Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
- Lý do chọn đề tài
Dân tộc Việt Nam đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và gữ nước. Theo dòng thời gian, ông cha đã để lại một kho tàng DSVH đồ sộ, phong phú và mang nhiều giá trị. Ngày nay, những DSVH nói chung và DTLS – VH nói riêng có một vai trò, vị trí cực kỳ quan trọng trong đời sống xã hội. Luật DSVH đã khẳng định: “Di sản văn hóa Việt Nam là tải sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của DSVH nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”. DSVH của mỗi quốc gia trên thế giới hay từng địa phương trong mỗi quốc gia đều có những điểm khác biệt nhau. Điều đó đã tạo nên những nét đặc trưng, bản sắc văn hóa riêng cho mỗi quốc gia, dân tộc, mỗi địa phương. Từ lâu đời cùng như hiện nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và quan tâm đến việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy DSVH của dân tộc. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo này, ngay từ khi mới thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, ngày 23-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh bảo vệ cổ tích, và ngày nay, Chính phủ đã quyết định lấy ngày 23-11 hàng năm là ngày DSVH Việt Nam. Như vậy, di tích, cổ tích, hay gọi đầy đủ là DSVH, cho dù ở hoàn cảnh lịch sử nào, giai đoạn cách mạng nào đều là linh hồn của dân tộc, là nền tảng tinh thần, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững của đất nước ta, nhất là trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triễn kinh tế hiện nay.
Quảng Bình là một tỉnh ở khu vực Bắc Miền Trung, có diện tích khiêm tốn, song chính từ mảnh đất này chứa đựng nhiều giá trị của di sản văn hoá nói chung, di tích và danh thắng nói riêng hết sức phong phú và đa dạng, một trong những địa phương có bề dày văn hiến, có truyền thống lịch sử. Nơi đây là một trong những đầu mối giao thoa và tiếp biến của các nền văn hoá: Đông Sơn – Sa Huỳnh; Đại Việt – Chiêm Thành; Đàng Trong và Đàng Ngoài… Nơi đây còn có thể được xem là mảnh đất chứa đựng nhiều di tích lịch sử cách mạng gắn với hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nơi gắn liền với các tuyến đường Trường Sơn huyền thoại. Đặc biệt Quảng Bình còn có Phong Nha – Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới. Quảng Bình cũng là nơi ghi dấu những chiến công hiễn hách của quân và dân ta trong nhiều cuộc kháng chiến trong thời kỳ Văn lang – Âu lạc; trong thời kỳ Triệu Đà thống trị, vùng đất Quảng Bình thuộc quận Cửu Chân…
Những yếu tố về tự nhiên, lịch sử xã hội như trên đã góp phần tạo cho Quảng Bình có một kho tàng DSVH đa dạng, độc đào, giàu giá trị còn được lưu truyền đến ngày nay. Một trong những thành tố của kho tàng DSVH quý báu đó phải kể tới hệ thống di tích lịch sử văn hóa phong phù với nhiều loại hình khác nhau, theo thống kê đến nay, Quảng Bình gần 200 di tích lịch sử và danh thắng, trong đó có gần 80 di tích được xếp hạng. Tuy số lượng di tích và danh thắng không nhiều nhưng lại đầy đủ các loại hình, phân bố khá tập trung, ngoài những giá trị về lịch sử, văn hoá và truyền thống, di tích và danh thắng ở Quảng Bình có tiềm năng lớn trong việc phát triển kinh tế thông qua hoạt động du lịch.
Giá trị của di sản văn hóa nói chung, di tích và danh thắng nói riêng là vô cùng to lớn, song điều quan trọng hơn cả là việc bảo tồn và phát huy những giá trị của nó như thế nào để phát triển mang tính bền vững trong giai đoạn hiện nay mới chính là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm đúng mức của các ngành, các cấp, nhất là những người làm công tác quản lý văn hoá hiện nay.
Nhận thức tầm quan trọng cũng như tính bức thiết của vấn đề nêu trên ở tỉnh Quảng Bình, tôi đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Bình” làm luận văn tốt nghiệp bậc cao học của mình, với hy vọng góp phần vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa nhằm bảo tồn và phát huy tác dụng của nó một cách bền vững trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trên quê hương Quảng Bình.
2. Tình hình nghiên cứu
3. Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận, thực tiễn, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về Di tích lịch sử văn hóa hiên nay, từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực này tại tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ: Để đáp ứng mục đích nghiên cứu, đề tài có những nhiệm vụ chủ yếu sau: Khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN về văn hóa, QLNN về DSVH nói chung và DTLS – VH nói riêng; đánh giá thực trạng QLNN về DTLS – VH trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường QLNN về DTLS – VH trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
– Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020.
– Phạm vi không gian: Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu hoạt động QLNN về DTLS -VH trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu và hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mác xít, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về văn hóa, QLNN về các DTLS -VH.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể sau: phương pháp điều tra, khảo sát, phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp và điều tra xã hội học, cụ thể:
– Phương pháp điều tra, khảo sát
– Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê và phân loại
– Phương pháp so sánh
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề chung trong công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Đánh giá công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn nhằm phát huy các giá trị trong giáo dục, đồng thời giữ gìn bản sắc dân tộc.
– Đưa ra quan điểm định hướng và đề xuất một số giải pháp, cơ chế chính sách nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý di tích, đồng thời góp phần phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử văn hóa.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Chương 3:Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
1.1.1.1. Di tích lịch sử văn hóa
Theo Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam, di tích lịch sử – văn hóa được qui định: “Là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [Luật DSVH, tr. 7].
1.1.1.2. Đặc điểm về di tích lịch sử văn hóa
– Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc,danh nhân,nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các tthời kỳ lịch sử.
– Công trình xây dựng,địa diểm gắn với sự kiện lịch sử,văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử.
– Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu.
– Công trình kiến trúc,nghệ thuật,quần thể kiến trúc,tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc ,nghệ thuật.
Di tích lịch sử – văn hóa là nơi kết tinh tinh hoa văn hóa tiêu biểu của dân tộc, gắn liền với tiến trình lịch sử, nơi hội tụ và gắn kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam.
1.1.2.1. Khái niệm di sản văn hóa
Phần mở đầu của Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam đã viết: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [Luật DSVH, tr.5].
Luật Di sản Văn hóa của Việt Nam tại Điều 1 đã nêu rõ di sản văn hóa “bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam“
1.1.2.2. Di sản văn hóa phi vật thể
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết và nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.
1.1.2.3. Di sản văn hóa vật thể
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
Tuy nhiên, sự phân định này thực ra cũng chỉ mang tính tương đối, nhằm để nghiên cứu những đặc tính riêng của từng di sản, còn trong thực tế yếu tố vật thể và phi vật thể gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại để làm nên giá trị của một di sản.
1.2.1.1. Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức chỉ đạo và điều hành thực hiện kết hợp với thanh tra, kiểm tra bằng quyền lực nhà nước đối với các lĩnh vực trong xã hội, do các cơ quan trong bộ máy nhà nước tiến hành trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của nhà nước, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân. Bản chất của quản lý nhà nước là quyền lực nhà nước.
Quản lý nhà nước được thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước.
Như vậy, quản lý nhà nước là một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội, quản lý nhà nước giúp cho sự hiện diện của nhà nước đến với mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, tăng cường pháp chế, ổn định tình hình kinh tế xã hội đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.
1.2.1.2. Khái niệm và đặc điểm quản lý nhà nước về DTLS – VH
Trước hết ta hiểu, quản lý về văn hóa là một lĩnh vực cụ thể của khoa học quản lý, đây là sự quản lý của nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc.
Về thực chất, việc quản lý di tích nhằm hướng tới mục đích chính:
Một là, bảo tồn, gìn giữ các di tích chống lại sự tàn phá của thiên nhiên, con người.
Hai là, khai thác, phát huy có hiệu quả các di tích phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội.
Vấn đề bảo tồn di sản, di tích thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới. Có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các quan điểm khác nhau nhưng tựu chung lại có quan điểm chính đó là: Quan điểm bảo tồn nguyên gốc; bảo tồn trên cơ sở sự kế thừa; bảo tồn – phát triển.
Từ sau năm 1945, hoạt động bảo tồn di tích ở Việt Nam bắt đầu tiếp cận với khoa học bảo tồn hiện đại của thế giới. Từ đây, các văn bản pháp lý từng bước được xây dựng để làm sơ sở cho mọi hoạt động có liên quan, đặc biệt là công tác quản lý các di tích lịch sử văn hóa, như:
– Sắc lệnh số 65/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 23/11/1945
– Nghị định số 519-TTg do Thủ tướng chính phủ ký ngày 29/10/1957
– Pháp lệnh số 14-LCT/HĐND về Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam, thắng cảnh do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký ban hành ngày 4/4/1984.
DTLS-VH là một bộ phận quan trọng cấu thành DSVH. Vì vậy, việc QLNN về DTLS-VH cần phải được tiến hành theo nội dung QLNN về DSVH được quy định tại Điều 54, Luật DSVH năm 2001:
Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch, chính sách cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH, DTLS – VH; Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về DSVH, DTLS – VH; Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH, DTLS – VH; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về DSVH, DTLS – VH; Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về DSVH; Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; Tổ chức chỉ đạo, khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị DSVH, DTLS – VH; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại tố các và xử lý vi phạm pháp luật về DSVH, DTLS – VH.
Từ các nội dung trên cho thấy QLNN về DTLS-VH có nội dung khá đa dạng, phong phú, tuy nhiên trong phạm vi của đề tài, có thể xác định một số nội dung cơ bản sau:
1.2.3.1. Quy hoạch và ban hành, tổ chức thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về DTLS – VH
1.2.3.2. Tổ chức bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực thực hiện quản lý nhà nước về DTLS – VH
1.2.3.3. Huy động, sử dụng các nguồn vốn phục vụ các nhiệm vụ bảo vệ và phát huy giá trị DTLS – VH
1.2.3.4. Quản lý quá trình tôn tạo và tổ chức khai thác các giá trị DTLS – VH
1.2.3.5. Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học về DTLS – VH
1.2.3.6. Thanh tra, kiểm tra hoạt động quản lý nhà nước về DTLS – VH
Công tác quản lý nhà nước về di tích có vai trò rất quan trọng là giúp cơ quan quản lý nhà nước chuyên môn nắm được diễn biến tình hình về di tích như việc kiểm kê, thống kê số lượng,thực trạng công tác bảo tồn,trùng tu,tôn tạo…. Vì vậy có thẻ thấy công tác quản lý nhà nước về di tích góp phần cho sự hiện diện của nhà nước vào lĩnh vực di tích, đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước, đồng thời giữ gìn và bảo tồn những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, góp phần ổn định và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.
Ở nước ta, các di tích lịch sử gắn bó mật thiết với hoạt động du lịch. Có thể xem di tích, danh thắng là cơ sở, là nguồn lực để phát triển du lịch. Các lễ hội lớn tại các địa điểm di tích, danh thắng thường thu hút lượng khách lớn tham quan thưởng ngoạn, lễ bái, hay cầu phúc, cầu tài lộc, cầu tự…Bởi lẽ di sản văn hóa vật thể luôn luôn chứa đựng trong mình những giá trị vô hình, nơi con người gửi gắm đức tin và tôn thờ một đấng thiêng liêng nào đó, là không gian văn hóa cho nhân dân trong những ngày lễ hội truyền thống, lễ hội tôn giáo. Những di tích lịch sử cách mạng là nơi hướng mọi người tìm về cội nguồn, tìm về với quá khứ hào hùng của dân tộc, cũng là nơi giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Đối với di sản văn hóa phi vật thể thì tự thân nó đã mang trong mình những thông điệp của quá khứ và khi tham gia vào đời sống văn hóa hiện đại sẽ làm cho văn hóa của mỗi dân tộc không bị tách rời khỏi truyền thống, nó giữ lại những giá trị tự thân, đồng thời tạo nên những giá trị bên trong của cốt cách, bản lĩnh, năng lực của mỗi dân tộc. Những hệ giá trị này có tính ổn định rất lớn và có tính bền vững tương đối, có sức mạnh to lớn đối với cộng đồng… Và cũng vì thế, các di tích, danh thắng luôn được xem là nguồn tài nguyên du lịch.
Di tích là những bằng chứng vật chứng có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Di tích chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn nếu mất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất mà là mất đi những giá trị tinh thần to lớn không gì bù đắp nổi. Đồng thời di tích là cơ sở, là nguồn lực để phát triển du lịch và còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triển một” nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc đân tộc , phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn dân chủ, tiến bộ.

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
DI TÍCH LỊCH SỬ – VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1.3.1. Số lượng và loại hình di tích
– Về số lượng di tích: theo số liệu điều tra tính đến hết tháng 12/2016, trên địa bàn toàn tỉnh có tổng số 225 di tích các loại, trong đó có 114 di tích được xếp hạng (52 di tích xếp hạng cấp quốc gia, 62 di tích xếp hạng cấp tỉnh) [Nguồn: số liệu BQL di tích tỉnh Quảng Bình]. (kèm theo biểu phụ lục 01)
– Về phân bố của 114 di tích đã được xếp hạng trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố trong toàn tỉnh: mật độ trung bình khoảng 11 di tích/1km2. Qua khảo sát thực tế cũng như số liệu thống kê cho thấy các di tích được phân bố không đồng đều, tập trung nhiều ở các địa phương như Bố Trạch, Lệ Thủy, Quảng Trạch… Điều này chưa có sự lý giải cụ thể nào nhưng theo tác giả luận án có lẽ những nơi có mật độ cao đều là những địa bàn có cư dân Việt tụ cư từ lâu đời và có truyền thống cách mạng, là những địa điểm gắn với quê hương và sự kiện lịch sử thời Nhà Nguyễn, Nhà Ngô, hoặc đó là những di tích nằm ven theo các con sông Gianh, sông Son… đây vừa là những điểm tụ cư từ lâu đời của cư dân Việt cổ, vừa là những tuyến giao thông quan trọng để giao thương, buôn bán, du lich
– Về loại hình di tích ở Quảng Bình: Đối chiếu với các tiêu chí quy định trong khoản 9 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa và Điều 28 của Luật di sản văn hóa, trong 114 di tích của tỉnh Quảng Bình đã được xếp hạng có thể phân chia thành 3 loại hình di tích: Loại hình khảo cổ; Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật; Loại hình di tích lịch sử.
Qua nghiên cứu, liệt kê các di tích lịch sử và di tích danh thắng trên tác giả thấy rằng: Quảng Bình là nơi ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử quan trọng gắn liền với lịch sử của dân tộc, của đất nước.
Thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 và trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Bắc Ninh là địa bàn hoạt động bí mật của nhiều cán bộ cách mạng, nhiều địa điểm đã ghi dấu những sự kiện quan trọng gắn với lịch sử cách mạng của đất nước. Quảng Bình cũng đóng góp những người con ưu tú như: Đinh Thị Thu Hiệp, Nguyễn Thị Kim Huế, Nguyễn Thị Nguyệt, Hồ Thanh Đình, Mai Xuân Vĩnh, Cao Lương Bằng….
2.1.3.2. Hiện trạng và tình trạng kỹ thuật của di tích
Các di tích lịch sử, văn hóa ở Quảng Bình hình thành và phát triển tồn tại đến nay đã trải qua nhiều thế kỷ, nhiều di tích có niên đại sớm, các di tích chủ yếu được xây dựng với các vật liệu như gỗ, gạch, đá… Những yếu tố của tự nhiên (nắng, mưa, độ ẩm…) có những tác động không nhỏ đến các kết cấu kiến trúc và các loại vật liệu kiến trúc, nhất là loại chất liệu bằng gỗ. Vì vậy trong quá trình nghiên cứu, khảo sát hiện trạng và tình trạng kỹ thuật của các di tích lịch sử văn hóa, chúng tôi phân chia thành các loại như sau:
– Loại di tích là phế tích, chủ yếu là các di chỉ khảo cổ học, 95% các địa điểm khảo cổ ở tình trạng là phế tích. Các di tích chỉ còn lại dấu vết nền móng công trình, các công trình kiến trúc đã bị phá hủy hoàn toàn như: Di tích bến Phà Gianh, Miếu Nam Lãnh, …loại này chiếm số lượng nhỏ, khoảng 3% tổng số di tích.
– Loại di tích trong tình trạng xuống cấp trầm trọng, đó là các di tích đã bị hư hỏng tới 70 – 80%. Các cấu kiện của công trình như cột, vì kèo, bộ mái, nền móng… không còn đảm bảo đươc công năng chịu tải trọng của công trình. Với các di tích thuộc loại này cần thiết phải tiến hành lập dự án tu bổ cấp thiết. Theo đánh giá, hiện nay các di tích này chiếm khoảng 20% tổng số di tích.
– Loại di tích có biểu hiện xuống cấp, mức độ hư hỏng của di tích khoảng từ 40 – 50%. Các cấu kiện của công trình tuy vẫn đảm bảo được công năng chịu tải trọng công trình, song cần thiết đưa vào kế hoạch bảo quản, tu bổ chống xuống cấp cho di tích, như: Di tích bến Phà Quán Hàu, bến Phà Long Đại, Núi Thần Đinh…
– Loại di tích hiện đang trong tình trạng tốt: ở loại này thì đó là những di tích mới được trùng tu, tu bổ theo các dự án đồng bộ, điển hình như: Lăng mộ Nguyễn Hữu Cảnh, Chùa Hoằng Phúc, Đình Lệ Sơn, Đền thờ Nguyễn Hữu Dật – Nguyễn Hữu Hào, Chùa An xá…. Loại này chiếm khoảng 12% tổng số di tích.
2.2.1.1. Về cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức quản lý di tích lịch sử văn hóa ở nước ta được thiết lập và có sự thống nhất từ trung ương đến địa phương. Ở mỗi cấp quản lý đều có những chức năng, nhiệm vụ cụ thể, đảm bảo tính thống nhất với mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị DSVH nói chung và di tích lịch sử văn hóa nói riêng đạt hiệu quả cao.
Việc phân cấp quản lý DTLS – VH của tỉnh Quảng Bình được phân cấp như sau:
* Ủy ban nhân dân các cấp
* Sở Văn hóa, Thể thao
* Ban QL Di tích tỉnh và bộ máy quản lý DTLS – VH ở địa phương.
2.2.1.2. Về mô hình quản lý
– Mô hình mang tính chất cộng đồng tự quản
– Mô hình quản lý hoàn toàn do nhà nước đảm nhận
– Mô hình tư nhân điều hành đối với một số trường hợp di tích là các nhà cổ dân gian, nhà thờ họ, một số đền, miếu …
2.2.2.1. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, dự án bảo tồn DTLS – VH
2.2.2.2. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về DTLS – VH
2.2.2.3. Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về DTLS – VH
2.2.2.4. Công tác huy động nguồn lực để bảo tồn, phát huy giá trị DTLS – VH
2.2.2.5. Hợp tác và tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện bảo tồn và phát huy giá trị DTLS – VH
2.2.2.6. Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính việc chấp hành chính sách pháp luật về DTLS – VH
– Các BQL di tích cũng bước đầu có sự phối hợp với chính quyền, với BQL cấp trên vì vậy đã xây dựng được cơ chế phối hợp giữa các đơn vị trong công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa.
– Vai trò quản lý của nhà nước được thể hiện thông qua các hoạt động. Do vậy nhiều hành vi vi phạm di tích được phát hiện và kịp thời ngăn chặn, xử lý; việc nghiên cứu, lập hồ sơ, tiến hành xếp hạng di tích là biện pháp quan trọng và có hiệu quả. Các di tích được pháp luật bảo vệ, mọi sự xâm hại di tích sẽ bị ngăn chặn, xử lý.
– Tổ chức nghiên cứu, sưu tầm về những giá trị văn hóa phi vật thể như lễ hội, thần tích, thần phả liên quan đến di tích làm cho giá trị của di tích được nâng lên, phù hợp với nhu cầu của cộng đồng.
– Nguồn vốn của nhà nước cấp cho việc trùng tu, tu bổ, tôn tạo di tích đã được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả. Nhiều di tích trọng điểm được trùng tu, tôn tạo.
– Thường xuyên thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm về di tích, giải quyết đơn thư khiếu nại, tranh chấp di tích, di vật tại các địa phương bước đầu đã giải tỏa được bức xúc của người dân ở một số địa phương.
– Ngoài ra, vai trò của cộng đồng: trong quản lý di tích, cộng đồng đóng vai trò quan trọng, đã thu hút, huy động được một lượng lớn người dân tham gia vào hoạt động quản lý.
– Một số di tích lịch sử được công nhận hạng di tích nhưng chưa thành lập BQL di tích.
– Tình trạng xuống cấp của nhiều di tích vẫn còn tồn tại ở nhiều địa phương.
– Việc trùng tu, tu bổ bằng nguồn xã hội hóa diễn ra khá phổ biến, tuy nhiên việc quản lý dự án trùng tu, tôn tạo ở một số địa phương lỏng lẻo.
– Công tác kiểm kê di tích, cắm mốc giới các khu vực di tích trên thực địa, lập hồ sơ khoa học xếp hạng di tích, lập quy hoạch khảo cổ, quy hoạch tổng thể và công bố danh mục di tích để bảo vệ theo quy định của Luật di sản văn hóa thực hiện còn chậm do chưa có kế hoạch và lộ trình cụ thể.
– Việc tổ chức khai thác phát huy giá trị của di tích chưa có định hướng và biện pháp kế hoạch cụ thể.
– Nhận thức của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ di tích cũng thể hiện nhiều bất cập.
– Việc tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về DSVH đã được thực hiện nhưng chưa có kế hoạch, chương trình cụ thể.
– Sự phối hợp giữa BQL di tích tỉnh, các Phòng Văn hóa, BQL di tích địa phương và cộng đồng chưa đồng bộ, chặt chẽ và thường xuyên.
– Trong công tác quản lý di tích còn thiếu những định hướng, những chính sách, chế tài cụ thể nhằm khuyến khích, kêu gọi sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ, phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa.
CHƯƠNG 3
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN
- 3.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong công tác quản lý nhà nước về DTLS – VH
- 3.1.1. Quan điểm của Đảng về bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa
- 3.1.2. Quan điểm thống nhất vai trò quản lý DTLS – VH
- 3.1.3. Quan điểm về bảo tồn, phát huy giá trị của DTLS – VH trên cơ sở tính trung thực, nguồn gốc của DSVH
- 3.1.4. Quan điểm về bảo tồn, phát huy giá trị của DSLS – VH gắn với sự phát triển KT – XH của cộng đồng, địa phương và của xã hội
- 3.2. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về DTLS – VH trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
- 3.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong công tác quản lý nhà nước về DTLS – VH
Trên cơ sở những tồn tại và vướng mắc, một số giải pháp để nhằm chú trọng công tác quy hoạch như sau:
Trước hết, quy hoạch bảo tồn, tôn tạo di tích phải nằm trong quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và phải mang tính thống nhất, đồng bộ.
Thứ hai, khi xây dựng các quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch phát triển vùng, quy hoạch phát triển đô thị, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh phải phối hợp với ngành Văn hóa, Thể thao, ngành Du lịch để xác định cụ thể nội dung bảo tồn, tôn tạo và khai thác các di tích thuộc phạm vi của quy hoạch.
Thứ ba, phối hợp xây dựng kế hoạch phát triển của các ngành, địa phương với kế hoạch đầu tư bảo tồn, tôn tạo và khai thác di tích lịch sử văn hóa. Sự phối hợp kế hoạch giữa các ngành, địa phương với kế hoạch bảo tồn, tôn tạo và khai thác di tích được xác định trong kế hoạch dài hạn, thường là kế hoạch 5 năm. Sự phối hợp được thể hiện trong xây dựng kế hoạch mục tiêu và giải pháp thực hiện kế hoạch.
Thứ tư, lồng ghép các dự án đầu tư bảo tồn, tôn tạo và khai thác di tích với các dự án đầu tư phát triển du lịch, phát triển giao thông và các dự án khác phục vụ cho khách tham quan di tích.
* Về kiện toàn tổ chức bộ máy
Trước hết, giữ nguyên mô hình quản lý như hiện có, nhất là hệ thống quản lý nhà nước ở các cấp; cũng cố và kiện toàn Ban quản lý di tích trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao đủ mạnh, Sắp xếp, thành lập BQL di tích cho các di tích được công nhận, nhất là các di tích lớn mang giá trị du lịch, lịch sử.
Thứ hai, xem xét xây dựng Ban quản lý di tích hoạt động theo cơ chế là đơn vị sự nghiệp có thu. Do di tích là tài sản quý báu của quốc gia, không tính được chính xác giá trị tài sản cố định nên không thể tính được khấu hao cơ bản và áp dụng chế độ hạch toán kinh tế độc lập như các doanh nghiệp. Vì vậy, không thể áp dụng cơ chế hạch toán kinh tế độc lập và tổ chức hoạt động của các ban quản lý di tích theo cơ chế doanh nghiệp mà cần thiết áp dụng cơ chế hoạt động là đơn vị sự nghiệp có thu, trong đó tính chất sự nghiệp là chủ đạo.
Thứ ba, thực hiện giao quyền quản lý và khai thác cho các tổ chức, doanh nghiệp đầu tư vốn trong bảo tồn, tôn tạo và khai thác di tích, danh thắng, Trong đó Nhà nước thống nhất toàn quyền quản lý về mặt Nhà nước theo luật định. Những di tích lịch sử văn hóa có khả năng khai thác du lịch, đòi hỏi phải đầu tư nhiều kinh phí, ngân sách… cho phép các doanh nghiệp với tư cách cổ phần 100% vốn doanh nghiệp tư nhân hoặc cổ phần theo hình thức cổ đông tham gia đầu tư khai thác du lịch, Nhà nước thống nhất quản lý theo luật định, nhất là quản lý khâu quy hoạch, dự án trùng tu, tôn tạo và nội dung, hình thức khai thác của các doanh nghiệp.
Thứ tư, thực hiện từng bước phân cấp quản lý di tích.
* Về công tác quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức làm công tác quản lý về DTLS – VH
Thứ nhất, tăng cường tuyển chọn, đào tạo, đào tạo lại để tiêu chuẩn hóa cán bộ quản lý di tích, nhất là ở các di tích quốc gia đặc biệt và di tích quốc gia nhằm đáp ứng được yêu cầu bảo tồn, tôn tạo và khai thác di tích trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Thứ hai, cần đa dạng hình thức đào tạo, bồi dưỡng để tạo ra được nhiều chuyên gia giỏi, kỹ thuật tu bổ di tích truyền thống bị mai một.
Thứ ba, tăng cường công tác bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ hướng dẫn viên du lịch tại các di tích du lịch
Thứ nhất, có cơ chế, chính sách tăng cường đầu tư cho việc bảo vệ, phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa.
Thứ hai, xây dựng cơ chế chính sách nhằm huy động, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào việc bảo tồn, phát huy giá trị di tích.
Thứ ba, cần tiếp tục đổi mới pháp luật, thể chế nhằm phát huy hơn nữa sáng kiến và tinh thần làm chủ của người dân trong việc quản lý xã hội và cộng đồng được coi là giải pháp có hiệu quả thu hút sự tham gia của người dân trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” và người dân sẽ hưởng chính thành quả của sự tham gia này. Khuyến khích, huy động các tổ chức, đoàn thể, cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ đóng góp kinh phí, vật chất, nhân công cho việc trùng tu, tu bổ DTLS – VH.
Một là, nâng cao nhận thức của cộng đồng về vị trí, vai trò của di tích đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc của dân tộc, với sự phát triển kinh tế đất nước, địa phương và của cộng đồng dân cư là hết sức quan trọng.
Hai là, tổ chức tuyên truyền, học tập cho cộng đồng Luật Di sản văn hóa, Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành luật, các văn bản dưới luật về hướng dẫn thực hiện các hoạt động bảo tồn, tôn tạo và khai thác di tích, đặc biệt là các chính sách của Nhà nước đối với bảo tồn và phát huy các giá trị của di tích…
Ba là, việc tuyên truyền, giáo dục phải được làm thường xuyên, bằng nhiều hình thức khác nhau như trên các phương tiện thông tin đại chúng, xuất bản sách, giáo dục trong nhà trường thông qua chương trình “Trường học thân thiện” đã được ký kết giữa ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Giáo dục – Đào tạo, Đoàn thanh niên về bảo tồn và phát huy tác dụng của di tích, thông qua giảng dạy các môn lịch sử, đạo đức công dân, tổ chức sinh hoạt ngoại khóa trở về cội nguồn cho học sinh, thi tìm hiểu về Luật Di sản văn hóa, các chính sách bảo tồn và phát huy di tích, nêu gương người tốt, việc tốt và những xử lý vi phạm di tích trên các phương tiện thông tin đại chúng; đưa nội dung bảo vệ di tích vào tiêu chuẩn xem xét công nhận gia đình, làng, bản… đạt tiêu chuẩn văn hóa…

Bốn là, việc giáo dục, tuyên truyền về di tích cũng cần chú ý tới thế hệ trẻ, định hướng để cho thế hệ này có sự nhìn nhận đúng về truyền thống văn hóa của dân tộc.
Một là, tạo cơ chế phát huy tốt sự tham gia của cộng đồng với các cơ chế chính sách đúng thì chính cư dân ở đây là lực lượng quan trọng trong công tác bảo vệ và phát huy tác dụng của di tích như: hình thành các sản phẩm dịch vụ du lịch tại các di tích hoặc chuyển đổi cơ cấu sản xuất thông qua hoạt động du lịch….để công đồng cùng tham gia bảo vệ di tích, đóng góp tiền của vào để trùng tu, tôn tạo những di tích văn miếu, đền thờ, đình làng … mang tính chất sinh hoạt cộng đồng.
Hai là, nâng cao nhận thức của cộng đồng về phát triển du lịch gắn với việc trùng tu, tôn tạo các di tích, trong đó có di tích lịch sử văn hóa và di tích danh thắng. Mục tiêu của phát triển du lịch bền vững là đem lại lợi ích cho cộng đồng và phát triển du lịch bền vững chỉ có thể thực hiện được khi có sự tham gia chủ động và tích cực của cộng đồng.
Ba là, nguồn lực của các dự án đầu tư trùng tu, tôn tạo, khai thác tại các di tích phải đảm bảo yêu cầu quy định cho phép, đảm bảo tính giá trị gốc của các di tích sau khi được tôn tạo, trùng tu; đảm bảo được vệ sinh môi trường tại địa phương và đảm bảo lợi ích của cộng đồng dân cư sống.
Thứ nhất, nếu thiếu sự tham gia của cộng đồng địa phương thì sự bền vững lâu dài của di tích sẽ bị đe doạ.
Thứ hai, người dân địa phương và bản địa có quyền được hưởng lợi nhờ khai thác di tích cho sinh kế, nghỉ dưỡng, các nhu cầu văn hoá xã hội và các lý do tâm linh của họ.
Thứ nhất, thực hiện việc phân cấp, phân công rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích để một mặt các tổ chức cá nhân nhận thức và thực thi đúng trách nhiệm, quyền hạn của mình đối với việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích, mặt khác, các cơ quan quản lý có căn cứ pháp luật rõ ràng trong việc thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm.
Thứ hai, thực hiện có chất lượng và hiệu quả sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan liên quan, giữa các cấp trong quá trình kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất nhằm phát huy mạnh mẽ và có hiệu quả hơn nữa vai trò quản lý nhà nước trong việc thực hiện các dự án tu bổ, tôn tạo di tích cũng như ngăn chặn, giải quyết vi phạm di tích.
Thứ ba, Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di tích, di sản cần thực hiện đồng bộ các công việc như phát hiện và biểu dương kịp thời các tổ chức, cá nhân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, đồng thời cũng xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về DSVH, DTLS – VH.
Thứ tư, xây dựng cơ chế giám sát hai chiều, cơ quan quản lý di tích, phòng Văn hóa – Thông tin cấp huyện, thị xã, thành phố có chức năng, nhiệm vụ quản lý, kiểm tra, giám sát các hoạt động bảo tồn, khai thác giá trị của di tích, lễ hội. Đồng thời nâng cao vai trò tự giác của người dân, của cộng đồng dân cư trong việc giám sát các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quyền hạn và nghĩa vụ của mình trong quản lý DTLS – VH.
KẾT LUẬN
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và những vấn đề đã được trình bày, tác giả luận văn rút ra một số kết luận như sau:
1. Lý thuyết quản lý DSVH nói chung và DTLS nói riêng đã được nhiều nhà học giả trong và ngoài nước quan tâm. Trong đó, nhiều nghiên cứu tập trung vào hai nội dung là bảo tồn, gìn giữ các di sản và phát huy khai thác các giá trị của di sản để phục vụ cho sự phát triển chung của xã hội, của cộng đồng. Các nghiên cứu cũng đề cao vai trò của cộng đồng trong việc quản lý di sản. Mục đích bảo tồn, gìn giữ các DTLS – VH là dành cho cộng đồng và coi cộng đồng là đối tác, là một phần không thiếu trong quản lý di sản.
2. Quảng Bình là vùng đất có truyền thống lịch sử và bề dày văn hiến. Điều đó đã hình thành trên mảnh đất này một kho tàng DSVH rất phong phú, đa dạng. Trong đó các di tích lịch sử văn hóa giữ vị trí quan trọng, gồm nhiều loại hình khác nhau. Những di tích ấy chứa đựng nhiều giá trị về lịch sử – văn hóa – khoa học và thẩm mỹ.
3. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong quản lý DSVH, DTLS – VH được thể hiện trong việc phân cấp quản lý. Ở các địa phương, cơ cấu thành phần có sự tham gia của các bên gồm chính quyền và đại diện của cộng đồng cưdân. Trên thực tế, qua khảo sát các BQL tại các điểm di tích, hiện nay tồn tại ba mô hình quản lý bao gồm mô hình nhà nước quản lý, mô hình cộng đồng tự quản và mô hình tư nhân quản lý. Trong đó mô hình tự quản của cộng đồng được tồn tại ở hầu hết các di tích đã được công nhận xếp hạng. Vai trò của cộng đồng được thể hiện rõ nét qua mô hình này, người dân được chủ động trong việc bảo vệ di tích của làng, xóm, tổ chức huy động các nguồn lực xã hội để thực hiện việc tu bổ, tôn tạo cho di tích, đồng thời tiến hành các hoạt động nhằm giới thiệu quảng bá, phát huy giá trị di tích ở địa phương.
4. Luận văn đã tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng hoạt động quản lý DSLS – VH tỉnh Quảng Bình những năm gần đây, trong đó đi sâu vào hai nội dung cơ bản là các hoạt động bảo tồn các di tích nhằm gìn giữ, bảo vệ di tích chống lại sự xâm hại của con người và thiên nhiên, kéo dài tuổi thọ cho di tích. Mặt khác, các di tích đó cần được khai thác, phát huy giá trị để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của cộng đồng. Qua đó, luận văn bước đầu đưa ra những đánh giá về hiệu quả của các hoạt động này. Việc đánh giá không chỉ dựa trên các con số thống kê của các cơ quan quản lý mà còn dựa trên những đánh giá, phản hồi của cộng đồng. Một di tích được tu bổ, tôn tạo được coi là thành công phải được cộng đồng công nhận chấp nhận. Bởi lẽ, mục tiêu bảo tồn, gìn giữ các di tích là nhằm để đáp ứng đúng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân.
5. Nội dung nghiên cứu của luận văn về quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đã thực hiện theo nội dung quy định của Luật di sản văn hóa về quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị DSVH Việt Nam. Những hiệu quả cụ thể của hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa ở Quảng Bình được thể hiện trong nội dung luận văn đã góp phần thực hiện hóa chủ trương của Đảng theo tinh thần mà Nghị quyết 33 của BCH TW Đảng khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”.
Để bảo tồn, phát huy di sản văn hóa nói chung, DTLS – VH nói riêng, việc tìm giải pháp phù hợp, có hiệu quả là một vấn đề đặc biệt quan trọng. Với việc đưa ra một số chính sách và giải pháp chủ yếu để bảo tồn, tôn tạo và khai thác di tích lịch sử văn hóa ở tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, hy vọng nội dung nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần giúp cho những người tổ chức thực hiện tham khảo và có thể vận dụng vào thực tiễn để phát triển văn hóa, bảo tồn và phát huy được giá trị của di tích và là điểm mấu chốt trong phát triển du lịch ở Quảng bình hiện nay./.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN HOC VIEN HANH CHINH\LE THI PHUONG NGA


