Phân tích hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Phân tích hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Phân tích hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong xu thế hội nhập và phát triển, việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO đã mở ra nhiều cơ hội, nhưng cũng mang đến không ít thách thức cho các doanh nghiệp hoạt động trên mọi lĩnh vực trong đó có Ngân hàng. Việc mở cửa thị trường ngân hàng, tài chính làm các Ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các ngân hàng nước ngoài đến từ các khu vực tài chính phát triển. Bên cạnh đó, quá trình mua bán, sáp nhập giữa một số ngân hàng trong nước đã làm cho những ngân hàng này phát triển cả về qui mô, mạng lưới hoạt động làm cho tính cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn. Trong điều kiện kinh doanh như vậy đòi hỏi các ngân hàng phải đề ra được chiến lược, định hướng phát triển phù hợp thông qua việc đánh giá đầy đủ và chính xác hiệu quả các mặt hoạt động, tìm ra được đâu là điểm mạnh cần phát huy, điểm yếu cần khắc phục so với các đối thủ để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Hải Vân được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2004, trải qua 10 năm xây dựng và phát triển, Chi nhánh đã có sự phát triển cả về qui mô và hiệu quả hoạt động, dần khẳng định được vị thế của mình trong hệ thống các ngân hàng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong hoạt động kinh doanh của Chi nhánh vẫn tồn tại, hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh. Vì vậy, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “ Phân tích hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân” với mong muốn qua việc nghiên cứu thực tế hiệu quả các mặt hoạt động tại chi nhánh sẽ nêu ra được những điểm mạnh cần phát huy, điểm yếu cần khắc phục, từ đó đưa ra các giải pháp thực hiện để nâng cao hiệu quả hoạt động của Chi nhánh trong thời gian đến.

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

– Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về phân tích hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Thương mại.

– Phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân.

– Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt độngtại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân trong thời gian đến.

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1.Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề về lý luận liên quan đến phân tích hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Thương mại nói chung và tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân nói riêng, trong đó tập trung đi vào phân tích một số hoạt động chủ yếu: Hoạt động tín dụng, hoạt động huy động vốn và Dịch vụ ngân hàng.

3.2.Phạm vi nghiên cứu

  • Không gian: Nghiên cứu tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân.
  • Thời gian: Nghiên cứu phân tích số liệu hoạt động trong 3 năm 2012-2014, định hướng chiến lược đến 2020 của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân.

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

– Phương pháp luận: Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,

– Phương pháp tra cứu, thống kê: Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp đáng tin cậy được thu thập từ các báo cáo tổng kết hoạt động, báo cáo quản lý của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam-chi nhánh Hải Vân giai đoạn 2012-2014. Với các nguồn dữ liệu này, tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê để mô tả, phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh.

– Phương pháp so sánh: Phương pháp này được tác giả sử dụng để đối chiếu các số liệu, kết quả thống kê về tình hình và kết quả động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam-chi nhánh Hải Vân giai đoạn 2012-2014.

– Phương pháp suy diễn và quy nạp logic: Qua các tài liệu thu thập về cơ sở lý luận kết hợp việc phân tích tài liệu thu thập tác giả rút ra được những ưu điểm và các hạn chế của kết quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam-chi nhánh Hải Vân giai đoạn 2012-2014, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong thời gian đến.

5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

– Ý nghĩa về mặt khoa học: Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận phân tích hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Thương mại.

– Ý nghĩavề mặt thực tiễn: Phân tích đánh giá thực trạng công tác phân tích hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân để rút ra những điểm tồn tại cần khắc phục, phát huy những điểm mạnh, điểm lợi thế của Chi nhánh. Từ đó đưa ra đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong thời gian đến.

6. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài lời mở đầu, kết luận, các danh mục khác nhau, tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn được kết cấu gồm 3 chương với nội dung cụ thể như sau:

Chương 1. Cơ sở lý luận về phân tích hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Thương mại.

Chương 2. Phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân.

Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân.

7. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

. HOẠT ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

. Một số khái niệm liên quan

1.1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế. Sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế và ngược lại.

Theo Peter S.Rose, “ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất-đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh tóan. Và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. [14]

Theo quy định tại Điều 4, Luật các Tổ chức Tín dụng Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được Quốc hội khóa 12 thông qua, “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. [12]

Như vậy NHTM là một doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Và đây được coi là một định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ có hệ thống định chế tài chính này mà các nguồn tiền nhàn rỗi sẽ được huy động, được tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay nhằm phát triển kinh tế – xã hội.

1.1.1.2.Vốn chủ sở hữu

Đây là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của chính ngân hàng, ngân hàng có toàn quyền sử dụng gồm các trang thiết bị, cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhà cửa…Đây là nguồn vốn khá quan trọng, trước hết nó tạo uy tín cho chính ngân hàng. Ngân hàng có to, đẹp, bề thế thì mới tạo được cảm giác an toàn cho khách hàng khi đến giao dịch. Đối với mỗi ngân hàng, nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành loại vốn rất đa dạng tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường. Vốn chủ sở hữu được hình thành từ một số nguồn cơ bản sau:

– Nguồn vốn hình thành ban đầu: Trước khi tiến hành kinh doanh, theo quy định của pháp luật, ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định, đó là vốn pháp định (hay vốn điều lệ).

– Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: Nguồn bổ sung này có thể từ lợi nhuận hay từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm…

– Các quỹ: Trong quá trình hoạt động, ngân hàng có nhiều quỹ. Mỗi quĩ có một mục đích riêng: Quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tổn thất, quỹ bảo toàn vốn, quỹ phúc lợi, quĩ khen thưởng…Nguồn để hình thành nên các quỹ là từ lợi nhuận.

– Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần: Các khoản vay nợ trung và dài hạn, ổn định có khả năng chuyển đổi thành cổ phần thì được coi là một bộ phận vốn chủ sở hữu của ngân hàng.

1.1.1.3. Vốn huy động

Vốn huy động là bộ phận lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại. Với việc huy động vốn, ngân hàng có được quyền sử dụng vốn và có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn cho người gửi. Ngân hàng có thể huy động vốn từ dân cư, các tổ chức kinh tế – xã hội… với nhiều hình thức khác nhau.

– Tiền gửi thanh toán: Đây là khoản tiền của các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng với mục đích là sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Khoản tiền gửi thanh toán này có thể được trả lãi hoặc không được trả lãi tuỳ thuộc vào mỗi ngân hàng và quy định của NHNN.

– Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: Nhiều doanh nghiệp, tổ chức xã hội có các hoạt động thu, chi tiền theo các chu kỳ xác định. Họ gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi. Tuy khoản tiền này không tiện lợi bằng tiền gửi thanh toán (do khi cần tiền phải đến ngân hàng để rút ) nhưng bù lại tiền gửi có kỳ hạn lại có lãi suất cao hơn tuỳ theo độ dài của kỳ hạn được ghi trên hợp đồng.

– Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: Đây là khoản tiền nhần rỗi tạm thời của dân cư gửi vào ngân hàng để bảo toàn và sinh lời. Người gửi tiết kiệm sẽ có sổ tiết kiệm xác định rõ thời gian và hình thức trả lãi đã thoả thuận với ngân hàng. Hiện nay tiền gửi tiết kiệm là khu vực tiềm năng đồng thời là nơi cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng.

– Tiền gửi của các ngân hàng khác: Đây là nguồn tiền gửi có qui mô thường nhỏ, giữa các ngân hàng luôn có tiền gửi của nhau. Mục đích của việc gửi tiền này là để đảm bảo thanh toán thuận tiện, phục vụ tối đa lợi ích cho khách hàng của mình.

1.1.1.4. Khái niệm cho vay của ngân hàng thương mại

“Cho vay” có nguồn gốc từ thuật ngữ La tinh credittum có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm. Hiểu một cách nôm na thì cho vay là sự vay mượn giữa hai bên (Bên cho vay và Bên vay).

Ngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường đòi hỏi các quan hệ và hình thức cho vay cũng phát triển đa dạng và phong phú hơn. Trong đó, cho vay của NHTM là hình thức chủ yếu nhất, nó đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế rất linh hoạtvàkịp thời. Khác với cho vay thương mại, cho vay của NHTM không cung cấp cho vay dưới hình thức hàng hoá.

Theo luật TCTD của Việt Nam: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. [12]

Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại vẫn được đánh giá là hoạt động rủi ro nhất. Ngân hàng cho vay với rất nhiều khách hàng ở nhiều lĩnh vực thuộc các ngành nghề kinh doanh khác nhau nên không thể kiểm soát hết được tất cả các khoản vay. Đặc biệt, các ngân hàng không thể kiểm soát được đạo đức của khách hàng trong việc sử dụng và trả khoản nợ vay cho ngân hàng. Tuy vậy, nếu ngân hàng có thể chấp nhận rủi ro thì phần lãi suất kì vọng thu được của họ sẽ lớn.

Tất cả các khoản vay của ngân hàng phải được thực hiện đúng pháp luật trên cơ sở ngân hàng thẩm định điều kiện vay vốn của khách hàng như: hồ sơ pháp lý của khách hàng vay vốn, khả năng tài chính của khách hàng, mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp. Ngân hàng cho vay cũng phải thực hiện đúng nguyên tắc cho vay nghĩa là ngân hàng chỉ cho khách hàng vay khi khách hàng đó sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, có tài sản bảo đảm (nếu có), đảm bảo trả gốc, lãi đúng thời hạn.

1.1.1.5. Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu

Nợ xấu là các khoản nợ dưới chuẩn (nợ nhóm 3, 4,5). Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa số dư nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay của ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu càng cao thì chất lượng tín dụng của ngân hàng xấu, ngân hàng càng gặp nhiều rủi ro.

1.1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại có 3 chức năng cơ bản:

Thứ nhất,chức năng trung gian tín dụng

Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là “cầu nối” giữa người dư thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. 

Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại hình thành nên quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay.

Với chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của mình dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ. Hơn nữa, ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi.

Đối với người đi vay, họ sẽ thoả mãn được nhu cầu vốn để kinh doanh, chi tiêu, thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp.

Đối với ngân hàng thương mại, họ sẽ tìm kiếm được lợi nhuận cho bản thân mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới. Lợi nhuận này chính là cơ sở để tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại.

Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất. Với chức năng này, ngân hàng thương mại đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.

Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại vì nó phản ánh bản chất của ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Đồng thời nó cũng là cơ sở để thực hiện các chức năng khác.

Thứ hai, chức năng trung gian thanh toán

Ngân hàng thương mại làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Ở đây ngân hàng thương mại đóng vai trò là người “thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tài khoản của họ.

Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở thực hiện chức năng trung gian tín dụng vì tiền đề để khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng chính là một phần tiền gửi trước đó. Việc các ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế. Với chức năng này, các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán thuận lợi. Nhờ đó, các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian đi tới gặp chủ nợ, người phải thanh toán và lại đảm bảo được việc thanh toán an toàn. Qua đó, chức năng này thúc đẩy lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Đồng thời, việc thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản tiền…

Đối với ngân hàng thương mại, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán. Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng. Chức năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại.

Phân tích hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân
Phân tích hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân

Thứ ba, chức năng “tạo tiền”

Khi có sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng, hình thành nên ngân hàng phát hành và các ngân hàng trung gian thì ngân hàng trung gian không còn thực hiện chức năng phát hành giấy bạc ngân hàng nữa. Nhưng với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại. Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch.

Ban đầu từ những khoản tiền dự trữ tăng lên, ngân hàng thương mại sử dụng để cho vay bằng chuyển khoản, sau đó những khoản tiền này sẽ được quay lại ngân hàng thương mại một phần khi những người sử dụng tiền gửi vào dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn. Quá trình này tiễp diễn trong hệ thống ngân hàng và tạo nên một lượng tiền gửi (tức tiền tín dụng) gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu. Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi. Hệ số này, đến lượt nó chịu tác động bởi các yếu tố: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của công chúng.

Với chức năng “tạo tiền”, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Rõ ràng khái niệm về tiền hay tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy do ngân hàng trung ương phát hành ra mà còn bao gồm một bộ phận quan trọng là lượng tiền ghi sổ do các ngân hàng thương mại tạo ra.

Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ. Một khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cho vay ra làm tăng khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng.

Các chức năng của ngân hàng thương mại có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau. Đồng thời khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền lại góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt động tín dụng.

1.1.3. Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại

1.1.3.1. Hoạt động huy động vốn

Nghiệp vụ này phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của NHTM, cụ thể bao gồm các nghiệp vụ sau:

– Nghiệp vụ tiền gửi: Đây là nghiệp vụ phản ánh hoạt động Ngân hàng nhận các khoản tiền gửi từ các doanh nghiệp vào để thanh toán hoặc với mục đích bảo quản tài sản mà từ đó NHTM có thể huy động được. Ngoài ra NHTM cũng có thể huy động các khoản tiền nhàn rỗi của cá nhân hay các hộ gia đình được gửi vào ngân hàng với mục đích bảo quản hoặc hưởng lãi trên số tiền gửi.

– Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá: Các NHTM phần lớn sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có tính thời hạn tương đối dài và ổn định, nhằm đảm bảo khả năng đầu tư, khả năng cung cấp đủ các khoản tín dụng mang tính trung và dài hạn vào nền kinh tế. Hơn nữa, nghiệp vụ này còn giúp các NHTM giảm thiểu rủi ro và tăng cường tính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh.

– Nghiệp vụ đi vay: Nghiệp vụ đi vay được các NHTM sử dụng thường xuyên nhằm mục đích tạo vốn kinh doanh bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ và vay Ngân hàng nhà nước dưới các hình thức tái chiết khấu hay vay có đảm bảo… Trong đó các khoản vay từ Ngân hàng nhà nước chủ yếu nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân NHTM khi NHTM không tự cân đối được nguồn vốn trên cơ sở khai thác tại chỗ.

– Nghiệp vụ huy động vốn khác: Ngoài ba nghiệp vụ huy động vốn cơ bản kể trên, NHTM còn có thể tạo vốn kinh doanh cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Đây là khoản vốn huy động không thường xuyên của NHTM, thường để nhận được khoản vốn này đòi hỏi các Ngân hàng phải lập ra các dự án cho từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng phù hợp với đối tượng các khoản vay.

– Vốn chủ sở hữu của NHTM: Đây là vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM. Lượng vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi bắt đầu thành lập ngân hàng. Do tính chất thường xuyên ổn định, ngân hàng có thể sử dụng nó vào các mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất, nhà xưởng, mua sắm tài sản cố định phục vụ cho bản thân ngân hàng, cho vay, đặc biệt là tham gia đầu tư góp vốn liên doanh. Trong thực tế khoản vốn này không ngừng được tăng lên từ kết quả hoạt động kinh doanh của bản thân Ngân hàng mang lại.

1.1.3.2. Hoạt động tín dụng

NHTM cấp tín dụng cho tổ chức và cá nhân dưới hình thức cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Hoạt động tín dụng của NHTM bao gồm:

– Cho vay:

+ Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cho vay bổ sung thiếu hụt về vốn lưu động và khách hàng vay có hoạt động sản xuất kinh doanh và vay vốn tiêu dùng. Cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn cho vay của các NHTM.

+ Cho vay trung và dài hạn: Được thực hiện đối với các dự án đầu tư cơ bản, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội, mua sắm tài sản quy định, thay đổi và chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp… Các đối tượng có kỳ sản xuất, kinh doanh dài ngày, để cho vay trung và dài hạn bắt buộc các NHTM phải có nguồn vốn dài hạn. Nguồn vốn dài hạn hiện đối với các NHTM Việt Nam rất thiếu cho nên tỷ trọng cho vay trung và dài hạn chưa tương xứng với nhu cầu đầu tư của các thành phần kinh tế.

– Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá.

– Cho thuê tài chính.

1.1.3.3. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ

Các NHTM không sử dụng toàn bộ nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, mà phải dành một phần dự trữ thích hợp nhằm đáp ứng những yêu cầu sau: duy trì dự trữ bắt buộc theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; thực hiện lệnh rút tiền thanh toán, chuyển khoản của khách hàng; chi trả các khoản tiền gửi đến hạn, chi trả lãi; đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý trong ngày của khách hàng; thực hiện các khoản chi tiêu hàng ngày tại ngân hàng… Dự trữ của ngân hàng có thể tồn tại dưới hình thức tiền mặt, tiền gửi tại ngân hàng khác và các chứng khoán có tính thanh khoản cao.

1.1.3.4. Các hoạt động khác

– Góp vốn đầu tư, mua cổ phần của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác.

-Tham gia thị trường tiền tệ: Thị trường đấu giá tín phiếu kho bạc, thị trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng, thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn khác theo quy định của ngân hàng nhà nước.

– Hoạt động uỷ thác và đại lý liên quan đến hoạt động ngân hàng.

– Hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

– Hoạt động dịch vụ chứng khoán.

– Các hoạt động khác như giữ hộ, cho thuê két và các dịch vụ khác theo quy định của Pháp luật.

1.1.4. Hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại

1.1.4.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động của NHTM

Hiệu quả hoạt động của NHTM là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đã có để đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất.

Hiệu quả hoạt động của NHTM được đo lường một cách tổng quát thông qua việc đánh giá lợi nhuận đạt được với tổng tải sản và vốn chủ sở hữu, nó phản ánh khả năng sinh lời của NHTM và được quyết định bởi lãi thu được từ các khoản vay và đầu tư, thu từ dịch vụ, quy mô, chất lượng và kết cấu của tài sản có.

Hiệu quả hoạt động của NHTM quyết định trực tiếp đến vấn đề tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng. Một NHTM đạt được hiệu quả hoạt động tốt thì uy tín, quy mô hoạt động kinh doanh sẽ ngày càng được mở rộng, nền khách hàng ngày càng phát triển bền vững làm cơ sở cho việc đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ với chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng. Chính vì vậy các NHTM coi hiệu quả là mục tiêu quan trọng hàng đầu của hoạt động kinh doanh.

1.1.4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM

Hiệu quả hoạt động của NHTM chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, bao gồm yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài:

*/ Yếu tố bên trong:

– Năng lực tài chính của NHTM: Vốn chủ sở hữu là nguồn lực cơ bản để chứng minh sức mạnh tài chính của NHTM, nó đóng vai trò quan trọng hoạt động cũng như sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, quyết định đến quy mô hoạt động, khả năng quản lý rủi ro và chống đỡ rủi ro có thể xảy ra, là yếu tố cơ bản đánh giá mức độ an toàn hoạt động của ngân hàng. Chính vì vậy, từ người quản lý điều hành ngân hàng, khách hàng và cơ quan quản lý các cấp đều rất quan tâm đến khả năng duy trì, phát triển vốn chủ sở hữu của các NHTM.

– Năng lực quản trị ngân hàng: Năng lực quản trị điều hành của lãnh đạo NHTM sẽ quyết định các chính sách, chiến lược phát triển của NHTM trong dài hạn cũng như tại từng thời kỳ nhất định. Đó là các chính sách về đầu tư, phát triển mạng lưới quy mô hoạt động, chính sách khách hàng, chính sách đầu tư vào con người, công nghệ, cơ sở vật chất, chính sách cho từng lĩnh vực hoạt động cụ thể,… Năng lực quản trị điều hành là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của NHTM.

– Trình độ và đạo đức nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng: Hoạt động trong lĩnh vực nhạy cảm, luôn tiềm ẩn các rủi ro, chính vì vậy vấn đề trình độ và đạo đức của cán bộ ngân hàng đóng vai trò quan trọng và then chốt trong mọi hoạt động của ngân hàng. Việc xây dựng được mô hình tổ chức phù hợp, phát triển được đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn cao, có đạo đức nghề nghiệp sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao vị thế ngân hàng, từ đó hiệu quả hoạt động sẽ ngày càng được nâng cao.

– Phát triển và ứng dụng các tiến bộ của khoa học công nghệ vào hoạt động ngân hàng: Việc ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào hoạt động ngân hàng sẽ góp phần tạo ra các sản phẩm dịch vụ mới với hàm lượng công nghệ cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của mọi đối tượng khách hàng. Bên cạnh đó, áp dụng khoa học công nghệ vào phát triển phần mềm ứng dụng, thiết bị góp phần nang cao năng suất lao động, giảm thiểu chi phí hoạt động.

*/ Yếu tố bên ngoài:

– Môi trường kinh doanh: Hệ thống ngân hàng đóng vai trò huyết mạch của nền kinh tế, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trong mọi thời kỳ đều chịu sự chi phối mạnh mẽ của môi trường kinh doanh. Việc cung ứng và lưu thông tiền cũng như các sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng đều lệ thuộc chặt chẽ vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất, vào tình hình hoạt động của các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp, thương mại tiêu dùng cá nhân,… bất kỳ biến động đáng kể nào của các lĩnh vực đều trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến thị trường tài chính và hoạt động ngân hàng.

– Môi trường pháp lý: Hoạt động của ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi pháp luật và sự điều hành của Chính phủ. Các NHTM cũng như bất kể chủ thể khác trong nền kinh tế đều chịu sự quản lý của các cơ quan Nhà Nước và hoạt động theo quy định của Pháp luật. Hoạt động của ngân hàng luôn được đặt dưới một hệ thống quy định chặt chẽ và trong khung pháp lý được xây dựng nhằm kiểm soát hoạt động ngân hàng, kiểm soát việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng, chất lượng tín dụng, tình trạng vốn chủ sở hữu và các cách thức ngân hàng phát triển, mở rộng hoạt động với mục đích cuối cùng là nâng cao chất lượng phục vụ.

– Sự phát triển nhu cầu dịch vụ tài chính và xu hướng hội nhập quốc tế: Trong xu thế hội nhập quốc tế, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập WTO, sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính ngân hàng ngày càng trở nên quyết liệt, sự xuất hiện của các ngân hàng nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh, sản phẩm dịch vụ đa dạng, công nghệ hiện đại buộc các ngân hàng trong nước phải thực hiện đại hoá, áp dụng công nghệ mới để nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, thay đổi tư duy về phát triển nguồn nhân lực,…

1.1.4.3. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM

Trong nền kinh tế thị trường không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM có ý nghĩa rất to lớn thể hiện qua các mặt sau:

  • Các NHTM hoạt động có hiệu quả sẽ tăng cường khả năng trung gian tài chính như nâng cao mức huy động các nguồn vốn trong nước và phân bổ nguồn vốn đó vào nơi sử dụng có hiệu quả, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
  • Hoạt động càng có hiệu quả thì việc cung ứng vốn tín dụng và các dịch vụ khác sẽ có chi phí càng thấp, từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức kinh tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Khi đó sẽ có tác động ngược trở lại làm cho NHTM phát triển và hoạt động có hiệu quả hơn.
  • Khi hoạt động có hiệu quả thì NHTM càng có điều kiện để tăng tích lũy, hiện đại hóa công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh không những đối với thị trường trong nước mà còn từng bước vươn ra thị trường nước ngoài, tiếp cận và hội nhập với thị trường tài chính quốc tế.

. NỘI DUNG PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Trên cơ sở 4 hoạt động cơ bản của NHTM như đã trình bày ở mục 1.1, tác giả sẽ tiến hành phân tích hiệu quả hoạt động của NHTM theo các hoạt động cơ bản của NHTM.

. Phân tích hiệu quả từng hoạt động trong NHTM

1.2.1.1. Phân tích hiệu quả hoạt động huy động vốn

– Về Quy mô: Các tiêu chí đánh giá về quy mô của hoạt động huy động vốn bao gồm:

+ Số dư huy động vốn cuối kỳ, huy động vốn bình quân trong kỳ đánh giá hoặc tại thời điểm đánh giá. Chỉ tiêu này phản ánh lượng vốn mà Ngân hàng huy động được trong kỳ hoặc tại thời điểm đánh giá.

+ Tốc độ tăng trưởng(hàng quý, năm hoặc từng kỳ đánh giá): Đây là chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng lên hay giảm đi của nguồn vốn mà Ngân hàng huy động được trong kỳ đánh giá so với kỳ trước.

Số dư huy động vốn kỳ đánh giá

Tốc độ tăng trưởng huy động vốn

Số dư huy động vốn kỳ trước

Số dư huy động vốn kỳ trước

– –

= x 100%

+ Thị phần: Là chỉ tiêu thể hiện phần vốn mà Ngân hàng có thể huy động được so với tổng số tiền gửi tại tất cả các Ngân hàng trên cùng thị trường (địa bàn).

  • Về cơ cấu: Các tiêu chí đánh giá về cơ cấu của nguồn vốn huy động bao gồm:

+ Theo kỳ hạn: Cơ cấu giữa tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, giữa ngắn hạn và dài hạn. Chỉ tiêu này thể hiện tính hợp lý tương đối giữa các kỳ hạn của nguồn vốn Ngân hàng huy động được. Tùy theo nhu cầu sử dụng mà Ngân hàng xây dựng cơ cấu huy động hợp lý cho mình.

+ Theo loại tiền: VNĐ, Ngoại tệ quy đổi: Nguồn vốn huy động chủ yếu của các Ngân hàng thương mại hiện tại vẫn là đồng Việt Nam. Ngoài ra, còn huy động ngoại tệ, vàng… Chỉ tiêu cơ cấu nguồn vốn huy động theo theo loại tiền thể hiện tính đa dạng trong huy động cũng như khả năng đáp ứng các nhu cầu cho vay theo loại tiền tệ của Ngân hàng.

+ Theo nhóm đối tượng khách hàng: Thông thường chỉ tiêu này thể hiện mức độ ảnh hưởng của việc huy động vào một nhóm đối tượng khách hàng nào đó.

  • Thu nhập từ hoạt động huy động vốn: Là phần lợi nhuận thu được từ hoạt động huy động vốn. Hoạt động huy động vốn được coi là có hiệu quả khi chi phí huy động vốn để đạt được quy mô, cơ cấu vốn huy động ở mức thấp nhất có thể. Muốn vậy ngân hàng cần xác định mức lãi suất hợp lý, không quá cao để làm tăng chi phí nhưng cũng không quá thấp để hấp dẫn khách hàng và đảm bảo khả năng cạnh tranh, đồng thời ngân hàng phải tối thiểu hóa các chi phí ngoài lãi khác.

Tổng doanh thu từ lãi HĐV – Tổng chi phí trả lãi HĐV

NIMhuy động vốn (%)

=

Số huy động vốn bình quân

1.2.1.2. Phân tích hiệu quả hoạt động tín dụng

– Về Quy mô: Các tiêu chí đánh giá về quy mô của hoạt động tín dụng bao gồm:

+ Số dư nợ tín cuối kỳ, dư nợ tín dụng bình quân kỳ đánh giá hoặc tại thời điểm đánh giá. Chỉ tiêu này phản ánh dư nợ tín dụng mà Ngân hàng cho vay trong kỳ hoặc tại thời điểm đánh giá.

+ Tốc độ tăng trưởng (hàng quý, năm hoặc từng kỳ đánh giá): Đây là chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng lên hay giảm đi của dư nợ Ngân hàng cho vay trong kỳ đánh giá so với kỳ trước.

Số dư dư nợ tín dụng kỳ đánh giá

Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng

Số dư dư nợ tín dụng kỳ trước

Số dư dư nợ tín dụng kỳ trước

–

= x 100%

+ Thị phần: Là chỉ tiêu thể hiện tỷ trọng dư nợ mà Ngân hàng tài trợ vốn cho khách hàng so với tổng dư nợ tại tất cả các Ngân hàng trên cùng thị trường (địa bàn).

  • Về cơ cấu: Các tiêu chí đánh giá về cơ cấu của dư nợ cho vay bao gồm:

+ Theo kỳ hạn: Cơ cấu giữa cho vay ngắn hạn và trung dài hạn. Chỉ tiêu này thể hiện tính hợp lý tương đối giữa các kỳ hạn trong tổng dư nợ vay của ngân hàng.

+ Theo loại tiền: VNĐ, Ngoại tệ quy đổi: Thể hiện tỷ trong cho vay VNĐ, ngoại tệ quy đổi trong tổng dư nợ cho vay.

+ Theo nhóm đối tượng khách hàng: Thông thường chỉ tiêu này thể hiện mức độ ảnh hưởng của dư nợ tín dụngtheo nhóm đối tượng khách hàng hàng nào đó, thông thường phân theo khách hàng tổ chức và khách hàng cá nhân.

  • Thu nhập từ hoạt động tín dụng: Là phần lợi nhuận thu được từ hoạt động vay. Để đảm bảo hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng cần xác định mức lãi suất hợp lý, không quá cao để cạnh tranh lãi suất với các đối thủ, đồng thời ngân hàng phải tối thiểu hóa các chi phí lãi và chi phí ngoài lãi khác. Kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng để hạn chế số dự phòng rủi ro phải trích lập theo quy định.

Tổng doanh thu từ lãi cho vay – Tổng chi phí trả lãi đi vay

NIM

Cho vay (%)

=

Số dư nợ bình quân

  • Về chất lượng tín dụng:

+ Tỷ lệ nợ nhóm II: Là tỷ lệ giữa số dư nợ vay của các khách hàng định hạng tín dụng từ BBB trở xuống hoặc khách hàng có nợ quá hạn < 90 ngày/Tổng dư nợ vay của ngân hàng.

Tỷ lệ nợ nhóm II=Dư nợ nhóm IIx 100%
Tổng Dư nợ cho vay

+ Tỷ lệ nợ xấu: Là tỷ lệ giữa số dư nợ vay nhóm 3,4,5/Tổng dư nợ vay của ngân hàng.

Tỷ lệ nợ xấu=Dư nợ nhóm 3,4,5x 100%
Tổng Dư nợ cho vay

1.2.1.3. Phân tích hiệu quả hoạt động dịch vụ

*/ Tỷ lệ lợi nhuận từ kinh doanh dịch vụ

Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ thu nhập từ hoạt động kinh doanh dịch vụ của ngân hàng so với tổng thu nhập của ngân hàng. Chỉ tiêu này càng lớn thì chứng tỏ nguồn hoạt động của ngân hàng càng hiệu quả và an toàn, vì ngân hàng biết cách đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

*/ Phân tích chi tiết thu từ các dịch vụ

  • Thu từ hoạt động bảo lãnh
  • Thu từ hoạt động tài trợ thương mại
  • Thu từ dịch vụ thanh toán
  • Thu từ dịch vụ thẻ
  • Thu từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ
  • Thu từ dịch vụ ngân hàng điện tử: BSMS, IBMB,…
  • Thu từ hoạt động dịch vụ khác

1.2.1.4. Phân tích hiệu quả hoạt động các hoạt động khác

Bên cạnh 3 hoạt động chính là huy động vốn, tín dụng và dịch vụ, NHTM còn thực hiện một số hoạt động khác nhằm đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, đồng thời gia tăng nguồn thu để nâng cao hiệu quả hoạt động, hỉệu quả các hoạt động khác bao gồm:

  • Thu từ hoạt động đầu tư, mua cổ phần của các doanh nghiệp khác.
  • Thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
  • Thu từ hoạt động dịch vụ chứng khoán.

. Phân tích một số chỉ tiêu hiệu quả hoạt động tổng hợp trong NHTM

1.2.2.1.Doanh thu (thu nhập) của NHTM

Thu nhập của NHTM bao gồm toàn bộ các khoản thu có thể thu được từ các lĩnh vực kinh doanh ngân hàng và các nghiệp vụ kinh doanh khác có liên quan. Thu nhập ngân hàng là nguồn để trang trải cho các chi phí và tạo ra lợi nhuận ngân hàng.

Doanh thu của NHTM bao gồm doanh thu từ lãi và doanh thu ngoài lãi (doanh thu từ cung cấp dịch vụ ngân hàng, doanh thu từ hoạt động đầu tư, doanh thu khác). NHTM là loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nên doanh thu từ lãi luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu, do lãi suất áp dụng phụ thuộc vào kỳ hạn của khoản tiền gửi hoặc vay nên doanh thu từ lãi của NHTM chịu ảnh hưởng của yếu tố lãi suất, đây là những điểm khác biệt giữa doanh thu của NHTM so với các hình thức doanh nghiệp khác.

Phân tích doanh thu là tiến hành phân tích kết cấu các nguồn thu nhập chủ yếu của ngân hàng, bao gồm:

  • Thu từ hoạt động cho vay: Là một trong những nguồn thu nhập lớn nhất của các NHTM.
  • Thu nhập từ hoạt động huy động vốn: NHTM sử dụng lợi thế mạng lưới hoạt động rộng lớn của mình cùng với kỹ thuật thanh toán giữa các ngân hàng không ngừng phát triểnđể cung cấp dịch vụ thu gom tiền cho các doanh nghiệp thông qua trung gian thanh toán, hình thức này giúp các doanh nghiệp chuyển tiền bán hàng nhanh, sử dụng vốn của doanh nghiệp có hiệu quả hơn, qua đóngân hàng thu lợi từ phí quyền sử dụng vốn lưu ký trên tài khoản trong quá trình thanh toán. Hiện nay, các hệ thống ngân hàng lớn sử dụng cơ chế mua bán vốn tập trung để điều hoà vốn giữa hội sở chính và các chi nhánh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn, vì vậy các chi nhánh khi bán vốn cho Hội sở chính sẽ co được thu nhập từ bán vốn.
  • Thu nhập từ dịch vụ: thanh toán, bảo lãnh, thẻ, dịch vụ kho quỹ,….
  • Thu nhập từ nghiệp vụ đầu tư.

Ngân hàng sử dụng vốn đầu tư vào các giấy tờ có giá, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu kho bạc, hối phiếu…

  • Thu nhập từ nghiệp vụ khác.

Ngoài nguồn thu trên, các ngân hàng còn có các khoản thu khác của mình, đó là các hoạt động dịch vụ, ủy thác, tài trợ thuê mua trực tiếp, hoạt động kinh doanh hối đoái và các dịch vụ khác như cung cấp các giấy tờ in cho khách hàng.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\PHAM VAN THANG\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *