Quản lý nhà nước về giải phóng mặt bằng trên địa bàn quận Sơn Trà

Quản lý nhà nước về giải phóng mặt bằng trên địa bàn quận Sơn Trà

Quản lý nhà nước về giải phóng mặt bằng trên địa bàn quận Sơn Trà

1. Lý do chọn đề tài luận văn

Quận Sơn Trà Địa thành phố Đà Nẵng là một trong những địa phương có lợi thế, tiềm năng về phát triển kinh tế xã hội, thực hiện những dự án đầu tư xây dựng, chỉnh trang đô thị. Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng thì GPMB là khâu đầu tiên không thể thiếu được và nó ảnh hưởng trực tiếp tới tiến độ dự án.

Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy, công tác GPMB trên địa bàn quận là một vấn đề rất nhạy cảm và phức tạp, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh tế – chính trị – xã hội, tới mỗi người dân và cộng đồng dân cư. Giải quyết không tốt, không thỏa đáng quyền của người có đất thu hồi dễ dàng nổ ra những khiếu kiện, đặc biệt những khiếu kiện tập thể, gây mất ổn định, xã hội… Vậy nguyên nhân do đâu? Vai trò của cơ quan QLNN trong công tác GPMB như thế nào? Giải pháp hoàn thiện công tác QLNN về GPMB? Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã chọn thực hiện đề tài: “QLNN về GPMB trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng” làm đề tài của luận văn.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích

– Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN trong công tác GPMB trên địa bàn quận Sơn Trà.

* Nhiệm vụ

– Đánh giá, phân tích thực trạng công tác GPMB, làm rõ những nguyên nhân, những khó khăn vướng mắc trong GPMB của các dự án, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về giải phòng mặt bằng của các dự án trên địa bàn quận Sơn Trà.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

* Đối tượng nghiên cứu

QLNN trong công tác GPMB các dự án trên địa bàn quận Sơn Trà.

* Phạm vi nghiên cứu:

– Về không gian: Quận Sơn Trà.

– Về thời gian: Từ năm 2010 đến nay.

5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

* Ý nghĩa lý luận

* Ý nghĩa thực tiễn

– Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho cơ quan QLNN về GPMB cấp quận cập nhật, nắm bắt thông tin liên quan đến GPMB kịp thời, chính xác, đầy đủ phục vụ quản lý tốt về đất đai.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận QLNN trong công tác GPMB

Chương 2: Thực trạng QLNN trong công tác GPMB trên địa bàn quận Sơn Trà

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về trong công tác GPMB trên địa bàn quận Sơn Trà.

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG

1.1. Quan niệm về giải phóng mặt bằng

1.1.1. Khái niệm giải phóng mặt bằng

GPMB là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc di dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trên một phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới.

1.1.2. Ý nghĩa của công tác giải phóng mặt bằng

1.1.3. Vai trò và yêu cầu của công tác giải phóng mặt bằng

a. Vai trò của công tác giải phóng mặt bằng

b. Yêu cầu của công tác giải phóng mặt bằng

1.2. Quản lý nhà nước về giải phóng mặt bằng

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước về giải phóng mặt bằng

1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về giải phóng mặt bằng

Thứ nhất, ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về giải phóng mặt bằng.

Thứ hai, xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách kế hoạch, định hướng về công tác giải phóng mặt bằng.

Thứ ba, thực hiện kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong công tác giải phóng mặt bằng.

1.2.3. Công cụ quản lý nhà nước đối với công tác giải phóng mặt bằng

Công cụ quản lý nhà nước đối với công tác giải phóng mặt bằng là những ph¬ương tiện cần thiết, qua đó nhà nước (thông qua các cơ quan chức năng) sử dụng để điều tiết, h¬ướng dẫn, kiểm soát đối với công tác giải phóng mặt bằng.

Thứ nhất, công cụ quy hoạch, kế hoạch

Thứ hai, công cụ chính sách

Thứ ba, công cụ pháp luật

Quản lý nhà nước về giải phóng mặt bằng trên địa bàn quận Sơn Trà
Quản lý nhà nước về giải phóng mặt bằng trên địa bàn quận Sơn Trà

1.2.4. Vai trò của quản lý nhà nước đối với giải phóng mặt bằng

Thứ nhất, quản lý nhà nước về giải phóng mặt bằng là cơ sở để Nhà nước hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng… và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách đó.

Thứ hai, giải phóng mặt bằng góp phần đẩy nhanh công tác thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

1.2.5. Các điều kiện bảo đảm quản lý nhà nước về giải phóng mặt bằng

a. Điều kiện về cơ chế chính sách, pháp luật

b. Điều kiện về cơ sở vật chất

c. Điều kiện về tổ chức bộ máy và cán bộ thực hiện công tác giải phóng mặt bằng.

1.3 Kinh nghiệm GPMB khi thu hồi đất của một số nước 1.3.1 Kinh nghiệm GPMB ở Singapore

1.3.2 Kinh nghiệm GPMB ở Thái Lan

1.3.3 Kinh nghiệm GPMB ở Hàn Quốc

1.3.4 Kinh nghiệm GPMB ở Australia

Chương 2

HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG

TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ

2.1. Khái quát về quận Sơn Trà và hiện trạng sử dụng đất tại quận Sơn Trà

2.1.1. Giới thiệu chung về quận Sơn Trà

Quản lý nhà nước về giải phóng mặt bằng trên địa bàn quận Sơn Trà
Quản lý nhà nước về giải phóng mặt bằng trên địa bàn quận Sơn Trà

Hình 2.1. Sơ đồ vị trí địa bàn nghiên cứu

2.1.2. Hiện trạng sử dụng đất quận Sơn Trà

2.2. Thực trạng quản lý nhà nước về giải phóng mặt bằng trên địa bàn quận Sơn Trà

2.2.1. Về xây dựng khuôn khổ pháp lý và các chính sách giải phóng mặt bằng

Qua các năm từ khi luật đất đai 2003 có hiệu lực thi hành, UBND thành phố Đà Nẵng đã ban hành các Quyết định quy định về bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư và Quyết định về khung giá đất hàng năm như sau:

Bảng 2.1 Bảng thống kê các văn bản pháp luật

Các quy định và giá đất hằng năm để làm căn cứ xác định và áp giá bồi thường đối với hộ giải tỏa của dự án. Dự án triển khai tại thời điểm nào thì phương án giải phóng mặt bằng được trình phê duyệt tương ứng với quy định bồi thường và bảng giá đất có hiệu lực tại thời điểm đó.

2.2.2. Về tổ chức thực hiện chính sách kế hoạch, định hướng về công tác giải phóng mặt bằng trên địa bàn Quận

2.2.2.1. Về quy trình giải phóng mặt bằng và cơ chế phối hợp

a) Theo Quyết định số 47/2006/QĐ-UBND ngày 18/5/2006

b) Theo Quyết định số 28/2013/QĐ-UBND ngày 26/8/2013

2.2.2.2. Thực hiện quản lý nguồn gốc và biến động sử dụng đất

Các loại bản đồ quản lý biến động sử dụng đất:

– Bản đồ 299/TTg, Bản đồ 64/CP, Bản đồ 60/CP

– Bản đồ hiện trạng của dự án lập và đo vẽ theo hệ tọa độ mới.

Hệ tọa độ của mỗi loại bản đồ không trùng khớp nhau gây khó khăn trong công tác quản lý. Mỗi thời điểm đo vẽ bản đồ có phát sinh các thửa đất và quá trình sử dụng đất làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất do đó mỗi lẫn đo vẽ lại bản đồ thì việc đánh số thửa và tờ bản đồ khác nhau. Việc khác nhau nêu trên gây nên sự nhầm lẫn.

Trong quá trình sử dụng đất, biến động sử dụng đất là không thể tránh khỏi. Việc quản lý không tốt sẽ phát sinh nhiều tình huống phức tạp gây khó khăn cho cơ quan nhà nước.

Hiện nay, Sổ địa chính đất đai chưa cập nhập được tình hình đăng ký biến động quy hoạch trên diện rộng, phần lớn các tổ dân phố đều có biến động. Toàn quận hiện có 1057 tổ dân phố nhưng số sổ địa chính hiện có chỉ 213 sổ (trong đó nhiều sổ không sử dụng được do đã quy hoạch biến động hoàn toàn), thiếu 156 sổ. Bên cạnh đó, 2 phường Phước Mỹ và Phường Nại Hiên Đông chưa có Sổ địa chính nên khi tiến hành cập nhập gặp khó khăn, lúng túng trong ghi chép.

2.2.2.3. Về quản lý nguồn vốn, cơ chế tài chính và tạo nguồn vốn cho công tác giải phóng mặt bằng

Việc GPMB đối với các dự án mà nhà đầu tư mua đất thô thường kéo dài do nhiều nguyên nhân do nhà đầu tư không đủ nguồn tiền để chi trả cho công tác giải phóng mặt bằng.

2.2.2.4. Về quản lý quỹ đất trên địa bàn quận

Phòng đền bù thuộc Văn phòng UBND thành phố là cơ quan tổng hợp và quản lý quỹ đất tái định cư về mặt tổng thể.

UBND quận là cơ quan quản lý thực tế tại địa phương tuy nhiên thông tin quản lý về quỹ đất tái định cư chưa được cung cấp thông tin kịp thời do quá trình biến động thay đổi liên tục.

Bảng 2.7. Tình hình giải tỏa di dời, bố trí tái định cư

trên địa bàn quận Sơn Trà từ năm 1997 đến năm 2014

NămSố hộ đã di dờiSố hộ bị cưỡng chếSố hộ đã được bố trí TĐC
199710000738
1998156001200
1999150001114
2000110001005
2001222002120
2002180501700
20038850885
2004125511120
2005251032510
20067982798
20079012880
20087828782
20091052141486
2010152912853
20115794904
20127350512
20133494450
2014114 0350
TỔNG CỘNG 20674 5019407

Hiện nay tại quận Sơn Trà, hộ giải tỏa chưa có đất tái định cư thực tế tại các dự án KDC Thọ Quang 3, KDC đầu tuyến Sơn Trà- Điện Ngọc, KDC An Cư 4, An Cư 5, đường Võ Văn Kiệt.

2.2.3. Về thanh tra, kiểm tra và giải quyết vướng mắc, kiến nghị và khiếu nại tố cáo của tổ chức và công dân

UBND quận Sơn Trà tiếp nhận đơn khiếu nại và khiếu kiện liên quan đến công tác GPMB tại bộ phận tiếp dân sau đó đơn được chuyển đến bộ phận chuyên môn để xem xét đề xuất giải quyết.

Trong thời gian qua, đơn của công dân được giải quyết đúng quy định và thẩm quyền. Tuy nhiên, một số trường hợp thời gian giải quyết các đơn kiến nghị thường chậm vì phải thông qua buổi họp Hội đồng GPMB mới đề xuất giải quyết các kiến nghị của hộ giải tỏa, trình UBND thành phố quyết định.

2.3.5 Đánh giá kết quả thực hiện công tác GPMB ba dự án

* Về chính sách bồi thường

+ Đối với đất nông nghiệp, nhiều hộ gia đình có diện tích đo đạc nhỏ hơn trong giấy tờ mà họ được chứng nhận quyền sử dụng đất đã không đồng ý với phương án bồi thường bằng với diện tích đo đạc thực tế. Trên thực tế, trong quá trình sử dụng đất, những hộ gia đình này vẫn được công nhận diện tích như trong GCN QSDĐ và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với phần diện tích tăng thêm so với thực tế. Chỉ khi có dự án, cần thu hồi đất để GPMB thì thửa đất mới được đo đạc chính xác, dẫn đến sự chênh lệch về diện tích và những khúc mắc nảy sinh trong xây dựng phương án bồi thường. Để giải quyết vướng mắc này, UBND thành phố Đà Nẵng đã có quyết định cho phép những hộ gia đình có diện tích chênh lệch so với đo đạc vẫn được tính bồi thường như diện tích trong GCN QSDĐ, điều này mang lại lợi ích tốt nhất cho người dân có đất bị thu hồi trong các dự án trên địa bàn quận Sơn Trà.

Tại dự án đường nội bộ phường An Hải Đông giá bồi thường cho 1 m2 đất trồng cây hàng năm là 28.000đ theo Quyết định 70/QĐ-UBND ngày 20/12/2007; dự án tuyến cống thoát nước mưa, giá bồi thường cho 1 m2 đất trồng cây hàng năm là 35.000đ theo Quyết định 36/QĐ-UBND ngày 24/12/2009. Mức giá trên được đưa ra tương đối thấp với thực tế địa phương, nên khi có bồi thường có một số hộ dân không chấp thuận và làm đơn xin kiến nghị hỗ trợ thêm.

* Về chính sách hỗ trợ, bố trí tái định cư

Do dự án thực hiện theo phương chân “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, trên tinh thần nhân dân tự nguyện đóng góp một phần đất, tường rào công ngõ, nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng. Vì vậy, chủ yếu vận động thuyết phục nhân dân tự nguyện không nhận đền bù tường rào, cổng ngõ và phần đất trong diện giải toả để nhà nước có điều kiện xây dựng, mở rộng và nâng cấp đường, còn phần nhà thì bồi thường, hỗ trợ theo quy định tại Quyết định số 71/2007/QĐ-UB ngày 20/12/2007 của UBND thành phố Đà Nẵng. Đối với các tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh có đăng ký kinh doanh tại địa điểm bị giải toả có sử dụng lao động theo luật định thì người lao động được bồi thường, hỗ trợ do ngừng việc; được trợ cấp ngừng sản xuất sản xuất kinh doanh theo quy định tại Điều 32, 35 của Quyết định số 71/2007/QĐ-UB. Đối với các hộ dân bị giải toả được hỗ trợ chi phí di chuyển, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề, được thực hiện theo các quy định tại Điều 33, 34 của Quyết định số 71/2007/QĐ-UB.

Đối với Dự án Khu tổ hợp dịch vụ cao cấp phía Đông đầu cầu sông Hàn được bố trí đất tái định cư trước khi bàn giao mặt bằng cũ nên chủ hộ có điều kiện xây dựng nhà tại mảnh đất mới. Hầu hết các hộ chấp nhận với phương án đền bù hỗ trợ của nhà nước tuy nhiên vẫn có một số hộ hộ dân không chịu đi xa, phải tiếp xúc vận động nhiều lần tốn rất nhiều thời gian cho việc vận động những hộ dân này mới chịu di dời.

Dự án tuyến cống thoát nước mưa Thọ Quang đây là khu vực đất nông nghiệp chuyên canh rau muống, có xem lẫn nhà cửa nên đời sống kinh tế của các hộ giải tỏa dự án tuyến cống ngoài quy định 36/2009/QĐ-UBND ngày 24/12/2009 của UBND thành phố Đà Nẵng, các hộ còn được hỗ trợ thêm từ 05 đến 60 triệu theo quyết định 19/QĐ-UBND ngày 25/6/2010 tùy thuộc vào diện tích đất được thu hồi. Tuy nhiên, dự án này điều chỉnh quy hoạch theo Quyết định số 3579/QĐ-UBND ngày 09/5/2012 của UBND thành phố nên đến tháng 08/2012 mới có 28 hồ sơ bàn giao mặt bằng và 45 hồ sơ chưa bàn giao mặt bằng do các hộ dân không đồng tình với việc mở khu dân cư dọc 2 bên tuyến cống, một số hộ có diện tích đất thu hồi nằm trong ranh giới giữa 2 dự án là Dự án tuyến cống thoát nước mưa Thọ Quang và dự án khu dân cư dọc tuyến cống thoát nước mưa Thọ Quang, các hộ yêu cầu được nhận tiền đền bù và bàn giao mặt bằng trong phạm vi dự án tuyến cống thoát nước mưa Thọ Quang, phần diện tích thu hồi còn lại thuộc dự án khu dân cư dọc tuyến cống thoát nước mưa Thọ Quang không chấp nhận bàn giao mặt bằng. Đồng thời dự án chưa có đất tái định cư nên các hộ không nhận tiền nhà và bàn giao mặt bằng nhà ở. Trong năm 2013 tiếp tục triển khai giải tỏa 21 hồ sơ trong đó 18 hồ sơ nhà, và 03 hồ sơ nông nghiệp, hiện nay có 03 hồ sơ nông ngiệp và 02 hồ sơ nhà đã bàn giao mặt bằng, còn lại 16 hộ, UBND quận đã tiếp dân lần cuối và trình UBND thành phố phê duyệt, mời các hộ nhận tiền, đến cuối tháng 12/2013, UBND quận đã xử lý cưỡng chế thu hồi đất 03 hộ cố tình chây lỳ không bàn giao mặt bằng.

Bên cạnh đó cần phải nhìn nhận rằng tất cả các hình thức bồi thường đất nông nghiệp, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp đến bồi thường tài sản, cây cối đều được trả bằng tiền. Tuy vậy khi những người nông dân quanh năm chỉ biết canh tác, cầm một khoản tiền trong tay họ sẽ làm gì khi tư liệu sản xuất của họ là mộng đất đã bị thu hồi? Những dự án xây dựng liên tiếp ra đời, song hành cùng với những phương án thu hồi, GPMB nhưng lại ít có dự án đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp cho một bộ phận lớn lao động trình độ còn hạn chế.

* Về tổ chức thực hiện công tác bồi thường, GPMB

Đối với ba dự án trong phạm vi nghiên cứu của đề tài nói, việc tổ chức thực hiện công tác bồi thường, GPMB tương đối đúng quy trình. Đối với Quyết định số 47/2006/QĐ-UBND công tác kiểm kê đo đạc được thực hiện sau khi ban hành Quyết định thu hồi đất do đó tính chính xác của Quyết định thu hồi đất thấp do các yếu tố liên quan đến hồ sơ pháp lý của người sử dụng đất sau khi kiểm kê mới cung cấp do đó thường phải điều chỉnh Quyết định thu hồi đất cho phù hợp.

2.3. Đánh giá chung công tác QLNN về GPMB trên địa bàn quận Sơn Trà

2.3.1. Ưu điểm công tác QLNN về giải phóng mặt bằng

Dưới sự chỉ đạo sát sao của Đảng uỷ, UBND quận, cùng sự phối hợp của các sở, ban, ngành trong thời gian qua phần lớn các dự án có sử dụng đất đã cơ bản hoàn thành xong công tác GPMB và bàn giao mặt bằng cho các chủ dự án tiến hành thi công, xây lắp công trình.

Đền bù, giải tỏa tại quận Sơn Trà được xác định là công việc của cả hệ thống chính trị. Bên cạnh đó, chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm” cũng được thực hiện hiệu quả. Tất cả các con đường nội thành khi mở rộng, nâng cấp, người dân hiến đất, thành phố không phải đền bù với trị giá hàng trăm tỷ đồng [63].

Không để xảy ra điểm nóng, không có khiếu kiện đông người, đây là một thành công lớn của công tác vận động quần chúng.

Trong công tác giải phóng mặt bằng quận Sơn Trà đã chú trọng giải quyết tốt các bước sau:

– Chú trọng công tác quy hoạch – chỉnh trang đô thị, thực hiện một cách đồng bộ có hệ thống từ khâu đền bù, giải toả đến bố trí tái định cư.

– Tăng cường sự tham gia của cộng đồng dân cư, các đoàn thể, các tổ chức chính trị – xã hội trong toàn bộ quá trình thực hiện di dời, giải toả, tái định cư. Quan tâm đến hoàn cảnh của hộ gia đình bị giải tỏa.

– Công khai các chủ trương, chính sách và kết quả giải quyết của hộ giải tỏa.

Việc thực hiện giải tỏa đền bù, bố trí tái định cư được công bằng, nhanh chóng và giảm thiểu tình trạng khiếu kiện của công dân.

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong công tác QLNN về GPMB trên địa bàn quận Sơn Trà

2.3.2.1 Hạn chế trong công tác QLNN về GPMB trên địa bàn quận Sơn Trà

Thứ nhất, về hệ thống chính sách

Việc xác định đâu là khu dân cư và giá đất ở để tính hỗ trợ đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư còn quá phức tạp, bất nhất. Thuật ngữ “khu dân cư” nghe rất quen thuộc nhưng đi vào chi tiết thì lại khó xác định. Cụ thể, thế nào là khu dân cư, tiêu chí như thế nào thì được gọi là khu dân cư, hiện chưa có văn bản nào giải thích đầy đủ về khái niệm này.

Trong trường hợp bồi thường, hỗ trợ đất nông nghiệp, tại các quy định trước năm 2009 của UBND TP Đà Nẵng thì việc bồi thường hỗ trợ đất nông nghiệp đối với các thửa đất khai hoang để sản xuất trước ngày 01/7/2004 được hỗ trợ bằng 100% giá đất nông nghiệp. Tuy nhiên đến thời điểm năm 2012 các quy định mới ban hành giá các thửa đất hoang được hộ dân khai hoang để sản xuất thì căn cứ vào thời điểm khai hoang để bồi thường. Trường hợp khai hoang trước 15/10/1993 thì được hỗ trợ 100% giá đất nông nghiệp; trường hợp khai hoang từ sau 15/10/1993 đến trước 01/7/2004 thì hỗ trợ tối đa không quá 60% giá đất nông nghiệp. Mỗi thời điểm ban hành quyết định có khung đề xuất bồi thường hỗ trợ khác nhau gây khó khăn trong việc thực hiện và kiến nghị từ người dân.

Thứ hai, về nguồn vốn đầu tư

Đối với các dự án nguồn vốn GPMB do các chủ đầu tư chi trả thì nguồn vốn thường không được đảm bảo dẫn đến khó khăn trong công tác GPMB. Các dự án thực hiện dở dang kéo dài thời gian thường phải phê duyệt điều chỉnh đơn giá và mức bồi thường phù hợp với thời điểm thực hiện chi trả thì mới đảm bảo quyền lợi của người dân và tiến độ giải phóng mặt bằng. Các dự án không đảm bảo về nguồn vốn chỉ thực hiện GPMB theo giai đoạn sẽ gây ra nhiều tác động tiêu cực đến công tác GPMB và đời sống của người dân.

Thứ ba, về đất tái định cư

Vấn đề bồi thường và hỗ trợ tái định cư cho những người bị thu hồi đất ở nhiều địa phương gặp không ít khó khăn, vướng mắc. chưa coi trọng việc lập khu tái định cư chung cho các dự án trên cùng địa bàn, một số khu tái định cư đã được lập nhưng không bảo đảm điều kiện sống tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ, giá nhà ở tại khu tái định cư còn tính quá cao nên tiền nhận bồi thường không đủ trả cho nhà ở tại khu tái định cư.

Thứ tư, về đội ngũ cán bộ quản lý

Hầu hết Hội đồng GPMB quận được thành lập trên cơ sở trưng dụng từ các ngành, làm việc theo chế độ kiêm nhiệm. Trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý về công tác GPMB chưa đồng đều. Nghiệp vụ chuyên môn chủ yếu do kinh nghiệm của thế hệ đi trước truyền đạt lại, chưa có các khóa đào tạo cơ bản về chuyên môn trong công tác GPMB và quản lý công tác giải phóng mặt bằng. Do đó trình độ cán bộ quản lý dự án chưa được chuẩn hóa về phương pháp quản lý và cách thức quản lý sao cho khoa học và minh bạch.

Một số cán bộ làm công tác đất đai ở cơ sở chưa nâng cao tinh thần trách nhiệm, giải quyết công việc chưa thực sự có “tâm”, cho rằng mình là “ông này, bà nọ” gây khó khăn, tạo bất bình trong nhân dân.

Thứ năm, về giải quyết đơn kiến nghị và khiếu nại tố cáo

Các nội dung đơn đa phần là vượt cấp, để giải quyết đòi hỏi các thành viên của Hội đồng GPMB phải họp bàn từ đó mới đưa ra hướng đề xuất phù hợp trình UBND thành phố quyết định. Tuy nhiên trên địa bàn quận có rất nhiều dự án do đó các buổi họp này thường được sắp xếp ưu tiên theo tiến độ của dự án, điều đó dẫn đến một số trường hợp các hộ dân không được giải quyết kịp thời gây nên tình trạng chây ì, bất hợp tác.

2.3.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác QLNN về GPMB trên địa bàn quận Sơn Trà

Một là, Quản lý đất đai buông lỏng chưa xử lý kiên quyết, kịp thời, nghiêm minh, dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất, chuyển mục đích, chuyển nhượng, xây dựng trái phép nên khi Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường, dẫn đến việc không chấp hành bàn giao mặt bằng.

Ngoài ra, công tác lưu trữ hồ sơ rất thiếu và yếu, hồ sơ quản lý địa chính hiện có không đủ điều kiện xác định nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng để lập phương án đền bù nhất là việc xác định các trường hợp đất thuộc diện được bồi thường, hỗ trợ hay không đối với những trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất chưa được quy định cụ thể, thiếu chỉnh lý cập nhật biến động kịp thời nên việc quy chủ, xác nhận nguồn gốc đất đai chậm và thiếu chính xác.

Hai là, khung giá đền bù chưa được người dân đồng tình

Bởi vậy, điều cần thiết hiện nay là phải xây dựng khung giá đền bù hợp lý hơn để giành được sự đồng thuận của người dân, có như vậy công tác GPMB mới được tiến hành thuận lợi

Ba là, công tác tuyên truyền vận động chưa được tiến hành sâu rộng, chưa thực sự có hiệu quả. Hơn nữa, thực tế là ý thức người dân chưa cao, chưa nhận thức được đầy đủ lợi ích kinh tế xã hội mà dự án mang lại; họ chỉ quan tâm đến lợi ích riêng mà lợi dụng các quy định chưa cụ thể về chính sách để đưa ra các yêu sách không đúng nhưng chưa được giải quyết kịp thời nên các hộ gây cản trở, khó khăn cho các chủ đầu tư trong việc kiểm đếm, lập hồ sơ, phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

Bốn là, việc giải quyết đơn kiến nghị và khiếu nại tố cáo chưa thật sự công tâm. Việc giải quyết đơn thư kiến nghị cho mỗi hộ gia đình với mỗi hoàn cảnh đặc biệt khác khau do đó có sự chênh lệch trong kết quả giải quyết. Trong khi đó người dân với quan điểm của mình luôn cho rằng trường hợp của mình là tương đương với hộ gia đình đó và yêu cầu được giải quyết tượng tự. Các kết quả giải quyết đôi khi thông tin chưa đến với người dân mà một số đối tượng biết trước thông tin và lợi dụng kẻ hở này để kích động, lôi kéo gây kéo dài thời gian thực hiện công tác GPMB nhằm trục lợi.

Năm là, đội ngũ cán bộ quản lý chưa được đào tạo bài bản, chính quy. Không có trường lớp và cơ sở đào tạo các cán bộ chuyên trách về công tác GPMB. Việc quản lý dựa theo kinh nghiệm do đó tại mỗi Cơ quan đều có cách làm khác nhau nhưng chưa có nhiều lớp tập huấn.

Quản lý nhà nước về giải phóng mặt bằng trên địa bàn quận Sơn Trà
Quản lý nhà nước về giải phóng mặt bằng trên địa bàn quận Sơn Trà

Chương 3

ĐỊNH HƯỚNG, YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ

3.1. Định hướng và yêu cầu về tăng cường quản lý nhà nước trong giải phóng mặt bằng trên địa bàn Quận Sơn Trà

3.1.1. Định hướng của Đảng ủy và chính quyền Quận Sơn Trà về tăng cường quản lý nhà nước trong giải phóng mặt bằng

3.1.2. Yêu cầu tăng cường quản lý nhà nước trong giải phóng mặt bằng trên địa bàn Quận Sơn Trà

Thứ nhất, phát huy dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác giải phóng mặt bằng

Thứ hai, tăng cường cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác giải phóng mặt bằng

Thứ ba, khẩn trương, tích cực khắc phục những tồn tại, hạn chế về công tác giải phóng mặt bằng ở quận Sơn Trà.

3.2. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về giải phóng mặt bằng trên địa bàn Quận Sơn Trà

3.2.1. Giải pháp về cơ chế, chính sách liên quan đến giải phóng mặt bằng

Thứ nhất, sửa đổi bổ sung các quy định về đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư; đất vườn ao liền kề với đất ở.

Bổ sung quy định về hạn mức đất được đền bù thiệt hại theo giá đất ở đối với các trường hợp sử dụng đất ở nhưng không có giấy tờ hợp lệ.

Có quy định cụ thể về quy trình chuyển đổi đất đai trong trường hợp các dự án thực hiện chỉnh trang nâng cấp hạ tầng đô thị, xây dựng lại các khu dân cư cũ nát trên nguyên tắc áp dụng chính sách góp đất, điều chỉnh đất đai của những cư dân trong khu dân cư.

Đề nghị chỉ quy định Nhà nước được thu hồi đất cho các dự án phát triển kinh tế – xã hội gắn với lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia.

Bổ sung quy định về cơ chế góp đất và điều chỉnh đất đai,

Thứ hai, hoàn thiện Quy trình giải phóng mặt bằng. Quy trình càng cụ thể thì việc thực hiện càng dễ dàng, cần thống nhất một quy trình khung để thực hiện các công việc liên quan.

Cần thống nhất công tác quản lý biến động sử dụng đất. Cơ quan quản lý biến động sử dụng đất là Sở Tài nguyên và môi trường và hệ thống các phòng Tài nguyên và Môi trường và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất một cấp.

Thứ ba, về cơ chế và phương pháp tính giá đất bồi thường, hỗ trợ

* Cơ chế áp dụng giá đất:

Giao thẩm quyền quyết định về giá đất cho một hệ thống độc lập. Cần sớm ban hành phương pháp giá đất khung giá các loại đất, để trên cơ sở đó, Thành phố ban hành văn bản quy định các mức giá để áp dụng trên địa bàn.

* Phương pháp tính giá trị đất đai khi bồi thường

Quy định mức giá đền bù phân vùng theo vành đai và các khu vực có mức độ đô thị hoá khác nhau.

Nhà nước nên quy định về cơ chế linh hoạt trong xác định giá đất theo hướng tách chức năng tính thuế và chức năng xác định giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thành hai giá riêng biệt.

Việc áp dụng giá thị trường để đền bù cho người bị thu hồi đất sẽ hạn chế nhiều về khiếu kiện liên quan đến đất đai.

Cần quy định rõ giá đất để tính bồi thường được xác định theo mục đích sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi đất. Trường hợp cơ quan nhà nước chậm chi trả tiền bồi thường thì phải trả thêm cho người bị thu hồi đất một khoản tiền.

Thứ tư, xây dựng hệ thống chính sách kinh tế- xã hội đồng bộ với các chính sách giải phóng mặt bằng.

3.2.2. Giải pháp về tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách trong giải phóng mặt bằng

a. Chấn chỉnh công tác quản lý đất đai và xây dựng.

* Đẩy mạnh công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, kịp thời chỉnh lý những biến động về đất đai làm căn cứ cho chỉnh sách đền bù.

* Đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Cần đẩy nhanh công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức đi đôi với việc tăng cường quản lí nhà nước về lĩnh vực đất đai tạo điều kiện cho công tác kê khai tiến hành thuận lợi.

* Cải cách hành chính

Đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực đất đai, loại bỏ những thủ tục không cần thiết. Tăng cường giám sát đội ngũ cán bộ, công chức thực thi nhiệm vụ trong quản lý đất đai; xử lý nghiêm các trường hợp nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân.

b. Tăng cường vai trò cộng đồng trong việc tham gia công tác giải phóng mặt bằng

* Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân thực hiện các chính sách của Nhà nước, của Thành phố về GPMB

* Phát huy vai trò của tổ chức quần chúng, giáo dục, khuyến khích quần chúng cùng tham gia công tác GPMB

* Thực hiện công khai hoá, dân chủ hoá trong công tác GPMB

c. Đảm bảo nguồn vốn đầu tư và thành lập quỹ giải phóng mặt bằng, tái định cư.

Nguồn vốn luôn đóng vai trò rất quan trọng khi thực hiện một dự án, nhất là các dự án đầu tư có liên quan đến GPMB. Vì vậy yêu cầu Các chủ đầu tư phải nộp tiền GPMB để thành phố thực hiện công tác GPMB và thành phố nên thành lập quỹ GPMB và tái định cư.

+ Mục đích thành lập và hoạt động: Nhằm huy động các nguồn tài lực, vật lực kể cả các nguồn đóng góp của các tổ chức và dân cư trên địa bàn để hỗ trợ cho công tác GPMB và xây dựng các khu tái định cư.

+ Cơ quan quản lý: Ban chỉ đạo GPMB phối hợp cùng Sở Tài chính và kho bạc Nhà nước. Quỹ này có tài khoản riêng tại Kho bạc, hoạt động không vì lợi nhuận và theo hình thức cấp phát đầu tư.

+ Hình thức sử dụng: Quỹ GPMB và tái định cư để đầu tư cho các dự án xây dựng các khu tái định cư và đẩy nhanh công tác GPMB trên địa bàn Thành phố theo quy định về quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành của Nhà nước.

+ Nguồn thu của quỹ: Từ các nguồn: Vốn ngân sách Trung ương, bổ sung ngân sách địa phương, tiền bán đấu giá diện tích nhà 1 tầng khu chung cư, tiền đấu thầu quyền sử dụng đất, tiền của các tổ chức tài trợ trong và ngoài nước, tiền đóng góp của chủ đầu tư, các tổ chức và cá nhân khác.

d. Hỗ trợ và tái định cư phục vụ cho công tác GPMB

Để thực hiện tốt nhiệm vụ GPMB góp phần tích cực vào việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, thì nhất thiết phải xây dựng trước các khu tái định cư.

Kiên quyết không giải quyết chuyển đất tái định cư đối với các dự án chưa có đất thực tế.

Xây dựng đồng bộ khu tái định cư: Phải xây dựng đồng bộ về đường đi, cấp thoát nước, cơ sở khám bệnh, trường học có như vậy mới khuyến khích người dân rời bỏ mảnh đất mà tổ tiên, cha ông đã bao đời gây dựng để Nhà nước sử dụng, cần phải đền đáp một cách xứng đáng những mất mát của người dân vì lợi ích chung của cả xã hội, của đất nước.

Quy định ưu tiên và tạo điều kiện thuận lợi trong việc giải quyết các thủ tục đầu tư xây dựng nhà tái định cư trong thời gian ngắn nhất, nhanh nhất, bảo đảm có nhà đất để bố trí tái định cư cho các hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở khi bị thu hồi đất.

đ. Tăng cường phối hợp các bên liên quan trong giải phóng mặt bằng

GPMB là công tác hết sức nhạy cảm, phức tạp, khó khăn vì vậy phải tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện đồng bộ, thống nhất trong cả hệ thống chính trị từ thành phố đến cơ sở khi thực hiện nhiệm vụ GPMB. Nêu cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các tổ chức, đơn vị, các cấp, các ngành trong thực hiện nhiệm vụ GPMB và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân liên quan đến GPMB.

3.2.3. Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác giải phóng mặt bằng và có cơ chế động viên, khuyến khích

Bước đầu tiên khi thực hiện GPMB là lập Hội đồng GPMB, lập các Tổ công tác thì cần thiết phải chọn được những người có đủ trình độ năng lực để tham gia. Tiếp tục hoàn thiện quy chế hoạt động, chức năng, phân công trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng giữa các đơn vị tham gia công tác GPMB.

* Chăm lo kiện toàn, bồi dưỡng đội ngũ công chức chuyên trách làm công tác GPMB:

+ Đội ngũ công chức chuyên trách làm công tác GPMB phải được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng và kiện toàn thường xuyên. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức QLNN về đất đai và cập nhật các chế độ chính sách mới liên quan đến GPMB.

+ Phải thường xuyên quan tâm thực hiện có kết quả việc đánh giá phân loại công chức trong đội ngũ chuyên trách để có hình thức động viên, khen thưởng phù hợp để khuyến khích động viên ý thức trách nhiệm của người cán bộ và có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn hàng năm sát với thực tế.

+ Cần có chính sách đãi ngộ phù hợp với tính chất phức tạp và yêu cầu trách nhiệm cao trong thực thi công vụ của đội ngũ công chức chuyên trách này.

+ Đồng thời cũng phải có những hình thức xử phạt nghiêm khắc những trường hợp cán bộ công chức lợi dụng quyền hạn, chức vụ để mưu lợi cá nhân hoặc cán bộ thiếu ý thức trách nhiệm.

3.2.4. Tăng cường công tác thanh kiểm tra tình hình quản lý và sử dụng đất đồng thời giải quyết tốt đơn thư khiếu nại, tố cáo

Tổ chức các đợt vận động giải thích để tác động đến tâm lý người dân đồng thời vận động các hộ chấp hành đúng quy định của pháp luật. Để tiếp công dân có hiệu quả và không gây nên các hiệu ứng và tiền lệ xấu, Hội đồng tiếp dân cần đảm bảo các nguyên tắc giải quyết vướng mắc đúng và đủ. Không chấp nhận các trường hợp cố tình chây ì để xin tiền hỗ trợ thêm. Không lạm dụng việc hỗ trợ các khoản ngoài quy định; Giải quyết hài hòa và công bằng đối với các hộ dân trong cùng một dự án

KẾT LUẬN

Để phục vụ cho quá trình đô thị hoá, phát triển đất nước, phục vụ đời sống nhân dân, Nhà nước đã thực hiện công tác GPMB nhằm phục vụ cho các dự án đầu tư xây dựng, các khu công nghiệp, khu kinh tế; trường học, bệnh viện; mở rộng, cải tạo và xây dựng mới cơ sở hạ tầng, giao thông đô thị… Quản lý nhà nước về GPMB là một lĩnh vực quản lý đặc thù, đa dạng và phức tạp tuỳ từng dự án. Nó liên quan đến tất cả các mặt của đời sống xã hội vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của bộ phận dân cư bị giải tỏa.

Công tác GPMB đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, các nhà hoạch định chính sách không ngừng hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách về quản lý và sử dụng đất đai; chú ý các chính sách liên quan đến công tác GPMB cho phù hợp với tình hình thực tiễn, đảm bảo kết hợp hài hoà lợi ích các bên. Có như vậy công tác GPMB sẽ được đấy nhanh tiến độ, tạo điều kiện cho các dự án hoàn thành đúng thời hạn.

Công tác quản lý nhà nước về GPMB trên địa bàn quận Sơn Trà được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, quá trình giải toả, hầu hết đại bộ phận nhân dân đều chấp hành tốt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về đền bù, giải toả, bố trí tái định cư. Tuy nhiên trong quá trình quản lý phát sinh nhiều vướng mắc mà cần một cơ chế quản lý phù hợp phát huy được sức mạnh của tập thể và đảm bảo trách nhiệm cá nhân trong các quyết định.

Luận văn đã đi sâu vào phân tích thực trạng quản lý nhà nước về giải phóng mặt bằng trên địa bàn quận Sơn Trà, nêu ra những hạn chế của công tác giải phóng mặt bằng từ đó đề xuất ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác quản lý nhà nước về giải phóng mặt bằng.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN HOC VIEN HANH CHINH\HUYNH HANH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *