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị.

Trong đó, đặc trưng của đơn vị sự nghiệp để phân biệt với cơ quan hành chính nhà nước. Đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và các cơ quan, tổ chức khác. Là vị trí pháp lý, tính chất hoạt động và đội ngũ viên chức. Các đơn vị sự nghiệp được các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội. Thành lập theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và là bộ phận cấu thành trong cơ cấu tổ chức cơ quan nhà nước. Nhưng không mang quyền lực nhà nước, không có chức năng quản lý nhà nước như: Xây dựng thể chế, thanh tra, xử lý vi phạm hành chính… Các đơn vị sự nghiệp công lập bình đẳng với các tổ chức, cá nhân trong quan hệ cung cấp dịch vụ công.

1.1.1.2. Đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập

– Đơn vị sự nghiệp công lập là một tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích kiếm lời:

Các đơn vị sự nghiệp được thành lập để thực hiện những chức năng, nhiệm vụ và đáp ứng những nhu cầu nhất định của xã hội. Trong quá trình hoạt động, đơn vị sự nghiệp có thể được Nhà nước cấp kinh phí hoạt động. Các sản phẩm dịch vụ do đơn vị sự nghiệp cung ứng cần được sử dụng thì có thể do Nhà nước đứng ra cung cấp không thu tiền để xã hội tiêu dùng. Trong trường hợp có thu tiền của người tiêu dùng thì cũng chỉ thu để bù đắp một phần chi phí đầu vào để tạo ra chúng.

Tuy nhiên, xã hội ngày càng đòi hỏi tính hiệu quả trong quá trình hoạt động của các đơn vị sự nghiệp được hiểu ở hai khía cạnh: Chất lượng phục vụ và tiết kiệm nguồn lực cho xã hội.

  • Sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp công lập là sản phẩm mang lợi ích chung và có tính lâu dài:

Hoạt động sự nghiệp chủ yếu là cung cấp dịch vụ công cộng, tạo ra những giá trị về tri thức, văn hóa, phát minh, sức khỏe, đạo đức, các giá trị về xã hội… là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng.

Nhìn chung, đại bộ phận các sản phẩm của đơn vị sự nghiệp là sản phẩm có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngành hoặc một lĩnh vực nhất định. Những sản phẩm đó khi tiêu dùng thường có tác dụng lan tỏa.

1.1.1.3. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập

Theo Luật số 58/2010/QH12, đơn vị sự nghiệp công lập được chia thành 2 nhóm như sau:

  • Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ.
  • Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ.

Được giao quyền tự chủ là có quyền tự chủ hoàn toàn về việc thực hiện nghĩa vụ, tài chính cũng như tổ chức bộ máy nhân sự.

Quy chế về tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập được quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015.

Ngoài ra ta có thể phân chia Đơn vị sự nghiệp công lập dựa trên các tiêu chí dưới đây:

Bảng 1.1. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập căn cứ vào nguồn thu và vị trí pháp lý

Tiêu chí

Loại

Căn cứ vào mức độ tự chủ về tài chínhTheo vị trí pháp lý của đơn vị sự nghiệp công lập
  1. Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư.
  2. Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên.
  3. Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên.
  4. Đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên.

(Theo Điều 6 – Chương II – Thông tư 07/2022/TT-BTP – Ngày 01/11/2022)

  1. Đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ.
  2. Đơn vị thuộc Tổng cục, Cục.
  3. Đơn vị thuộc cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
  4. Đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
  5. Đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

Theo Luật Ngân sách Nhà nước, kế toán đơn vị sự nghiệp được tổ chức theo hệ thống dọc tương ứng với từng cấp ngân sách nhằm phù hợp với công tác chấp hành ngân sách đó. Căn cứ theo cấp ngân sách, các đơn vị SNCL được phân loại như sau:

  • Đơn vị dự toán cấp I: Là đơn vị trực tiếp nhận kinh phí ngân sách nhà nước cấp hàng năm từ cơ quan tài chính, phân bổ ngân sách cho các đơn vị dự toán cấp dưới.
  • Đơn vị dự toán cấp II: Là đơn vị trực thuộc đơn vị dự toán cấp I có nhiệm vụ quản lý kinh phí ở cấp trung gian, là cầu nối giữa đơn vị dự toán cấp I và cấp III trong một hệ thống.
  • Đơn vị dự toán cấp III: Là đơn vị trực tiếp sử dụng vốn ngân sách để

thực hiện nhiệm vụ được giao. Đơn vị dự toán cấp III nhận kinh phí ngân sách từ đơn vị cấp II hoặc cấp I (trong trường hợp không có đơn vị cấp II).

  • Đơn vị cấp dưới của đơn vị dự toán cấp III được nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện công tác kế toán và quyết toán với đơn vị dự toán cấp trên như quy định đối với đơn vị dự toán cấp III với cấp II và cấp II với cấp I.

Cách xác định mức độ đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên được xác định như sau:

Mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị sự nghiệp (%)=Tổng số nguồn thu sự nghiệpX100
Tổng số chi hoạt động thường xuyên

Như vậy, căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, có thể chia các đơn vị SNCL ra làm 2 nhóm chính là đơn vị SNCL thuần tuý và đơn vị SNCL có thu. Trong đó, đơn vị SNCL thuần túy là các đơn vị sự nghiệp do Nhà nước thành lập không có nguồn thu, được Ngân sách Nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động. Còn đơn vị SNCL có thu là những đơn vị sự nghiệp mà ngoài nguồn kinh phí được Ngân sách Nhà nước cấp còn được Nhà nước cho phép thu một số khoản thu phí, lệ phí hoặc một số khoản thu khác để phục vụ trong quá trình hoạt động của đơn vị.

      1. 1.1.2. Đặc điểm quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập

1.1.2.1. Cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập

Hiện nay các đơn vị SNCL thực hiện cơ chế quản lý tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 và Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Theo cơ chế này, đối với các đơn vị SNCL thuần tuý thì thực hiện cơ chế thu, chi theo định mức, dự toán được cơ quan chủ quản duyệt. Nếu không chi hết thì nộp lại ngân sách, nếu không đủ chi thì giải trình xin cấp bù (nếu được giao thêm nhiệm vụ). Còn đơn vị SNCL có thu được tự chủ tài chính trên cơ sở tăng thu, tiết kiệm chi hợp lý, nếu tạo ra kết quả tài chính thì được sử dụng trích lập bổ sung các quỹ và trả thêm thu nhập cho người lao động theo quy định đối với phần kinh phí được tự chủ. Đồng thời các đơn vị SNCL có thu cũng được phép tự chủ trong việc sử dụng các quỹ theo quy định hiện hành và quy chế chi tiêu nội bộ.

1.1.2.2. Nguồn tài chính đơn vị sự nghiệp công lập

Nguồn tài chính của các đơn vị SNCL bao gồm: Nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp; Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp; Nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho; Nguồn khác.

Thứ nhất, nguồn do kinh phí ngân sách nhà nước cấp gồm:

– Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao;

– Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, chương trình đào tạo bổi dưỡng cán bộ, viên chức, các chương trình mục tiêu quốc gia, các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước giao;

– Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định;

– Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hằng năm;

– Vốn đối ứng để thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền giao;

– Kinh phí khác

Thứ hai, nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp gồm:

– Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

– Thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của đơn vị.

– Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có)

– Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng.

Thứ ba, nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho không phải nộp ngân sách theo chế độ: Đây là những khoản thu không thường xuyên, không dự tính trước được nhưng có tác dụng hỗ trợ đơn vị trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Thứ tư, nguồn khác gồm:

– Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn huy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị.

– Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật .

1.1.2.3. Nội dung chi đơn vị sự nghiệp công lập

Về nội dung chi, thực hiện theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ, được hướng dẫn như sau:

    • Chi thường xuyên:

+ Chi hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, gồm: Tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định hiện hành; dịch vụ công cộng; văn phòng phẩm; các khoản chi nghiệp vụ; sửa chữa thường xuyên tài sản cố định và các khoản chi khác theo chế độ quy định.

+ Chi hoạt động thường xuyên phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí, gồm: Tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định hiện hành cho số lao động trực tiếp phục vụ công tác thu phí và lệ phí; các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn; sửa chữa thường xuyên tài sản cố định và các khoản chi khác theo chế độ quy định phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí.

+ Chi cho các hoạt động dịch vụ gồm: Tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định hiện hành; nguyên, nhiên, vật liệu, lao vụ mua ngoài; khấu hao tài sản cố định; sửa chữa tài sản cố định; chi trả lãi tiền vay, lãi tiền huy động theo hình thức vay của cán bộ, viên chức; chi các khoản thuế phải nộp theo quy định của pháp luật và các khoản chi khác (nếu có).

    • Chi không thườngxuyên:

Chi không thường xuyên là các khoản chi cho mục đích đầu tư phát triển và thực hiện những nhiệm vụ đột xuất được giao như chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ; chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức; chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia.

1.2. Tổ chức CÔNG TÁC kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập

      1. 1.2.1. Khái niệm, vai trò của tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập

1.2.1.1. Khái niệm tổ chức công tác kế toán

Theo quy định của Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015, tổ chức công tác kế toán là tổ chức việc thực hiện các chuẩn mực và chế độ kế toán để phản ánh tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra kế toán, chế độ bảo quản , lưu trữ tài liệu kế toán, cung cấp thông tin tài liệu kế toán và các nhiệm vụ khác của kế toán. Nói cách khác, tổ chức công tác kế toán là sự thiết lập mỗi quan hệ qua lại giữa các phương pháp kế toán, đối tượng kế toán với con người am hiểu nội dung công tác kế toán (người làm kế toán) biểu hiện qua một hình thức kế toán thích hợp của một đơn vị cụ thể.

1.2.1.2. Vai trò tổ chức công tác kế toán

Tổ chức công tác kế toán trong đơn vị HCSN là sự thiết lập mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố cấu thành bản chất của hạch toán kế toán để phát huy tối đa vai trò của kế toán trong công tác quản lý nói chung và quản lý tài chính nói riêng. Chính vì vậy, tổ chức kế toán khoa học sẽ góp phần quan trọng vào việc thu thập, xử lý thông tin, giúp lãnh đạo đơn vị đưa ra những quyết định đúng đắn và kịp thời, có ảnh hưởng đến kết quả sử dụng các nguồn lực nhằm hoàn thành tốt các chức năng, nhiệm vụ được giao của các đơn vị sự nghiệp.

Kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập, vừa có tính chất quản lý vừa có tính chuyên môn học thuật của đơn vị, nhằm hỗ trợ cho nhu cầu thông tin; lập kế hoạch và ra quyết định của các cấp quản lý đơn vị. Tuy nhiên, do tác động của cơ chế bao cấp trong một thời gian dài nên tổ chức kế toán ở các đơn vị sự nghiệp công lập hiện chỉ dừng lại ở việc phản ánh các khoản mục thu – chi theo hệ thống tài khoản và mục lục NSNN. Việc tổ chức, vận hành tổ chức kế toán quản trị chưa được chú trọng, chưa mang tính hệ thống và khoa học ở các đơn vị sự nghiệp công lập, gây khó khăn cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, điều hành kiểm soát các hoạt động trong đơn vị. Do vậy, hoàn thiện tổ chức công tác kế toán công ở các đơn vị sự nghiệp công lập là việc làm cần thiết và quan trọng.

1.2.1.3. Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập

– Nguyên tác phù hợp

Tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo phù hợp trên các nội dụng sau:

+ Phù hợp với chế độ, thể lệ quản lý tài chính, luật ngân sách và chế độ kế toán hiện hành cũng như phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế về nghề nghiệp kế toán là đòi hỏi có tính bắt buộc đối với tất cả các đơn vị hành chính sự nghiệp. Đồng thời tổ chức hạch toán kế toán trong các đơn vị hành chính sự nghiệp cần phải có sự phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, phải lấy các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán quốc tế làm cơ sở cho tổ chức hạch toán kế toán nhằm đảm bảo tính thông lệ, tính tương đồng với hệ thống kế toán của các quốc gia khác trên thế giới.

+ Phù hợp với lĩnh vực hoạt động, đặc điểm hoạt động và đặc điểm quản lý của các đơn vị sự nghiệp đặc biệt là quản lý tài chính và phân cấp quản lý tài chính, phù hợp với yêu cầu quản lý và cung cấp thông tin phục vụ cho quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập.

+ Phù hợp với hệ thống phương tiện vật chất và các trang thiết bị hiện có của mỗi đơn vị.

+ Phù hợp với thực trạng đội ngũ lao động kế toán về trình độ nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ quản lý, cán bộ kế toán tại chính các đơn vị này.

  • Nguyên tắc thống nhất:

Nguyên tắc này thể hiện trên các nội dung sau:

+ Thống nhất giữa các đơn vị sự nghiệp trong một hệ thống quản lý thống nhất: thống nhất giữa cấp trên và cấp dưới, thống nhất giữa các đơn vị trong một ngành, thống nhất giữa các ngành với nhau.

+ Thống nhất trong thiết kế, xây dựng các chỉ tiêu trên chứng từ, sổ kế toán và báo cáo kế toán với các chỉ tiêu quản lý.

+ Thống nhất trong nội dung, kết cấu và phương pháp ghi chép trên các tài khoản kế toán.

+ Thống nhất trong việc áp dụng chính sách tài chính, kế toán. Thống nhất giữa chế độ chung và việc vận dụng trong thực tế tại đơn vị về chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo kế toán.

+ Thống nhất giữa bộ máy kế toán và bộ máy quản lý của đơn vị hành chính sự nghiệp trong mối quan hệ với bộ máy quản lý của ngành.

  • Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả.

Tổ chức hạch toán kế toán phải đảm bảo tính thực hiện, hiệu quả của các đối tượng sử dụng thông tin kế toán trong quản lý, tuy nhiên tổ chức hạch toán kế toán phải được thực hiện trên nguyên tắc tiết kiệm trong quan hệ hài hòa với việc thực hiện các yêu cầu của quản lý, kiểm soát các đối tượng hạch toán kế toán trong đơn vị hạch toán, với việc thực hiện các giả thiết, khái niệm, nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung.

Nguyên tắc này được thể hiện trên hai phương diện:

Trên phương diện quản lý: Phải đảm bảo hiệu quả trong quản lý các đối tượng hạch toán kế toán trên cơ sở các thông tin do kế toán cung cấp.

Trên phương diện kế toán: Phải đảm bảo tính đơn giản, dễ làm, dễ đối chiếu, kiểm tra, chất lượng thông tin do kế toán cung cấp phải có được tính tin cậy, khách quan, đầy đủ kịp thời và có thể so sánh được và bảo đảm tính khoa học, tiết kiệm và tiện lợi cho thực hiện khối lượng công tác kế toán trên hệ thống sổ kế toán cũng như công tác kiểm tra kế toán.

Thực hiện nguyên tắc này, tổ chức bộ máy kế toán, tổ chức hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo tài chính phải vừa gọn nhẹ, tiết kiệm chi phí vừa bảo đảm thu nhập thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác.

  • Nguyên tắc bất kiêm nhiệm: nhằm mục đích tăng cường chức năng kiểm tra, kiểm soát của hệ thống kế toán, nguyên tắc bất kiêm nhiệm cần được quán triệt trong tổ chức hạch toán kế toán. Trong tổ chức kế toán cần thực hiện phân công, phân nhiệm rõ ràng, một số công việc cần được phân công cho nhiều người, tránh phân công cho một người kiêm nhiệm như kế toán tiền mặt không được vừa giữ tiền vừa làm công tác thanh toán.
      1. 1.2.2. Nội dung của tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập

1.2.2.1. Tổ chức bộ máy kế toán

Tổ chức bộ máy kế toán bao gồm lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy, phân công nhiệm vụ cho các nhân viên kế toán trong bộ máy và xây dựng nội quy, quy chế làm việc cho các bộ phận trong bộ máy kế toán.

Hoạt động của tổ chức bộ máy kế toán trong các đơn vị sự nghiệp đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của kế toán trưởng hoặc trưởng phòng tài chính kế toán của đơn vị. Có thể coi như hoạt động sản xuất kinh doanh thông tin kinh tế để đáp ứng nhu cầu thông tin cho hoạt động quản lý, trong đó cán bộ nhân viên kế toán là người sản xuất, có sự hiểu biết nội dung, phương pháp, kỹ thuật hạch toán kế toán, sử dụng các phương pháp kỹ thuật ghi chép, tính toán thực hiện xử lý những thông tin kinh tế đã thu nhận được theo những quy trình nhất định, tạo ra những thông tin cần thiết đáp ứng nhu cầu quản lý các hoạt động trong đơn vị sự nghiệp.

Lựa chọn hình thức bộ máy kế toán theo Phụ lục số 01.

Sau khi xác định, lựa chọn được mô hình tổ chức thích hợp từ các mô hình trên, các đơn vị sự nghiệp có thể tổ chức phân công công việc cụ thể trong bộ máy theo Phụ lục số 02

Từ ý nghĩa và vai trò của tổ chức bộ máy kế toán trong các đơn vị, chúng tôi cho rằng tổ chức bộ máy kế toán hợp lý, khoa học là yếu tố quyết định hoàn toàn tới chất lượng công tác hạch toán kế toán của một đơn vị. Bởi vậy ngoài việc đảm bảo các nguyên tắc trong tổ chức kế toán thì việc nắm rõ năng lực của từng nhân viên kế toán là điều hết sức quan trọng. Trên cơ sở đó, bộ máy kế toán được xây dựng phải đáp ứng yêu cầu gọn nhẹ, hợp lý, có hiệu quả, phân công công việc đúng chuyên môn, năng lực.

Trong quá trình tổ chức hoạt động thu chi đối với các đơn vị được sử dụng nhiều nguồn thu cần phải có những biện pháp quản lý thống nhất nhằm sử dụng các nguồn thu đúng mục đích trên cơ sở hiệu quả và tiết kiệm. Song song với việc tổ chức khai thác các nguồn thu đảm bảo tài chính cho hoạt động, các đơn vị SNCL phải có kế hoạch theo dõi, quản lý các khoản chi đúng mục đích để hoàn thành nhiệm vụ được giao trên cơ sở minh bạch, tiết kiệm và hiệu quả. Để đạt được các yêu cầu trên đòi hỏi các đơn vị SNCL phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, đặc biệt phải tổ chức vận dụng các phương pháp kế toán nhằm liên tục giám sát các hoạt động thu- chi của đơn vị đã được xây dựng.

1.2.2.2. Tổ chức chứng từ kế toán

Hệ thống chứng từ kế toán là một tập hợp các minh chứng bằng văn bản chứng minh các nghiệp vụ kinh tế đã được thực hiện…Tổ chức chứng từ kế toán thực chất là tổ chức hạch toán ban đầu có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán.

Hiện nay, chứng từ kế toán áp dụng cho các đơn vị SNCL tuân theo quy định của Luật kế toán, Thông tư số 107/2017/TT-BTC, ngày 10/10/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thông tư hướng dẫn chế độ kế toán hành chính sự nghiệp.

Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ kế toán xác định là khâu công việc quan trọng đối với toàn bộ quy trình kế toán bởi nó cung cấp các thông tin ban đầu về các đối tượng kế toán.

Nội dung tổ chức hệ thống chứng từ kế toán bao gồm các nội dung theo Phụ lục số 03.

1.2.2.3. Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán

Hệ thống tài khoản kế toán gồm các tài khoản kế toán cần sử dụng. Hệ thống tài khoản kế toán được dùng để phân loại, hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh theo nội dung kinh tế theo từng đối tượng kế toán.

Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản hay vận dụng phương pháp tài khoản kế toán là một phương pháp đặc trưng của kế toán nhằm hệ thống hóa thông tin kế toán. Theo chế độ kế toán HCSN, hệ thống tài khoản kế toán đơn vị sự nghiệp công lập phải được xây dựng theo nguyên tắc dựa vào bản chất và nội dung hoạt động của đơn vị nhằm:

    • Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quản lý và kiểm soát chi quỹ ngân sách nhà nước, vốn, quỹ công, đồng thời thỏa mãn yêu cầu quản lý và sử dụng kinh phí của từng lĩnh vực, từng đơn vị hành chính sự nghiệp;
    • Phản ánh đầy đủ các hoạt động kinh tế, tài chính phát sinh của các đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc mọi loại hình, mọi lĩnh vực, phù hợp với mô hình tổ chức và tính chất hoạt động;
    • Đáp ứng yêu cầu xử lý thông tin bằng các phương tiện tính toán thủ công (hoặc bằng máy vi tính… ) và thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của đơn vị và của cơ quan Nhà nước.
    • Điều 23 Luật Kế toán số 88/2015/QH13 quy định: “đơn vị phải căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán do Bộ Tài chính quy định để chọn hệ thống tài khoản kế toán áp dụng ở đơn vị mình”. Như vậy quan điểm này được xây dựng dựa trên nguyên tắc các đơn vị kế toán phải tuyệt đối tuân thủ các quy định của Nhà nước đồng thời khi thiết lập hệ thống tài khoản cần tính đến những sự phù hợp với hoạt động của đơn vị.
    • Từ những quan điểm trên có thể cho thấy rằng tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán trong một đơn vị kế toán thực chất phải là việc xác lập mô hình thông tin phù hợp với nhu cầu quản lý nhất định. Trong quá trình đó, các đơn vị cần xem xét đến tính phù hợp với cơ chế và chế độ quản lý hiện hành như quy định về kết cấu, nội dung ghi chép của tài khoản và thống nhất quan hệ ghi chép giữa các tài khoản.

Hiện nay, các đơn vị SNCL phải căn cứ vào Hệ thống tài khoản kế toán ban hành tại Thông tư số 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thông tư về việc hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp để lựa chọn hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho đơn vị. Nội dung và phương pháp kế toán được quy định lại cho từng loại tài khoản cũng đã được sửa đổi và bổ sung phù hợp với Luật NSNN, các chính sách tài chính, thuế và thực tiễn hoạt động ở các đơn vị.

Hệ thống tài khoản kế toán HCSN ban hành theo quy định gồm 10 loại: từ Loại 1 đến Loại 9 là các tài khoản trong Bảng Cân đối tài khoản và tài khoản loại 0 các tài khoản ngoài Bảng Cân đối tài khoản.

  • Xây dựng phương pháp ghi chép:

+ Tài khoản trong bảng: gồm các tài khoản từ loại 1 đến loại 9, được hạch toán kép (hạch toán bút toán đối ứng giữa các tài khoản).

+ Tài khoản ngoài bảng gồm tài khoản loại 0, được hạch toán đơn (không hạch toán bút toán đối ứng giữa các tài khoản). Các tài khoản ngoài bảng liên quan đến ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc ngân sách nhà nước (TK 001, 002, 004, 006, 007, 008, 009, 012, 013, 014, 018) phải được phản ánh theo mục lục ngân sách nhà nước, theo niên độ (năm trước, năm nay, năm sau (nếu có)) và theo các yêu cầu quản lý khác của ngân sách nhà nước.

+ Trường hợp một nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh liên quan đến tiếp nhận, sử dụng: nguồn ngân sách nhà nước cấp; nguồn viện trợ, vay nợ nước ngoài; nguồn phí được khấu trừ, để lại thì kế toán vừa phải hạch toán kế toán theo các tài khoản trong bảng, đồng thời hạch toán các tài khoản ngoài bảng, chi tiết theo mục lục ngân sách nhà nước và niên độ phù hợp.

Đối với tài khoản phục vụ mục đích lập báo cáo quyết toán Ngân sách: các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyết toán Ngân sách Nhà nước thông qua hệ thống Mục lục Ngân sách Nhà nước quy định tại Thông tư 324/2016/TT-BTC ngày 21/12/2016.

Hệ thống mục lục NSNN hiện nay gồm các nội dung sau:

Mã số danh mục các Chương: đây là hệ thống ký hiệu phản ánh mã số hóa các đơn vị thuộc tất cả các cấp từ trung ương đến địa phương.

Mã số danh mục các Loại, khoản của mục lục NSNN bao gồm các ký hiệu các loại, khoản được chia thành các ngành như: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, giáo dục, y tế,…

Hệ thống ký hiệu của các Nhóm, Tiểu nhóm phản ánh các khoản thu, chi NSNN. Các mục, tiểu mục là cách phân loại các khoản thu, chi một cách chi tiết hơn phục vụ cho công tác lập, phân bổ dự toán ngân sách và kiểm soát các khoản thu chi NSNN.

  • Sử dụng hệ thống tài khoản:

Đơn vị được bổ sung tài khoản kế toán trong các trường hợp sau:

+ Được bổ sung tài khoản chi tiết cho các tài khoản đã được quy định trong danh mục hệ thống tài khoản kế toán để phục vụ yêu cầu quản lý của đơn vị.

+ Trường hợp bổ sung tài khoản ngang cấp với các tài khoản đã được quy định trong danh mục hệ thống tài khoản kế toán thì phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản trước khi thực hiện.

Các quy định khác về tài khoản kế toán được quy định cụ thể ở Điều 4 Thông tư 107/2017/TT-BTC.

1.2.2.4. Tổ chức hệ thống sổ kế toán

Sổ kế toán dùng để ghi chép, hệ thống và lưu trữ toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã phát sinh có liên quan đến đơn vị kế toán.

Hệ thống sổ kế toán là bao gồm các loại sổ có kết cấu khác nhau và được kết hợp với nhau theo trình tự nhất định để phân loại và tổng hợp các thông tin cần thiết phục vụ cho việc lập các báo cáo kế toán.

* Nội dung tổ chức hệ thống sổ kế toán

  • Lựa chọn hệ thống sổ kế toán

Mỗi đơn vị lựa chọn một hình thức kế toán để tổ chức bộ sổ kế toán. Sổ kế toán dùng để ghi chép, hệ thống và lưu giữ toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã phát hành theo nội dung kinh tế và theo trình tự thời gian có liên quan đến các đơn vị SNCL.

Từ 01/01/2018 các đơn vị sự nghiệp áp dụng danh mục chứng từ quy định tại Thông tư 107/2017 ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ kế toán hành chính sự nghiệp.

Danh mục sổ kế toán, mẫu sổ kế toán được quy định tại Phụ lục 03 kèm theo Thông tư 107/2017/TT-BTC.

* Tổ chức ghi chép sổ kế toán

Mỗi đơn vị kế toán chỉ có một hệ thống sổ kế toán cho một kỳ kế toán năm. Sổ kế toán gồm: Sổ kế toán tổng hợp và Sổ kế toán chi tiết.

Các quy định về mở sổ kế toán, ghi sổ kế toán, khóa sổ kế toán được quy định tại Điều 5 Thông tư 107/2017/TT-BTC.

Hiện nay các đơn vị SNCL có thể vận dụng một trong bốn hình thức ghi sổ kế toán sau:

– Hình thức kế toán Nhật ký chung

– Hình thức kế toán Nhật ký – Sổ Cái

– Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ

– Hình thức kế toán trên máy tính.

* Tổ chức lập và sử dụng sổ kế toán:

Việc ghi sổ kế toán nhất thiết phải căn cứ vao chứng từ kế toán đã được kiểm tra bảo đảm các quy định về chứng từ kế toán. Mọi số liệu ghi trên sổ kế toán bắt buộc phải có chứng từ kế toán hợp pháp, hợp lý chứng minh.

Sổ kế toán tổng hợp: là loại sổ kế toán được sử dụng để phân loại và tổng hợp các thông tin liên quan đến tất cả các đối tượng kế toán trong toàn đơn vị. Các thông tin trên các sổ kế toán tổng hợp được sử dụng để tính toán, xác định các chỉ tiêu tổng hợp trong báo cáo tài chính. Để lập các báo cáo tài chính người ta chỉ dựa vào thông tin của các tài khoản được phản ảnh trên sổ kế toán này.

Sổ kế toán chi tiết: được dùng để phản ánh thông tin chi tiết về tình trạng và sự biến động của đối tượng kế toán trên sổ kế toán tổng hợp theo các tiêu thức khác nhau như theo từng bộ phận cấu thành, theo từng địa điểm phát sinh, theo từng bộ phận sử dụng… Việc sử dụng các sổ kế toán chi tiết để chi tiết hóa các thông tin về các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thuộc một đối tượng kế toán tổng hợp giúp cho người sử dụng có thông tin đầy đủ và toàn diện về đối tượng. Tùy theo yêu cầu thông tin cho nhà quản lý và đặc điểm của đối tượng kế toán mà đơn vị có thể mở các sổ kế toán chi tiết khác nhau.

* Tổ chức mở sổ, khóa sổ bảo quản lưu trữ sổ kế toán:

Sổ kế toán được mở vào đầu kỳ kế toán năm hoặc khi đơn vị mới thành lập.

Công tác khóa sổ kế toán được thực hiện khi kết thúc kỳ kế toán năm.

Sổ kế toán và các tài liệu kế toán được bảo quản và lưu trữ theo pháp luật. Kết thúc quá trình ghi sổ, khóa sổ kế toán, sổ kế toán được đưa vào lưu trữ theo quy định lưu trữ tài liệu kế toán tương tự như lưu trữ chứng từ chứng từ kế toán.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\Hoàn thiện công tác kế toán tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Hội An

Hoàn thiện công tác kế toán tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Hội An

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *