Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT

Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu của đề tài luận án

Ở Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinhtế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế đã có những bước tiến đáng kể góp phần nâng cao đời sống của người dân. Với sự năng động và nhạy bén trong lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp đang ngày càng có nhiều đóng góp vào việc tạo ra của cải vật chất, mang lại sự thịnh vượng cho quốc gia. Sự tồn tại của các doanh nghiệp có thể cảm nhận được trong mọi mặt cuộc sống, doanh nghiệp đã trở thành một thành phần không thể thiếu cho sự phát triển kinh tế, là chìa khóa để đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Giai đoạn 2016 – 2023, Việt Nam đã có bước phát triển quan trọng, đạt những thành tựu ấn tượng về kinh tế – xã hội; mặc dù đầu nhiệm kỳ (2016) gặp sự cố môi trường biển nghiêm trọng tại bốn tỉnh miền trung (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế), vụ ô nhiễm của Formosa đã làm cho hầu hết các loài sinh vật biển trong phạm vi dòng chảy ô nhiễm gây ra đều bị chết, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệsinh thái biển tại bốn tỉnh Miền Trung, gây ra những thiệt hại không nhỏ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp và khai thác, nuôi trồng thủy sản cũng như hoạt động phát triển du lịch và các thiệt hại khác. Bốn năm đầu (2016 – 2019), nền kinh tế nước ta đạt mức tăng trưởng bình quân 6,8%/năm; năm 2020, tăng trưởng kinh tế đạt 2,91%; năm 2021 do ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 tăng trưởng kinh tế có sụt giảm chỉđạt 2,56%; năm 2022 tăng 8,02% so với năm trước, đạt mức tăng cao nhất trong giaiđoạn (2011 – 2022) do nền kinh tế khôi phục trở lại; năm 2023 (tính đến quý III) tốc độ tăng trưởng GDP đạt 5,33%. Các Báo cáo về môi trường đã chỉ rõ ra các tác động xấu từhoạtđộngcông nghiệp và thương mại của các doanh nghiệp, kểcảdoanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp có vốn nước ngoài, đang càng ngày trở nên trầm trọng. Các vụ đại án về môi trường do các doanh nghiệp gây ra làm tổn hại sức sức khỏe và kế sinh nhai của người dân. Với mục tiêu phát triển kinh tế kết hợp hài hòa với bảo vệ môi trường Nhà nước ban hành hệ thống văn bản pháp luật về BVMT như

1

BLDS năm 2015 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân, tổ chức gây ONMT; Luật BVMT số 72/2020/QH14; Nghị định 45/2022/NĐ-CP ngày 07/7/2022 quyđịnhvề xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quyđịnh,pháp nhân thương mại phải chịu TNHS đối nhóm

tội phạm môi trường như các tội: Gây ONMT; vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường; vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đêđiều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông; hủy hoại

nguồn lợi thủy sản; hủy hoại rừng, vv… Tuy nhiên trong thực tế cho thấy tình trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT vẫn còn khá phổ biến mà trong đó doanh nghiệp vẫn là chủ thể vi phạm chính. Các vụ việc điển hình như nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2, nhà máy thép Formosa Hà Tĩnh, nhà máy bột ngọt VeDan Việt Nam, công ty Mei Sheng Textiles Việt Nam, công ty thuộc da Hào Dương… đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Gần đây vào năm 2023 cũng đã xảy ra nhiều vụnhư: “Vụgây ONMT” tại xã Tân Long, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương và xãThanh Sơn, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh; “Vụ gây ONMT” tại Xí nghiệp Đèn ống, Công ty cổ phần Bóng đèn Điện Quang, đường số 3, Khu công nghiệp Biên Hòa 1 (tháng 5/2023); “Vụ gây ONMT” tại Công ty TNHH Miza Nghi Sơn (tháng 8/2023),

vv…Thực tiễn, các doanh nghiệp này lợi dụng chính sách thu hút vốn đầu tư; và những “lỗ hổng” về pháp luật trong lĩnh vực BVMT; đã cố tình vi phạm, với thủ đoạn tinh vi, lén lút xả thải ra môi trường như xây dựng hệ thống bí mật, phức tạp,được ngụy trang bằng hệ thống đạt tiêu chuẩn1. Qua nghiên cứu thực trạng hệ thống pháp luật, cũng như thực tiễn thi hành pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cho thấy các văn bản pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực này vẫn còn những điểm bất cập, thực tế thi hành pháp luật cũng còn nhiều vướng mắc. Do đó NCS lựa chọn đề tài luận án “Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT” làmđềtài luận án nghiên cứucủamình. Nghiên cứu này

1 Phạm Quý Ngọ, “Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về BVMT”, Tạp chí Môi trường; http://tapchimoitruong.vn/; Truy cập ngày 22.8.2022.

2

nhằm mục tiêu đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu

Qua tổng quan nghiên cứu, có thể thấy rằng cả trong và ngoài nước đã có một sốcông trình nghiên cứu vềtrách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo BVMT. Tuy nhiên, khảo sát các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy các công trình nghiên cứu về vấn đề môi trường nhưng ở khía cạnh khác như: Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức kinh doanh, TNHC, TNHS, TNDS (bồi thường) trong lĩnh vực BVMT, vv… Dođó cóthể khẳng định cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách đầyđủvềcác loại trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT

Chính vì vậy NCS xác định mục đích nghiên cứu của Luận án là:

Nghiên cứu các vấn đề lý luận về pháp luật trong lĩnh vực BVMT trong các văn bản pháp luật hiện hành của nhà nước ta, phân tích thực trạng pháp luật hiện hành vàthực tiễn áp dụng trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, luận án đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án có nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề sau:

Thứ nhất, phân tích, đánh giá làm rõ nội dung của các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT. Nghiên cứu phân tích khái niệm, đặc trưng và các loại hình trách nhiệm pháp lý mà doanh nghiệp phải gánh chịu khi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT.

Thứ hai, nghiên cứu thực trạng các quy định của pháp luật về trách nhiệm pháp lý (bao gồm TNHC, TNDS, TNHS) của doanh nghiệp vi phạm pháp luật BVMT ở Việt Nam.

Thứ ba, nghiên cứu phân tích thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý đối với doanh nghiệp vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam.

3

Thứ tư, từ việc nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm pháp lý đối với doanh nghiệp vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT, luận án đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, nghiên cứu các quan điểm khoa học, các học thuyết về trách nhiệm pháp lý nói chung và đặc biệt tập trung vào trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT; Nghiên cứu làm rõ những đặc trưng riêng của pháp luật vềtrách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT; Phân tích vai trò của trách nhiệm pháp lý đối với việc BVMT tại Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật.

Thứ hai, nghiên cứu làm rõ thực trạng quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT được quy định trong các văn bản pháp luật của Việt Nam như: Luật BVMT số 72/2020/QH14; Nghị định 45/2022/NĐ-CP ngày 07/7/2022 quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; BLDS năm 2015 số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015; BLHS số 100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018.

Thứ ba, nghiên cứu thực tiễn áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với doanh nghiệp cóhành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT.

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3.2.1 Về nội dung

Luận án nghiên cứu các quan điểm, học thuyết,vấn đề lýluận pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp,đồngthời phân tích đánh giá thực trạng pháp luật chỉ ra những tồn tại và hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành, làm rõ thực tiễn thi hành pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT.

4

3.2.2 Về không gian

Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam.

3.2.3 Về thời gian

Luận án nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT giai đoạn từ năm 2015 (Luật BVMT năm 2014 có hiệu lực) đến năm 2023.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp luận

Để làm rõ những vấn đề đặt ra trong mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu. Luận án sử dụng phương pháp luận Mác-Lê nin để nghiên cứu lý luận, thực tiễn và pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT. Cụ thể Luận án vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân, kết quả, bản chất, hiện tượng, nội dung hình thức, vv…Vận dụng các quy luật của phép biện chứng trong quá trình phân tích, đánh giá các nội dung trong Luận án.

Để làm rõ những vấn đề đặt ra trong mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu. Luận án sử dụng phương pháp luận Mác-Lê nin để nghiên cứu lý luận, thực tiễn và pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu nhưng nội dung trong Luận án, NCS sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phương pháp này chủ yếusửdụng ở Chương tổng quan và Chương lý luận về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT. Bằng phương pháp này NCS sẽ phân tích làm rõ các khái niệm như: Trách nhiệm pháp lý, các nguyên tắc áp dụng trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT…

Phương pháp thống kê: Phương phápnày đượcsửdụngđểnghiên cứu nội dung Chương 3 (thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về trách nhiệm pháp

5

lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT). Phương pháp thống kê nhằm xác định thực trạng vi phạm pháp luật vàxửlý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMTở Việt Nam trong những năm gần đây.

Phương pháp so sánh pháp luật: Phương pháp này được sử dụng ở Chương 2 để nghiên cứu làm rõ những điểm tiến bộ của pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT, và ở Chương 3 về định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệuquảthực thi pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT. NCS sử dụng phương pháp so sánh để nghiên cứu pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT của nước ta qua các giai đoạn phát triển.

Phương pháp nghiên cứu điển hình: Đây là phương pháp được sửdụng ởChương 3 để phân tích, đánh giá một số vụ vi phạm pháp luật điển hình trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam.

Phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp: Phân tích các báo cáo tổng kết, các sốliệu thống kê về vi phạm trong lĩnh vực BVMT của Chính phủ và các cơ quan BVMT ở Việt Nam.

5. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của Luận án 5.1. Ý nghĩa khoa học

Luận án là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT. Luận án không chỉ làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong BVMT như: Khái niệm, đặc trưng, các nguyên tắc áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với doanh nghiệp vi phạm trong lĩnh vực BVMT. Mà còn hướng tới mục tiêu góp phần xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện, đảm bảo việc áp dụng hiệu quả trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong thực tiễn.

5.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận án có giá trị nhất định để các cơ quan nhà nước tham khảo khi xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVMT nói chung, hoàn thiện pháp luật về TNHC, TNHS, TNDS của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT nói riêng.

Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT
Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT

Luận án có giá trị tham khảo, phục vụ cho việc giảng dạy các môn học như Luật doanh nghiệp, Luật Môi trường và các ngành liên quan tại các trường đại học, học viện.

Ngoài ra Luận án còn có thể hổ trợ các nhà nghiên cứu khi nghiên cứu về pháp luật liên quan đến lĩnh vực BVMT.

6. Đóng góp mới của Luận án

Qua các nội dung đã nghiên cứu, Luận án của NCS có tính mới về lý luận, vềpháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT như sau:

Thứ nhất, luận án phân tích, bổ sung làm rõ hơn khái niệm trách nhiệm pháp lýcủa doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT. Phân tích cơ sở pháp lý, đặc điểm, nguyên tắc, chủ thể trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT.

Thứ hai, luận án phân tích, đánh giá vai trò của việc áp dụng pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp, các yếu tố tác động tới việc áp dụng pháp luật về trách nhiệm pháp lýcủadoanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT bao gồm: Hệ thống pháp luật; Điều kiện kinh tế- xã hội; Ý thức pháp luật; Hội nhập quốc tế.

Thứ ba, luận án phân tích, bình luận các quy định về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT theo các khía cạnh khác nhau như dân sự, hình sự, hành chính, nhằm làm rõ những ưu điểm, nhược điểm của pháp luật hiện hành về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT.

Luận án làm rõ các kết quả đạt được trong việc áp dụng các trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT, phân tích các nguyên nhân của những kết quả đó. Đồng thời, luận án trình bày những vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT, chỉ ra những nguyên nhân của những vướng mắc đó.

Thứ tư, luận án phân tích và đưa ra các cơ sở lý luận và thực tiễn cho thấy sựcần thiết của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích của tất cả các bên liên quan. Trên cơsởđó luận án đề xuấtmộtsố giải pháp cụ thể, khả thi nhằm bổ sung,

7

hoàn thiện quyđịnhpháp luật hiện hành về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật, giải pháp về nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật được xây dựng trên cơ sở phân tích và giải quyết những nguyên nhân của cáchạnchếtrong thực tiễn áp dụng trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam.

7. Bố cục Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án bao gồm bốn chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu Chương 2:Những vấn đề lýluận pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh

nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

8

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ

CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Qua khảo sát, tìm hiểu NCS nhận thấy ở Việt Nam cũng nhưở nước ngoài đãcó một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, cụ thể:

1.1.1. Các công trình nghiên cứu vềtrách nhiệm hành chính của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước

10

1.1.2. Các công trình nghiên cứu về trách nhiệm hình sự của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

1.1.2.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.2.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước

1.1.3. Các công trình nghiên cứu về trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

1.1.3.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.3.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước

1.2. Đánh giá kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu

1.2.1. Đánh giá kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan đến đề tài luận án

Sau khi nghiên cứu và hệ thống các công trình khoa học liên quan đến đề tài, NCS rút ra một số kết luận như sau:

Phân tích các công trình nghiên cứu ởphần tổng quan cho thấy trên thếgiới cũng như ở Việt Nam đã có một số công trình ở các cấp độ khác nhau, từ bài báo, đềtài khoa học các cấp tới sách tham khảo, chuyên khảo, luận văn, luận án đã nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT. Có thể thấy các tác phẩm với các quan điểm rất khác nhau dù cùng được viết về cùngmột chủ đề, đối tượng và bối cảnh. Điểm mạnh của các tác phẩm là đã nêuđược cácquan điểm, góc nhìn từ nhiều bên cùng tham gia vào việc xác định trách pháp lý của doanh nghiệp. Do đó việc sử dụng luật pháp các quốc gia khác để tham khảo là việc khó khăn, chưa kể tới việc mỗi quốc gia sẽ có các đặc điểm khác nhau về kinh tế (quốc gia phát triển và đang phát triển), văn hóa (chú trọng lợi ích vật chất hay tôn giáo), pháp luật (chú trọng kiểm soát hay thúc đẩy phát triển doanh nghiệp) v.v.. Vì thế các nghiên cứu này chủ yếu chỉ có thể cung cấp các kinh nghiệm trong một vài khía cạnh nhỏ liên quan

tới trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT.

Các công trình nghiên cứu trước đây đã đa dạng hóa góc nhìn khi phân tích các loại trách nhiệm pháp lý mà doanh nghiệp phải gánh chịu khi vi phạm quy định trong lĩnh vực BVMT. Một số nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế đáng kể trong quy định của pháp luật hiện hành và từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quyđịnhvềtrách nhiệm pháp lý của cá nhân, tổ chức gây ONMT. Các công trình khoa học của các tác giả trong nước cũng như nước ngoài như đã phân tích đánh giá trên đã góp phần tích cực vào việc xây dựng hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp có hành vi vi phạm trong lĩnh vực BVMT.

23

Phân tích các công trình nghiên cứu cho thấy, các tác giả chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp vi phạm pháp luật BVMT trong các lĩnh vực cụ thể như: “TNHC”, “ TNDS”, “TNHS”. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu những nghiên cứu tổng quan, bao quát toàn diện về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực này. Do đó, có thể nói cho đến này chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện, chuyên sâu về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp có hành vi vi phạm trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam.

1.2.2. Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu công trình khoa học ở trong nước cũng như ở nước ngoài, NCS nhận thấy luận án cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ có các nội dung nhưsau:

– NCS sẽ tiến hành phân tích là rỏ hơn về lý luận trách nhiệm pháp lý, đặc biệt tập trung vào trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật BVMT. Trên cơ sở đó, NCS sẽ đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện lý luận pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT tại Việt Nam.

– NCS đi sâu nghiên cứu pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT(TNHS, TNDS, TNHC) thông qua kế thừa các kết quả nghiên cứu về trách nhiệm BVMT của doanh nghiệp trong từng khía cạnh riêng lẻ.

-Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn, bao gồm các số liệu thống kê, vụ việc vi phạm pháp luật về BVMT của doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam trong thời gian qua. NCS sẽ tiến hành đối chiếu với quy định hiện hành về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT. Từ đó xác định rõ những ưu điểm, hạn chế của khung pháp lý hiện hành và đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật.

1.3. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 1.3.1. Lý thuyết nghiên cứu

1.3.1.1. Họcthuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Howard Rothmann Bowen là người đưa ra thuật ngữ trách nhiệm xã hội (CSR) trong cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” (Social Responsibilities of the

24

Businessmen), xuất bản năm 1953. Nội dung của học thuyết này đềcập đến trách nhiệm bồi hoàn của doanh nghiệp khi gây tổn hại cho xã hội, cũng như trách nhiệm của ngườiquản lý tài sản không được xâm hai đến quyền và lợi ích hợp phápcủacác chủ thểkhác. Một sốhọc giảđãkế thừa vàbổ sunghọcthuyết này như: Milton Friedman (1970); Carroll (1999); Lantos (2001); Maignan & Ferrell (2001);

Thompson, Smith & Hood (2001); Garriga & Melé (2004); Maignan & Ferrell (2005); Jenkins (2006); Fuller & Tian (2006); Kotler and Lee (2008).

Cho đến nay thuật ngữ “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau. Ông Caroll (1979) cho rằng “Trách nhiệm xãhộicủa doanh nghiệp liên quan đến những quyếtđịnh và hànhđộngđượcthực hiện mà ít nhất cũng vượttrên những lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, là những nguyêntắcđiều chỉnhmốiquan hệ giữa doanh nghiệp và xã hội”31. Caroll cũng khẳng định: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định”. Học giả Maignan và Ferrell (2004) cũng đưa ra một khái niệm kháđầy đủ, súc tích vềtrách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: “Một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội khi quyết định và hoạt động của nó nhằm tạo ra và cân bằng các lợi ích khác nhau của những cá nhân và tổ chức liên quan”32. Qua các góc nhìn trên, ta nhận thấy trách nhiệm xãhộicủa doanh nghiệp là một phạm trù rộng,có thể đượcđịnh nghĩa và hiểu theo nhiều cách khác nhau

Vào năm 2003, Ngân hàng Thế giới đã đưa ra định nghĩa về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, từ đó trở thành khái niệm này được chấp nhận và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Theo đó, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility hay CSR là “Camkếtcủadoanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về BVMT, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi laođộng,trảlương công bằng, đào tạo và phát triển nhân

31 Caroll, A.B, “A Three-dimensional Conceptual Model of Corporate Performance”, Academy of Management

Review, 4 (4) (1979), 497-505.

32 Maignan, I. và Ferrell, O.C, “Corporate Social Responsibility and Marketing”, Journal of the Academy of Marketing Science, 32 (1) (2004), 3-19.

25

viên, phát triển cộng đồng,… theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chungcủa xã hội”33.

Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng khi nói đến “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”, các tác giả đều cóđiểmđồng nhấtđólà trong quá trình phát triển bên cạnh những lợi ích riêng mà các doanh nghiệp hướng đến thì các doanh nghiệp còn có trách nhiệm bảo vệ lợi ích chung của xã hội.

Nội dung về trách nhiệm xã hội:

Nội dung của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm nhiều vấn đề khác nhau thể hiện qua hành vi ứng xử của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Từ các hoạt động đối nội nhưđối với đội ngũ nhân viên, cổ đông, cho đến hoạt động đối ngoại tiếp thị, khách hành, đối tác. Bên cạnh việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, doanh nghiệp còn thể hiện trách nhiệm xã hội thông qua các hoạt động tích cực như hỗ trợ giáo dục, y tế, giảm nghèo, đóng góp vào sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Nghiên cứu học thuyết trách nhiệm xã hội cho thấy có các nội dung cơ bản sau:

(1)Dưới góc độ kinh tế

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp dưới góc độ kinh tế trước hết là phải sản xuất ra hàng hóa, thực hiện các dịch vụ mà xã hội có nhu cầu. Doanh nghiệp cũng phải giải quyết nguồn cung ứng lao động, tìm kiếm các nguồn tài nguyên, năng lượng thay thế, ứng dụng khoa học vào sản xuất kinh doanh góp phần thức đẩy sự tiến bộcủa khao học công nghệ.

(2)Dưới góc độ đạo đức

Đạo đức trong trường hợp này được hiểu là tập hợp các chuẩn mực xã hội hướng dẫn doanh nghiệp hoạt động vì lợi ích chung của cộng đồng. Đạo đức khác với pháp luật ở chỗ không mang tính bắt buộc thực hiện, không có sự cưỡng chế nhà nước. Đạo đức được thực hiện bằng sự tự giác và dưluận xã hội. Doanh nghiệp khi ứngxửtheo chuẩn mực đạo đức xã hội sẽ tạo dựng được lòng tin và uy tín trong cộng đồng xã hội.

33 Ngân hàng Thế giới, Public Policy for Corporate Social Responsibility (2003)

26

Đểthểhiện góc độđạo đức trong kinh doanh, các doanh nghiệp thường ghi nhận trong sứ mệnh và chiến lược phát triển của mình. Các giá trị đạo đức này trởthành nguyên tắc chi phối toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp.

Trách nhiệm đạo đứccủa DN thể hiện qua nhiều nội dung: Trách nhiệm bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng như: An toàn vệ sinh thực phẩm, chất lượng sản phẩm, bảo hành sản phẩm; Trách nhiệm bảo đảm sự phát triển của thị trường như: Phát triển toàn diện, phát triển bền vững; Trách nhiệm bảo đảm quyền lợi của người lao động như: Quyền được làm việc, các quyền về vật chất, tinh thần; Trách nhiệm BVMT.

(3) Dưới góc độ pháp lý

Về góc độ pháp lý, doanh nghiệp có nghĩa vụ tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh. Các quy định này bao trùm mọi lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, từ hành chính, dân sự đến hình sự. Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp là yêu cầu bắt buộc, các doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định trong pháp luật hướng đến mục tiêu điều chỉnh của pháp luật.Đây cơ sở để xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng và bảo vệ môi trường sinh thái

Qua phân tích như trên cho thấy thuật ngữ TNXH hiện nay đang có nhiều cách hiểu khác nhau. Mặc dù vậy, tất cả các quan điểm đều có điểm chung đó là bên cạnh việc đảm bảo lợi ích riêng của doanh nghiệp thì hoạt động của doanh nghiệp phải dựa trên cơ sở pháp luật và hướng đến đảm bảo hài hòa với lợi ích của nhà nước và xã hội.

1.3.1.2. Các học thuyết pháp lý về trách nhiệm tài sản của pháp nhân – Học thuyết pháp nhân là thực thể pháp lý độc lập

Trong cổ luật La Mã, xuất hiện tập hợp các cá nhân có thể hoạt động như những người thường trong địa hạt pháp luật. “Tuân theo xu hướng nhân hóa, luật pháp đãđồng hóa những đoàn thể là tập hợp các cá nhân hay tập hợp tài sản với những người thường và công nhận cho các thực thể ấy một nhân cách pháp lý hoặc một nhân cách dân sự, các thực thể ấy gọi là pháp nhân”34.

34 Vũ Văn Mẫu (1957), Dân luật khái luận, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, tr. 368 – 369.

27

“Pháp nhân là một thực thể trừu tượng, được hư cấu, thể hiện tình trạng tách bạch về mặt tài sản của nó với tài sản còn lại của chủ sở hữu, người đã sáng lập ra nó”35. “Pháp nhân là một học thuyết, về căn bản hư cấu một tổ chức có các quyền vànghĩa vụ tựa như một người tự nhiên, ví dụ có tên gọi, có tài sản, có năng lực hành vi, có khả năng giao dịch, có thể khởi kiện hoặc bị kiện như conngười tự nhiên”36. “Chủ sở hữu/thành viên và pháp nhân là hai chủ thể pháp lý khác nhau, pháp nhân có các quyền và nghĩa vụ pháp lý riêng so với chủ sở hữu, sự tồn tại của pháp nhân khác với các sáng lập viên. Học thuyết pháp nhân là thực thể pháp lý độc lập lần đầu được áp dụng trong trường hợp Salomon và Salomon & Co.Ltd”37.

Khi nghiên cứu về sự ra đời của pháp nhân, các nhà luật học đã đưa ra những quan điểm hết sức đa dạng, hình thành nên nhiều học thuyết pháp lý khác nhau, trongđó nổi bật là: Học thuyết pháp nhân là hư cấu pháp lý, học thuyết phủ nhận pháp nhân và học thuyết thừa nhận thực tại pháp nhân. Những học thuyết trên đưa ra những điểm khác nhau về bản chất của pháp nhân. Tuy nhiên trên thế giới trong pháp luật cho đến hiện nay vẫn không có khái niệm chung về pháp nhân.

– Học thuyết về trách nhiệm tài sản và cơ chế “xuyên qua màn che công ty” Trong quá trình phát triển của Học thuyết có một số nhà nghiên cứu cho rằng

cơ chế“piercing the corporate veil” xuất hiện từnăm 1912 tạiMỹ.Theo kết quảnghiên cứu của một nhà nghiên cứu Việt Nam, có thể thấy rằng “xuyên qua màn che công ty” được hình thành từ “một phán quyết liên quan đến một vụ kiện xảy ra ở Anh vào năm 1897”38. Sau phán quyết này được gọi là nguyên tắc Salomon và được nhiều người thừa nhận. Nguyên tắc này là sựbắt đầu cho các cuộc tranh luận vềcơ chế“xuyên qua màn che công ty” sau này.

35 Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia HàNội, tr. 47.

36 Phạm Duy Nghĩa (2014), Pháp nhân công quyền, Góp ý Dự thảo BLDS(sửa đổi)tại Hội thảo của VCCI, ngày 11/4/2014, Thành phố Hồ Chí Minh.

37 Rodrigo (2016), The Doctrine of Separate Legal Entity: A Case of Salomon v Salomon & Co. Ltd., The Write Pass Joural, (November 8, 2016), https://writepass.com/journal/2016/11/the-doctrine-of-separate-legal- entity-a-case-of-salomon -vs-salomon-co-ltd/.Truy cập ngày 05/7/2023.

38 Ngô Hồng Quang, Cơ chế “xuyên qua màn che công ty” trong pháp luật một số nước và ở Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu lập pháp. http://www.lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=207883. Truy cập 02/7/2024.

28

Điều kiện tiên quyết để một tổ chức trở thành pháp nhân là tài sản phải có sựtách bạch tài sản rõ ràng “một tính pháp lý mới, tách bạch với tính pháp lýcủa chủsở hữu hoặc cộng đồngsở hữu”39. Việc phân định rõ ràng tài sản của pháp nhân là cơsở để xác định phạm vi trách nhiệm pháp lý của pháp nhân. Nhờ đó, pháp nhân chỉchịu trách nhiệm trong giới hạn tài sản của mình, đảm bảo nguyên tắc trách nhiệm hữu hạn

Theo nguyên tắc trách nhiệm hữu hạn, các thành viên của pháp nhân chỉ chịu trách nhiệm bằng số vốn đã góp, tài sản cá nhân của họ được bảo vệ khỏi các nghĩa vụ của pháp nhân

Mặc dù vậy vẫn có trường hợp ngoại lệ khi xảy ra các sự kiện “phá hạn”. Tuy nhiên vẫn có những trường hợp mà người đại diện các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân phải chịu trách nhiệm pháp lý do hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp: “(i) Phục vụmục đích cá nhân của thành viên hoặc cổđông hoặc người quản lý công ty, hoặc (ii) Tham gia vào hoạt động lừa đảo hoặc vi phạm pháp luật, Tòa án có thể không chấp nhận tính chất trách nhiệm hữu hạn của công ty với tư cách là một pháp nhân và yêu cầu thành viên hoặc cổ đông hoặc người quản lý có trách nhiệm cá nhân với nghĩa vụ nợ của công ty”40. Theo nội dung học thuyết này tính chịu trách nhiệm hữu hạn của doanh nghiệp bị loại trừ. Chủ sở hữu có thể bị truy cứu trách nhiệm cá nhân khi có hành vi lạm dụng tư cách pháp nhân để trục lợi cá nhân hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật

– Học thuyết về đại diện và trách nhiệm tài sản của người đại diện pháp nhân Học thuyết này ra đời ở các nước phương Tây vào cuối thế kỹ 20. Trong giai

đoạn này có nhiều học thuyết đề cập đến mối quan hệ giũa công ty và cổ đông nhưhọc thuyết về đại diện (agency theory) và học thuyết về người quản gia (stewardship theory), song, đáng chú ý nhất là học thuyết về đại diện. Nội dung của học thuyết vềđại diệnchỉ ra mối quan hệ giữa các cổ đông và người quản lý công ty . “Mối quan hệ này được coi như là quan hệ hợp đồng mà theo đó các cổ đông (những người chủ

39 Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2001), tlđd, tr. 45.

40 Trương Nhật Quang (2016), Pháp luật về doanh nghiệp: Các vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb. Dân trí, tr. 128 – 129.

29

– principals), bổnhiệm, chỉ định người khác, người quản lý công ty (người thụ ủy – agents), để thực hiện việc quản lý công ty cho họ mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của công41.

Theo các nhà nghiên cứu kinh tế và pháp luật, một đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần là sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, điều hành . Nội dung của học thuyết về đại diện và trách nhiệm tài sản của người đại diện pháp nhân chính là “quan hệ giữa các cổ đông và người quản lý công ty được hiểu như là quan hệ đại diện hay quan hệ ủy thác. Mối quan hệ này được coi như là quanhệ hợp đồng màtheo đó các cổ đông bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý công tyđể thực hiện việc quản lý công ty cho họ mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của công ty”42. Theo cơ chế này, các cổ đông của công ty sẽ bầu ra đại diện của mình để quản lý và giám sát hoạt động của công ty. Đồng thời họ sẽ xây dựng những cơ chế để đảm bảo hài hòa lợi ích của công ty và người đại diện, hạn chếsựphân hóa, đối lập vềlợiích. Cổđồngcũng là người trao cho người đại diện quyền thay mặt họ để quyết định các vấn liên quan đến tài sản của công ty, cũng như tiến hành các hoạt đông khác vì lợi ích công ty trên cơ sở điều lệcông ty cũng như quy định của pháp luật. “Ýchí của một pháp nhân được bày tỏthông qua những người đại diện của pháp nhân đó. Sự biểu lộ ý chí bởi người đại diện thể hiện rằng, sự biểu lộ ý chíđóđược lập ranhân danhngười được đại diện trong phạm vi thẩm quyền của người đại diện ràng buộc người được đại diện”43.

Đại diện pháp luật là một chếđịnh quan trọng trong hệthống pháp luật của nhiều quốc gia, cho phép một cá nhân hoặc tổ chức khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý thay mặt cho một pháp nhân, nhằm đảm bảo hoạt động hiệu quả và liên tục của pháp nhân đó

41 Michael C. Jensen and William H. Meckling, ‘Theory of the Firm: Managerial Behavior, Agency Costs and Ownership Structure’ in Thomas Clarke (ed), Theories of Corporate Governance: the Philosophical Foundations of Corporate Governance (2004) 58, tr. 59; M. M. Blair and L. A. Stout, ‘A Team Production Theory of Corporate Law’ (1999) 85 (2) Virginia Law Review 247; in lại trong Thomas W. Joo (ed),Corporate Governance: Law, Theory and Policy (2004), tr. 53.

42 Bùi Xuân Hải (2007), Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4 (41)/2007.

43 Điều 99 BLDS Nhật Bản năm 2005.

30

Theo nguyên tắc, pháp nhân chỉ chịu trách nhiệm về những hành vi mà người đại diện thực hiện trong phạm vi quyền hạn được pháp nhân ủy quyền và vì lợi ích của pháp nhân. Các hành vi cá nhân của người đại diện sẽ không làm phát sinh trách nhiệm cho pháp nhân.

Qua nghiên cứu học thuyết này, NCS nhận thấy có thể ứng dụng các nguyên tắc của học thuyết vào việc xác định trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp và người đại diện của doanh nghiệp trong trường hợp gây ra thiệt hại về môi trường.

1.3.1.3. Học thuyết về trách nhiệm hình sự của pháp nhân

Theo các học thuyết pháp luật hình sự truyền thống, để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân hoặc tổ chức vi phạm pháp luật hình sự, cần phải chứng minhđược ítnhất hai yếu tố cấu thành tội phạm, đó là: (i)Chủ thể đócó hành vi phạm tội, hành vi là yếu tố bắt buộc phải có trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm (ii) và yếu tố thứ hai là lỗi, lỗi cũng là yếu tố bắt buộc phải có trong mặt chủ quan của cấu thành tội phạm. Khác với cá nhân, pháp nhân là một tổ chức bao gồm nhiều cá nhân hợp thành. Mọi hoạt động của pháp nhân thường được thông qua các cán nhân cụ thể trong pháp nhân. Điều này đặt ra vấn đề là pháp nhân có thể là tội phạm hay không? Và vấn đề lỗi của pháp nhân được xác định như thế nào? Trong quá trình tìm kiếm câu trả lời, giới nghiên cứu luật hình sự các nước đã đưa ra một số học thuyết về TNHS của pháp nhân, cụ thể: 44

Học thuyết trách nhiệm thay thế: Học thuyết này ra đời vào khoảng những năm 40 của thế kỷ 19 thể hiện qua các bản án của hệ thống thông luật45. Đây là học thuyết kế thừa và phát triển từ học thuyết trách nhiệm thay thế trong lĩnh vực luật dân sự. Học thuyết nay hiện nay được các quốc gia như Anh, Mỹ áp dụng

Học thuyết này khi mới ra đời chỉ đặt ra vấn đề trách nhiệm lênngười đứng đầu hoặc người chủ của pháp nhân. Theo đó, người đứng đầu pháp nhân sẽ phải chịu trách nhiệm về bất cứ điều gì mà một pháp nhân của anh ta thực hiện thay cho anh ta. Học

44 Hoàng Thị Tuệ Phương, “Một số học thuyết về TNHS của pháp nhân”. Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam 02(33)2006, tr 58-62.

45 Meaghan Wilkinson (2003), Corporate criminal liability – The move towards recognising genuine corporate fault. Canterbury Law Review, Vol. 9, tr. 145.

31

thuyết này cho rằng, để xác định trách nhiệm pháp lý, cần phân biệt rõ giữa người thực hiện hành vi (như người làm công, người đại diện) và người đứng đầu tổ chức (như chủ doanh nghiệp, người đứng đầu pháp nhân). Thực tế, người làm công, người làm đại diện mới là những người trực tiếp thực hiện hành vi và có thể nhận thức được tính chất vi phạm pháp luật của hành vi đó. Tuy nhiên, tùy thuộc vào mức độ kiểm soát và lợi ích thuđược, người đứngđầu tổ chức cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý. Tuy nhiên, học thuyết trách nhiệm thay thế giải thích rằng hành vi cũng nhưnhững ý định phạm tội của một cá nhân này xuất pháttừ mệnhlệnh của một cá nhân. Các chủ thuyết này lý giải rằng người chủ pháp nhânđược hưởnglợi từ những hoạt động của pháp nhân, cho nênđươngnhiên họ phải chịu trách nhiệm về những rủi ro của công ty. Khi người làm công có những hành vi thực tếgây thiệt hại cho cộngđồng, người chủ sẽ phải gánh chịu thay bởi vì đó cũng là một rủi ro trong kinh doanh. Mặt khác với tư cách là chủ pháp nhân, họ có thể dưa ra các mệnh lệnh, chi phối,điều chỉnh hành vi của nhân viên. Nhân viên trong công ty phải tuân thủ mệnh lệnh của chủ công ty. Do đó thực chất họ chỉ là người thừa hành, vì vậy, nếu họ có sai phạm thì người chủ phải chịu trách nhiệm. Không chỉ dừng lại ở đây, học thuyết trách nhiệm thay thế sauđótiến tới áp đặt TNHS đối với pháp nhân về hành vi của những người làm công hoặc của những người làm đại lý. Từ đó, họ cho rằng TNHScủa pháp nhân sẽ phát sinh khi bất kỳ nhân viên nào của pháp nhân có hành vi vi phạm. Việc xác định trách nhiệm của pháp nhân chỉ đặt ra khi sự vi phạm của nhân viên thỏa mãn cácđiều kiện sau:

Thứnhất, phải có mốiquan hệphụthuộc giữa người vi phạm và pháp nhân, người vi phạm phải là người làm việc cho pháp nhân, chịu sự chỉ đạo, điều hành của người quản lý pháp nhân, phải thực hiện những vụ được pháp nhân giao

Thứ hai, học thuyết trách nhiệm thay thế được coi là “có một tầm quan trọngđáng kể”46 vì những đóng góp của nó đối với hiệu quả trong việc xử lý những vi phạm xảy ra trong các lĩnh vực luật hình sự liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng hoặc môi

46 Eli Lederman, Models for Imposing Corporate Criminal Liability: From Adaption and Imitation Toward Aggregation and the Search for Self-Identity, Buffalo Criminal Law Review (Vol. 4:641), tr. 646.

32

trường. Người ta cho rằng áp dụng TNHS cho phép nhân trong những trường hợp này khuyến khích hoặc buộc pháp nhân phải tìm cách hạn chế những rủi ro từ những hành vi sai trái của nhân viên, nâng cao trách nhiệm trong việc quản lý và kiểm soát người làm công trong việc thực hiện các hoạt động của công ty bằng cách biện pháp mà pháp luật cho phép. Tuy nhiên, theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu thì học thuyết này vừa quá hạn hẹp, do chỉ giới hạn trong phạm vi những tội phạm không cần phải chứng minh yếu tố lỗi47, vừa quá rộng vì truy cứu TNHS pháp nhân đối với hành vi của mọi nhân viên mà không xem xét đến cấp bậc, chức năng của họ trong pháp nhân48

Học thuyết đồng nhất hóa (identification doctrine). Học thuyết đồng nhất hóa xuất hiện trong các án lệ của các nước theo hệ thống thông luật từ những nămđầu của thếkỷ2049. Hiện nay, học thuyết này được sửdụng khá phổbiến ởcác nước thuộc hệ thống thông luật như Anh (áp dụng đối với những tội khi truy cứu TNHSđòi hỏi yếu tố lỗi), ở các tiểu bang của Mỹ, Canada, một số bang của Australia và cảnhững nước thuộc hệ thống luật Châu Âu lục địa như Pháp, Bỉ, Hà Lan, New Zealand, Thụy Sĩ…

Với mục đích khắc phục điểm yếu của học thuyết trách nhiệm thay thế để có thể buộc pháp nhân phải chịu TNHS trong những trường hợp hành vi phạm tội đòi hỏi phải có những bằng chứng về yếu tố lỗi, các Tòa án của hệ thống thông luật đãbắt đầu phát triển quy tắc “đồng nhất hóa” hành vi và nhận thức của người nắm quyền quản lý pháp nhân với hành vi và nhận thức của chính pháp nhân, hợp nhất về mặt pháp lý cá nhân và pháp nhân thành một thực thể thống nhất. Như vây, TNHS của pháp nhân được xác định khi hành vi vi phạm của cá nhân đáp ứng các điều kiện:

Thứ nhất, phải xác định được việc phạm tội là do người đại diện hay cơ quanđại diện của pháp nhân thực hiện50.

47 Hoàng Thị Tuệ Phương, (Tldd)

48 Meaghan Wilkinson, Tldd, tr. 160.

49 Trịnh Quốc Toàn (2003), Phạm vi và điều kiện áp dụng TNHS đối với pháp nhân trong Luật Hình sự Anh, Tạp chí khoa học ĐHQG. Hà Nội, Kinh tế – Luật, Tập XIX, (1), 6.

50 Meaghan Wilkinson, Tldd, tr. 151.

33

Thứ hai, việc thực hiện hành vi phạm tội xuất phát từ lợi ích của pháp nhân. Học thuyết đồng nhất hóa cho rằng pháp nhân sẽ có lỗi nêu một nhân viên thực hiện một hành vi vi phạm có lỗi. Những cá nhân người phạm tội được đồng nhất hóa nhưlà pháp nhân, và vì vậy lúc này pháp nhân sẽ chịu trách nhiệm về hành vi của chính mình chứ không chịu thay người khác. Những nhân viênsẽ được đồng nhất hóavới pháp nhân là những nhân viên cao cấp trong pháp nhân, những người nắm giữ một trọng trách nào đó51 hoặc có quyền hành trong việc đề ra chính sách của công ty nhưBan giám đốc, Tổng giám đốc hay Hội đồng quản trị… Pháp nhân chi có thể bị đồng nhất hóa với một cá nhân là người “thực sự điều khiển, chỉ đạo ý thức và ý chí của pháp nhân, có mối quan hệ gắn bó mật thiết với pháp nhân và là nhân vật trung tâm trong pháp nhân”52. Việc coi những cá nhân cụ thể như là pháp nhân được xem xét thông qua địa vị pháp lý, thẩm quyền và hành vi thực tế của các cá nhân này.

Học thuyết đồng nhất hóa xác định một người là người đại diện của pháp nhân trên cơ sở cấp bậc và chức năng. Việc xácđịnhcấp bậc nhằm khẳng định người thực hiện thực hiện hành vì có phải là một thành viên trong bộ máy quản lý hàng đầu của công ty hay không và theo thẩm quyền của một người quản lý người này đã tham gia vào việc hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách của công ty chứ không chỉ đơn thuần là người chấp hành các chính sách đó. Xem xét chức năng là xem xét chính hành vi phạm tội để chứngminh là hành vi đó có phải là một biểu hiện của chính pháp nhân hay không trong tình huống cụ thể của vụ việc đó. Sự xem xét này nhằm loại trừ những hànhđộng của cánhân không liên quan đến chức năng và hoạt động của pháp nhân. Bên cạnh đó, nếu hành vi của một cá nhân được thực hiện trong khuôn khổ của công ty nhưng lại gây thiệt hại cho chính công ty đó (ví dụ như hành vi tham ô, biển thủ…) thì hành vi này không được coi là hành vi của người đại diện, do đócũng không thểđược đồng nhất với hành vi của pháp nhân. Như vậy, so với học thuyết trách nhiệm thay thế, học thuyết đồng nhất hóa có điểm khác đó là khi truy cứu TNHS của pháp nhân phạm tội không cần chứng minhyếu tố lỗi.Tuy nhiên, mặc

51 Meaghan Wilkinson. Tldd, tr. 151. 52 Meaghan Wilkinson, Tldd, tr. 152.

34

dù được đánh giá là “gần gũi hơn với thực tế”53, học thuyết vẫn cho thấy những nhược điểm. Nhược điểm đầu tiênlà với rất nhiều loại hình công ty cùng vô vàn hình thức hoạt động khác nhau của chúng, học thuyết không đưa ra được một quy tắc chính xác nào cho việc xác định những tiêu chuẩn để một bộ máy quản lý hay một nhân viên quản trị cao cấp được coi là chính pháp nhân. Hơn nữa, học thuyết này tạo ra một phạm vi rất hẹp cho việc xử lý hình sự hành vi của pháp nhân bởi vì chỉ có những người thỏa mãn điều kiện của nhân viên quản trị cao cấp mới có thể dẫn đến TNHS của pháp nhân. Thực tế, các pháp nhân hiện đại có khuynh hướng phi tập trung hóa hoạt động của mình mà phân quyền ra nhiều cấp khác nhau và các quyết định quan trọng đôi khi được đưa ra bởi những người ở cấp lãnh đạo thấp hơn. Khi quá tập trung vào hành vi của một hay một vài cá nhân nào đó, pháp luật sẽ bỏ qua những sai sót trong chính sách của pháp nhân, những giá trị được pháp nhân để cao đã khuyến khích việc thực hiện tội phạm. Việc áp dụng thuyết đồng nhất hóa sẽ khuyến khích pháp nhân cô lập những nhà quản trị cao cấp của nó và che giấu các hoạt động của mìnhđể đảm bảo rằngkhông có quyết định nào của những người này có thể dẫn tới TNHS của pháp nhân.

Học thuyết văn hóa pháp nhân. Khác với họcthuyết đồng nhất hóa xác định trách nhiệm của pháp nhân khi nhân viên pháp nhân có hành vi vi phạm, thuyết văn hóa pháp nhân xác định pháp nhân có tội hay không dựa vào văn hóa của pháp nhân đó”54. Nội dung của học thuyết thể hiện việc thực hiện hành vi sai trái của người được ủy quyền nếu xuất phát từ văn hóa của pháp nhân (dung túng, chấp nhân sự sai trái) thì chính pháp nhânđãcó lỗi tạo ra những thông lệ xấu cho sự không tuân thủ pháp luật. Học thuyết văn hóa pháp nhân sẽ xem xét các nội dung như: mối quan hệ thứbậc trong pháp nhân, việc tuyển dụng, đào tạo nhân viên, các chế độ chính sách đối với nhân viên, việc xử lý nhân viên sai phạm, vv… mục đích là kiểm tra đề làmrỏ các quy định của pháp nhân, cũng như việc, giải quyết, xử lý của pháp nhân ảnh hưởng như thế nào đến hành vi phạm tội, có phải là điều kiện thuận lợi cho việc phạm tội

53 Eli Lederman, Tldd, tr. 651.

54 Meaghan Wilkinson. Tldd, tr. 174. 166,html//top

35

hay không. Các Luật gia ủng hộ học thuyết này vì “nếu pháp nhân không có một tháiđộ nào cụ thể (thể hiện trong các yếu tố của văn hóa pháp nhân) trong việc ngăn cản hành vi phạm tội thìđiều đó đồngnghĩa với việc pháp nhân khuyến khích tội phạm như là một lợi ích nào đó đối với pháp nhân55. Ngược lại, nếu pháp nhân đã có những cố gắngcần thiết trong việc phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi phạm tội xảy ra trong pháp nhân thì pháp nhân có thể tránh được việc bị truy cứu TNHS56.

Qua nghiên cứu các học thuyết trên NCS nhận thấy nhiều nội dung của các học thuyết cóthểvậndụng vào nghiêncứuđềtàicủaluận án như:“Họcthuyếtvềtrách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”, trong đó chú trọng đến trách nhiệm xã hội về khía cạnh kinh tế, khía cạnh pháp lý; trách nhiệm về BVMT. trách nhiệm xã hội và việc phát triển bền vững của doanh nghiệp; “Học thuyết pháp lý về trách nhiệm tài sản của pháp nhân” có thể vận dụng các học thuyết về trách nhiệm tài sản và cơ chế “xuyên qua màn che công ty”; Học thuyết về đại diện và trách nhiệm tài sản của người đại diện pháp nhân. Nhất là “Học thuyết về TNHS của pháp nhân”, học thuyết này đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề khi đề cập đến TNHS của pháp nhân. Ở Việt Nam trách TNHS của pháp nhân là vấn đềmới được quyđịnhtrong BLHS năm 2015(sửa đổibổsung năm 20017) nên còn nhiều vẫn đề lý luận và thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu làm rỏ.

1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Câu hỏi 1: Những vẫn đề lý luận pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT có nhưng điểm nào chưa rõ, cần phải nghiên cứu, bổ sung những nội dung gì?

Giải thuyết:

Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp là một nội dung rất quan trong khi nghiên cứu về doanh nghiệp, đặc biệt là trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ như khái niệm, đặc điểm, tính chất, vai trò cũng như mối liên hệ giữa các loại TNHC, hình sự dân sự, vv…

55 CeliaWells,Corporation and the Risk of Criminal Liabilit, www.freedomtocare.ord/page html/resources/spring2001.html. Truy cập ngày 11/9/2023.

56 Hoàng Thị Tuệ Phương,(Tldd)

36

Câu hỏi 2: Pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam có những hạn chế gì?

Giả thuyết:

Trong những gần đây ở Việt Nam các quy định về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT đã được các cơ quan xây dựng pháp luật chú trọng nhiều hơn, vì vậy về cơ bản đã khá đầy đủ. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn nhưng quy định chưa chưa thống nhất, chưa phù hợp với thức tiễn, thiếu tính khả thi.

Câu hỏi 3:

Để hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam cần phải làm gì?

Giả thuyết:

Pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam chưa hoàn thiện, vì vậy việc truy cứu trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, chế tài chưa đủ sức răn đe và chưa có hiệu quả trong việc BVMT. Do đó, cần tiến hành nghiên cứu một cách thấu đáo để xác định những hạn chế của chế định pháp luật này và từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện kịp thời.

37

Kết luận Chương 1

Trong chương này Luận án nghiên cứu các công trình khoa học trong nước vànước ngoài liên quan đến trách nhiệm của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT. Với những nội dung đã được phân tích, làm rõ trong chương này, đây sẽ làm tiền đề đểnghiên cứu lý luận, thực trang pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật ở các chương tiếp theo của Luận án.

Qua nghiên cứu tổng hợp các công trình khoa học và học thuyết liên quan, luận án đã rút ra những kết luận sau:

Vấn đề BVMT nói chung và trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT nói riêng là một vấn đề mang tính toàn cầu, được các học giả trong vàngoài nước quan tâm nghiên cứu. Ở Việt Nam, trong quá trình đổi mới và hội nhập, vai trò của doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng và có ý nghĩa quyết định trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên đi kèm với sự đóng góp vào sự phát triển kinh tế – Xã hội, các doanh nghiệp có thể gây ra hậu quả tác động tiêu cực đến môi trường, nếu như việc áp dụng các quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT không nghiêm minh, không có hiệu quả.

Mặc dù có nhiều nội dung đã được đề cập tới trong các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, nhưng chođếnnay,vẫnchưa có một công trình nghiên cứu nàođi sâu chi tiết vào toàn bộ hệ thống quan điểm, văn bản pháp luật một cách toàn diện mà chỉtậptrung vào một khía cạnhnhỏcủatrách nhiệm pháp lýcủadoanh nghiệp, các đề tài liên quan tới trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT lại càng hiếm hoi.

Kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước NCS tiếp

tục nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam trong chương 2.

38

CHƯƠNG 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ

CỦA DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

2.1. Khái niệm trách nhiệm và trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

2.1.1. Khái niệm trách nhiệm của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

2.1.1.1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam từ trước đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”(Corporate Social Responsibility). Đầu tiên là học giả Keith Davis vào năm 1973 đã định nghĩa: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vượt rangoài việc thoả mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ”.Đến năm 1999 Archie Carroll đưa ra khái niêm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là: “sự mong đợi của xãhội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với cáctổchức tại một thời điểm nhất định”, so với khái niệm của Keith Davis thì khái niệm này rộng hơn. Vào năm 2004, hai học giả Matten và Moon khi bànvề vấn đề này lại cho rằng, “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một khái niệm chùm, bao gồm nhiều khái niệm khác nhau, như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp là từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường. Đó là một khái niệm động vàluôn được thử thách trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù”,

vv…

Về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo Hội đồng doanh nghiệp thế giới vì sự phát triển bền vững, đó là: “sự cam kết trong việc ứng xử hợp đạo lý và đóng góp vào sự phát triển kinh tế, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình họ, cũng như của cộngđồng địa phươngvà của toàn xã hội nói

chung”, vv… Hay gần đây, theo Nhóm Phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng Thếgiới (WB), “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp

39

đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những việc làm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên trong gia đình họ; cho cộngđồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung

của xã hội”, vv…

Như vây có thể thấy có nhiều cách hiểu khác nhau, tuy nhiên các quanđiểm đều thống nhất đó là khi nói đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp phải gắn liền với lợi ích của xã hội của cộng đồng. Điều này phù hợp với quan điểm của Đảng và nhà nước ta “phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển xã hội”, với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, văn minh”.

Trách nhiệm của doanh nghiệp hiện nay theo quan điểm của tác giả được phân thành hai loại trách nhiệm.

Thứ nhất, là trách nhiệm theo quan điểm đạo đức xã hội. Khác với luật pháp, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp gắn với đạo đức xã hội thường không rõ ràng, rất khó để phân tích. Tùy theo điều kiện ngoại cảnh, mỗi vùng đất, quốc gia có thể sẽ

có những quan điểm đạo đức khác nhau về một sự việc. Ví dụ như các doanh nghiệp nông nghiệp Mỹ thường sử dụng các sản phẩm biến đổi gene, trong khi đó cácđồng nghiệp châu Âu của họ lại phản đối các sản phẩm này. Thậm chí, cho dù cùng ở một địa điểm, nhưng quan điểm đạo đức của người dân có thể hoàn toàn thay đổi theo thời gian, ví dụ Việt Nam trước đâyrất ủnghộ sử dụng các sản phẩm hóa học nhằm gia tăng sản lượng nông nghiệp. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, xu hướng sửdụng các sản phẩm organic và chống việc lạm dụng chất bảo vệ thực vật đang thúcđẩy tới việc cho rằng sử dụng các sản phẩm trước đây là xấu xa.

Thứ hai, là trách nhiệm của doanh nghiệp theo pháp luật, đây là loại trách nhiệm rõ ràng nhất, được quy định trong các văn bản pháp luật vốn được soạn thảo kỹ lưỡng bởi các chuyên gia lập pháp. Trong các văn bản pháp luật đó đã quy định minh bạch các mong muốn của nhà nước đối với doanh nghiệp, các cách ứng xửmà doanh nghiệp cần tuân theo trong các tình huống khác nhau và hình phạt dành cho việc không làm theo các cách ứng xử đó. Loại trách nhiệm này hiện nay đã được quy định ở một số văn bản pháp luật: Luật BVMT, Luật Doanh nghiệp, vv… và các văn bản quy định chi tiết thi hành các luật này.

40

2.1.1.2. Trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường

Theo quan điểm của các nhà xã hội học thì trách nhiệm xã hội là cam kết của doanh nghiệp về tinh thần, đạo đức, văn hoá đối với toàn xã hội. Trong hoạt động của mình các doanh nghiệp phải thực hiện trách nhiệm xã hội, tứclà thực hiện những hành vi phù hợp với lợi ích chung của toàn xã hội, khi đó doanh nghiệp sẽ được xã hội ủng hộ, ngược lại nếu hành vi của doanh nghiệp đi ngược với lợi ích chung thì doanh nghiệp sẽ bị xã hội lên án. “Những thay đổi trong quan niệm của công chúng sẽ là yếu tố thiết yếu dẫn tới những thay đổi trong hoạt động BVMT của các doanh nghiệp.”57

Trong những năm trước đây khi mà việc thông tin liên lạc thường khó khăn. Các khách hàng thường chỉ biết được tên sản phẩm và nhà sản xuất sản phẩm đó mà không hề biết sản phẩm đó được tạo ra như thế nào. Tận dụng việc này các nhà sản xuất có thể thực hiện các thủ thuật nhằm tiết kiệm tối đa chi phí như loại bỏ các tiêu chuẩn vềmôi trường nơi đặt nhà máy. Tuy nhiên, việc phổbiến các phương tiện truyền thông và báo chí thì các hành động như vậy thường sẽ trở thành đề tài để truyền tải. Những thông tin đó ngày nay dể dàng lan truyền tới công chúng, và tác động đến niềm tin, sự kỳ vọng của người dân đối với doanh nghiệp, đồng thời gây trở ngại cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Do đó, những doanh nhân, những người nhạy cảm với thời cuộc đã quyết địnhgiảm bớt mâu thuẫn đang còn tồn tại giữa các doanh nghiệp với xã hội bằng cách xây dựng một hình ảnh phù hợp với các ý muốn của xã hội hơn.

Nói cách khác, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về môi trường được cho làxuất phát từmong muốn thu hẹp các mâu thuẫn giữa người tiêu dùng và bản thân doanh nghiệp. Dù vậy, việc thiếu đi các quy định về trách nhiệm BVMT của doanh nghiệp sẽ dẫn đến việc thực hiện mang tính hình thức nhằm mục đích quảng bá sản phẩm chứ không thực sự vì môi trường, thậm chí là cả trường hợp doanh nghiệp vì mục đích lợi nhuận mà thực hiện các hành vi phá hoại môi trường sống. Tuy nhiên,

57 Jared Diamond,Sụp Đổ: Các Xã Hội ĐãThất Bại Hay Thành Công Như Thế Nào, Penguin Books, 2011, chương “Các doanh nghiệp lớn và môi trường: Điều kiện khác nhau, hậu quả khác nhau”, trang 485

41

trong thời gian gần đây, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp từ chỗ được coi là một công việc tình nguyện đang dần dần được hệ thống hóa, quy chuẩn hóa và được quy định trong hệ thống văn bản pháp luật ở tất cả các cấp từ quốc gia cho đến quốc tế.

Trách nhiệm BVMT của doanh nghiệp không chỉ là nghĩ vụ, bổn phận mà còn là vấn đề tự nhận thức,tức là bản thân doanh nghiệp luôn phải xem việc BVMT là một yêu cầu bắt buộc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải nhânthức được môitrườngổn định làmột trong yếu tố quan trong cho sự phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự canh tranh khốc liệt, các doanh nghiệp tìm cách tăng thu giảm chi, dẫn đến nhiều doanh nghiệp không quan tâm đến việc BVMT. Thậm chí để đỡ tốn kém nhiều doanh nghiệp còn có những hành vi vi phạm như xả nước thải, khí thải chưa qua xử lý ra môi trường.

Nhận thức đúng về trách nhiệm xã hội trong việc BVMT của doanh nghiệp rất qua trọng đối với bản thân mỗi doanh nghiệp. Khi nhận thức đúng doanh nghiệp sẽcó những chiến lược, kế hoạch kinh doanh phù hợp với pháp luật, với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đặc biệt, nếu hoạt động của doanh nghiệp hướngđến mục tiêu phát triển bền vững, việc BVMT sẽ giúp doanh nghiệp tăng cường niềm tin của xã hội. Điều này không chỉ nâng cao uy tín thương hiệu mà còn mở ra nhiều cơ hội để doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, thâm nhập thị trường mới và nguồn thu lớn cho doanh nghiệp. Để BVMT các doanh nghiệp cần ứng dụng các tiến bộ của khoa học công nghệ, sử dụng năng lượng tái tạo, xây dựng các khu công nghệ cao, áp dụng quy trình nuôi, trồng các sản phẩm sạch, khái thác tài nguyên thiên nhiên hợp lý, vv…

Quan việc phân tích khái niệm trách nhiệm hiểu theo nghĩa tích cực cho thấy đó chính là nghĩa vụ mà chủ thể tham gia quan hệ pháp luật buộc phải thực hiện, là vấn đề tự ý thức trong hoạt động của mỗi người, tự giác thức hiện những nghĩa vụ, bổn phận của mình.

Từ những nội dung trên có thể đưa ra khái niệm trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc BVMT theo nghĩa tích cực như sau: “Là tổng thể các quy phạm pháp luật

42

điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp nhằm thực hiện những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp. Cải thiện môi trường, đảmbảocân bằng sinh thái”. Tuy nhiên, bên cạnh khía cạnh tích cực, trách nhiệm còn mang một ý nghĩa tiêu cực: đó là hệ thống các chế tài mà nhànước quy định để xử lýcác cá nhân, tổ chức cóhành vi vi phạm pháp luật

Trong lĩnh vực BVMT, trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp có hành vi vi phạm, bao gồm:

– TNHC áp dụng đối với doanh nghiệp có hành vi VPHC trong lĩnh vực BVMT theo quy định của Luật Xử lý VPHC năm 2012 (sửa đổi bổ sung năm 2020).

-TNHS áp dụng đối với doanh nghiệp có hành vi phạm tội về môi trường theo quy định của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

– TNDS áp dụng đối với doanh nghiệp vi phạm pháp luật BVMT gây thiệt hại. Việc xácđịnhbồi thường thiệt hại căn cứ theo các quy định của Luật BVMT năm 2020 và BLDS 201558.

Trong phạm vi luận án này, NCS chỉ tập trung phân tích trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT với nghĩa tiêu cực, cụ thể là những hậu quả pháp lý mà doanh nghiệp phải gánh chịu khi vi phạm các quy định pháp luật trong lĩnh vực BVMT.

2.1.2. Khái niệm, đặc trưng của pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

2.1.2.1. Khái niệm pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Trong một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài, thuật ngữ “trách nhiệm” mang nhiềusắcthái khác nhau. Ví dụ, trong tiếng Pháp, từ “responsabilité” chỉ xuất hiện vào cuối thế kỷ XVII và được Viện Hàn lâm Pháp chính thức công nhận vào năm 1798. Theo nghĩa thông thường, “responsabilité” được hiểu là “nghĩa vụ phải đảm bảo cho một sốhành vi”. Thuật ngữ này thường được sử dụng tương đương với “obligation”

58 Nguyen Duy Phuong, Nguyen Duy Thanh, Law on Corporate Social Responsibility for Consumers in Vietnam

https://doi.org/10.36128/priw.vi39.353

43

(nghĩa vụ) và “devoir” (bổn phận), tuy nhiên, ý nghĩacủacác thuật ngữ này không hoàn toàn tương đồng. Trong tiếng Anh, ngoài “responsibility”, thuật ngữ pháp lý “liability” cũng đượcsử dụng rộng rãi, tương đương với “obligation” (nghĩavụ)và “debt”(nợphải trả).”

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu nhận định rằng trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp khi vi phạm quy định về BVMT là hệ thống các chế tài mà CQNN có thẩm quyền áp dụng đối với cá nhân, tổ chức nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật vàgây ra những hậu quả bất lợi về vật chất, tinh thần cho chủ thể vi phạm đó.“Những hậu quả pháp lý bất lợi này là những biện pháp cưỡng chế được quy định trong bộphận chế tài của các quy phạm pháp luật tương ứng59; Hay một cách hiểu khác vềtrách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT, các học giả này cho rằng mối quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp vi phạm pháp luật mang tính đặc thù “trong đó nhà nước (thông qua cơ quan có thẩm quyền) có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt được quy định ở chế tài quy phạm pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật và chủ thể đó phải gánh chịu hậu quả bất lợi về vật chất, tinh thần do hành vi của mình gây ra60. Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT thể hiện một quan hệ pháp lý đặc biệt giữa nhà nước và doanh nghiệp vi phạm pháp luật. Trong quan hệ này, nhà nước có quyền và nghĩavụáp dụng các biện pháp pháp lý để xử lý hành vi vi phạm của doanh nghiệp, đồng thời bảo vệ lợi ích công cộng. Còn doanh nghiệp có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật và chịu trách nhiệm về những hậu quả do hành vi vi phạm gây ra “Trách nhiệm pháp lý dẫn tới nghĩa vụ sửa chữa những thiệt hại mà hành vi của mình gây ra cho bên liên quan, thiệt hại này cũng có thể đến từ hành vi của người mà mình chịu trách nhiệm giám sát gây ra. trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT cũng cóthểgắn liền với một hình phạt do pháp luật quy định61.

59 Hoàng Thị Kim Quế (2015), “Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật”, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội tr.397.

60 Nguyễn Minh Đoan (2010), “ Giáo trình lý luận về nhà nước và phápluật”,Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 516

61 Nguyễn Văn Quân (2018), “Góp phần nhận thức lại về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp có hành vi gây ONMT dưới góc độ lý luận”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 34, Số 1 (2018), tr.05

44

Như vậy, về nguyên tắc “doanh nghiệp có hành vi vi phạm, gây ONMT thì phải chịu trách nhiệm pháp lý và ngược lại trách nhiệm pháp lý chỉ áp dụng cho doanh nghiệp có có hành vi gây ONMT62.

Xuất phát từ nguyên tắc chung, trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp có hành vi vi phạm trong lĩnh vực BVMT được hình thành từvi phạm pháp luật theo hợp đồng (hành vi pháp lý); và vi phạm pháp luật ngoài hợp đồng bao gồm: vi phạm pháp luật (hình sự, hành chính, dân sự vv… )63.

Trong phạm vi Luận án tập trung phân tích trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT xuất phát từquan hệngoài hợp đồng bao gồm: (i) TNHC, (ii) TNHS , (iii) TNDS.

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật về BVMT, doanh nghiệp sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý. Việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với doanh nghiệp vi phạm BVMT có hai mục tiêu chính:Thứnhất, buộc doanh nghiệp phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả và chịu các chế tài pháp luật tương ứng với mức độ vi phạm. Thứ hai, việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc răn đe các doanh nghiệp khác, góp phần ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT từ phía những chủ thể khác.

Theo Bentham, phòng ngừa vi phạm là lý do cốt lõi để con người áp dụng trách nhiệm pháp lý. Ông lập luận rằng, nếu coi vi phạm pháp luật là một hiện tượng đơn lẻ, không lặp lần thứ hai lại thì việc áp dụng trách nhiệm pháp lý sẽ trở nên vô nghĩa. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, vi phạm pháp luật thường có xu hướng lây lan. Khi không có biện pháp răn đe, nhiều người sẽ có động cơ thực hiện hành vi tương tự. Do đó, truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với người vi phạm không chỉ nhằm xử lý hành vi sai trái mà còn nhằm mục tiêu phòng ngừa, bảo vệ xã hội khỏi những tác hại tiềm ẩn. Quan điểm của Bentham nhấn mạnh rằng, việc áp dụng trách nhiệm pháp lý không phải là hành động trả thù mà là một biện pháp cần thiết để duy trì trật tự xã hội64

62 Huỳnh Thị Sinh Hiền (2013), “Vấn đề lý luận về vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp có hành vi gây ONMT trong quy định của pháp luật Việt Nam” , Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

, Số 25 (2013), tr. 24-29

63 Nguyễn Văn Quân (2018), “ tlđd”, tr.06.

64 Gerald J. Postema (1986), “Bentham and the Common Law Tradition”, Oxford Oxford University Press.

45

Theo một số nghiên cứu ở Việt Nam, “Trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi (sự trừng phạt) đối với chủ thể vi phạm pháp luật, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước với các chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được pháp luật quy định”65.

Như vậy, trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp có hành vi vi phạm trong lĩnh vực BVMT là quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà nước với doanh nghiệp vi phạm pháp luật. Trong quan hệ này, nhà nước với tư cách là đại diện cho lợi ích công cộng có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định ở chế tài pháp luật đối với doanh nghiệp vi phạm và doanh nghiệp phải gánh chịu hậu quả bất lợi về vật chất, tinh thần do hành vi vi phạm pháp luật của mình.

2.1.2.2. Đặc trưng trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệmôi trường

Nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT cho thấy có những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, điều kiện tiên quyết để truy cứu trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp là phải xác định rõ doanh nghiệp đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về BVMT. Tùy theo tính chất, mức độ của hành vi mà doanh nghiệp có thể VPHC, vi phạm hình sự hoặc vi phạm dân sự và phải chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng được quy định trong các văn bản pháp luật (BLDS năm 2015; BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Luật Xử lý VPHC năm 2012, (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Thứhai, việc truycứutrách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT được áp dụng theo thủ tục hành chính (TNHC) do cơ quan hành chính thực hiện hoặc theo trình tự xét xử của Tòa án (TNHS, TNDS).

Khi doanh nghiệp có hành vi vi phạm hành chính, theo quy định của Luật Xửlý VPHC, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ lập biên bản, ra quyết định xử phạt hành chính. Nếu hành vi vi phạm của doanh nghiệp đủ yếu tố cấu thành tội phạm, cơ

65 Nguyễn Minh Đoan, Giáo trình lý luận về Nhà nước và pháp luật, trường Đại học Luật Hà nội, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, 2017. tr 505.

46

quan có thẩm quyền sẽ tiến hành khởi tố vụ án hình sự, điều tra, truy tố và xét xử theo quy định của Bộ luật TTHS. Trường hợp doanh nghiệp gây thiệt hại về tài sản cho cá nhân hoặc tổ chức khác, người bị hại có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án dân sự giải quyết theo quy định của Bộ luật TTDS.

Thứ ba, trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT không loại trừ trách nhiệm pháp lý của cá nhân trong doanh nghiệp vi phạm.

Thứ tư,đốitượng tác động củapháp luậtvềtrách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT là rất đa dạng,đó có thể là yếu tố vậtchất hoặc phi vật chất có thể là yếu tố tự nhiên hoặc nhân tạo. Tùy thuộc vào yếu tố nào mà hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp tác động đến sẽdẫn đến những hậu quảpháp lýkhác nhau.

Thứ năm, pháp luật vềtrách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT có liên quan chặt chẽvớicác quyđịnhcủa pháp luật về tiêu chuẩn môi trường “Được hiểu là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầukỹthuật và quản lý được các CQNN và các tổ chức côngbốdưới dạngvăn bản để áp dụng BVMT”66. Hành vi vi phạm pháp luật BVMT là hành vi làm suy thoái môi trường tự nhiên hoặc gây ô nhiễm môi trường, cụ thể là làm thay đổi thành phần, tính chất của môi trường vượt quá các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường đã được quy định67

Thứ sáu, pháp luật về TNHS, TNDS và TNHC của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT có mối liên hệ mật thiếtvớinhau. “Đây chính là một trong những đặc trưng cơ bảncủapháp luậtvề trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT”68. Cụ thể, pháp luật về TNDS và TNHS của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT đều quy định các biện pháp xử lý như: buộc chấm dứt hành vi vi phạm, buộc khắc phục hậu quả. Ngoài ra, khi truy cứu TNHS của doanh nghiệp, Tòa án có thểđồng thời truy cứu TNDS của doanh nghiệp nếu hành vi vi phạm gây ra thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân.

2.2. Khung pháp luật điều chỉnh và các loại trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

2.2.1. Pháp luật điều chỉnh về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

KHO TÀI LIỆU.rar\TÀI LIỆU 2025 – RAR archive, unpacked size 71,410,505 bytesTRACH NHIÊM PHAP LÝ CỦA DOANH NGHIÊP TRONG BAO VE MOI TRƯƠNG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *