NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ XÉT NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN ĐỒNG NAI-2 GIAI ĐOẠN 2024 – 2025

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ XÉT NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN ĐỒNG NAI-2 GIAI ĐOẠN 2024 – 2025

TÓMTẮT

Đề án nâng cao chất lượng dịch vụ xét nghiệm ở những người bệnh đến khám chữa bệnh tại Bệnh viện Đồng Nai-2 giai đoạn 2024-2025. Tổng số xét nghiệm là 600 nẫu chủ yếu là xét nghiệm thường quy chiếm 95% và 97,2% được tiếp nhận và 2,8% bịtừ chối. Chất lượng dịch vụ quy trình lấy mẫu trước xét nghiệm của bệnh viện đạt tiêu

chuẩn chất lượng CHẤP NHẬN ĐƯỢC. Tỷ lệ mẫu bệnh phẩm máu đạt yêu cầu chiếm 94,9%. Tỷ lệ mẫu bệnh phẩm nước tiểu khi tiếp nhận đạt 96,4%. Khâu hành chính của quy trình lấy mẫu trước xét nghiệm được đánh giá tốt,điểm Giá trị Sigma > 4 điểm. Khâu lấy mẫu của quy trình lấy mẫu trước xét nghiệm chấp nhận được, điểm giao động từ 3,4-3,9 điểm Giá trị Sigma. Khâu vận chuyển của quy trình lấy mẫu trước xét nghiệm chấp nhận được, điểm giao động từ 3,5-3,9 điểm Giá trị Sigma. Đề xuất giải pháp can thiệp nâng cao chất lượng dịch vụ lấy mẫu trước xét nghiệm của người bệnh khám vàchữa bệnh tại Bệnh viện Đồng Nai-2: Tập huấn quy trình xét nghiệm lấy mẫu xét nghiệm của tất cả các loại xét nghiệm cho nhân viên viên y tế có liên quan. Giám sát thường xuyên thực hiện quy trình xét nghiệm lấy mẫu xét nghiệm của tất cả các loại xét nghiệm.

ABSTRACT

The project to improve the quality of testing services for patients coming to Dong Nai-2 Hospital for examination and treatment in the period of 2024-2025. The total number of tests is 600 samples, mainly routine tests, accounting for 95% and 97.2% were accepted and 2.8% were rejected. The quality of the hospital’s pre-test sampling process service meets ACCEPTABLE quality standards. The percentage of qualified blood specimens accounts for 94.9%. The percentage of received urine specimens reaches 96.4%. The administrative stage of the pre-test sampling process is rated as good, with a Sigma Value score > 4 points. The sampling stage of the pre-test sampling process is acceptable, with scores ranging from 3.4-3.9 Sigma Value points. The transportation stage of the pre-test sampling process is acceptable, with scores ranging from 3.5-3.9 Sigma Value points. Proposing intervention solutions to improve the quality of pre-test sample collection services for patients examined and treated at Dong Nai Hospital-2: Training on the sample collection testing process for all types of tests for relevant medical staff. Regularly monitoring the implementation of the sample collection testing process for all types of tests for relevant medical staff.

viii

I. MỞ ĐẦU

1.1. TÍNH CẤP THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

Trong y học, xét nghiệm là một phần không thể thiếu trong việc chẩn đoán, điều trị bệnh lý. Đây được coi là một nghiệp vụ của ngành y, được thực hiện bởi các thiết bị,

máy móc hiện đại. Các mẫu bệnh phẩm thường là máu, nước tiểu, dịch…

Hàng năm, tỷ lệ người bệnh đến khám chữa bệnh có số lượng lớn đồng nghĩa với việc tỷ lệ xét nghiệm lớn. Vì vậy, quy trình lấy mẫu được coi là quan trong trong quátrình xét nghiệm, khi mẫu chính xác thì kết quả điều trị chính xác và việc điều trị bệnh lý đạt được hiệu quả cao. Năm 2022, tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên, tác giảNguyễn Thị Lan Anh và Nguyễn Thị Thu Hương đánh giá thực trạng tuân thủ quy trình

lấy mẫu trước xét nghiệm có tỷ lệ 84,5% tuân thủ quy trình lấy mẫu (Nguyễn Thị Lan Anh and Nguyễn Thị Thu Hương 2022). Theo Giuseppe Lippi, các hoạt động tiền phân tích, đặc biệt là những hoạt động liên quan trực tiếp đến việc lấy và xử lý mẫu, là những bước dễ ảnh hưởng nhất trong suốt quá trình xét nghiệm. Việc nhận các mẫu không phùhợp là chuyện bình thường trong thực hành phòng thí nghiệm và là một vấn đề nghiêm trọng, do độ tin cậy của kết quả xét nghiệm có thể bị tổn hại bất lợi sau khi phân tích các mẫu này. Đặc biệt, những mẫu bệnh phẩm là máu cần phải lưu ý hơn. Trong nghiên cứu tác giả cho thấy, tất cả những vấn đề tiền phân tích quan trọng đều được thực hiện bằng một cuộc điều tra nhằm xác định sự khác biệt trong kết quả xét nghiệm do ống máu ban đầu được làm đầy không đầy đủ và đã xác định được sai lệch có ý nghĩa lâm sàng trong kết quả xét nghiệm khi các ống được rút ở mức dưới 89% tổng lượng làmđầy trong thời gian Thromboplastin từng phần được kích hoạt, ít hơn hơn 78% đối với fibrinogen và dưới 67% đối với yếu tố đông máu VIII, trong khi thời gian protrombin và kháng protein C hoạt hóa vẫn tương đối đáng tin cậy ngay cả trong các ống được rút ra ở mức 67% thể tích danh nghĩa.(Lippi et al. 2012).

Mặc dù có máy móc hiện đại thực hiện các phương pháp xét nghiệm, nhưng yếu tố ảnh hưởng đến mẫu xét nghiệm là quy trình lấy mẫu của nhân viên y tế. Đây là yếu tố quan trọng quyết định kết quả có chính xác hay không. Bên cạnh đó, hiện nay có rất nhiều bệnh lý, bệnh dịch truyền nhiễm cần được xác định và chẩn đoán bởi kết quả xét nghiệm xét nghiệm. Nếu quy trình lấy mẫu trước xét nghiệm xảy ravấn đề nhưsai mẫu,

1

lấy mẫu không đảm bảo chất lượng thì sẽ gây ảnh hưởng lớn trực tiếp đến những người bệnh đến khám và chưa bệnh. Vậy làm như thế nào để nâng cao chất lượng của dịch vụxét nghiệm? Câu hỏi này luôn được đề cập đến và nhu cầu trả lời ngày càng cấp thiết. Chính vì thế, chúng tôithực hiện đề án“Nângcao chất lượng giaiđoạn lấy mẫu trước xét nghiệm Bệnh viện Đồng Nai-2 năm 2024” nhằm đánh giá và khảo sát chất lượng, quy trình lấy mẫu trước xét nghiệm tại cơ sở y tế này.

Xét nghiệm y học là nền tảng quan trọng trong công tác chẩn đoán, theo dõi và

điều trị bệnh. Khoảng 70–80% các quyết định lâm sàng hiện nay phụ thuộc vàokết quảxét nghiệm. Tuy nhiên, theo nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, giai đoạn trước xét

nghiệm (tiền phân tích) lại là giai đoạn xảy ra lỗi nhiều nhất, chiếm đến 60–70% tổng lỗi xét nghiệm (Đặng Thị Bích Hảo, 2019; Lippi et al., 2012). Những lỗi này, như sai thông tin bệnh nhân, sai kỹ thuật lấy mẫu, mẫu bị tan huyết hoặc không đủ thể tích… cóthể dẫn đến chẩn đoánsai lệch, trì hoãn điều trị, tăng chi phí và giảm sự hài lòng của người bệnh.

Trong bối cảnh bệnh viện ngày càng hiện đại hóa, việc đầu tư trang thiết bị xét nghiệm hiện đại là điều tất yếu, nhưng nếu quy trình lấy mẫu chưađược chuẩn hóa, kiểm soát và cải tiến liên tục thì chất lượng xét nghiệm sẽ không đồng đều, khóđạt độtin cậy cao. Chính vì vậy, việc đánh giá, kiểm soát và cải tiến chất lượng dịch vụ xét

nghiệm – đặc biệt là giai đoạn trước xét nghiệm là vô cùng cấp bách, có ý nghĩa sống còn trong thực hành y tế.

Xuất phát từ thực tiễn công tác tại Bệnh viện Đồng Nai-2, tác giả nhận thấy sốlượng mẫu xét nghiệm bị từ chối tuy không lớn (2,8%) nhưng vẫn tồn tại rủi ro tiềm ẩn, chủ yếu tập trung ở giai đoạn lấy và vận chuyển mẫu.

Tác giả cũng ghi nhận rằng mặc dù nhân viên y tế đều có chuyên môn, nhưng chưa có chương trình tập huấn định kỳ, bài bản về quy trình lấy mẫu phù hợp từng loại xét nghiệm, dẫn đến chất lượng mẫu không đồng đều, ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.

Tỷ lệ lỗi tiền phân tích trong thực tế có xu hướng gia tăng nếu không được kiểm soát bởi các công cụ đánh giá như Sigma metrics, trong khi tại đơn vị, việc áp dụng hệthống đánh giá chất lượng còn hạn chế.

2

Bệnh viện đang trong giai đoạn hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 15189, việc nghiên cứu, đánh giá và đề xuất giải pháp cải tiến cụ thể cho quy trình lấy mẫu là một bước đi cần thiết, thiết thực và khả thi.

Cuối cùng, đề án còn góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, tăng độ tin cậy của kết quả xét nghiệm, cải thiện hình ảnh và uy tín chuyên môn của bệnh viện trong khu vực.

1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN 1.2.1. Mục tiêu chung

– Đề án nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ xét nghiệm ở những người bệnh đến

khám chữa bệnh tại Bệnh viện Đồng Nai-2 giai đoạn 2024-2025 1.2.2. Mục tiêu cụ thể

– Mô tả thực trạng chất lượng của dịch vụ xét nghiệm tại Bệnh viện Đồng Nai-2

năm 2024

– Nâng cao chấtlượngdịch vụxét nghiệmtạiBệnh viện ĐồngNai-2 giai đoạn

2024 – 2025

1.2.3. Nhiệm vụ của đề án

– Thu thập dữ liệu về quy trình lấy mẫu trước xét nghiệm tại Bệnh viện Đồng Nai-

2.

– Xử lý dữ liệu để thu về kết quả tỉ lệ phần trăm việc tuân thủ quy trình lấy mẫu

trước xét nghiệm tại Bệnh viện Đồng Nai-2.

– Chọn ra nhóm đối tượng nghiên cứu phù hợp, đảm bảođầyđủcác tiêu chí đề ra. – Đánh giá, xác định một số yếu tố liên quan ảnh hưởng trực tiếp đến quy trình lấy

mẫu trước xét nghiệm.

– Phát hiện các vấn đề trong chất lượng dịch vụ xét nghiệm, đề xuất các giải pháp

nâng cao chất lượng dịch vụ xét nghiệm 1.3. PHẠM VI CỦA ĐỀ ÁN

1.3.1. Đối tượng

– Dân số mục tiêu: Nhân viên y tế trực tiếp thực hiện quy trình lấy mẫu trước xét

nghiệm trên người bệnh đến khám chữa bệnh tại Bệnh viện Đồng Nai-2.

3

– Dân số chọn mẫu: Những nhân viên y tế trực tiếp thực hiện quy trình lấy mẫu trước xét nghiệm trên người bệnh đến khám chữa bệnh tại Bệnh viện Đồng Nai- 2 trong năm 2024.

1.3.2. Địa điểm

– Đề án thực hiện tại Bệnh viện Đồng Nai-2 1.3.3. Thời gian

– Đề án thực hiện tại Bệnh viện Đồng Nai-2 trong khoảng thời gian 04 tháng, từ

ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 7 năm 2024. Cụ thể:

o Từ ngày 01 – 30 tháng 4: Khảo sát thực trạng chất lượng dịch vụ trước xét

nghiệm

o Từ ngày 01 – 31 tháng 5: Phân tích thực trạng chất lượng dịch vụ trước xét

nghiệm

o Từ ngày 01 – 30 tháng 6: Tiến hành cải tiến chất lượng dịch vụ trước xét

nghiệm

o Từ 01-31 tháng 7: Viết báo cáo thực hiện đề án

4

PHẦN II. NỘI DUNG ĐỀ ÁN

2.1. CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

2.1.1. Căn cứ pháp lý

Thông tư số 01/2013/TT-BYT: Hướng dẫn quản lý chất lượng xét nghiệm tại các cơ sở y tế, quy định cụ thể về quy trình trước xét nghiệm, thực hành chuẩn (SOP), yêu cầu về nhân lực, trang thiết bị, quy trình nội kiểm và ngoại kiểm.

Thông tưsố49/2018/TT-BYT: Quy định vềquản lý xét nghiệm tại các cơsởkhám chữa bệnh, bao gồm xét nghiệm nhanh (Rapid Test) và xét nghiệm tại chỗ (POCT).

Một số khái niệm liên quan:

Phòng xét nghiệm là là đơn vị trong các cơ sở y tế, nơi tiếp nhận và xử lý các mẫu xét nghiệm từ người bệnh hoặc các nguồn khác, nhằm cung cấp thông tinhỗ trợcho quá trình chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học, và giảng dạy.(Bộ Y Tế (2013))

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ XÉT NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN ĐỒNG NAI-2 GIAI ĐOẠN 2024 - 2025
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ
XÉT NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN ĐỒNG NAI-2
GIAI ĐOẠN 2024 – 2025

Quản lý chất lượng xét nghiệm là cáchoạt động phối hợp để địnhhướng và kiểm soát của phòng xét nghiệm về chất lượng xét nghiệm, bao gồm lập kế hoạch, kiểm soát, bảo đảm và cải tiến chất lượng xét nghiệm.(Bộ Y Tế (2013)).

Quy trình thực hành chuẩn (SOP) Là bộ hướng dẫn chi tiết và bắt buộc phải tuân thủ để đảm bảo tất cả các bước trong quy trình xét nghiệm được thực hiện một cách nhất quán và đúng chuẩn.(Bộ Y Tế (2013))

Quy trình trước xét nghiệm bao gồm tất cả các bước từ khi tiếp nhận yêu cầu xét nghiệm, chuẩn bị cho người bệnh, thu thập và bảo quản mẫu bệnh phẩm, đến khi mẫu được vận chuyển đến phòng xét nghiệm để thực hiện xét nghiệm..(Bộ Y Tế (2013))

Khách hàng là bất kỳtổ chức hay cá nhân nào nhận kết quả xét nghiệm hoặc dịch vụ từ phòng xét nghiệm. Khách hàng có thể là người bệnh, bác sĩ lâm sàng, bệnh viện, cơ sở y tế, hoặc các tổ chức khác có nhucầu sử dụngkết quả xét nghiệm để phục vụ cho công tác chẩn đoán, điều trị, hoặc nghiên cứu. Khách hàng có thể ở trong hoặc ngoài cơ sở khám chữa bệnh, và họ mong đợi kết quả xét nghiệm chính xác, đáng tin cậy và kịp thời để hỗ trợ quá trình ra quyết định y tế.(Bộ Y Tế (2013))

Xét nghiệm tại chỗ (Point of Care Testing – POCT) là các xét nghiệm được thực hiện bên ngoài phòng xét nghiệm truyền thống, thường ngay tại vị trí chăm sóc bệnh

5

nhân như khu vực cấp cứu, phòng khám, giường bệnh, hoặc các cơ sở y tế cộng đồng. Các xét nghiệm này được thực hiện bởi nhân viên y tế, nhằm cung cấp kết quả nhanh chóng để hỗ trợ việc chẩn đoán, theo dõi và điều trị bệnh nhân kịp thời. Xét nghiệm tại chỗ thường áp dụng các phương pháp đơn giản, tiện lợi và cho kết quả trong thời gian ngắn, giúp giảm thời gian chờ đợi và cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe, đặc biệt trong các trường hợp cấp cứu hoặc khi cần đưa ra quyết định y tế nhanh chóng.(Bộ Y Tế (2018))

Xét nghiệm nhanh (Quick Test hoặc Rapid Test) là phương pháp xét nghiệm cho kết quả trong thời gian ngắn, thường chỉ sau vài phút đến vài giờ kể từ khi thực hiện. Các xét nghiệm này được thiết kế để phát hiện nhanh các tác nhân gây bệnh hoặc các chất chỉ thị sinh học cụ thể trong mẫu bệnh phẩm như máu, nước tiểu, dịch tiết cơ thể. Xét nghiệm nhanh thường được sử dụng trong các tình huống khẩn cấp, tại điểm chăm sóc (như xét nghiệm tại chỗ) hoặc ở các môi trường cần quyết định điều trị nhanh chóng, như phòng cấp cứu, trung tâm sàng lọc, hoặc khu vực có dịch bệnh. Chúng đóng vai tròquan trọng trong việc kiểm soát bệnh tật, giúp bác sĩ và nhân viên y tế đưa ra quyết định lâm sàng kịp thời.(Bộ Y Tế (2018))

Mẫu bệnh phẩm: là các mẫu thu được từ cơ thể người để sử dụng trong quá trình xét nghiệm nhằm mục đích chẩn đoán, theo dõi hoặc nghiên cứu bệnh lý. Các mẫu bệnh phẩm bao gồm máu, huyết thanh, huyết tương, nước tiểu, phân, dịch tiết cơ thể(nhưdịch mũi họng, đờm, dịch màng phổi, dịch màng bụng), và các loại mô hoặc tế bào khác từ cơ thể người.(Bộ Y Tế (2017))

Chất lượng (Quality): Là mức độ tập hợp các đặc tính vốn có của một sản phẩm, dịch vụhay phương pháp xét nghiệm có khảnăng đápứng những nhu cầu. (BùiThịHoa, Nguyễn Thùy Liên, Lê ThịThu Hà, Nguyễn Thành Nam, VũThịHiền (2022). n.d.)

Hệ thống quản lý chất lượng (Quality Management System – QMS) là một bộ các chính sách, quy trình, thủ tục và tài liệu được thiết lập để định hướng và kiểm soát mọi hoạt động của một tổ chức nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ cung cấp. Trong lĩnh vực xét nghiệm y học, hệ thống quản lý chất lượngđảm bảo rằngtất cả các khâu từ thu thập mẫu, phân tích, đến báo cáo kết quả đều đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng cao nhất. Hệ thống này bao gồm việc lập kế hoạch, thực hiện, kiểm soát, đảm bảo,

6

và cải tiến liên tục các quy trình xét nghiệm nhằm đảm bảo kết quả xét nghiệm chính xác, đáng tin cậy, và kịp thời, đồng thời đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các quyđịnh pháp lý liên quan.(Nguyễn Thị Thúy Liên, Nguyễn Thị Phương Linh, Lê Thị Thu Hà (2022). n.d.)

Chính sách chất lượng (Quality Policy) là tuyên bố chính thức của lãnh đạo cao nhất của một tổ chức về ý đồ và định hướng chung liên quan đến chất lượng. Chính sách này thể hiện cam kết của tổ chức đối với việc duy trì và cải tiến chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ, đồng thời đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và tuân thủ các tiêu chuẩn và quy định pháp lý. Trong bối cảnh xét nghiệm y học, chính sách chất lượng đặt ra các mục tiêu cụ thể về chất lượng xét nghiệm, cam kết của phòng xét nghiệm đối với độchính xác, độ tin cậy, và tính kịp thời của kết quả xét nghiệm, cũng như cam kết tuân thủ các tiêu chuẩn chuyên môn và cải tiến liên tục các quy trình để nâng cao chất lượng dịch vụ. Chính sách chất lượng thường được truyền đạt rộng rãi đến toàn bộ nhân viên và được xem xét địnhkỳđểđảm bảo tính phù hợp và hiệu quả..(ISO 15189:2012, Medical Laboratories – Requirements for Quality and Competence, 2012)

Mục tiêu chất lượng (Quality Objectives) là các kết quả cụ thể mà một tổ chức mong muốn đạt được liên quan đến chất lượng, phù hợp với chính sách chất lượngđãđề ra. Các mục tiêu này thường được đo lường, định lượng và có thời gian cụ thể đểhoàn thành, nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ hoặc quy trình của tổ chức. Trong phòng xét nghiệm y học, mục tiêu chất lượng có thể bao gồm việc giảm tỷ lệ sai sót trong kết quả xét nghiệm, cải thiện thời gian trả kết quả, nâng cao độhài lòng của khách hàng, đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn xét nghiệm quốc tế, và tăng cường hiệu quả của các quy trình quản lý chất lượng. Các mục tiêu này phải rõ ràng,cụthể, khả thi và liên tục được theo dõi,đánh giá để đảm bảo phùhợp với định hướng phát triển củaphòng xét nghiệm..(Nguyễn Thị Thanh Loan, Nguyễn Xuân Lâm, Trần ThịThanh Huyền (2022). n.d.)

Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance – QA) là một phần của hệ thống quản lýchất lượng, tập trung vào việc xây dựng lòng tin rằng các yêucầu chất lượng sẽ được đáp ứng. Đảm bảo chất lượng bao gồm các hoạt động có kế hoạch và có hệ thống được thực hiện trong toàn bộ quá trình xét nghiệm, từ thu thập mẫu bệnh phẩm, phân tích,đến báo cáo kết quả, nhằm đảm bảo rằng mọi khía cạnh của quá trình đều tuân thủ các tiêu

7

chuẩn chất lượng đã đặt ra. Trong phòng xét nghiệm y học,đảm bảo chất lượngcó vai trò quan trọng trong việc phát hiện và ngăn ngừa sai sót, đảm bảo kết quả xét nghiệm chính xác, đáng tin cậy và kịp thời. Cáchoạt động đảm bảo chất lượng cóthể bao gồm đào tạo nhân viên, đánh giá nội bộ, tham gia các chương trình đánh giá chất lượng bên ngoài, chuẩn hóa quy trình thực hành chuẩn (SOP), và duy trì bảo dưỡng thiết bị xét nghiệm theo định kỳ.(Nguyễn Thị Thúy Liên, Nguyễn Thị Phương Linh, Lê Thị Thu Hà

(2022). n.d.)

Cải tiến liên tục (Continual Improvement) là quá trình lặp lại các hoạt động nhằm nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu chất lượng, tối ưu hóa hiệu quả và hiệu suất của hệ thống quản lý chất lượng. Cải tiến liên tục là một phần quan trọng của quản lý chất lượng, giúp tổ chức không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ, đảm bảo đáp ứng tốt hơn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Trong phòng xét nghiệm y học, cải tiến liên tục bao gồm việc thường xuyên đánh giá và điều chỉnh các quy trình xét nghiệm, cập nhật công nghệ và trang thiết bị, đào tạo và phát triển kỹ năng cho nhân viên, cũng như thực hiện các biện pháp cải tiến dựa trên kết quả đánh giá chất lượng nội bộvà phản hồi từkhách hàng. Mục tiêu củacải tiến liên tục là đảm bảo kết quảxét nghiệm ngày càng chính xác, nhanh chóng và đáng tin cậy hơn, đồng thời giảm thiểu sai sót và rủi ro trong quá trình xét nghiệm.(Nguyễn Thị Thanh Loan, Nguyễn Xuân Lâm, Trần Thị Thanh Huyền (2022). n.d.)

Kiểm tra chất lượng (Quality Control – QC) là một phần của quản lý chất lượng, tập trung vào việc thực hiện các yêu cầu chất lượng trong các quy trình và hoạt động cụthể. Kiểm tra chất lượng bao gồm việc theo dõi, kiểm soát và xác minh từng bước trong quá trình xét nghiệm nhằm đảm bảo kết quả xét nghiệm đạt được là chính xác, đáng tin cậy và tuân thủ các tiêu chuẩn quy định.(Nguyễn Thị Thanh Loan, Nguyễn Xuân Lâm, Trần Thị Thanh Huyền (2022). n.d.)

Nội kiểm tra (Internal Quality Control): Nội kiểm tra là các hoạt động được thực hiện hàng ngày trong phòng xét nghiệm để giám sát liên tục quy trình xét nghiệm, nhằm phát hiện và khắc phục lỗi kịp thời.(Bùi Thị Hoa, Nguyễn Thùy Liên, Lê Thị Thu Hà, Nguyễn Thành Nam, Vũ Thị Hiền (2022). n.d.)

Kỹ thuật chung lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm(Bộ Y Tế (2017) n.d.)

a. Lấy mẫu dịch ngoáy họng

8

• Yêu cầu bệnh nhân há miệng to.

• Dùng dụng cụ đè lưỡi nhẹ nhàng.

• Đưa tăm bông vào vùng hầu họng, miết và xoay tròn nhẹ nhàng 3-4 lần quanh 2

bên amidan và thành sau họng để thu thập dịch.

• Đặt tăm bông vào tuýp chứa 3ml môi trường vận chuyển

• Đảm bảo đầu tăm bông ngập hoàn toàn trong môi trường. Nếu cần, bẻ hoặc cắt

tăm bông để phù hợp với chiều dài tuýp. b. Lấy mẫu dịch tỵ hầu

• Yêu cầu bệnh nhân ngồi yên, hơi ngửa mặt. Trẻ nhỏ cần có người giữ.

• Nhân viên y tế đỡ cổ bệnh nhân, đưa tăm bông nhẹ nhàng vào mũi, đẩy và xoay

để tăm bông tiến sâu khoảng ½ độ dài từ cánh mũi đến dái tai.

• Nếu gặp lực cản, rút ra và thử mũi bên kia. Khi chạm đến thành sau họng mũi,

giữ tăm bông tại chỗ 5 giây.

• Từ từ xoay và rút tăm bông ra, đặt vào tuýp chứa môi trường vận chuyển, bẻ cán

tăm bông cho phù hợp. Đóng nắp và bảo quản ở 2-8°C. c. Lấy dịch nội khí quản

• Áp dụng cho bệnh nhân thở máy và có ống nội khí quản.

• Dùng ống hút dịch quađường nội khíquản, sau đó bơm tiêm hút dịch qua ống

đã đặt.

• Chuyển dịch vào tuýp nhựa chứa môi trường vận chuyển virus, đóng kín, bảo

quản ở 2-8°C.

d. Lấy máu tĩnh mạch

• Chọn vị trí lấy máu ở khuỷu tay, xác định tĩnh mạch.

• Quấn ga-rô quanh cánh tay và yêu cầu bệnh nhân nắm chặt tay.

• Khử trùng vị trí lấy máu bằng cồn 70 độ, chờ khô.

• Tiến hành rút máu với kim tiêm hoặc ống chân không. Sau khi đủ mẫu, tháo ga-

rô, rút kim và dùng gạc ép nhẹ lên vết chích.

•Bảo quản mẫu máu ở điều kiện thích hợp. e. Tách huyết thanh

• Để tuýp máu đứng 20-30 phút hình thành cục máu đông.

• Ly tâm ở tốc độ 3000-4000 vòng/phút trong 10-15 phút.

9

• Dùng pipet hút phần huyết thanh và chia vào các tuýp nhỏ 1.5ml. Đậy kín, quấn

nắp bằng parafin.

f. Lấy mẫu dịch ngoáy trực tràng

• Bệnh nhân nằm nghiêng trái, đùi gập sát bụng.

• Làm ướt tăm bông bằng nước muối vô trùng, luồn qua cơ vòng hậu môn và xoay

nhẹ.

• Đảm bảo đầu tăm bông có dính phân, cho vào tuýp chứa môi trường vận chuyển,

bẻ tăm bông vừa với chiều dài tuýp, đóng nắp chặt. g. Lấy mẫu phân

• Với phân sệt, lấy khoảng 4-5g, với phân lỏng, lấy khoảng 5ml.

• Nếu bệnh nhân táo bón, có thể bơm glycerin để đại tiện dễ hơn.

• Trẻ em có thể lấy mẫu bằng cách dùng tăm bông lấy phân trực tiếp từ hậu môn,

rồi cho vào tuýp chứa môi trường thích hợp. h. Lấy mẫu dịch não tủy

• Chỉ nhân viên y tế có kinh nghiệm lâu năm thực hiện.

• Dịch não tủy được hứng trực tiếp vào tuýp nắp xoáy, lấy ít nhất 0.5ml và thu thập

3 tuýp riêng biệt.

i. Lấy mẫu nước tiểu

• Hướng dẫn bệnh nhân lấy nước tiểu giữa dòng, tránh chạm vào bên trong lọ đựng

mẫu.

• Rửa sạch cơ quan sinh dục ngoài bằng xà phòng hoặc nước muối nếu cần.

•Với trẻ em, dùng túi lấy nước tiểu và chuyển sang lọ ngay sau khi thu thập. j. Lấy mẫu nốt phỏng và da

• Lấy vảy da tại vị trí tổn thương, chuyển vào dung dịch PBS hoặc nước muối sinh

lý.

•Đối với dịch nốt phỏng, lau sạch vùng da quanh nốt phỏng, làm vỡ nốt và lấy mẫu từ đáy tổn thương bằng tăm bông. Cho tăm bông vào môi trường vận chuyển và bẻ đầu tăm bông để vừa miệng tuýp.

10

2.1.2. Căn cứ cơ sở khoa học

Trong lĩnh vực y tế, chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể gây raảnhhưởng lớn đến tính mạng con người. Kết quả xét nghiệm được bác sĩ áp dụng nhiều trong việc chẩn đoán và phát hiện bệnh lý cho người bệnh để có hướng điều trị và chăm sóc đúng nhất, mang lại hiệu quả tốt nhất cho người bệnh. Vì thế, chất lượng dịch vụ trước, trong và sau xét nghiệm cần được nâng cao hơn.

Năm 2019, Đặng Thị Bích Hảo đã tiến hành nghiên cứu tại các khoa phòng của

Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Đặc biệt, khoa khám bệnh – nơi có lượng bệnh nhânđến

khám và chữa bệnh rất lớn – có tỷ lệ lỗi về chất lượng dịch vụ trước xét nghiệm chiếm hơn 20%. Tác giả đã đề xuất việc cần tập trung cải thiện chất lượng dịch vụ tại khoa nàyđể giảm thiểu sai sót. Các sai số trong giai đoạn trước xét nghiệm chiếm tới 70% tổng lỗi của toàn bộ quá trình xét nghiệm, ảnh hưởng từ 70% đến 80% đến chẩn đoán lâm sàng của bác sĩ. Nghiên cứu sử dụng thang sigma để đánh giá các chỉ số chất lượng giaiđoạn trước xét nghiệm. Mẫu máu và phiếu chỉ định xét nghiệm các xét nghiệm hóa sinh, công thức máu và đông máu được thu thập tại Khoa Xét nghiệm của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Trong thời gian 3 tháng, có tổng cộng 150.790 mẫu và 68.144 phiếu chỉ địnhđược thu thập từ các khoa phòng. Kết quả cho thấy, tỷ lệ sai sót lớn nhất là sai thể tích mẫu (0,6%), và tỷ lệ sai sót thấp nhất là mẫu đông vón (0,01%). Khoa cấp cứu (42,5%) và khoa khám bệnh (23,0%) có tỷ lệ sai sót cao nhất. (Đặng Thị Bích Hảo (2019) n.d.)

Theo nghiên cứu của Trần Quang Huy, tác giả đã đánh giá hiệu quả của các giải pháp tăng cường bảo dưỡng nhằm cải thiện chất lượng xét nghiệm thông qua chỉ số Six Sigma. Nghiên cứu được tiến hành qua hai giai đoạn: Giai đoạn 1 (từ 1/4 đến 30/4/2020):

Thực hiện theo quy trình ISO 15189:2012. Giai đoạn 2 (từ 1/5 đến 31/5/2020): Thực hiện theo quy trình ISO 15189:2012 kết hợp với việc tăngcườngtần suất bảo dưỡng. Trong mỗi giai đoạn, chỉ số Sigma được tính toán dựa trên hai mẫu kiểm tra chất lượng (QC) có nồng độ khác nhau cho từng chỉ tiêu xét nghiệm. Kết quả: Giai đoạn 1: Hai chỉsố đạt Sigma trên 6: – Triglyceride 1: 6,7 – Triglyceride 2: 8,8 – Các chỉ số còn lại khôngđạt 6 điểm Sigma: – Ure 1: 2,2, Ure 2: 1,7 – Creatinin 1: 5,1, Creatinin 2: 3,9 – GGT 1:

3,2, GGT 2: 3,4 – ALT 1: 4,7, ALT 2: 4,4 – Giai đoạn 2: – Sáu chỉ số đạt Sigma trên 6: – Triglyceride 1: 9,5, Triglyceride 2: 9,1 – Creatinin 1: 6,2 – GGT2: 7,2 – ALT 1: 6,8, ALT 2: 8,0 – Bốn chỉ số không đạt 6 điểm Sigma: – Ure 1: 2,5, Ure 2: 2,5 – Creatinin 2: 4,2 –

11

GGT 1: 5,4. Chỉ số Six Sigma đã có sự cải thiện rõ rệt sau khi thực hiện các biện pháp bảo dưỡngvà thay thếvật tư tiêu hao đúngkỳhạn. Các xét nghiệm ure, creatinin, triglyceride, ALT và GGT đều cho thấy chỉ số sigma tăng lên, với 4 chỉ số đạt trên 6điểm Sigma (ALT, triglyceride, GGT và creatinin). Điều này chứng tỏ chất lượng xét nghiệm sinh hóađã được nâng cao sau các biện pháp bảo dưỡng.(Trần Quang Huy (2020) n.d.)

Trong khoảng thời gian từtháng 10/2021 đến tháng 7/2022, tác giảPhan ThịThanh Hải cùng các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu để đánh giá chất lượng các chỉ sốxét nghiệm dựa trên thang điểm Sigma. Nghiên cứu này đánh giá 22 chỉ số xét nghiệm, bao gồm: Alb, ALT, Amy, AST, Bil-D, Bil-TP, Ca, Cl, Cho, CK, Fe, GGT, Glu, HDL-C, LDL-C, Lip, K+, Na+, TP, Tri, Ure, và AU. Hiệu suất của các xét nghiệm được đánh giádựa trên thang điểm Sigma, tính toán từ tổng sai số cho phép (TEa), độ lệch (bias), vàhệ số biến thiên (CV) của từng xét nghiệm. Kết quả cho thấy Các xét nghiệm có giá trịSigma lớn hơn 6 bao gồm: Alb, Amy, AST, Bil-D, Bil-TP, Ca, Cho, CK, GGT, Glu, HDL-C, Fe, LDL-C, K+, Tri, và AU. Các xét nghiệm có giá trị Sigma trong khoảng từ4 đến 6 gồm: Cl-, Lip, và BUN. Các xét nghiệm ALT và Na+ có giá trị Sigma nằm trong khoảng từ 3 đến 4. Tất cả 22 xét nghiệm đều đạt từ mức 3 Sigma trở lên, trong đó 17 xét nghiệm (chiếm 77,3%) đạt mức 6 Sigma trở lên. Giá trị Sigma là một côngcụ hữu ích trong việc hỗ trợ các phòng xét nghiệm thiết kế quy trình kiểm soát chất lượng (QC), giúp kiểm soát chặt chẽ hơn đối với các xét nghiệm có giá trị Sigma thấp và giảm thiểu giám sát QC không cần thiết đối với các xét nghiệm có điểm Sigma cao. (Phan ThịThanh Hải cùng các cộng sự (2022) 2022)

Trên thế giới, cũng có nghiên cứu đánh giávề chất lượngtrước xét nghiệm được sử dụng bởi nhiều thang điểm khác nhau.

Trong thời gian 1 năm Daniela Stefania Grecu thực hiện nghiên cứu tại phòng thínghiệm. Đã thống kê được tổng cộng 168.728 mẫu và 88655 mẫu yêu cầu. Tổng số lỗi tiền phân tích là 1457, chiếm 0,8% tổng số mẫu nhận được trong năm. Trong tổng số sai sót trước khi phân tích, 46,4% là mẫu tan máu (sinh hóa), 43,2% là mẫu đông máu (huyết học), 6,4% là mẫu bị mất-không nhận được trong phòng thí nghiệm, 2,9% mẫu có tỷ lệkháng đông mẫu không đủ, 0,7% là yêu cầu có lỗi trong nhận dạng bệnh nhân, 0,3% làmẫu được lấy trong ống lấy máu có chất chống đông không phù hợp và 0,1% là yêu cầu

12

có lỗi – thiếu yêu cầu xét nghiệm. Hiệu suất trước khi phân tích của phòng thí nghiệm thống kê trong bối cảnh của chúng tôi rất thuận lợi và tuân thủ các thông số kỹ thuật chất lượng quốc tế.(Grecu, Vlad, and Dumitrascu 2014)

Theo Giuseppe Lippi, các hoạt động tiền phân tích, đặc biệt là những hoạt động liên quan trực tiếp đến việc lấy và xử lý mẫu máu, là những bước dễ bị tổn thương nhất trong suốt quá trình xét nghiệm. Việc nhận các mẫukhông phù hợp là chuyện bình thường trong thực hành phòng thí nghiệm và là một vấn đề nghiêm trọng, do độ tin cậy của kết quả xét nghiệm có thể bị tổn hại bất lợi sau khi phân tích các mẫu này. Các tiêu chí cơ bản để lấy máu tĩnh mạch thích hợp và an toàn gần giống với các tiêu chí được sử dụng để lấy máu cho xét nghiệm hóa học và hóa mô miễn dịch lâm sàng, đồng thời đòi hỏi phải xácđịnhđúng bệnh nhân, sử dụng đúng kỹ thuật cũng như các thiết bị vàkim thích hợp. Tuy nhiên, có một số khía cạnh đặc biệt được coi là đặc biệt quan trọng khi thu thập mẫu chất lượng để xét nghiệm dựa trên cục máu đông và những khía cạnh này đòi hỏi sự nhận biết rõ ràng hơn. Chúng bao gồm ngăn ngừa ứ đọng tĩnh mạch kéo dài, thu thập các mẫu không tan máu, thứ tự rút, đổ đầy và trộn thích hợp cácốngthu thập chính. Tất cả những vấn đề tiền phân tích quan trọng này đều được thảo luận trong bài viết này và các đề xuất dựa trên bằng chứng cũng như khuyến nghị về cách lấy mẫu chất lượng cao để xét nghiệm đông máu cũng được minh họa. Tác giả cùng các cộng sựcũng đã thực hiện một cuộc điều tra nhằm xác định sự khác biệt trong kết quả xét nghiệm do ống máu ban đầu được làm đầy không đầy đủ và đã xác định được sai lệch có ý nghĩa lâm sàng trong kết quả xét nghiệm khi các ống được rút ở mức dưới 89% tổng lượng làm đầy trong thời gian Thromboplastin từng phần được kích hoạt, ít hơn hơn 78% đối với fibrinogen và dưới 67% đối với yếu tố đông máu VIII, trong khi thời gian protrombin và kháng protein C hoạt hóa vẫn tương đối đáng tin cậy ngay cả trong các ống được rút ra ở mức 67% thể tích danh nghĩa.(Lippi et al. 2012)

Năm 2010, theo Ana-Maria Simundic sự can thiệp của xét nghiệm từ lâu đã bịđánh giá thấp và đáng tiếc là thường không được phát hiện trong thực hành xét nghiệm lâm sàng hàng ngày. Giai đoạn ngoài phân tích của quá trình thử nghiệm trong phòng thí nghiệm đã được công nhận là nguyên nhân chính gây ra sai sót trong phòng thínghiệm trong thập kỷ qua. Lỗi tiền phân tích là lỗi phổ biến nhất trong toàn bộ quá trình xét nghiệm và tan máu được coi là một trong những lỗi tiền phân tích phổ biến nhất và

13

chắc chắn là sựcan thiệp phổbiến nhất trong xét nghiệm lâm sàng trong phòng thínghiệm. Những tiến bộ gần đây trong công nghệ phòng thí nghiệm đã dẫn đến xu hướng ngày càng tự động hóa các quy trình tiền phân tích khác nhau thành các mô-đun tiền phân tích lớn. Hơn nữa, các hệ thống khác nhau có thể khác nhau về thông số xét nghiệm và mức độ cản trở của chất gây nhiễu cụ thể. Do đó, cần tập trung nhiều nỗ lực hơn đểchuẩn hóa phương tiện báo cáo chỉ số tan máu, đặc biệt khi thông số quan trọng nàyđược sử dụng để thu được thông tin có ý nghĩa về chất lượng lấy mẫu ở khắp các trung tâm và phường lấy mẫu. Trong trường hợp không thể lấy được mẫu mới, chuyên gia xét nghiệm có trách nhiệm thông báo vấn đề với bác sĩ chịu trách nhiệm về bệnh nhân vàtìm giải pháp chăm sóc bệnh nhân tốt nhất.(Simundic et al. 2010)

Năm 2014, Marin thực hiện một nghiên cứu mô tả được thực hiện về sự phát triển theo thời gian của các chỉ số chất lượng, với tổng số 751.441 yêu cầu phân tíchđược thực hiện trong giai đoạn 2007-2011. Kiểm tra lần chạy về tính ngẫu nhiên được tính toán để đánh giá những thay đổi trong xu hướng của chuỗi và mức độ kiểm soát quátrình được ước tính theo thang đo Six Sigma. Kết quả: Tỷ lệ chung của các lỗi nghiêm trọng trước khi phân tích là 0,047%, với giá trị Six Sigma là 4,9. Tổng tỷ lệ sai sót lấy mẫu trong thời gian nghiên cứu là 13,54% (P = 0,003). Tỷ lệ cao nhất được tìm thấy ởcác chỉ số “mẫu tan máu” (8,76%), “mẫu nước tiểu không được gửi” (1,66%) và “mẫu đông máu”(1,41%), với giá trị Six Sigma lần lượt là 3,7, 3,7 và 2,9. Kết luận: Mức độsai sót trước khi phân tích được đánh giá một cách chính xác. Mặc dù các quy trình gây ra lỗi nghiêm trọng đều được kiểm soát tốt nhưng kết quả thu được đối với các quy trình liên quan đến việc thu thập mẫu vật là không thể chấp nhận được; điều này đặc biệt đúngđối với chất chỉ thị “mẫu tan huyết”.(Marin et al. 2014)

2.1.3. Căn cứ cơ sở thực tiễn

Giới thiệu Bệnh viện Đồng Nai– 2

Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai 2 là một trong những cơ sở y tế hiện đại và uy tín tại tỉnhĐồng Nai, Việt Nam. Được xây dựng với mục tiêu đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của ngườidân, bệnh viện cungcấpdịchvụy tế đa dạng và chuyên sâu, từ khám chữa bệnh cơ bản đến các dịch vụ phẫu thuật, hồi sức cấp cứu và điều trị các bệnh lý phức

14

tạp. Với đội ngũ y bác sĩ giàu kinh nghiệm và trang thiết bị hiện đại, bệnh viện cam kết mang lại dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao, an toàn và hiệu quả cho người dân.

Bệnh viện chính thức đi vào hoạt động từ ngày 25/04/2015 với công suất hơn 700 giường bệnh cùng 32 Khoa/Phòng phục vụ hơn 1,200 lượt khám ngoại trú mỗi ngày. Bệnh việnĐa khoa Đồng Nai 2 hướng đến việc phát triển không chỉ về chất lượng khám chữa bệnh mà còn tạo môi trường thân thiện, chuyên nghiệp cho người bệnh, nhằm nâng cao sự hài lòng và trải nghiệm của bệnh nhân khi đến khám và điều trị. .(Anon n.d.-a)

– Theo bảng 2.1, các khoa/phòng thuộc Bệnh viện Đồng Nai, bao gồm:

Bảng 2. 1. Danh sách khoa phòng thuộc Bệnh viện Đồng Nai-2

STTTÊN ĐƠN VỊGHI CHÚ
I.PHÒNG CHỨC NĂNG
1Ban Tổng Giám đốc
2Phòng Kế hoạch Tổng hợp
3Phòng Tài chính Kế toán
4Phòng Tổ chức Nhân sự
5Phòng Hành chính Quản trị
6Phòng Vật tư Thiết bị Y tế
7Phòng Công nghệ Thông tin
8Phòng Kỹ thuật
9Phòng Điều dưỡng
10Phòng Quản lý Chất lượng
11Phòng Nghiệp vụ khác
II.KHOA LÂM SÀNG
1Khoa Khám bệnh
2Khoa Cấp cứu Tổng hợp
3Khoa Hồi sức tích cực – Chống độc
4Khoa Gây mê Hồi sức
5Khoa Sản Phụ

15

STTTÊN ĐƠN VỊGHI CHÚ
6Khoa Nội Tổng hợp 1
7Khoa Nội Tổng hợp 2
8Khoa Truyền nhiễm
9Khoa Ngoại Tổng hợp
10Khoa Chấn thương Chỉnh hình
11Khoa Liên chuyên khoa
12Khoa Y học Cổ truyền
13Khoa Phục hồi Chức năng
14Khoa Lọc máu – Thận nhân tạo
III.KHOA CẬN LÂM SÀNG
1Khoa Chẩn đoán Hình ảnh
2Khoa Xét Nghiệm
3Khoa Dược
4Khoa Kiểm soát Nhiễm khuẩn
5Khoa Dinh dưỡng

– Chính sách, mục tiêu và cam kết chất lượng

+ Chính sách chất lượng “NHANH CHÓNG – KỊP THỜI – CHÍNH XÁC” nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, nâng cao chất lượng dịch vụ xét nghiệm, nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng đối với bệnh viện. Ban Giám đốc bệnh

viện và tập thể cán bộ nhân viên khoa Xét nghiệm – Bệnh viện Đồng Nai-2. + Mục tiêu chất lượng

➢Áp dụng tiêu chí đánh giá chất lượng phòng phòng xét nghiệm y học.

➢Cung cấp các dịch vụ xét nghiệm đúng thời gian, chính xác, tin cậy, tuân thủ các quy trình chuyên môn, quy trình quản lý phù hợp tiêu chí đánh giá chất lượng phòng xét nghiệm y học.

➢Chủ động sáng tạo, không ngừng cải tiến liên tục chất lượng xét nghiệm

và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, quản lý.

➢Đảm bảo chất lượng dịch vụ xét nghiệm cho mọi đối tượng khách hàng.

➢Thực hiện đồng bộ và hiện đại hóa trang thiết bị, cơ sở hạ tầng

16

➢Thiết lập và xem xét định kỳ các mục tiêu chất lượng.

Chính sách chất lượng này được xem xét hàng năm và cải tiến cho phù hợp.

– Cam kết của lãnh đạo: Để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ và đáp ứng các yêu

cầu của khách hàng, Lãnh đạo Bệnh viện Đồng Nai-2 và Lãnh đạo Khoa cam kết:

+ Trong phạm vi cho phép, tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ các nguồn lực cần thiết cho hoạt động của Khoa để đảm bảo độ tin cậy, tính chính xác và kịp thời của kết quả xét nghiệm;

+ Thường xuyên bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ nghiên

cứu viên, kỹ thuật viên để duy trì và nâng cao hiệu quả công việc;

+ Thường xuyên cập nhật kỹ thuật, phương pháp tiên tiến để không ngừng nâng

cao chất lượng dịch vụ;

+ Xây dựng, duy trì và cải tiến liên tục hệ thống quản lý chất lượng phù hợp hướng

tới đáp ứng các yêu cầu của tiêu chuẩn 2429

+ Phổ biến các chính sách, các quy định của Bệnh viện và của Khoa tới từng cán

bộ, nhân viên;

+ Lãnh đạo Bệnh viện và toàn thểcán bộ, nhân viên trong Khoa tuân thủchính sách, quy định, quy trình và nỗ lực hoàn thành các mục tiêu của hệ thống quản lýchất lượng.

+ Đảm bảo toàn bộnhân viên và LãnhđạoKhoa không chịu áplực vềthương mại,

tài chính hoặc các áp lực khác làm ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ;

+ Giữmối quan hệhữu nghị, hợp tác với các cơ quan hữu quan trong và ngoài ngành, tăng cường hợp tác quốc tế với các tổ chức quốc tế trong cùng lĩnh vực hoạt động.

Khoa xét nghiệm

– Khoa Xét nghiệm được thành lập vào năm 2015 và nằm tại lầu 2 tòa nhà – Bệnh viện

Đồng Nai-2.

– Khoa được trang bị nhiều máy móc hiện đại và cung cấp các dịch vụ xét nghiệm kỹ

thuật cao theo yêu cầu của bệnh nhân và các khách hàng gồm:

+ Máy huyết học tự động. + Máy Đông máu tự động

17

+ Máy đo tốc độ máu lắng: + Máy sinh hóa tự động

+ Máy Miễn Dịch tự động + Máy nước tiểu tự động

– Nhân lực của Phòng hiện có 21 người, bao gồm:

+ 06 cử nhân đại học xét nghiệm + 09 KTV cao đẳng xét nghiệm

+ 02 KTV trung cấp xét nghiệm + 04 điều dưỡng

– Khoa Xét nghiệm hiện đang thực hiện toàn bộ các xét nghiệm thường quy và cao

cấp như:

+ Xét nghiệm Huyết học

+ Xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu, cặn nước tiểu… + Xét nghiệm hóa sinh

+ Xét nghiệm miễn dịch

+ Xác xét nghiệm nhuộm soi vi sinh. + Soi các loại dịch

+ Tinh dịch đồ.

– Khoa Xét nghiệm đảm bảo rằng STCL được lập thành văn bản, được duy trì và được ứng dụng theo 12 thành tố tham gia quyết định chất lượng. Khoa là một trong những đơn vị chủ chốt, cung cấp dịch vụ xét nghiệm chuyên sâu nhằm hỗ trợ chẩn đoán vàđiều trị bệnh. Với hệ thống trang thiết bị hiện đại và tiên tiến, khoa có khả năng thực hiện nhiều loại xét nghiệm đa dạng trong các lĩnh vực như huyết học, sinh hóa, vi sinh, miễn dịch, và phân tích sinh học phân tử. Khoa Xét nghiệm được vận hành bởi đội ngũ kỹ thuật viên và bác sĩ có chuyên môn cao, đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy của kết quả xét nghiệm. Các quy trình xét nghiệm đều được thực hiện theo tiêu chuẩn nghiêm ngặt, giúp bác sĩ chẩn đoán chính xác và đưa ra phác đồ điều trịphù hợp cho bệnh nhân. Ngoài ra, khoa còn không ngừng cập nhật các công nghệmới và phương pháp xét nghiệm tiên tiến, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, rút ngắn thời gian trả kết quả và đảm bảo tính bảo mật thông tin của người bệnh. Khoa

18

Xét nghiệm đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ công tác khám chữa bệnh tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai 2, góp phần cải thiện hiệu quả điều trị và chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng.

– Tôn chỉ, tầm nhìn và giá trị cốt lõi của Khoa Xét nghiệm:

+ Tôn chỉ: Khoa Xét nghiệm cung cấp các dịch vụ xét nghiệm: nhanh chóng – kịp

thời và chính xác.

+ Tầm nhìn: Khoa Xét nghiệm nỗ lực phấn đấu để trở thành trung tâm xét nghiệm hàng đầu về cung cấp dịch vụ các xét nghiệm Y tế tại Đồng Nai và các tỉnh lân cận.

+ Giá trị cốt lõi:

➢Chăm sóc bằng cả trái tim.

➢Dịch vụ chuyên nghiệp.

➢Phục vụ tất cả vì khách hàng.

Sơ đồ 2. 1. Sơ đồ khoa Xét nghiệm – Bệnh viện Đồng Nai-2

Quy định về đảm bảo chất lượng xét nghiệm của Bệnh viện Đồng Nai 2

Năm 2021, Bệnh viện Đồng Nai-2 đã ban hành quyết định QTKT.03.XN về “quy trình đảm bảo chất lượng xét nghiệm” với mục tiêu xây dựng quy trình đảm bảo chất lượng để đạt được kết quả xét nghiệm chính xác và tin cậy.

19

Khi ban hành quyết định, Bệnh viện Đồng Nai-2 nói chung và khoa Xét nghiệm nói riêng quy định đảm bảo chất lượng xét nghiệm bằng cách thực hiện đúng theo các quy trình trước, trong và sau xét nghiệm.

Tại đề án này, chúng tôi đề cập đến diai đoạn trước xét nghiệm. Đây là các bước bắt đầu của quá trình xét nghiệm và kết thúc khi giai đoạn xét nghiệm bắt đầu.

– Khâu hành chính: nhập thông tin vào máy tính, in chỉ định, tiếp nhận giấy chỉ định,

kiểm tra đối chiếu thông tin trên giấy chỉ định, in và gián Barcode (tránh nhầm lẫn). – Khâu lấy bệnh phẩm: Lấy bệnh phẩm tại chỗ cho bệnh nhân, chú ý đến tình trạng sinh lý của bệnh nhân, lấy đúng loại ống/lọ, đúng lượng, tránh tiêu huyết, hẹn giờ trảkết quả xét nghiệm.

– Khâu vận chuyển bệnh phẩm: mẫu được chuyển đến phòng nhận mẫu và tiếp nhận

mẫu.

– Yêu cầu tuân thủ các theo quy trình chuẩn, hướng dẫn công việc sau:

+ Sổ tay lấy mẫu

+ Quy trình trước xét nghiệm

+ Các hướng dẫn kỹ thuật máy quay ly tâm, sử dụng pipet

Tại bệnh viện, diễn ra 2 loại kiểm tra là nội kiểm tra và ngoại kiểm tra:

– Nội kiểm tra:

+ Nhân viên QLCL, phụ trách khoa thường xuyên đánh giá các hoạt động tổng thể của phòng xét nghiệm, đánh giá các kết quả xét nghiệm có phù hợp với lâm sàng hay không trước khi trả kết quả xét nghiệm.

+ Kiểm tra chất lượng các xét nghiệm làm tăng độ chính xác vàđộ xácthực của một phương pháp xét nghiệm. Quản lý và kiểm tra hai yếu tố này có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng xét nghiệm, nhằm đảm bảo kết quả xét nghiệm đạt giá trị tin cậy.

+ Tất cả các tài liệu liên quan đến kiểm tra chất lượng phải được lưu giữ trong

3 năm.

+ Khoa Xét nghiệm thực hiện chương trình kiểm tra về các loại xét nghiệm đang làm, trang thiết bị, hoá chất sinh phẩm, tay nghề nhân viên. Theo bảng 2.2, một số chương trình sau đang được thực hiện:

20

Bảng 2. 2. Một số hoạt động nội kiểm tại Bệnh viện Đồng Nai-2

STTHoạt động

nội kiểm

Nội dung thực hiện
1.Tất cả mọi thời điểm– Rà soát kết quả xét nghiệm nếu phát hiện sự tương đồng bất thường về xu hướng cùng tăng hoặc cùng giảm giữa các mẫu bệnh nhân khác nhau, nhân viên xét nghiệm phải thực hiện các bước kiểm tra kỹ lưỡng

– Xem xét tình trạng máy móc, hóa chất, và môi trường: Khi có dấu hiệu sai lệch, nhân viên cần đánh giá lại toàn bộ hệthống, từ thiết bị, hóa chất sử dụng cho đến các yếu tố môi trường có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.

– Chạy mẫu IQC cùng với mẫu bệnh nhân: Nếu có nghi ngờvề sai số, nhân viên sẽ thực hiện xét nghiệm nội kiểm (IQC) song song với mẫu bệnh nhân để kiểm tra độ chính xác của hệ thống xét nghiệm. Điều này giúp xác định xem sai số cóphải xuất phát từ quy trình xét nghiệm hay không.

– Thông báo và phối hợp khắc phục: Khi phát hiện sai số, cần thông báo ngay cho bác sĩ phụ trách duyệt kết quả để có sựxem xét kịp thời. Nhân viên kỹ thuật và bác sĩ sẽ phối hợp nhằm đưa ra biện pháp khắc phục ngay lập tức, đảm bảo tính chính xác và tin cậy của kết quả.

– So sánhvớitình trạng lâm sàng: Sau khi có kết quảxét nghiệm, nhân viên cần đối chiếu và so sánh sự tương quan giữa kết quảxét nghiệm và tình trạng lâm sàng của bệnh nhân. Điều này giúp xác nhận tính hợp lý của kết quả và phát hiện sớm bất kỳ sự bất thường nào.

2.Hàng ngày• Kiểm tra thiết bị, hóa chất, và điều kiện môi trường bằng

“vật liệu kiểm tra”:

• Thực hiện nội kiểm hàng ngày và ghi nhận kết quả trên

biểu đồ Levey-Jennings để theo dõi biến động. Đối với

21

STTHoạt động

nội kiểm

Nội dung thực hiện
các xét nghiệmđịnhlượng, việc giám sát kết quảnội kiểm được thực hiện trên biểu đồ này.

•Áp dụng quy tắc Westgard để phát hiện sai lệch và thực hiện biện pháp khắc phục nếucó sựvi phạm quy tắc. Nhân viên quản lý chất lượng (QLCL) chịu trách nhiệm kiểm soát và giám sát kết quả nội kiểm hàng ngày.

• Kiểm trasựkhác biệt giữa cáckếtquảkhi lặp lạixét

nghiệm mẫu bệnh nhân:

•Đối với những mẫu cần xét nghiệm lại, sự khác biệt giữa các kết quả cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo tính nhất quán và chính xác.

– Nếu kết quả nội kiểm không đạt yêu cầu, các hành động sau

sẽ được thực hiện song song:

•Hành động 1: Thông báo cho bệnh nhân và bác sĩ về việc tạm hoãn trảkết quảxét nghiệm. Đưa ra thông báo vềthời gian trả kết quả mới cho bệnh nhân.

•Hành động 2: Nhân viên tiến hành chạy lại mẫu bệnh nhân trên thiết bịdựphòng (nếu có). Xác định nguyên nhân sai số, đề xuất các biện pháp khắc phục và lưu hồsơ theo dõi trong nhật ký nội kiểm. Khi quá trình nội kiểm đạt yêu cầu, nhân viên sẽ chạy lại xét nghiệm cho bệnh nhân để đảm bảo kết quả chính xác và tin cậy trước khi trả kết quả.

3.Hàng tuầnHiệu chuẩn các xét nghiệm theo lịch cố định, hiệu chuẩn giúpđảm bảo rằng các thiết bị xét nghiệm hoạt động chính xác, cung cấp kết quả tin cậy và nhất quán

22

STTHoạt động

nội kiểm

Nội dung thực hiện
4.Hàng tháng, hàng năm.– Nhân viên quản lý chất lượng trong xét nghiệm đánh giá và báo cáo kết quả nội kiểm: Thực hiện đánh giá và báo cáo kết quả nội kiểm hàng tháng cho trưởng khoa.

– Hướng dẫn khắc phục sai số: Hướng dẫn nhân viên về cách

khắc phục các sai số trong quá trình xét nghiệm.

– Đánh giá và cải tiến chất lượng: Đánh giá thiết bị, phương pháp xét nghiệm, và hóa chất môi trường; đề xuất các biện pháp cải thiện nhằm nâng cao chất lượng xét nghiệm.

– Tham mưu và tổng hợp: Tổng hợp thông tin và tham mưu cho lãnhđạo về cáchoạt động quản lý chất lượng để triển khai trong khoa.

– Hiệu chuẩn và bảo dưỡng thiết bị: Thực hiện hiệu chuẩn vàbảo dưỡng các loại pipet và các máy phân phối tự động theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

– Ngoại kiểm tra

+ Khoa Xét nghiệm tham gia các chương trình ngoại kiểm hàng tháng với Trung

tâm kiểm chuẩn xét nghiệm. + Mục đích:

➢ Đảm bảo sự tin cậy của kết quả xét nghiệm.

➢ Đánh giá chất lượng của một phòng xét nghiệm một cách khách quan.

➢ Xác định những sai số về kết quả xét nghiệm và có biện pháp khắc phục.

➢ Khuyến khích sử dụng phương pháp chuẩn, máy móc thuốc thử có chất lượng tốt.

➢ Khuyến khích nội kiểm thường xuyên.

➢ Đối chiếu so sánh kết quả xét nghiệm của mỗi phòng xét nghiệm với kết quả

của các labo tham chiếu trong nước hoặc quốc tế nhằm không ngừng nâng cao chất lượng xét nghiệm của các phòng xét nghiệm.

2.1.3.4. Quy định về lấy mẫu trước xét nghiệm của Bệnh viện Đồng Nai-2(Anon n.d.-c)

23

– Nhân viên xét nghiệm:

+ Nhân viên phòng Xét Nghiệm phải đượctậphuấn cách lấycác loại mẫu xét

nghiệm, các nguyên liệu cần thiết.

+ Phải biết rõ công việc lấy mẫu, vị trí, vùng lấy máu và xác định việc vận chuyển và các tài tiệu thông tin liên quán đúng nguyên tắc, và áp dụng đúng quy trình khử khuẩn.

+ Nhân viên thu thập mẫu cần phải giải thích cho bệnh nhân hoặc người nhà trước

khi thu thập mẫu bệnh phẩm. – Trang bị xét nghiệm:

+ Nhân viên y tế thao tác trên bệnh nhân và mẫu bệnh phẩm phải mang trangbị

bảo hộ phù hợp: mặc áo blouse, đội mũ, đeo khẩu trang, măng găng,… + Rửa tay trước và sau khi tiếp xúc bệnh nhân và mẫu bệnh phẩm

+ Khử khuẩn bằng dung dịch Chloramine B 5%.

+ Áp dụng các biện pháp an toàn sinh học khi thực hiện lấy mẫu bệnh phẩm. – Quy định khi lấy mẫu bệnh phẩm

+ Xác định định đúng người bệnh bằng cách “hỏi” và kiểm tra đối chiếu với thông

tin của người bệnh ghi trong phiếu yêu cầu xét nghiệm.

+ Cần chú ý bệnh nhân đang sử dụng các thuốc chống đông, aspirin, các thuốc ức

chế viêm không chưa corticoid (NSAIDS).

+ Khi lấy máu nếu phải thực hiện các xét nghiệm Glucose huyết, liproprotein,

cholesterol, triglyceric, amoniac mẫu máu phải được lấy sau thời gian nhịn đói.

+ Đối với Glucose huyết, phải nhịn đói ít nhất 6 giờ (6 – 8 giờ).

+ Đối vơi Triglyceric, cholesterol nhịn đói ít nhất 10 giờ, tối đa 14 giờ (nếu nhịn đói quá lâu sẽgây thay đổi nghiêm trọng chuyển hóa năng lượng, làm tăng triglyceric).

+ Amoniac, Acid Uric, Ure phải nhịn đói ít nhất 4 – 6 giờ.

+ Ghi ngày giờ lấy mẫu, mà số code của người bệnh trên nhãn ống nghiệm. – Tiêu chuẩn chấp nhận mẫu

Chất lượng mẫu bệnh phẩm phải đạt các yêu cầu sau:

➢ Thu thập mẫu càng sớm càng tốt, trừ một số trường hợp đặc biệt.

24

➢Ống nghiệm chứa chất bảo quản đúng môi trường thích hợp

➢Thể tích máu phải đạt yêu cầu

➢Mẫu không bị tán huyết, mốc. Lấy đúng ống màu nắp, ống chứa mẫu bệnh phẩm

phải còn nguyên, không bị đổ, mắt nắp, nứt vỡ.

➢Trên ống phải ghi đầy đủ ngày giờ lấy mẫu bệnh phẩm, mã số code của người

bệnh, loại bệnh phẩm (vd: dịch, mủ,…), riêng ống đựng máu không cần ghi loại bệnh phẩm.

➢Thể tích mẫu phải từ 2 – 3 ml máu, đối với xét nghiệm thường quy và xét nghiệm

sinh học phân tử, Widal mẫu máu phải > 3 ml.

➢Đảm bảo thời gian từ lúc lấy mẫu đến lúc được xét nghiệm, thông thường là dưới 8 giờ, hoặc dưới 1 tuần nếu mẫu đã được tách huyết thanh và bảo quản ở nhiệt độ -20oC.

➢Mẫu bệnh phẩm phải được gửi đến phòng xét nghiệm trong điều kiện an toàn

sinh học.

➢Phải có thông tin xét nghiệm của bệnh nhân trên hệ thống bệnh viện + Xét nghiệm vi sinh (CẤY MÁU):

Lấy đúng thể tích máu, đủ số lượng chai cấy máu, chai cấy máu bảo quản ở nhiệt độphòng, không để lâu quá 6 tiếng kể từ khi lấy máu (không để chai cấy máu trong tủ mát). Không lắc chai cấy máu trước và sau khi lấy máu vì có thể làm vỡ hồng cầu gây dương tính giả.

+ Xét nghiệm vi sinh (ĐÀM, DỊCH RỬA PHẾ QUẢN):

Lấy đúng vào lọ nắp đỏ vô trùng, bệnh phẩm được gửi ngay tới khoa xét nghiệm, nếu không thể gửi ngay phải bảo quản theo đúng hướng dẫn. Bệnh phẩm chưa đàm khạc, không lấy nước bọt, không nhận que tăm bông quết họng.

+ Xét nghiệm vi sinh (MỦ và các chất DỊCH):

Mẫu lấy đem đến ngay khoa xét nghiệm, không để quá 2 giờ sau khi lấy mẫu. Mẫu không được để trong tủ mát, hoặc tủ âm sâu.

Trường hợp lấy dịch phải lấy trong lọ vô trùng đậy nắp kín, không để trong ống nhựa đựng tăm bông vì có thể tràn dịch ra ngoài gây ngoại nhiễm.

+ Xét nghiệm vi sinh (DỊCH NÃO TỦY):

25

Dịch não tủy phải được đem ngay đến khoa xét nghiệm, không để quá lâu sau 1 giờ. Dịch não tủy không được để trong tủ mát hoặc tủ âm sâu.

Mẫu lấy tối thiệu cho xét nghiệm >1 ml.Đựng mẫu trong lọ vô trùng bịt kín.

+ Xét nghiệm vi sinh (PHÂN):

Mẫu phân không để quá 2 giờ kể từ khi lấy được mẫu. Nếu để lâu phải có môi trường

chuyên chở Carry – Blair.

Phân đựng trong lọ khô sạch có miệng rộng, nắp vặn chặt. Mẫu phân không lẫn nước tiểu.

Lấy đủ lượng phân để xét nghiệm (5 – 10 gam).

+ Xét nghiệm vi sinh (MẪU CẤY TRÙNG BỆNH VIỆN):

Thông tin mẫu và trên phiếu phải giống nhau.

Phải được vận chuyển đến phòng xét nghiệm trong 24 giờMẫu không được đổ vỡ

Mẫu cấy phải đủ 3 đĩa và chưa trong túi nilon. Thùng vận chuyển mẫu phải có đá giữ mát.

Thể tích và số lượng mẫu phải đủ theo yêu cầu của phòng xét nghiệm. – Tiêu chuẩn từ chối mẫu

+ Thiếu hoặc sai và không đầy đủthông tin người bệnh, ngày giờlấy mẫu trên

nhãn.

+ Mẫu lấy nhầm, không phù hợp với mã số và họ tên người bệnh.

+ Mẫu gửi không kèm phiếu chỉ định (trừ trường hợp KHẨN CẤP).

+ Yêu cầu xét nghiệm không phù hợp với tên xét nghiệm có trong danh mục, phiếu xét nghiệm không có chữ ký bác sỹ, yêu cầu xét nghiệm không rõ ràng hoặc sai so với chẩn đoán.

+ Mẫu bệnh phẩm được đựng trong ống nghiệm có chất bảo quản hoặc môi trường

không đúng.

+ Số lượng mẫu không đủ làm xét nghiệm.

+ Mẫu bệnh phẩm bị tán huyết nặng hoặc bị đông vón cục, hay có hiện tượng mỡ

máu, có thể từ chối tùy vào loại xét nghiệm được chỉ định.

26

+ Các mẫu đã bị nhiễm dịch từ đường truyền tĩnh mạch. + Dụng cụ lấy mẫu đã hết hạn sử dụng.

+ Ống đựng mẫu bị nứt hoặc vỡ.

+ Các mẫu cấy: Không vận chuyển ngay đến phòng xét nghiệm. + Soi phân: Quá 2 giờ.

+ Đàm: Nhận mẫu vào giờ chiều.

+ Huyết thanh, huyết tương: Quá 8 giờ.

Lưu ý: Đối với từng loại xét nghiệm sẽ có các tiêu chuẩn nhấn nhận và từ chối riếng. + Xét nghiệm vi sinh (CẤY MÁU):

Không đạt được những yêu cầu chấp nhận mẫu ở trên.

+ Xét nghiệm vi sinh (ĐÀM, DỊCH RỬA PHẾ QUẢN):

Không đạt được những yêu cầu chấp nhận mẫu ở trên. + Xét nghiệm vi sinh (MỦ và các chất DỊCH):

Không đạt được những yêu cầu chấp nhận mẫu ở trên. + Xét nghiệm vi sinh (DỊCH NÃO TỦY):

Không đạt được những yêu cầu chấp nhận mẫu ở trên. + Xét nghiệm vi sinh (PHÂN):

Không đạt được những yêu cầu chấp nhận mẫu ở trên.

+ Xét nghiệm vi sinh (MẪU CẤY TRÙNG BỆNH VIỆN):

Không đạt được những yêu cầu chấp nhận mẫu ở trên. – Hành động khi từ chối mẫu bệnh phẩm

27

Sơ đồ 2. 2. Quy trình từ chối mẫu xét nghiệm

Không nhận các mẫu bị từ chối dựa trên các tiêu chuẩn đã thiết lập.

Một số trườnghợp đặc biệt không lấy mẫu lại được, có thể đề nghị thực hiện xét nghiệm trên các mẫu gần đạt yêu cầu.

Tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật với từng loại xét nghiệm yêu cầu. Cơ sở lý luận: Thang điểm Six Sigma

Six Sigma là một thước đo, một tầm nhìn, một mục tiêu để kiểm soát và cải tiến chất lượng. Mô hình Six Sigma tương tự như chu trình Deming, mô hình Six sigma (DMAIC) bao gồm: xác định, đo lường, phân tích, cải tiến và kiểm soát.(Westgard and Westgard 2017) (Westgard and Westgard 2015)

– Xác định (Define – D): Làm rõ vấn đề cần giải quyết, các yêu cầu và mục tiêu. Tập

trung vào các vấn đề then chốt còn tồn tại về chất lượng trong phòng xét nghiệm.

– Đo lường (Measure – M): Đánh giá hiện trạng chất lượng của phòng xét nghiệm. Đo lường các lỗi sai trong quá trình xét nghiệm và khả năng đáp ứng yêu cầu của khách hàng, từ đó thiết lập tiêu chuẩn cho từng giai đoạn.

28

– Phân tích (Analyze – A): Phân tích các thông số thu thập được để xác định nguyên nhân gốc rễ của lỗi trong quy trình xét nghiệm, sử dụng các công cụ như phân tích tương quan và hồi quy.

– Cải tiến (Improve – I): Phát triển và kiểm chứng các giải pháp nhằm loại trừ nguyên

nhân gây lỗi, sau đó chuẩn hóa các giải pháp này.

– Kiểm soát (Control – C): Đặt ra các chỉ số đo lường để duy trì kết quả và xử lý các vấn đề khi cần thiết.Sử dụngkế hoạch kiểm soát hoặc phiếu kiểm tra để đảm bảo vấn đề không tái diễn.

Có 2 phương pháp các định giá trị Sigma theo như bảng 2.3:(Coskun, A., et al. (2010) n.d.)

– Kiểm tra và đếm các lỗi hoặc khiếm khuyết tương ứng 1 triệu cơ hội. Phương pháp này rất hữu ích trong việc đánh giá tất cả các lỗi trong toàn bộ quá trình thử nghiệm, ngoại trừ giai đoạn phân tích. Trong phương pháp này, cần theo dõi đầu ra của từng giai đoạn, đếm các lỗi và tính toán các lỗi trên một triệu cơ hội và sau đó chuyển đổi dữ liệu thu được thành sô liệu sigma bằng sử dụng bảng Six sigma tiêu chuẩn.

Bảng 2. 3. Bảng Six sigma tiêu chuẩn

Sigma Metric

1.0

2.0

2.5

3.0

3.5

4.0

4.5

5.0

5.5

Defects per million

698000 308000 159000 66800 22750 6210 1350 233

32

29

6.03.4

– Phương pháp sigma được dung để phân tích hiệu năng phương pháp trong giai

đoạn phân tích:

Sigma = (Tea – Bias)/CV

Trong đó:

+ CV là độ biến thiên của các xét nghiệm từ độ lệch chuẩn (SD) và giá trịtrung bình của dữ liệu nội kiểm thu thập đưohc trong một khoảng thời gian nhất định

+ Bias là độ lệch của các xét nghiệm được tính toán dựa vào kết quả ngoại

kiểm PXN

+ TEs (Total Error Allowable) là tổng sai số cho phép được tham khảo từ

trang web của Westgard, CLIA, RCPA.

Bảng 2. 4. Thang Six Sigma

Giá trị sigmaĐánh giá
>= 6Mức đẳng cấp quốc tế
5.0 – 5.9Mức rất tốt
4.0 – 4.9Mức tốt
3.0 – 3.9Mức chấp nhận được
2.0 – 2.9Mức kém
<2.0Mức không thể chấp nhận

30

2.2. NỘI DUNG THỰC HIỆN CỦA ĐỀ ÁN

2.2.1. Đánh giá bối cảnh thực hiện đề án 2.2.1.1. Đánh giá về ưu điểm

– Cơ Sở Vật Chất Hiện Đại:

Bệnh viện Đồng Nai-2 được trang bị cơ sở vật chất hiện đại và nhiều trang thiết bị y tế tiên tiến, như các máy huyết học, máy sinh hóa tự động, và các thiết bị xét nghiệm khác. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các dịch vụ xét nghiệm với độchính xác và tin cậy cao.

– Đội Ngũ Nhân Lực Chuyên Môn Cao:

Khoa xét nghiệm của bệnh viện có đội ngũ nhân viên gồm các cử nhân đại học, kỹthuật viên cao đẳng và trung cấp, cùng các điều dưỡng có kinh nghiệm. Sự kết hợp của nguồn nhân lực chất lượng cao giúp đảm bảo quá trình xét nghiệm diễn ra thuận lợi vàchính xác.

– Cam Kết Đảm Bảo Chất Lượng:

Bệnh viện có chính sách và quy trình đảm bảo chất lượng rõ ràng, tuân thủ các tiêu chuẩn ISO và Six Sigma. Điềunày giúp duy trì và nâng cao chất lượng dịch vụxét nghiệm, giảm thiểu sai sót và cải thiện kết quả xét nghiệm.

– Môi Trường Thực Tế Phù Hợp:

Với số lượng lớn bệnh nhân đến khám và điều trị, bệnh viện là môi trường lý tưởngđể thu thập dữ liệu và đánh giá chất lượng dịch vụ xét nghiệm. Điều này cho phép đề án tiếp cận với nhiều trường hợp thực tế, tăng độ tin cậy cho kết quả nghiên cứu.

2.2.1.2. Đánh giá về nhược điểm – Khối Lượng Công Việc Lớn:

Với lượng bệnh nhân đông đúc hàng ngày, khối lượng công việc của khoa xét nghiệm rất lớn, dễ dẫn đến quá tải. Điều này có thể ảnh hưởng đến chất lượng của một số quy trình xét nghiệm, đặc biệt là khi có các sai sót trong quá trình lấy mẫu hoặc xửlý mẫu.

– Sai Sót Trong Quá Trình Lấy Mẫu:

Mặc dù có các quy trình đảm bảo chất lượng, nhưng việc tuân thủ các quy trình này trong bối cảnh thực tế đôi khi gặp khó khăn. Các sai sót trong quá trình lấy mẫu, như

31

lấy mẫu không đúng kỹ thuật hoặc không bảo quản đúng cách, có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.

– Áp Lực Thời Gian:

Với yêu cầu trả kết quả xét nghiệm trong thời gian ngắn, áp lực về thời gian có thểdẫn đến việc bỏ qua một số bước quan trọng trong quy trình xét nghiệm, làmgiảm độchính xác của kết quả.

– Tính Chất Đa Dạng của Bệnh Nhân:

Bệnh viện tiếp nhận nhiều loại bệnh nhân với các bệnh lý và yêu cầu xét nghiệm khác nhau, điều này làm cho việc tiêu chuẩn hóa quy trình xét nghiệm trở nên khó khăn hơn. Sự đa dạng này cũng làm tăng nguy cơ xảy ra lỗi trong quá trình xét nghiệm.

2.2.2. Nội dung cụ thể cần thực hiện

– Thu thập dữ liệu cụ thể về quy trình lấy mẫu trước xét nghiệm của người bệnh có chỉđịnh làm xét nghiệm

+ Tiến hành thu thập thông tinvềcác quy trình lấy mẫu trước xét nghiệm của tấtcả

người bệnh có chỉ định làm xét nghiệm tại Bệnh viện Đồng Nai-2 từ tháng …/2024 đến

tháng …./2024

+ Thu thập đầy đủ các quy trình: chỉ định xét nghiệm, chuẩn bị bệnh nhân, lấy mẫu bệnh phẩm, vận chuyển mẫu bệnh phẩm, nhận mẫu bệnh phẩm, xử lý sơ bộ mẫu bệnh phẩm

– Xử lý dữ liệu để thu về kết quả tỷ lệ phần trăm các quy trình lấy mẫu trước xét nghiệm đạt yêu cầu. Sau khi thu thập, đánh giá các quy trình lấy mẫu trước xét nghiệm trong thời gian nghiên cứu, số liệu được làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm Excel và phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS 22, xác định tỷ lệ các quy trình đạt, đạt một phần và chưa đạt và xác định các lỗi có thể ảnh hưởng đến quy trình xét nghiệm tại Bệnh viện Đồng Nai-2.

– Khảo sát các công trình nghiên cứu liên quan đến đề án đã có kết quả: Tham khảo tài

liệu (sách, báo, đề án,…) về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề án. Các công trình này đã hoàn thành hoặc đã có kết quả ứng dụng thực tiễn

– Chọn đối tượng nghiên cứu phù hợp, đảm bảo tiêu chí đầu ra trong những quy trình lấy mẫu trước xét nghiệm được thực hiện trong thời gian nghiên cứu tại Bệnh viện Đồng Nai-2.

32

+ Xác định tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ đối với các quy trình lấy mẫu trước xét nghiệm

+ Xác định nhóm quy trình lấy mẫu trước xét nghiệm phù hợp, đảm bảo tiêu chuẩn đềra.

– Tiến hành thu thập số liệu theo phiếu điều tra về quy trình lấy mẫu trước xét nghiệm

+ Đánh giá các bước trong quy trình trước xét nghiệm sau đó đánh giá toàn bộ quy trình theo thang điểm Six Sigma

+ Các quy trình trước xét nghiệm bao gồm:

Khâu hành chính: nhập thông tin vào máy tính, in chỉ định, tiếp nhận giấy chỉđịnh, kiểm tra đối chiếu thông tin trên giấy chỉ định, in và gián Barcode (tránh nhầm lẫn).

Khâu lấy bệnh phẩm: Lấy bệnh phẩm tại chỗ cho bệnh nhân, chú ý đến tình trạng sinh lý của bệnh nhân, lấy đúng loại ống/lọ, đúng lượng, tránh tiêu huyết, hẹn giờ trả kết quả xét nghiệm.

Khâu vận chuyển bệnh phẩm: mẫu đượcchuyển đến phòng nhận mẫu và tiếp nhận mẫu.

– Xử lý số liệu sau khi thu thập dữ liệu đánh giá quy trình lấy mẫu trước xét nghiệm, từcác kết quả phân loại chất lượng theo thang điểm Six Sigma, giá trị Sigma càng cao thìcàng ít các sai sót và kết quả xét nghiệm sai của phòng xét nghiệm.

– Sau khi tìm hiểu thực trạng chất lượng đề xuất các giải pháp và tiến hành can thiệp nhằm nâng cao chất lượng giai đoạn lấy mẫu trước xét nghiệm tại Bệnh viện Đồng Nai- 2.

2.3. TỔ CHỨCTHỰC HIỆN ĐỀ ÁN

2.3.1. Giải pháp thực hiện đề án a) Mục tiêu của giải pháp

Xác định các chỉ số chất lượng dùng để đánh giá đề cập đến những hoạt động chính của giai đoạn trước xét nghiệm, đánh giá tỷ lệ % các mẫu không đạt và chỉ số Sigma

33

b) Hình 2.3 thể hiện các bước tiến hành quy trình xét nghiệm tại bệnh viện

Lựa chọn đối tượng nghiên cứu: quy trình lấy mẫu trước xét nghiệm (khâu hành chính, khâu

lấy bệnh phẩm, khâu vận chuyển bệnh phẩm)

Xác định cỡ mẫu: Tất cả bệnh nhân làm xét

nghiệm trong thời gian nghiên cứu

Thu thập mẫu: Tổng số phiếu xét nghiệm, số

quy trình lấy mẫu, số mẫu làm xét nghiệm,…

Nhập liệu và phân tích số liệu bằng Excel và

SPSS 22.0. Tính tổng, tỷ lệ % các mẫu, quy trình đạt và chưa đạt, giá trị DPM, quy đổi ra

thang điểm Sigma

Báo cáo kết quả, đề xuất giải pháp can thiệp nâng cao chất lượng giai đoạn lấy mẫu trước

xét nghiệm

Sơ đồ 2. 3. Quy trình tiến hành nghiên cứu

– Tăng cường đào tạo, tập huấn cho nhân viên y tế

Tổ chức các buổi tập huấn định kỳ và chuyên sâu cho tất cả nhân viên liên quanđến công tác lấy mẫu.

Nội dung tập huấn bao gồm: quy trình chuẩn SOP, quy trình khử khuẩn, kỹ thuật

lấy từng loại mẫu (máu, nước tiểu, dịch tỵ hầu…), tiêu chuẩn bảo quản – vận chuyển mẫu.

Đảm bảo tất cả nhân viên đều nắm vững và thực hành đúng quy trình, nhằm hạn chế tối đa sai sót tiền phân tích.

– Chuẩn hóa quy trình lấy mẫu và quy trình kiểm tra chất lượng

34

Rà soát và cập nhật tất cả các quy trình lấy mẫu, vận chuyển, tiếp nhận theo tiêu chuẩn ISO 15189:2012 và hướng dẫn Bộ Y tế.

Thiết lập lại hệ thống nhận diện bệnh nhân bằng mã vạch (barcode) để tránh nhầm lẫn mẫu.

Đảm bảo các quy trình SOP được phổ biến đến từng cá nhân và giám sát chặt chẽviệc tuân thủ.

– Áp dụng công cụ Six Sigma để theo dõi và đánh giá chất lượng

Tính toán chỉ số Sigma cho từng công đoạn trong quy trình lấy mẫu: hành chính

– lấy mẫu – vận chuyển.

Thiết lập bảng theo dõi DPM (Defects Per Million) để xác định tỷ lệ lỗi và mức độ cải tiến cần đạt.

Các công đoạn có chỉ số Sigma < 4 sẽ được xem là ưu tiên cải tiến trước. – Tăng cường hoạt động nội kiểm tra và giám sát chất lượng

Thiết lập nhóm đánh giá chất lượng chuyên trách thực hiện đánh giá nội kiểm định kỳ và đột xuất.

Áp dụng các biểu đồ kiểm soát như Levey-Jennings và quy tắc Westgard trong theo dõi kết quả nội kiểm.

Ghi nhận sai số, phân tích nguyên nhân, đưa ra biện pháp khắc phục và theo dõi hiệu quả cải tiến.

– Ứng dụng công nghệ và thiết bị hỗ trợ

Triển khai phần mềm quản lý thông tin xét nghiệm (LIS) đồng bộ với hệ thống bệnh viện (HIS) để quản lý quy trình xét nghiệm.

Đầu tưthiết bị hỗ trợ lấy mẫu tự động, máy ly tâm, tủ lạnh bảo quản mẫu theo tiêu chuẩn sinh học.

– Nâng cao vai trò của lãnh đạo và cam kết chất lượng

35

Ban giám đốc bệnh viện và lãnh đạo khoa Xét nghiệm cam kết cung cấp đầy đủnguồn lực, hỗ trợ nhân lực và tài chính để triển khai các cải tiến.

Xây dựng và truyền thông chính sách chất lượng “Nhanh chóng –Kịp thời –Chính xác” đến toàn thể cán bộ nhân viên.

c) Điều kiện thực hiện

Trướckhi tiến hành nghiên cứu, đềánđược thông qua bởi hộiđồngKhoa Y Dược trườngĐại học Trà Vinh và Bệnh viện Đồng Nai-2

Đềán tuânthủcác nguyêntắcđạođứcvềtôn trọnglợiích, nguyên vọng vàcông bằngvớimọiđốitượngtham gia.Đốitượngnghiêncứulà quy trìnhlấymẫu trước xét nghiệm vì vậy không xâm hại đến quyền lợi và sức khỏe của người bệnh.

Bảomậtthông tin: Các thông tin cá nhân,kếtquảxét nghiệmđượcbảomật tuyệt đối, chỉ phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, không sử dụng khi chưa có sự đồng ý của bệnh nhân. Tất cả thông tin về người tham gia nghiên cứu được xử lý và mã hoá, công bố dưới hình thức số liệu, không nêu danh sách.

2.3.2. Phân công trách nhiệm thực hiện đề án

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

KHO TÀI LIỆU.rar\TÀI LIỆU 2025 – RAR archive, unpacked size 73,085,793 bytes/ Trần Anh Khoa 2025

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ XÉT NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ XÉT NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ XÉT NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ XÉT NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ XÉT NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ XÉT NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ XÉT NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ XÉT NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ XÉT NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ XÉT NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ XÉT NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ XÉT NGHIỆM TẠI BỆNH VIỆN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *