TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

1. Tính cấp thiết của đề tài Luận văn

Ngày 23/11/2012, Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng chống tham nhũng, trong đó đã bổ sung Điều 32a của Luật với quy định “Khi có yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải giải trình về quyết định, hành vi của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao trước cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, lợi ích hợp pháp bị tác động trực tiếp bởi quyết định, hành vi đó”. Ngày 8/8/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2013/NĐ-CP quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao; ngày 29/4/2014, Thanh tra Chính phủ đã ban hành Thông tư số 02/2014/TT-TTCP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 90/2013/NĐ-CP… TS.Trần Đức Lượng, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ cũng đã phát biểu tại Hội nghị phổ biến, quán triệt một số văn bản pháp luật về phòng chống tham nhũng diễn ra ngày 12/5/2015 tại Hà Nội: “Thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước là cơ sở để phát huy vai trò giám sát của cơ quan dân cử, tổ chức, đoàn thể và nhân dân đối với hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức”.

Có thể thấy rằng thời gian gần đây, trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nhà nước nói riêng là vấn đề pháp lý đang được Đảng, Nhà nước và toàn thể xã hội rất quan tâm. Về cơ bản, đã có một số văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các nội dung liên quan đến trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan hành chính nhà nước nói riêng. Tuy nhiên, hệ thống cũng như yêu cầu chất lượng của các quy định này vẫn còn có một số vấn đề bất cập. Trong khi đó, cơ quan hành chính nhà nước là một chủ thể quan trọng liên quan đến trách nhiệm giải trình vì hoạt động của cơ quan này diễn ra hằng ngày, hằng giờ, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, dù vô tình hay cố ý đều có thể tiềm ẩn trong đó nguy cơ xâm hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được Hiến pháp bảo vệ.

Thành phố Đà Nẵng là một thành phố trẻ, điều kiện kinh tế – xã hội ngày càng được nâng cao, trình độ dân trí được cải thiện đáng kể, nhu cầu được tiếp cận thông tin, được giải trình về các vấn đề liên quan đến công việc, đời sống của người dân, tổ chức, doanh nghiệp càng trở nên bức thiết hơn. Việc thực hiện trách nhiệm giải trình, chia sẻ thông tin với người dân, tổ chức, doanh nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá chất lượng phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước. Thành phố hiện nay có rất nhiều vấn đề “nóng”, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, đơn vị mà dư luận rất quan tâm.Việc quy định và tổ chức thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước nếu đầy đủ và nghiêm túc trong thực tế sẽ đảm bảo yêu cầu nâng cao chất lượng phục vụ của các cơ quan này trong một nền hành chính mang tính phục vụ, dân chủ góp phần đảm bảo tính công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, giảm tải nạn tham nhũng, khiếu kiện, qua đó làm tăng niềm tin của người dân vào nhà nước nói chung và các tổ chức, thiết chế của nhà nước nói riêng.

Từ đó đặt ra yêu cầu cần thiết phải nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh tại thành phố Đà Nẵng, góp phần tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, giảm thiểu tình trạng tham nhũng, nâng cao tính minh bạch, hiệu lực, hiệu quả và trách nhiệm trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của thành phố trong tình hình hiện nay.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn

3. Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn

3.1. Mục đích

Mục đích của Luận văn là nhằm nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp luật và thực tiễn về trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước trong nhà nước pháp quyền; đánh giá thực trạng thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh tại thành phố Đà Nẵng; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng trong việc thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh tại thành phố Đà Nẵng theo hướng xác định đây là một cơ chế nhằm tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước (đã được quy định trong Hiến pháp 2013), giảm tham nhũng, nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và trách nhiệm trong hoạt động của các cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nhà nước nói riêng…

3.2. Nhiệm vụ

Nghiên cứu các vấn đề lý luận về giải trình và trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước, qua đó rút ra những đặc điểm của giải trình và trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước, vai trò và ý nghĩa của việc thực hiện trách nhiệm giải trình trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền, các hình thức giải trình và cách thức thực hiện giải trình chủ yếu.

Nghiên cứu thực tiễn thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh tại thành phố Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2014 thông qua chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI).

Kiến nghị một số giải pháp chung và giải pháp cụ thể cho thành phố Đà Nẵng nhằm cải thiện cơ chế, nâng cao chất lượng đảm bảo thực hiện việc giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước tại thành phố Đà Nẵng trong tình hình mới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là một số vấn đề mang tính lý luận về trách nhiệm giải trình (khái niệm, phạm vi, chủ thể giải trình…); cơ chế kiểm soát trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước; các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh tại thành phố Đà Nẵng.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề giải trình và trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước và các cá nhân có thẩm quyền làm việc trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đặc biệt là các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh – chủ thể hằng ngày hằng giờ phải thực hiện các hoạt động quản lý hành chính nhà nước phát sinh trên tất cả các lĩnh vực, đòi hỏi tính linh hoạt, chủ động, kịp thời, hiệu quả, đồng thời cũng tiềm ẩn sự xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đối tượng quản lý có liên quan, do đó yêu cầu bảo đảm tính minh bạch, công khai và thực hiện nghiêm túc trách nhiệm giải trình là hết sức cần thiết.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của Luận văn

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chung là phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp bình luận, diễn giải; phương pháp lịch sử; phương pháp so sánh luật học; phương pháp phân tích tổng hợp và đánh giá thông tin.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn

7. Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về giải trình và trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước ( 27 trang)

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật và tổ chức thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh tại thành phố Đà Nẵng ( 24 trang)

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh tại thành phố Đà Nẵng (20 trang)

TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI TRÌNH VÀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

1.1. Khái niệm giải trình và trách nhiệm giải trình

1.1.1. Giải trình

Khái niệm giải trình được hiểu là việc cơ quan nhà nước cung cấp, giải thích, làm rõ các thông tin về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó.

1.1.2. Trách nhiệm giải trình

Trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước là trách nhiệm của cơ quan nhà nước có chức năng quản lý hành chính nhà nước (thuộc hệ thống hành pháp) và cán bộ, công chức thuộc hệ thống cơ quan này, chủ động thực hiện việc giải trình hoặc phải thực hiện nhiệm vụ giải trình khi bị các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan yêu cầu, nhằm cung cấp, giải thích, làm rõ các thông tin về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó, qua đó nhằm đảm bảo tính minh bạch, công khai trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, bảo đảm và bảo vệ có hiệu quả các quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân có liên quan, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân.

1.2. Chủ thể thực hiện trách nhiệm giải trình

1.2.1. Khái niệm chủ thể thực hiện trách nhiệm giải trình

Chủ thể thực hiện trách nhiệm giải trình là các cơ quan, tổ chức, cá nhân được sử dụng quyền lực công, có đầy đủ năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật thực hiện việc giải trình, cung cấp, chia sẻ thông tin một cách chủ động đối với những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình hoặc bắt buộc phải thực hiện việc giải trình đối với các đối tượng có liên quan khi có yêu cầu.

1.2.2. Cơ quan hành chính nhà nước – chủ thể bắt buộc thực hiện trách nhiệm giải trình

Trong phạm vi luận văn này chỉ giới hạn nghiên cứu chủ thể thực hiện trách nhiệm giải trình là các cơ quan hành chính nhà nước, trách nhiệm giải trình cần thiết phải đặt ra để đảm bảo mối quan hệ thực sự dân chủ trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm và bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.

1.3. Nội dung và hình thức giải trình

1.3.1. Nội dung giải trình

Nội dung giải trình chính là những vấn đề cụ thể mà các chủ thể có trách nhiệm giải trình (bao gồm các cơ quan hành chính nhà nước và các cán bộ, công chức có thẩm quyền trong hệ thống cơ quan này) phải chuẩn bị và trả lời với các chủ thể quản lý cấp trên hoặc với các đối tượng quản lý có liên quan, có thể dưới hình thức bằng văn bản hoặc bằng miệng.

1.3.2. Hình thức giải trình

Từ góc độ bảo đảm quyền được thông tin của người dân nói chung, trách nhiệm giải trình gắn liền với trách nhiệm thông tin đến đối tượng thụ hưởng, chịu sự quản lý và được thể hiện bằng hai hình thức là: giải trình chủ động và giải trình bị động (giải trình khi được yêu cầu). Giải trình chủ động là các cơ quan hành chính nhà nước chủ động thông tin, chủ động công khai nội dung hoạt động của mình. Giải trình bị động (giải trình khi được yêu cầu) là các cơ quan hành chính nhà nước cung cấp thông tin theo yêu cầu của các chủ thể có liên quan.

1.4. Yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng việc thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước

1.4.1. Quy định của pháp luật về thực hiện trách nhiệm giải trình

Trách nhiệm giải trình là trách nhiệm bảo đảm công khai, minh bạch của cả bộ máy nhà nước. Việc chủ động công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân là một phương thức hữu hiệu để bảo đảm quyền dân chủ trong quản lý nhà nước và bảo đảm để xã hội thực hiện quyền giám sát, tránh phải tổ chức quá nhiều việc giải trình theo yêu cầu do các cơ quan, tổ chức, cá nhân thiếu thông tin từ hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước. Do đó, để giải trình về hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thì biện pháp trước tiên và trên hết là phải có quy định của pháp luật về hình thức giải trình và hình thức công khai thông tin liên quan đến công vụ của các cơ quan hành chính nhà nước.

1.4.2. Trách nhiệm của cán bộ, công chức thực hiện giải trình

Trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc thực hiện giải trình cũng ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng hiệu quả của việc thực hiện giải trình. Theo đó, dù giải trình trong hệ thống hay giải trình ra bên ngoài thì trách nhiệm giải trình thường gắn với những vụ việc cụ thể liên quan đến trách nhiệm công vụ đã và đang được thực hiện.

1.4.3. Cơ chế kiểm soát và xử lý vi phạm trách nhiệm giải trình

Cần thiết phải có một cơ chế kiểm soát, định lượng trách nhiệm giải trình, trách nhiệm pháp lý khi cơ quan hành chính nhà nước không thực hiện trách nhiệm giải trình hoặc giải trình không hiệu quả. Quy định rõ ràng, cụ thể về nhiệm vụ của từng cán bộ, công chức là căn cứ để đánh giá trách nhiệm thực hiện của họ, cũng là cơ sở để yêu cầu cán bộ, công chức thực hiện trách nhiệm giải trình về những việc chưa làm được hoặc những hậu quả xấu từ việc thực hiện nhiệm vụ của mình.

1.5. Kinh nghiệm pháp luật nước ngoài về trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước

Theo kinh nghiệm của nước ngoài, trách nhiệm giải trình được đặt ra gắn liền với yêu cầu về tính công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước, đặc biệt gắn liền với công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, bảo đảm nguyên tắc của nhà nước pháp quyền, bảo vệ triệt để các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trước nguy cơ xâm hại xuất phát từ quyền tự định đoạt của các cơ quan hành chính.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1. Khái quát về điều kiện phát triển thành phố Đà Nẵng

Đà Nẵng là một thành phố miền Trung Việt Nam, gồm vùng đất liền và vùng quần đảo trên Biển Đông. Đặc thù của thành phố Đà Nẵng trong những năm gần đây là công tác quy hoạch phát triển thành phố, chỉnh trang đô thị diễn ra với tốc độ khá nhanh, công tác giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thu hồi đất…ngoài ra thành phố cũng đang đẩy mạnh việc cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả phục vụ các dịch vụ hành chính công cho người dân. Đây là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân thành phố, lãnh đạo thành phố phải hết sức quan tâm, giải quyết các vụ việc phải rõ ràng, minh bạch, yêu cầu trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước là rất lớn, nếu thực hiện tốt việc giải trình, nhất là giải trình chủ động, sẽ góp phần làm giảm một phần đáng kể các vụ tranh chấp, khiếu kiện của người dân.

2.2. Một số văn bản quy phạm pháp luật quy định về trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước

2.2.1. Quy định của pháp luật về trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước

Văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên có phạm vi điều chỉnh cụ thể và tương đối toàn diện về trách nhiệm giải trình là Nghị định số 90/2013/NĐ-CP của Chính phủ, quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Triển khai thực hiện Nghị định số 90/2013/NĐ-CP, Thanh tra Chính phủ đã ban hành Thông tư số 02/2014/TT-TTCP ngày 08/8/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 90/2013/NĐ-CP. Trong Luật Phòng chống tham nhũng năm 2005, khoản 1 Điều 48 quy định: “trước khi quyết định xác minh tài sản, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền yêu cầu người có nghĩa vụ kê khai tài sản giải trình rõ việc kê khai. Việc giải trình phải được thực hiện trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu giải trình”.

2.2.2. Quy định của pháp luật về hoạt động kiểm soát, xử lý đối với cơ quan hành chính nhà nước vi phạm trách nhiệm giải trình

Xét về phương diện pháp luật thực định ở Việt Nam hiện nay, các quy định về kiểm soát, xử lý đối với cơ quan hành chính nhà nước vi phạm trách nhiệm giải trình hầu như không có hoặc có quy định nhưng quy định rất ít, thiếu sự rõ ràng, minh bạch và mang nặng tính nguyên tắc. Có thể kể đến một số văn bản pháp luật tiêu biểu là: Hiến pháp năm 2013, Luật Phòng chống tham nhũng 2005 (sửa đổi, bổ sung 2007 và 2012), Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003, Luật Tổ chức Quốc hội (Điều 49), Luật Đất đai 2013… Nghị định số 90/2013/NĐ-CP của Chính phủ chưa quy định rõ cơ chế kiểm soát, xử lý cơ quan hành chính nhà nước vi phạm trách nhiệm giải trình mà mới chỉ dừng lại ở việc thanh tra, kiểm tra của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên đối với cơ quan hành chính nhà nước; việc kiểm tra, đôn đốc của người đứng đầu cơ quan Nhà nước trong tổ chức thực hiện trách nhiệm giải trình đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý thực hiện trách nhiệm giải trình.

2.3. Thực trạng tổ chức thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh tại thành phố Đà Nẵng thông qua chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) từ năm 2011 đến năm 2014

2.3.1. Giới thiệu về chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI)

Để làm rõ thực tiễn thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước trong thời gian qua, ta có thể tham khảo Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (viết tắt là PAPI – từ tên gọi tiếng anh Vietnam Governance and Public Administration Performance Index) được khảo sát và phân tích, đánh giá bởi Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Cộng đồng (CECODES), Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam và Chương trình Phát triển Liên hợp Quốc tại Việt Nam(UNDP).

2.3.2. Phân tích chỉ số PAPI của thành phố Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2014

Bảng 2.1. Phạm vi khảo sát PAPI ở Đà Nẵng

PHẠM VI KHẢO SÁT
Năm 2011Năm 2012Năm 2013Năm 2014
Hải ChâuHải ChâuHải ChâuHải Châu
Cẩm LệCẩm LệCẩm LệCẩm Lệ
Liên ChiểuLiên ChiểuLiên ChiểuLiên Chiểu

Bảng 2.2. Đối tượng khảo sát PAPI ở Đà Nẵng

Đối tượngNăm khảo sát
Năm 2011Năm 2012Năm 2013Năm 2014
Nam83988590
Nữ11194110107
Tổng194192195197

Bảng 2.3. Kết quả khảo sát chỉ số PAPI tại Đà Nẵng từ năm 2011 đến 2014

Tổng quan khảo sátNăm khảo sát
Năm 2011Năm 2012Năm 2013Năm 2014
Trục nội dung 1:

Tham gia của người dân ở cấp cơ sở

5.285.475.234.83
Trục nội dung 2:

Công khai, minh bạch

5.466.16,676,16
Trục nội dung 3:

Trách nhiệm giải trình với người dân

5.796.045.946.04
Trục nội dung 4:

Kiểm soát tham nhũng

6.166.626.335.63
Truc nội dung 5:

Thủ tục hành chính công

7.337.477.527.61
Trục nội dung 6:

Cung ứng dịch vụ công

7.437.657.377.73

2.3.3. Phân tích trục nội dung thứ 3: Trách nhiệm giải trình với người dân

Đo lường hiệu quả tương tác giữa chính quyền với người dân, hiệu quả hoạt động trên thực tế của Ban Thanh tra Nhân dân và Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng.

Bảng 2.4.. Điểm số trục nội dung “Trách nhiệm giải trình” qua các năm 2011 – 2014

Trục nội dung số 3Điểm số
Năm 2011Năm 2012Năm 2013Năm 2014
Trách nhiệm giải trình với người dân5.796.045.946.04
Mức độ và hiệu quả tương tác với chính quyền2.151.912.142.33
Ban thanh tra nhân dân1.742.021.881.85
Ban giám sát đầu tư cộng đồng1.92.101.921.87

Bảng 2.5. So sánh điểm số trục nội dung “Trách nhiệm giải trình” của Đà Nẵng với điểm trung bình toàn quốc

Trục nội dung 3Năm 2011Năm 2012Năm 2013Năm 2014
Đà NẵngTB toàn quốcĐà NẵngTB toàn quốcĐà NẵngTB toàn quốcĐà NẵngTB toàn quốc
Trách nhiệm giải trình với người dân5.795.56.045.585.945.656.045.73
Mức độ và hiệu quả tương tác với chính quyền2.151.871.911.882.141.782.331.85
Ban thanh tra nhân dân1.741.852.021.871.881.971.851.94
Ban giám sát đầu tư cộng đồng1.91.782.101.831.921.901.871.94

Bảng 2.6. So sánh điểm số của Đà Nẵng với tỉnh đạt điểm cao nhất

Trục nội dung 3Năm 2011Năm 2012Năm 2013Năm 2014
Đà NẵngTỉnh cao nhấtĐà NẵngTỉnh cao nhấtĐà NẵngTỉnh cao nhấtĐà NẵngTỉnh cao nhất
Trách nhiệm giải trình với người dân5.796.986.046.965.947.156.046.67
Mức độ và hiệu quả tương tác với chính quyền2.152.351.912.392.142.362.332.33
Ban thanh tra nhân dân1.742.362.022.671.882.691.852.34
Ban giám sát đầu tư cộng đồng1.92.402.102.301.922.461.872.36

Chỉ số nội dung mức độ hiệu quả trong việc tiếp xúc với chính quyền đo lường mức độ hiệu quả trong việc giải trình, tiếp xúc và tương tác với người dân của cán bộ, công chức ở các cấp chính quyền địa phương.

Bảng 2.7. So sánh điểm số của nội dung “Mức độ và hiệu quả tiếp xúc với chính quyền”

Nội dung thành phầnNăm 2011Năm 2012Năm 2013Năm 2014
1Mức độ và hiệu quả tiếp xúc với chính quyền (điểm số)2.151.912,142.33
1.1Liên hệ với trưởng thôn/Tổ trưởng Tổ dân phố để giải quyết khúc mắc (%)40.713.53652.42
1.2Liên hệ cán bộ xã/phường để giải quyết khúc mắc (%)20.16.246.6
1.3Cuộc gặp với trưởng thôn/Tổ trưởng Tổ dân phố để giải quyết khúc mắc có kết quả tốt (%)94.91009999
1.4Cuộc gặp với cán bộ xã/phường để giải quyết khúc mắc có kết quả tốt (%)87.2100100100
1.5Góp ý xây dựng với chính quyền (%)32.517.23334
1.6Việc góp ý xây dựng với chính quyền đem lại kết quả tốt (%)84.491.29395

Chỉ số nội dung hiệu quả của Ban Thanh tra nhân dân đo lường mức độ hiệu quả của việc thực hiện cơ chế Ban Thanh tra nhân dân, có chức năng giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo…

Bảng 2.8. So sánh điểm số của nội dung thành phần “hiệu quả của Ban Thanh tra nhân dân”

Nội dung thành phầnNăm 2011Năm 2012Năm 2013Năm 2014
Ban Thanh tra nhân dân1.742.021.881.85
2.1Xã/phường có Ban Thanh tra nhân dân (%)37.143.23738
2.2Ban Thanh tra nhân dân được nhân dân bầu (%)47.943.43534
2.3Ban Thanh tra nhân dân hoạt động có hiệu quả (%)80.089.28381

Mức độ hiệu quả của Ban giám sát đầu tư cộng đồng: Tương tự cách đo hiệu quả của việc thực hiện cơ chế Ban thanh tra nhân dân, đo lường hiệu quả thực hiện thiết chế Ban giám sát đầu tư cộng đồng cũng gồm tiêu chí về mức độ phổ biến và mức độ hiệu quả.

Bảng 2.8. So sánh điểm số của nội dung thành phần “hiệu quả của Ban Giám sát đầu tư cộng đồng”

Nội dung thành phầnNăm 2011Năm 2012Năm 2013Năm 2014
3Ban giám sát đầu tư cộng đồng1.902.101,921.87
3.1Xã/phường đã có Ban Giám sát đầu tư cộng đồng (%)16.526.61817
3.2Ban Giám sát đầu tư cộng đồng hoạt động có hiệu quả (%)93.892.28791

2.4. Nhận xét, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và tổ chức thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh tại thành phố Đà Nẵng

2.4.1. Những kết quả đạt được

Cho đến nay về cơ bản trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan hành chính nhà nước nói riêng đã được quy định trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đây là một bước ngoặt quan trọng nhằm đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước, giúp cho các chủ thể quản lý hành chính khi ban hành các quyết định hành chính đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý và tính khả thi.

Việc quy định về trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước đã có đóng góp quan trọng vào việc xây dựng và thực thi cơ chế bảo đảm và bảo vệ có hiệu quả các quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân khi tham gia vào các quan hệ pháp luật hành chính với nhà nước.

2.4.2. Những hạn chế còn tồn tại

Chưa phân định rõ ràng thẩm quyền lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng với thẩm quyền quản lý điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước, thậm chí kéo dài tình trạng bao biện, can thiệp, làm thay của các tổ chức Đảng đối với cơ quan quản lý nhà nước.

Luật xử lý vi phạm hành chính (Điều 61) chỉ quy định nhiệm vụ giải trình của tổ chức, cá nhân vi phạm mà chưa xác định trách nhiệm giải trình của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong việc ban hành quyết định xử lý vi phạm hành chính. Bộ máy hành chính còn mang nặng tính thứ bậc, quan liêu làm cho việc thực hiện trách nhiệm giải trình chưa kịp thời, còn biểu hiện phổ biến tính đối phó, bị động. Phạm vi những vấn đề thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bí mật nhà nước còn quá rộng và mập mờ đã làm ảnh hưởng nhiều đến việc thực hiện đầy đủ trách nhiệm giải trình.

Liên quan đến cơ chế kiểm soát, xử lý vi phạm trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước có thể thấy các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành chưa chú trọng đến nội dung này. Chỉ có một số ít quy định nhưng lại mang tính nguyên tắc, dẫn chiếu, tản mát và khó xác định đặc biệt là rất hạn chế về cơ chế xử lý.

TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH CỦA CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

3.1. Quan điểm chỉ đạo của Đảng về nâng cao tính hiệu quả trong việc tổ chức thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp để phòng, chống tham nhũng và việc thực hiện những chủ trương, chính sách, giải pháp đó đã mang lại kết quả ban đầu quan trọng, được nhân dân đồng tình, bạn bè quốc tế đánh giá cao. Trong các giải pháp phòng, chống tham nhũng, việc nâng cao tính hiệu quả trong thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước, đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là những cơ quan trực tiếp giải quyết công việc của công dân và doanh nghiệp là hết sức cần thiết. Đây là yếu tố quan trọng có tính chất nền tảng căn bản cho cuộc đấu tranh chống tệ tham nhũng, lãng phí trong hoạt động của bộ máy nhà nước.

3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước

Phải đặt yêu cầu hoàn thiện pháp luật liên quan đến trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước trong mối quan hệ đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành.

Phải xác định rõ lộ trình, kế hoạch hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan đến trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc tổ chức triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, nghị quyết của Quốc hội, các văn bản chỉ đạo của hệ thống chính quyền các cấp.

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy của cơ quan hành chính nhà nước, trong đó đề cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan và cá nhân công quyền trong trường hợp khi có yêu cầu giải trình từ phía đối tượng quản lý hoặc chủ động thực hiện việc giải trình khi các cơ quan này thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.

3.3. Đề xuất một số giải pháp cải thiện hiệu quả việc tổ chức thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh tại thành phố Đà Nẵng

3.3.1. Nhóm các giải pháp chung xây dựng và hoàn thiện những quy định của pháp luật nhằm hỗ trợ, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước

Cần thiết phải nhanh chóng ban hành Luật tiếp cận thông tin cụ thể, không chỉ quy định về phạm vi, trình tự, thủ tục để công dân tiếp cận tài liệu, hồ sơ do các cơ quan nhà nước lưu giữ mà phải điều chỉnh toàn bộ mối quan hệ nhà nước – công dân trong việc tìm kiếm, tiếp nhận, quản lý, cung cấp, chia sẻ thông tin về hoạt động của bộ máy nhà nước; Cần thiết phải tăng cường tính minh bạch của quyết định hành chính, xử lý những quyết định hành chính sai trái bằng cách ban hành Luật Ban hành quyết định hành chính. Cần bổ sung thêm một số điểm trong Nghị định số 90/2013/NĐ-CP của Chính phủ: Xác định rõ lộ trình thực hiện và tập trung vào các quy định về nghĩa vụ giải trình theo yêu cầu.

3.3.2. Giải pháp riêng cho thành phố Đà Nẵng

Lĩnh vực quản lý ngân sách nhà nước và công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng tại thành phố Đà Nẵng cần được chú trọng hơn nữa, việc xây dựng trách nhiệm giải trình cần có những phương pháp tiếp cận mới đối với cán bộ quản lý ngân sách nhà nước và những người được giao trách nhiệm điều tra vụ việc trong công tác phòng chống tham nhũng.

Cần thiết phải giao những việc cụ thể như quản lý bố trí đất tái định cư cho một cá nhân lãnh đạo, kiểm tra, xử lý vi phạm sau khi giao đất, cho thuê đất một cách thường xuyên. Làm rõ trách nhiệm của lãnh đạo, trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước có liên quan khi có thắc mắc, khiếu nại của người dân.

Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện xây dựng chính quyền điện tử, công cụ thông tin qua mạng internet và xác lập mối quan hệ tương tác giữa người dân, doanh nghiệp với Chính quyền thông qua các phương tiện công nghệ hiện đại.

Các cơ quan chính quyền thành phố cần luôn luôn đổi mới, tăng cường năng lực, làm việc có hiệu lực, hiệu quả và minh bạch hơn; Tạo điều kiện thuận lợi nhất để các Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư cộng đồng thực hiện đúng chức năng giám sát của người dân. Tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội vào việc thúc đẩy minh bạch và trách nhiệm giải trình; huy động sự tham gia của các tổ chức xã hội, cộng đồng và báo chí vào việc thúc đẩy các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện công khai, minh bạch và tăng cường trách nhiệm giải trình.

KẾT LUẬN

Trong bối cảnh nước ta đang trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đẩy mạnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng phục vụ nhân dân thì việc thực hiện có hiệu quả trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng và thiết thực.

Ở Việt Nam hiện nay, “trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước” vẫn còn là một vấn đề khá mới mẻ cả về khái niệm, chủ thể thực hiện đến việc xác định nội dung, hình thức giải trình cũng như cơ chế kiểm soát trách nhiệm giải trình của các cơ quan thực thi quyền lực công. Trong Hiến pháp và một số văn bản pháp lý cũng đã có quy định về vấn đề này như Luật phòng chống tham nhũng, Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 90/2013/NĐ-CP quy định về trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước trong quá trình thực thi nhiệm vụ được giao, Thông tư số 02/2014/TT-TTCP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định này… tuy nhiên xét về tính tổng thể, thống nhất thì vẫn còn những vấn đề bất cập, như là việc xác định phạm vi, chủ thể thực hiện trách nhiệm giải trình; giải trình mang tính chủ động, coi đó là một nghĩa vụ của các chủ thể quản lý nhà nước khi thực thi quyền lực công nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch, công bằng, dân chủ thay vì chỉ giải trình khi được yêu cầu; cơ chế kiểm soát, xử lý khi cơ quan hành chính nhà nước không thực hiện nghĩa vụ giải trình hoặc giải trình không hiệu quả là những vẫn đề còn bỏ ngỏ.

Trong thời gian qua, các cơ quan hành chính nhà nước tại thành phố Đà Nẵng đã có trách nhiệm và quan tâm hơn đến việc thực thi công vụ, nhiệm vụ, tăng tính công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước, tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận thông tin cũng như chia sẻ những băn khoăn thắc mắc của mình, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp; tuy nhiên việc thực hiện trách nhiệm giải trình vẫn chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục; cán bộ, công chức vẫn chưa thực sự chủ động thực hiện trách nhiệm giải trình để giảm tải các vụ việc khiếu kiện của người dân, nhất là những vấn đề “nóng”, gây bức xúc trong dư luận.

Từ những phân tính như trên, Luận văn đã tập trung nghiên cứu, làm rõ vấn đề “Trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh – thành phố Đà Nẵng”. Với cách tiếp cận mang tính truyền thống, khoa học, có sử dụng những thông tin, số liệu cụ thể đáng tin cậy, Luận văn đã phân tích và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn tổ chức thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính cấp tỉnh tại thành phố Đà Nẵng trong bốn năm gần đây. Phân tích, đánh giá những hạn chế còn tồn tại qua đó đề xuất một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả việc tổ chức thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian đến.

Việc quy định và tổ chức thực hiện trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước một cách đầy đủ, nghiêm túc trong thực tế sẽ đảm bảm yêu cầu nâng cao chất lượng phục vụ của các cơ quan công quyền trong một nền hành chính mang tính phục vụ, dân chủ, góp phần đảm bảo tính công khai, minh bạch trong quản lý hành chính nhà nước, giảm tải nạn tham nhũng, khiếu kiện ở Việt Nam nói chung và ở thành phố Đà Nẵng nói riêng, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 21/NQ-CP của Chính phủ về Chiến lược quốc gia phòng chống tham nhũng đến năm 2020, xây dựng nền hành chính phụ vụ, dân chủ và hiện đại.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN HOC VIEN HANH CHINH\NGUYEN THI THANH HAI (094.601.4601)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *