Chính sách pháp luật hình sự về tội phạm môi trường ở Việt Nam hiện nay

Chính sách pháp luật hình sự về tội phạm môi trường ở Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Bảo vệ môi trường sống là vấn đề đang được cả thế giới quan tâm. Vấn đề bảo vệmôi trườngđược nhận thức từ rất lâutrên thế giới, tuy nhiên chỉ được tập trung nghiên cứu và giải quyết trong nửa sau thế kỉ XX. Các văn bản luật quốc tế về môi trường được chính thức hình thành từ thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, giữa các quốc gia Châu Âu, Châu Mỹ vàChâu Phi. Hội nghị quốc tế về “Con người và môi trường” được tổ chức năm 1972

tại Thụy Điển và sau Hội nghị thượng đỉnh Rio 92 (họp tại Rio de Jianayro – Braxin) bắt đầu cho sự ra đời của nhiều văn bản quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (BVMT)được soạn thảo và kí kết. Cho đến nay, đã có hàng ngàn văn bản luật quốc tế về môi trường, trong đó có khoảng 300 Công ước quốc tế về BVMT. Trong những thập niên gần đây, con người đã ngày càng ý thức được vai trò và tầm quan trọng của môi trường đối với cuộc sống cũng như nhận thức được rằng vấn đề BVMT là vấn đề cấp thiết được quốc gia vàcộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nhận thức sâu sắc tầmquan trọng đặc biệt của việc BVMT và điều này đã được ghi nhận trong văn bản luật và các văn bản dưới luật như Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 của BộChính trị về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hay Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010,địnhhướng đến năm 2020. Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản luật có liên quan đã bước đầu tạo ra những chuyển biến tích cực trong hoạt độngBVMT, đạt được một sốthành tựu cơ bản như mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đã từng bước được hạn chế; công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học đã đạt được những tiến bộ rõ rệt, nhận thức và ý thức về BVMT trong các cấp, ngành vàđời sống

nhân dân được nâng cao…Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì vấn đề ô nhiễm môi trường vẫn diễn ra phổ biến và ngày càng nghiêm trọng. Những năm qua, các tội phạm môi trường (TPMT) vẫn không ngừng gia tăng về cả quy mô và tính chất; các hành vi xâm phạm môi trường ngày càng tăng về số lượng, đa dạng, phức tạp vềtính chất, mức độ nguy hiểm. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình hình các TPMT nhưdo công tác quản lý của các cơ quan chức năng, cơ chế quản lý, chính sách BVMTcủa

1

Nhà nước còn sơ hở, thiếu sót. Công tác đấu tranh, xử lý các TPMT còn nhiều khó khăn, hiệu quả chưa cao. Sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền còn hạn chế,

chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp trong phòng ngừa, đấu tranh, xử lý… Đặc biệt, trong giải quyết một số vụ án về các TPMT giữa các cơ quan tiến hành tố tụng còn mâu thuẫn, lúng túng, không thống nhất về quan điểm khi định tội danh, khi xác định ranh giới giữa tội phạm với không phải là tội phạm, cũng như khi quyết định hình phạt.

Về mặt lý luận, trong những năm qua pháp luật hình sự (PLHS) đã liên tục được nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với chính sách hình sự (CSHS) của Nhà nướcta qua mỗi thời kỳ. Chính sách hình sự là quan điểm của Đảng và Nhà nướcđối với việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm bằng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó biện pháp PLHS là cốt lõi nhằm đảm bảo an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Hoàn thiện CSHS nói chung, chính sách pháp luật hình sự (CSPLHS) nói riêng là việc làm mang tính cấp thiết.

Trong giai đoạn hiện nay, tình hình TPMT đang tiếp tục có nhiều biến động phức tạp do những thay đổi về điều kiện khách quan của kinh tế – xã hội. Thực tiễn cho thấy trong quá trình phát triển kinh tế,lợi dụng chính sách phát triển kinh tế- xã hội nên trong xã hội đã xuất hiện một số hành vi vi phạm pháp luật, thể hiện tính nguy hiểm rất lớn cho xã hội, có nơi, có lúc diễn biến nghiêm trọng nhưng chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS) là tội phạm. Ngược lại, cũngtừ hoạt động thựctiễn của các cơquan tiến hành tố tụng cho thấy, một số hành vi không còn mang tính nguy hiểm cho xã hội đến mức đángkể, không còn phù hợp trong điều kiện hiện nay, thể hiện nhiều năm qua rất ít xảy ra, thậm chí không xử lý về hình sự nên cần được nghiên cứu để loại bỏ. Hay hệ thống hình phạt quy định đối với các TPMT nói chung đã nghiêm khắc vàđápứng được mục đíchtrừng trị, giáo dục người phạm tội. Tuy nhiên quyđịnhvề hình phạt trong một số tội phạm cụ thể còn mâu thuẫn với phần chung. Mức chế tài quy định trong một sốđiều luật cụthểcòn thểhiện sựbấthợp lý khi so sánh trong mối tương quan chung, chưa tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Cóthể nhận thấy rằng, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước cũng sẽ đặt ra cho chúng ta những thách thức, khó khăn trong việc điều tra,xử lýcác TPMT. Trong giai đoạn này, Đảng và Nhà nước ta đã và đang đặt ra yêu cầu tiếp tục công cuộc cải

2

cách tư pháp, cải cách hành chính nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Xãhội chủ nghĩa (XHCN) thể hiện trong Nghị quyết số 27/NQ-TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhànước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, bảo vệ trật tự, kỷ cương; bảo đảm và tôn trọng quyền dân chủ, quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân. Chính vì vậy, đẩy mạnh xây dựng pháp luật, giải thích, hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là những công việc hết sức cần thiết. Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư phápđến năm 2020 cũng đề ra một trong những phương hướng quan trọng, đó là hoàn thiện chính sách PLHS phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trên cơ sởnhững định hướng lớn của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm, nghiên cứu quyđịnh trong BLHS hiện hành về các TPMT, NCS cho rằng còn những khoảng trống, bất cập về lý luận. Vì những lý do trên, việc nghiên cứu CSPLHS về các TPMT; nghiên cứu và đánh giá thực trạng CSPLHS về các TPMT; nghiên cứu các quan điểm, chính sách của Đảngvà Nhà nước ta về bảo vệ môi trường là việc làm cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Việc nghiên cứu lý luận cũng như đánh giá thực trạng CSPLHS về các TPMTđểnắm bắt được những thuận lợi, những khó khăn, hạn chế, thiếu sót và từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện kịp thời nhằm đấu tranh phòng, chống nhóm TPMT là vấn đề mang tính cấp thiết, tính thời sự. Xuất phát từ những phân tích trên, NCS lựa chọn nghiên cứu đề tài “Chính sách pháp luật hình sự về tội phạm môi trường ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu

Luận án cung cấp hệ thống lý luận về chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường, đánh giá những ưu điểm và những hạn chế, khó khăn trong thực tiễn thực hiện chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường,

3

góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện công tác đấu tranh phòng, chống nhóm tội phạm này một cách nhanh chóng, kịp thời và đạt hiệu quả.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Đểđạtđượcmụcđích nêu trên, luận ánđặtra và giải quyết những nhiệmvụchủ yếu sau:

– Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài liên quan đến chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường, đánh giá khái quát phạm vi và mức độ nghiên cứu của những công trình này nhằm xác định những nội dung được kế thừa và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án.

– Phân tích những vấn đề lý luận về chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường, bao gồm khái niệm, đặc điểm, mục tiêu, nội dung của chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường; các lĩnh vực thực hiện chính sách pháp luật hình sựvề các tội phạm môi trường.

– Phân tích, đánh giá thực trạng thể hiện của chính sách pháp luật hình sự về các

tội phạm môi trường bao gồm: chính sách về tội phạm và chính sách về hình phạt đối với các tội phạm môi trường và thực tiễn thực hiện chính sách pháp luật hìnhsự để phát hiện xử lý và quyết định hình phạt đối với các hành vi phạm tội thuộc nhóm tội phạm về môi trường.

– Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường và các giải pháp bảo đảm thực hiện chính sách pháp luật hình sựvề các tội phạm môi trường ở Việt Nam hiện nay.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượngnghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường ở Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Về nội dung: Dưới góc độ khoa học pháp lý, quan niệm như thế nào là CSHS vàCSPLHS đã được nhiều tác giả quan tâm, đề cập đến trong các sách, báo pháp lý. Trongđó, các tác giả đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về CSHS và CSPLHS; sự khác nhau nàychủyếu xuất phát từquan niệm theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp chứkhông có sự

4

khác nhau về nội dung và những bộ phận tạo thành CSHS và CSPLHS. Với nhận thức của mình, tác giả cho rằng nội dung và các bộ phận cấu thành của CSHS được thể hiện ở chính sách pháp luật hình sự, chính sách pháp luật tố tụng hình sự, chính sách pháp luật thi hành án hình sự và chính sách phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, trong phạm vi nội dung củaluận án là nghiên cứu CSPLHSvềcác TPMT, tác giảtập trung làm rõ CSPLHS về các TPMT gồm chính sách về tội phạm và chính sách về hình phạt đối với các TPMT; đánh giá thực trạng và thực tiễn thực hiện chính sách về tội phạm và chính sách về hình phạt đối với các TPMT; xác định định hướng hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường ở Việt Nam trong thời gian tới.

– Về không gian: Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan

đến chính sách tội phạm và chính sách hình phạt đối với các TPMT ở Việt Nam hiện nay.

– Về thời gian: Luận án tiến hành thu thập và nghiên cứu số liệu thống kê từ năm 2010 cho đến nay.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 4.1. Phương pháp luận

Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của

Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách của Nhà nước Cộng hòa Xãhội chủnghĩa Việt Nam vềđường lối đổi mới đất nước, tinh thần cải cách tư pháp, chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và các TPMT nói riêng.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận án, tùy yêu cầu, mục đích chính của từng vấn đề,

từng phần, chương, mục…; tác giả dự kiến sử dụng các phương pháp cụ thể sau đây:

– Phương pháp phân tích: phương pháp này sử dụng để nghiên cứu các tài liệu, bài viết liên quan đến CSPLHS về các TPMT. Tác giả phân tích, vận dụng phương pháp đểlàm rõ các vấn đề về CSPLHS về các TPMT.

– Phương pháp thống kê: phương pháp được sử dụng để thống kê điều tra, thu thập số liệu về tình hình thực hiện CSPLHS về các TPMT. Trên cơ sở các số liệu đã thống

5

kê, tác giảphân tích, so sánh, đánh giá cácsốliệu đểlàm rõ thực trạng thực hiện CSPLHS về các TPMT nhằm phát hiện, xử lý và áp dụng hình phạt đối với các hành vi phạm tội thuộc nhóm TPMT.

– Phương pháp so sánh pháp luật: phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu lý luận và thực tiễn về CSPLHS về các TPMT thông qua các quy định cụ thể của pháp luật hình sự trong nước qua các thời kì; đối chiếu, so sánh với các quy định đã được kýkết trong các hiệp định quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, ký kết.

– Phương pháp phân tích cácvụ ánđiển hình: thông qua cácvụ ánđiển hìnhđược thu thập, luận án sẽ luận giải những vấn đề pháp lý để làm rõ, chỉ ra những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng,từ đóđưa ra quan điểm đường lối xử lý nhằm góp phần hoàn thiện CSPLHS về các TPMT.

– Phương pháp tổng kết thực tiễn: phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu,

tổng kết, đánh giá những kết quả từ thực tiễn thực hiện CSPLHS về các TPMT. Việc vận dụng các quy định của phápluật hình sự để xử lýcác TPMT và áp dụng hình phạt cho các hành vi phạm tội này nhằm đúc kết kinh nghiệm, từ đó đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện CSPLHS về các TPMT.

– Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: phương pháp này được sử dụng để tham khảo ý kiến của các cán bộ thực tiễn, các chuyên gia nghiên cứu về những vấn đề có liên quanđếnCSHS, CSPLHSvềcác TPMT. Việc nghiên cứu này có thểđượctiến hành thông qua các ấn phẩm, chuyên khảo, đề tài khoa học, sách báo, tạp chí pháp lýđã được xuất bản, nghiệm thu có đề cập đến nội dung nghiên cứu của luận án.

– Phương pháp xã hội học pháp luật: phương pháp này được sử dụng để nhận diện các dấu hiệu, mục tiêu, nguyên tắc và các phương tiện của chính sách pháp luật nói chung và chính sách hình sự nói riêng.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Đâylà luận án Tiến sĩđầu tiên nghiên cứu một cách có hệthống, toàn diện và chuyên sâu về CSPLHS về các TPMT trong khoa học luật hình sự Việt Nam, cụ thể:

Thứnhất, Luận án tiếp tục kếthừa, phát hiện và đưa rađược khái niệm vàđặc điểm của CSPLHS về các TPMT. Tác giả chỉ ra nội hàm của khái niệm về CSPLHS vềcác TPMT cũng như đề cập đến những đặc điểm đặc trưng của CSPLHS về các TPMT.

Chính sách pháp luật hình sự về tội phạm môi trường ở Việt Nam hiện nay
Chính sách pháp luật hình sự về tội phạm môi trường ở Việt Nam hiện nay

Thứhai, Luận án phân tích, làm rõ các mục tiêu, đốitượng và nội dung của CSPLHS về các TPMT. Đối với mục tiêu, tác giả xác định các mục tiêu cơ bản cụ thểmà CSPLHS về các TPMThướngtới. Về nội dung, tác giả xác định giới hạn nội dung của CSPLHS về các TPMT: chủ yếu xác định nội dung chính liên quan đến chính sách tội phạm và hình phạt đối với nhóm tội phạm môi trường. Về đối tượng, tác giả xác định đối tượngcủa CSPLHS về các TPMT là những cơ sở, nhu cầu của việc nghiên cứu và hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự đối với nhóm tội phạm này.

Thứ ba, Luận án làm rõ được thực trạng thể hiện của chính sách về tội phạm vàchính sách hình phạt đối với các TPMT. Thông qua các quy định trong pháp luật hình sự về các TPMT, tác giả đưa ra sự đánh giá những ưu điểm, hạn chế, thiếu sót trong chính sách về tội phạm và chính sách hình phạt đối với các TPMT.

Thứ tư, Luận án đánh giá được thực tiễn thực hiện chính sách pháp luật hình sự đểphát hiện, xử lý, áp dụng hình phạt đối với các TPMT. Trên cơ sởthực tiễn áp dụng pháp luật hình sự xử lý các TPMT, được thể hiện chủ yếu thông qua các số liệu thống kê và các vụ án cụ thể, tác giả sẽ đưa ra được sự đánh giá về tính hiệu quả của việc thực hiện CSPLHS về các TPMT, chỉ ra những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện để định tội danh cũng như xác định trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt.

Thứ năm, Trên cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về CSPLHS về các TPMT đãđược đánh giá, tác giảđềxuất, gợi mởcác giải pháp cụthểvà thiết thực nhằm hoàn thiện CSPLHS về các TPMT. Vàđể có cơsở đưa ra các giải pháp phù hợp, có tính khả thi, tác giả làm rõ những định hướng cho việc đưa ra các giải pháp CSPLHS về các TPMT.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận án cung cấpcơsởlý luận và cơsởthực tiễn cho hoạt độngnghiên cứu CSPLHS về các TPMT. Thông qua những kết quả nghiên cứu trong luận án sẽ góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự đối với các TPMT; đặc biệt là nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với các TPMThướng đến việc hạn chế vàkiểm soát đối với nhóm tội phạm này nhằm bảo vệ môi trường Việt Nam hiện nay.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ nghiên cứu về xây dựng pháp luật, các cánbộ hoạt độngthực tiễn, tổ chức thực hiện và áp dụng pháp luật. Ngoài

7

ra, luận án còn là tài liệu bổ ích cho việc nghiên cứu giảng dạy môn học Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự, Tội phạm học, Khoa học Điều tra hình sự trong các học viện, các trường đại học đào tạo về Luật.

7. Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận án gồm 04 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường.

Chương 2: Những vấn đề lýluận về chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường.

Chương 3: Thực trạng chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường và thực tiễn thực hiện chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường ở Việt Nam hiện nay.

Chương 4: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách pháp luật hình sựvề các tội phạm môi trường ở Việt Nam.

8

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ CÁC TỘI PHẠM MÔI TRƯỜNG

Chính sách hình sự nói chung và chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường nói riêng là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường có mối quanhệ gắn bómật thiết với chính sách

về kinh tế, chính sách xã hội, chính sách văn hóa…nhằm mục đích phục vụ cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh sự phát triển tích cực của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án và để tham khảo cách tiếp cận vấn đề đa phương diện, đa ngành, tác giả lựa chọn tóm lược dưới đây một số công trình khoa học tiêu biểu của những tác giả nghiên cứu trong nước và nước ngoài về chính sách pháp luật hình sự và chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường.

1.1. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước

1.1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách pháp luật hình sự

1.1.2. Các công trình, bài viết nghiên cứu liên quan đến chính sách pháp luật hình sự về tội phạm môi trường

1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

1.2.1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến chính sách pháp luật hình sự

1.2.2. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường

1.3. Đánh giá về những kết quả nghiên cứu khoa học đã công bố mà luận án sẽ kế thừa và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến CSPLHS về các TPMT, tác giả có một số nhận xét, đánh giá như sau:

1.3.1. Những kết quả nghiên cứu mà luận án sẽ kế thừa, tiếp tục phát triển

Qua xem xét các công trình nghiên cứu trong và ngoàinước về vấn đề nghiêncứu của luận án, NCS tổng kết được các vấn đề đã được công bố, đề cập, phân tích làm rõ và có kết luận như sau:

27

Thứ nhất, Các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên mang giá trị lý luận cao trong việc nghiêncứucácvấnđềvềCSPL nói chung, CSHS nói riêng,đặcbiệt làCSPLHS đối với một đối tượng chủ thể phạm tội hoặc một nhóm tội phạm cụ thể. Các công trình này đã cho tác giả nền tảng lý luận cơ bản để triển khai nghiên cứu cho đề tài luận án của mình. Dựa trên nền tảng lý luận của các công trình nghiên cứu, tác giả phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận chung về CSPLHS đối với các TPMT cũng như các hình thức thể hiện của CSHS về tội phạm, CSHS về hình phạt đối với nhóm TPMT.

Thứ hai, Các nhà nghiên cứu đều đồng nhất cho rằng TPMT là hành vi nguy hiểm xâm hại tới các quan hệ xã hội là môi trường sống tự nhiên và được TPH trong luật hình sự. Các công trình nghiên cứu nêu trên đều đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến các TPMT như: khái niệm, dấu hiệu pháp lý chung của các TPMT và dấu hiệu pháp lý của từng tội phạm cụ thể trên cơ sở phân tích bốn yếu tố cấu thành

tội phạm, mà nổi bật là ở các tài liệu là giáo trình giảng dạy trong các cơ sở đào tạo luật và nghiên cứu bình luận BLHS chuyên sâu của các tác giảtrong các thời kỳ. Những nghiên cứu này một phần sử dụng cho phần cơ sở lý luận để giúp cho tác giả làm sâu sắc thêm khung lý thuyết TPMT trong luận án nghiên cứu của mình.

Thứ ba, Các công trình nghiên cứu nêu trên nghiên cứu về thực tiễn áp dụng quyđịnh của PLHS đối với các TPMT trên một địa bàn cụ thể và nghiên cứu chuyên sâu vềhình phạt được áp dụng đối với các TPMT thông qua công tác xétxử để đánhgiá tồn tại, vướng mắc, nguyên nhân cơ bản. Một số công trình nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học về môi trường, dự báo tình hình các TPMT trong thời gian sắp tới nhưng nhìn chung hầu hết các công trình nghiên cứu trên đều đưa ra được những kiến nghị trong việc hoàn thiện các quy định của PLHS về nhóm các TPMT trong tương lai. Mặc dù các công trình nêu trên chủ yếu đánh giá về các quy định PLHS đối với các TPMT, chưa nghiên cứu dưới góc độ CSPLHS về các TPMT nhưng các công trình nêu trên vẫn là nguồn tài liệu quý báu cho NCS kế thừa và luận giải cho các luận điểm nghiên cứu của mình trong luận án.

Thứ tư, Đứng trước sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nhiều tác giả đã nghiên cứu và cũng đã chỉ ra một vài xu hướng hoàn thiện pháp luật về

28

các TPMT trong tương lai. Qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu cho thấy, các công trình nghiên cứu nêu trên phần lớn đều đưa ra các giải pháp được tiếp cận phù hợp với những yêu cầu thiết yếu của lịch sử, phù hợp với các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội trong giai đoạn cụ thể. Các giải pháp này đã được nghiên cứu nhằm khắc phục những bất cập về hệ thống CSPL, quy định pháp luật, cơ chế thực hiện, biện pháp thực hiện trong thực tiễn xử lý các hành vi phạm tội về môi trường. Bên cạnh đó, đứng trước sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nhiều tác giả đã nghiên cứu và cũng đã chỉ ra một vài xu hướng hoàn thiện pháp luật về các TPMT trong tương lai. Qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu này giúp cho tác giả rút ra được nhiều bài học và kinh nghiệm quý báu đểthực hiện luận án một cách hiệu quả, đưa ra được các định hướng hoàn thiện CSPLHS vềcác TPMT phù hợp với điều kiện thực tiễn ở nước ta hiện nay.

1.3.2. Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Trên cơsở kế thừa,tiếp thu có chọn lọc những tri thức đã được tổng kết ở các công trình khoa học trong và ngoài nước để bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý luận, thực tiễn về CSPLHS về các TPMT, luận án cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các vấn đề cụ thể sau:

Thứ nhất, Luận án nghiên cứu, làm rõ những nhận thức cơ bản về CSPLHS về các TPMT. Cụ thể: làm rõ khái niệm và đặc điểm của CSPLHS về các TPMTđể nắm bắt được nội hàm của lĩnh vực này cũng như những thuộc tính cơ bản, làm nền tảng cho hoạt động triển khai nghiên cứu.

Thứ hai, Luận án xác định rõ các mục tiêu của CSPLHS về các TPMT để nắm bắt được tính hướng đích, xác định rõ yêu cầu và các yếu tố bảo đảm thực hiện CSPLHSvềcác TPMT; xác định nội dung, đối tượng của CSPLHS về các TPMT; từ đó là cơ sở xác định đúng vấn đề luận án cần nghiên cứu, đánh giá về CSPLHS về các TPMT là gì, cũng như những yếu tố ảnh hưởng, tác động đến vấn đề triển khai CSPLHS về các TPMT trong thực tiễn.

Thứ ba, Luận án phân tích, đánh giá thực trạng thể hiện của CSPLHS về các TPMT bao gồm: chính sách về tội phạm và chính sách về hình phạt đối với các TPMT và thực tiễn thực hiện CSPLHS vềcác TPMT trong xây dựng PLHS vềcác TPMT; trong áp dụng PLHS về các TPMT và trong xây dựng, phát triển ý thức PLHS về các TPMT.

29

Thứtư, Trên cơ sởđánh giá thực trạng và thực tiễn thực hiện CSPLHS vềcác TPMT, luận án xác định các yêu cầu bảo đảm hoàn thiện CSPLHS về các TPMT và các giải pháp hoàn thiện CSPLHS về các TPMT ở Việt Nam hiện nay.

1.4. Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 1.4.1. Giả thuyết nghiên cứu

Một là, lý luận về CSPLHS về các TPMT đã được hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh, chưa thống nhất, còn có những vấn đề cần phát triển, cần hệ thống hóa.

Hai là, thực tiễn thực hiện CSPLHS về các TPMT trong xây dựng PLHS về các TPMT; trong áp dụng PLHS về các TPMT và trong xây dựng, phát triển ý thức PLHS về các TPMT cần được làm rõ, chỉ ra những hạn chế, thiếu sót cần khắc phục.

Ba là, giải pháp hoàn thiện CSPLHS về các TPMT cũng như các giải pháp bảo đảm thực hiện CSPLHS về các TPMT chưa được đề cập đến, cần đề xuất các giải pháp hoàn thiện CSPLHS về các TPMT có tính hiệu quả, tính hệ thống trong bối cảnh cải cách tư pháp, xu hướng hội nhập quốc tế.

1.4.2. Câu hỏi nghiên cứu

Trên cơ sở các giả thuyết nghiên cứu nêu trên, luận án hướng tới giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:

1. Quan niệm như thế nào về CSPLHS về các TPMT? Đặc điểm của CSPLHS vềcác TPMT hiện nay như thế nào? Khác gì so với các nhóm tội phạm khác?

2. Các mục tiêu của CSPLHS về các TPMT là gì? Dựa trên cơsở nào để xác định các mục tiêu của CSPLHS về các TPMT?

3. Nội dung của CSPLHS về các TPMT như thế nào? CSPLHS về các TPMT được thực hiện trên các lĩnh vực nào?

4. Thực tiễn áp dụng CSPLHS về các TPMT trong xây dựng PLHS về các TPMTở Việt Nam có những đặc điểm gì?

5. Thực tiễn áp dụng CSPLHS về các TPMT trong áp dụng PLHS về các TPMT ởViệt Nam có những đặc điểm gì?

6. Thực tiễn áp dụng CSPLHS về các TPMT trong xây dựng và phát triển ý thức PLHS về các TPMT ở Việt Nam có những đặc điểm gì?

7. Hoàn thiện CSPLHS về các TPMT cần đảm bảo những yêu cầu gì?

30

8. Cần những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả thực hiện CSPLHS về các TPMTở Việt Nam trong thời gian tới?

31

Kết luận chương 1

Nghiên cứu các công trình khoa học ở trong nước và ngoài nước về CSPLHSvềcác TPMT, có thể đi đến một số kết luận như sau:

Trên cơ sở tài liệu là luận án, sách giáo trình, sách chuyên khảo, cácđề tàikhoa học, bài báo được công bố trên các tạp chí và căn cứ vào đối tượng nghiên cứu là CSPLHS về các TPMT, luận án đã triển khai nội dung tình hình nghiên cứu theo hai vấn đề lớn là:

Tình hình nghiên cứu trong nước và tình hình nghiên cứu ngoài nước. Trong đó, với mục đích có được các luận điểm khoa học về các vấn đề liên quan đến CSPLHS về các TPMT một cách toàn diện nhất, luận án đã lựa chọn các tài liệu mang tính đa ngành và triển khai tiếpcậncác tài liệu nghiêncứutheo từng nhómvấnđề:các công trình nghiêncứuvềCSPLHS và các công trình nghiên cứu về CSPLHS về các TPMT.

Các công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới đã đề cập đến các TPMT từ khásớm, một số lượng lớn các công trình nghiên cứu tổng quát và giải quyết các tình huống thực tiễn cụ thể. Trong đó, có nhiều quan điểm khoa học có giá trị cần được tiếp thu nghiên cứu các vấn đề tương ứng ở Việt Nam, cũng như sử dụng để đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định đối với các TPMT. Một số nghiên cứu chuyên sâu về TPMT nhưng cách tiếp cận vấn đề không dựa trên quan điểm duy vật biện chứng mà tập trung nghiên cứu chuyên sâu vào từng vụ việc cụ thể như thực trạng buôn bán động vật hoang dã, quý hiếm hay nghiên cứu một tình huống cháy rừng gây ô nhiễm môi trường ở một quốc gia nào đó và đặc biệt không căn cứ vào quy địnhcủa PLHS đối với các TPMT cụ thể.

Ở Việt Nam các TPMT được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu từ sau khi BLHS năm 1985 ra đời và đặc biệt được nghiên cứu nhiều nhất từ sau khi BLHS năm 1999 và trước khi BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành. Nhiều công trình khoa học nghiên cứu tương đối toàn diện về một số vấn đề liên quan đến TPMT ở các phạm vi khác nhau. Các kết quảnghiên cứu đã góp phần quan trọng trong việc làm sáng tỏnhững vấn đề lýluận đối với các TPMT. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu khoa học có đề cập đến vấn đề TPMT còn tản mạn, giải quyết ở từng vấn đề nhỏ, nghiên cứu chủyếucác quyđịnh của PLHS vềcác TPMT, chưa có công trình nghiên cứunào

32

nghiên cứu về CSPLHS về các TPMT. Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên đã cung cấp cho tác giả những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh phòng, chống các TPMT để làm cơ sở tiếp tục nghiên cứu, kiến nghị hoàn thiện CSPLHS về các TPMT ở Việt Nam hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và các TPMT nói riêng.

33

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

VỀ CÁC TỘI PHẠM MÔI TRƯỜNG

2.1. Khái niệm và đặc điểm của chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường

2.1.1. Khái niệm về chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường

Ở các quốc gia, việc điều hành, quản lý xã hội của Nhà nước bao giờ cũng được thực hiện bằng chính sách, tức là bằng việc xác định hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Nhà nước trong đời sống xã hội [84, tr.5]. Ở nước ta, vấn đề CSHS từ lâuđãthu hút sự quan tâm của Đảng, của Nhànước,các nhà khoa học và các nhà hoạt động thực tiễn. Thuật ngữ “chính sách hình sự” xuất hiện trong khoa học pháp lý từ những năm đầu của thập kỷ 90 [84, tr.5]. Hiện nay, trong khoa học Luật hình sự Việt Nam, còn

tồn tại nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về CSHS. Cụ thể:

Theo quan điểm của GS.TSKH. Đào Trí Úc, CSHS là một bộ phận của CSPL, bởi vì đó là những định hướng, những chủ trương trong việc sử dụng PLHS vào lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm và phòng ngừa tội phạm [83, tr.17].

Theo GS.TSKH Lê Cảm thì cho rằng CSHS trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền “là những phương hướng có tính chất chỉ đạo, chiến lược của Nhànước trong lĩnh vực tội phạm và hình phạt nhằm xây dựng, hoàn thiện PLHS, pháp luật tố

tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự, cũng như thực tiễn áp dụng chúng, đồng thời soạn thảo và triển khai các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm ” [22, tr.24- 25] hay nói cách khác thì CSHS trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền lànhững phương hướng có tính chất chỉ đạo, chiến lược của nhà nước trong lĩnh vực tội phạm và hình phạt nhằm xây dựng, hoàn thiện PLHS, pháp luật TTHS và pháp luật thi hành án hình sự cũng như thực tiễn áp dụng chúng, đồng thời soạn thảo và triển khai

các biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm… và suy cho cùng CSHS là chính sáchđấu tranh phòng chống tội phạm nhằm biến các nguyên tắc chung của Nhà nước pháp quyền vào thực tế cuộc sống [22, tr.35].

34

Theo PGS.TS Trịnh Tiến Việt cũng đưa ra khái niệm về CSHS trước thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, theo đó: “Chính sách hình sựViệt Nam trước thách thức cách mạng công nghiệp 4.0 là các chủ trương, đường lối, sách lược lớn của Nhà nước trong việc sử dụng PLHS vào hoạt động đấu tranh phòng và chống tội phạm,định hình những vấn đề pháp lý hình sự và cụ thể hóa các quanđiểm, thái độ xử lý đối với những vấn đề đó trên nền tảng các chính sách xã hội kết hợp với thành tựu cách mạng khoa học và công nghệ, góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống PLHS quốc gia, đáp ứng yêu cầu xã hội trong xu thế toàn cầu hóa và phòng, chống tội phạm” [135, tr.41]. Và CSHS có vai trò rất lớn trước thách thức này, thông qua CSHS bảo đảm xây dựng nền tảng chính trị – pháp lý vững chắc và ổn định, cùng với đó là việc xây dựng và hoàn thiện PLHS nói chung, hệ thống tư pháp hình sự trong tương lai tương thíchđểđiều chỉnh được những thay đổi của các quan hệ xã hội, cũng như sự tăng, giảm của tình hình tội phạm và mức độ trấn áp, răn đe hay giáo dục, phòng ngừa, hướng thiện trong BLHS. Đặc biệt, ở mức độ rộng hơn, CSHS còn góp phần tìm hiểu nguyên nhân của tội phạm, nghiên cứu các biện pháp đối phó với tội phạm, dự báo tội phạm và những thayđổi của tội phạm, cũng như tìm ra điểm hạn chế trong hệ thống tư pháp hình sự hiện hành để tiếp tục hoàn thiện hơn.

Theo GS.TS Võ Khánh Vinh, khái niệm CSHS được hiểu theo hai nghĩa: ở nghĩa hẹp thì CSHS là tổng thể tất cả các nguyên tắc, mục tiêu, định hướng và biện pháp hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ các quan hệ xã hội bằng PLHS. Chính sách hình sự ở nghĩa hẹp được hiểu là CSPLHS: xây dựng và áp dụng PLHS; và ở nghĩa rộng CSHS là tổng thể tất cả các nguyên tắc, mục tiêu, định hướng sử dụng PLHS, pháp luật TTHS, pháp luật điều tra hình sự và pháp luật thi hành án hình sự để đấu tranh với tình hình tội phạm [140, tr.6].

Từ những quan điểm và khái niệm trên của một số tác giả, cho thấy sự khác nhau trong cách tiếp cận, nhận thức, tuy nhiên mỗi quanđiểm đều thể hiện cơsở khoa học, thực tiễn và tính đúng đắn của nó. Mặc dù cách nhìn nhận khác nhau nhưng về cơ bản, các tác giảđều thừa nhận CSHS là một bộphận của chính sách xã hội nói chung vàCSPL nói riêng, mà nội dung của nó đề cập đến những định hướng, quan điểm, mục tiêu chiến lược của Nhà nước về lĩnh vực tư pháp hình sự trong hoạt động đấu tranh phòng,

35

chống tội phạm. Cụ thể, bao gồm: CSPLHS, CSPL tố tụng hình sự, CSPL điều tra hình sự, CSPL thi hành án hình sự và chính sách phòng ngừa tình hình tội phạm [149, tr.410]. CSHS hướng đến việc hoàn thiện các quyđịnh của pháp luật cũng như hiệu quảcủa công tác thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm.

Là một hiện tượng xã hội đặc biệt, tội phạm có nguyên nhân vàđiềukiện xã hội, thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.Đấutranh phòng ngừa vàchống tội phạm là nhiệm vụ của toàn xã hội, với nhiều loại biện pháp khác nhau, nhưchính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật, tư tưởng, đạo đức, truyền thống… Do đó, chính sách đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm phải là những định hướng tổng hợp liên quan đến nhiều chính sách khác nhau, như chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, chính sách giáo dục, đào tạo, CSPL… Các giải pháp trong mọi lĩnh vực củađời sống xã hội, suy cho cùng đều ảnh hưởng đến hiệu quả cuộc đấu tranh phòng ngừa vàchống tội phạm. Tuy nhiên, không phải giải pháp nào cũng nhằm mục đích trực tiếp đấu tranh với tội phạm, mà mỗi giải pháp có mục tiêu cụ thể khác nhau, đó có thể là mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội…Mụctiêu chủ yếu của CSHS là tính hiệu quả của việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cho nên CSHSphải là định hướng sửdụng PLHS cũng như các ngành luật liên quan như TTHS, thi hành án hình sự và tổ chức đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm [70, tr.20].

Tác giả cho rằng, nếu tiếp cận theo nghĩa rộng thì CSHS là toàn bộ những quanđiểm, tư tưởng chiến lược, tổng thể về tội phạm của Đảng và Nhà nước ta đảm bảo cho cuộc đấu tranh phòng ngừa và chốngtộiphạm có hiệuquảtrên mọi phương diện vàđược ghi nhận trong các văn bản của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Hiểu theo nghĩa hẹp CSHS là chính sách PLHS, là quan điểm, tưtưởngchỉ đạo của Đảng, nhà nước ta vềtội phạm và hình phạt, thể hiện trong quá trình xây dựng, áp dụng PLHS và nâng caoý thức trình độ luật pháp của nhân dân [84, tr.6]. Cách tiếp cận khái niệm theo nghĩa hẹp cũng được thể hiện trong Từ điển Luật học như sau: “CSHS là chính sách của Nhà nước đối với việc đấu tranh phòng, chống tội phạm bằng biện pháp PLHS nhằm đảmbảoan ninh chínhtrịvà trậttự,an toàn xã hội. CSHS cóthểmang tính chất đường lối, chiến lược lâu dài như “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”, “trừng trị

kết hợp với giáo dục cải tạo”… nhưng cũng có thể mang tính chất sách lược được

36

thực hiện trong những giaiđoạnnhấtđịnhcũng nhưđốivớinhững loạitộiphạm

hoặc đối tượng nhất định…”[151, tr.138].

Mặc dù có thểtiếp cận CSHSdưới các góc độ, phạm vi rộng, hẹp khác nhau, nhưng rõ ràng nói đến CSHS là nói đến hệ thống tư tưởng, chủ trương, quan điểm mang tính chất chỉ đạo thông qua các Nghị quyết hoặc các văn bản của Đảng để giải quyết các vấn đề hình sựtrong xây dựng, sử dụng PLHS vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. ThuộcvềCSHS cóthểlà đường lối chiến lượclâu dài trong đấutranh phòng chống tội phạm nói chung và cũng có thể là sách lược đấu tranh phòng chống tội phạm ở giai đoạn nhất định, đối với một loại tội phạm nhất định. CSHS được “hiện thực hoá” ở nhiều loại văn bản khác nhau nhưng ở Việt Nam hiện nay, CSHSđược thể hiệntập trung nhất, rõ nhất và cụ thể nhất trong BLHS hiện hành. Tất cả các điều luật của BLHSđều thể hiện ở các cấp độ khác nhau chính sách của Nhà nước Việt Nam về đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đồngthời, BLHS cũng là cơsởpháp lí đểgiải thích, tuyên truyền và thực hiện CSHS trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm. Nội dung cốt lõi của CSHS đó là chính sách đấu tranh phòng, chống tội phạm bằng PLHS. Vì vậy, CSHS được thể hiện ở hai phương diện cơ bản là: chính sách về tội phạm, hình phạt vàchính sách về tổ chức đấu tranh phòng, chống tội phạm. Phương diện thứ nhất phản ánh mức độ phản ứngcủa Nhà nước, của xã hội đối với tội phạm và người phạm tội thông qua việc xác định hành vi nào là tội phạm và tính chất, mức độ, hình thức xử lý TNHS. Phương diện thứhai là đườnghướng triển khai (những quanđiểm đánh giácủaNhà nước về tội phạm vàhình phạt) trên thực tế thông qua việc tổ chức đấu tranh phòng vàchống tội phạm. Hai nội dung này của CSHS có mối quan hệ gắn bó trong một thể thống nhất, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng, cái này làtiền đềcủa cái kia và ngược lại. CSHS đúng đắn phải là sự kết hợp chặt chẽ giữa chính sách về tội phạm, hình phạt vàchính sách về tổ chức đấu tranh phòng chống tội phạm [84, tr.6-7].

CSPLHS làmộtbộphận cấuthành của CSHS nhằm xácđịnhnhững phương hướng cơ bản có tính chất chỉ đạo của Nhà nước trong hoạt động lập pháp và áp dụng PLHS, đảm bảo sự ổn định của hệ thống PLHS, tăng cường việc bảo vệ các quyền và tựdo của con người, cũng như các lợi ích hợp pháp của xã hội và của nhà nước bằng PLHS, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm [82,

37

tr.18-19]. Các TPMT, nhìn nhận dưới góc độ CSPLHSlà khái niệm chung để chỉ tất cảcác tội phạm có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới các hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức trong quản lý và được quy định cụ thể tại Chương XIX, BLHS hiện hành. CSPLHS về các TPMT là một bộ phận, một nội dung hợp thành của CSPLHS. Hay nói cách khác, CSPLHSđược thể hiện đối với tổngthể các tội phạm vàđối với từngloại tội phạm cụ thể, trong đó có các TPMT. Mối quan hệ giữa CSPLHS và bộ phận CSPLHS về các TPMT là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa tổng thể với bộ phận cấu thành tổng thể đó.

Ởphương diện chính sáchvềtộiphạm và hình phạt,vớitư cách làmộtbộphận của CSHS, hướng triển khai đồng thời là mục tiêu cụ thể thì CSPLHS về các TPMT bao gồm việc xác định phạm vi điều chỉnh của PLHS trong lĩnh vực BVMT thông qua việc quy định những hành vi VPPL về môi trường nào là TPMT; xác định tính chất, mức độ tác động bằng các hình thức TNHS, thông qua việc quy định các loại hình phạt và mức độ của các loại hình phạt đối với các TPMT; xác định quá trình hình thành và phát triển ý thức của con người và xã hội về các TPMT thông qua việc sử dụng PLHS.

Từ các phân tích trên, có thể hiểu: Chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm vềmôi trường là cácchủtrương, đường lối, sách lược củaNhà nước trong việc xây dựng, sử dụng pháp luật hình sự vào hoạt động đấu tranh phòng, chống các tội phạm môi trường một cách hiệu quả, góp phần bảo vệ môi trường; bảo vệ tính mạng, sức khỏe của con người; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường bền vững.

2.1.2. Đặc điểm của chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường

Từ khái niệm cũng như việc nhận thức nội hàm của CSPLHS về các TPMT, cóthể rút ra được các đặc điểm về CSPLHS đối với nhóm tội phạm này, cụ thể nhưsau:

Thứ nhất, chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường xuất pháttừtính nguy hiểm cho xã hội của các hành vi vi phạm môi trường

CSPLHS về các TPMT là chính sách đối với hành vi xâm phạm đến môi trường bị coi là tội phạm và chính sách về hình phạt cần được áp dụng đối với nhóm tội phạm này. Việc xác định CSPLHS về các TPMT đòi hỏi phải nhận thức một cách đầy đủ bản

38

chất, vai trò và sự tồn tại của các yếu tố hợp thành. Mỗi yếu tố (đối tượng) đều có giá trị riêng và cần được bảo hộ và bảo vệ. Tuy nhiên, lựa chọn yếu tố nào để bảo vệ bằng biện pháp hình sự thì phải căn cứ vào tình hình điều kiện kinh tế, xã hội từng giai đoạn cụ thể. Nói cách khác, tùy thuộc vào nhận thức của con người đối với vai tròcủa yếu tốđó trong mỗi giai đoạn.

Việc nghiên cứu CSPLHS về các TPMT phải đặt trong mối quan hệ với các CSPL khác. So với các hành vi VPPL ở các lĩnh vực khác, chủ thể vi phạm có thể bị xử lý vềhình sự hoặc xử lý về hành chính, tuy nhiên, hành vi xâm phạm trong lĩnh vực BVMT thì chủ thể có thể bị xử lý bằng nhiều biện pháp khác nhau. Theo đó, tùy vào tính chất, mức độ của hànhvi xâm phạm môi trường, người xâm phạm có thể bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc hình sự. Việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của cơ quan Thanh tra, Hải quan, Ủy ban nhân dân các cấp; việc áp dụng biện pháp hình sự thuộc thẩm quyền của Tòa án. Pháp luật Việt Nam quy định biện pháp xử lý hành chính và biện pháp xử lý hình sự đối với hành vi xâm phạm môi trườngđể lựa chọn biện pháp áp dụng phù hợp trong từng trường hợp đòi hỏi phải xác định được các tiêu chí và ranh giới cụ thể. Các tiêu chí (căn cứ) áp dụng biện pháp xử lý này phụ thuộc vào CSPL của ngành luật đó quyết định để lựa chọn hành vi xâm phạm thuộc giới hạn mình xử lý. Tuy nhiên, để xác định ranh giới rõ ràng và cụ thể giữa các biện phápxử lýkhông đơn giản. Vì vậy, CSPLHS về các TPMT luôn được đặt trong mối quan hệ với CSPL hành chính đối với việc xử lý các hành vi xâm phạm đến môi trường để xác định các ranh giới cụ thể, tránh trường hợp chồng chéo, mâu thuẫn nhau trong việc xử lý các hành vi xâm phạm.

Thứ hai, chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường xuất phát từchính sách bảo vệ môi trường của quốc gia

Bảo vệ môi trường đang là một trong những vấn đề thách thức lớn của toàn cầu, tác động không nhỏ đến sự phát triển bền vững của các nước trên thế giới. Xác định rõtầm quan trọng của BVMT, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm lãnh đạo, chỉđạo công tác này. Trong nhiều năm qua, hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng về

BVMT của Đảng ta đã thể hiện sự nhất quán, xuyên suốt. Từ Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị khóa IX ban hành về BVMT trongthời kỳ đẩy mạnh

39

CNH, HĐHđấtnước,Nghị quyết 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIvề chủ độngứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài

nguyên và BVMT… đến văn kiện các kỳ Đại hội Đảng IX, X, XI, XII và đặc biệt làĐại hội XIIIđều đãkhẳng định, lấy BVMT sống và sức khỏe của Nhân dân là mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường,bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh,

kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường… Trong Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 – 2025 và định hướng đến 2030 do Thủ tướng Chính phủ kýban hành ngày 14/4/2016 đã nhấn mạnh “tiếp tục xây dựng, hoàn thiện HTPL, tập trung nghiên cứu dự báo, luật hóa kịp thời các hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện. Xây dựng, ban hành kịp thời vănbản hướngdẫn thi hành sau khi các luật, bộ luật có

hiệu lực…” đã đặt ra yêu cầu phải nhận thức thống nhất, cập nhật mới CSHS nhằm đềra phương thức phòng, chống những tội phạm mới, trong đó có các TPMT [173].

Nhằm cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về công tác BVMT, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành các văn bản quy định cơ chế quản lý đối với từng lĩnh vực môi trường vàxử lýVPHC trong lĩnh vực môi trường như: Nghị định số 155/2016/NĐ- CP ngày 18/11/2016 của Chính phủvềxửphạt VPHC trong lĩnh vực BVMT, Luật Thanh tra năm 2010 và Luật Xử lý VPHC năm 2012, các Nghị định hướng dẫn Luật BVMT như: Nghịđịnh số18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quyđịnh vềquy hoạch BVMT, đánh giá môi trường chiến lược,đánh giá tácđộngmôi trường vàkếhoạch BVMT;Nghị địnhsố 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật BVMT; Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 23/4/2015 quy định vềquản lý chất thải và phế liệu; Nghị định số 127/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy địnhđiều kiện của tổ chức hoạtđộng dịch vụ quan trắc môi trường, Nghị định số40/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật BVMT với nhiều quy định đã được sửa đổi, bổ sung… Các văn bản pháp lý được thực hiện thống nhất, xuyên suốt trong công tác BVMT gắn với từng giaiđoạn phát triển của đất nước.

Thứ ba, chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường chịu sự tác động từ yếu tố mang tính quốc tế

40

CSPLHS về các TPMT cũng chịu sự tác động từ các yếu tố mang tính quốc tế. Bởi vì, môi trường là một vấn đề có tính thách thức toàn cầu, tác động mạnh mẽ đến sựphát triển bền vững của các nước trên thế giới. Nhận thức được điều đó, phần lớn các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia phát triển đều có các chính sách xây dựng cho mình hệ thống pháp luật nhằm BVMT một cách chặt chẽ. Bên cạnh đó, các quốc gia đã sựliên kết, phối hợp với nhau để chung tay thực hiện việc BVMTmộtcách sâu rộng, nhằm đảm bảo sức khỏe và chất lượng sống của con người, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế – xã hội. Quá trình này được các quốc gia thực hiện thông qua việc ký kết các hiệp định, hiệp ước liên quan đến việc BVMT. Điển hình nhưHiệp định

CPTPP, Hiệp định EVFTA…đây là những hiệp định lớn, các Hiệp định này đặc biệt chú trọng đến việc BVMT. Với xu thế ngày càng mở rộng mối quan hệ và hợp tác quốc tếtrên tất cảcác lĩnh vực, Việt Nam tích cực tham gia 19 điều ước quốctếvềmôi trường, tập trung triển khai thực hiện hiệu quả điều ước song phương và đa phương.Đó là thúc đẩy thực hiện hoạt động hợp tác trong khuôn khổ các bản ghi nhớ đã ký với Lào, Nga, Ba Lan, Nhật Bản, Trung Quốc, Hà Lan, Italia, Hàn Quốc, CuBa,

Pháp…Điều này khẳng định tính quốc tế liên quan đến việc BVMT ngày càng được thể hiện rõ.

Thứ tư, Chủ thể của chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường

Chủ thể của CSPLHS về các TPMT gồm ba nhóm chủ thể: chủ thể hoạch định và xây dựng CSPLHS về các TPMT; chủ thể thực hiện CSPLHS và chủ thể tham gia thực hiện CSPLHS về các TPMT. Trong đó, chủ thể hoạch định và xây dựng CSPLHS về các TPMT là Nhà nước thông qua cơ quan lập pháp là Quốc hội. Bêncạnh đó, đểhướng dẫn, làm rõ các quy định pháp luật, thì Nhà nước còn trao quyền cho các cơ quan,

tổ chức khác như: Chính phủ, cácBộ vàcơ quan ngang Bộ, Hội đồng Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao…nhằm đảm bảo sự hoàn thiện của hệ thống PLHS nói chung vànhóm các TPMT nói riêng. Hoạt động triển khai CSPLHS về các TPMTđược thực hiện bởi các cơ quan áp dụng pháp luật, cụ thể là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân, thông qua các hoạt động của quá trình tố tụng là khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự. Cuối cùng, chủ thể tham gia thực hiện CSPLHS về các TPMT là

các doanh nghiệp, cơ quan tổ chức, người dân… tham gia vào việc góp ý cho việc xây

41

dựng pháp luật, tham gia tố giác tội phạm, giám sát hoạt động của các cơ quan xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật.

2.2. Mục tiêu và các nguyên tắc của chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường

2.2.1. Mục tiêu của chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường

Chính sách là hoạt động tinh thông về mặt chiến lược được dựa trên hệ thống các mục tiêu nhất định, các tư tưởng mang tính quan niệm phản ánh những yếu tố chủ yếu của việc tổ chức các quan hệ xã hội trong tương lai [149, tr.130]. CSPLHS cũng là một loại chính sách, nên luôn có yếu tố mục tiêu cấu thành. Mục tiêu trong CSPLHS đó là kết quảlý tưởng, kết quả mong muốn vì nó mà hoạt động chính sách được thực hiện. Các mục tiêu là định hướng quan trọng nhất đối với các nhà CSPLHS, định hướng này bao quát các mong muốn, các mong đợi, các ý định đa cấp độ mà họ hướng đến đạt được.

Mục tiêu của CSPLHSđược xây dựngdựa trên hệ thống các nhu cầu và lợi ích của xã hội. Do đó, tùy thuộc vào từng giai đoạn của điều kiện kinh tế, xã hội, hệ thống các nhu cầu và lợi ích xã hội khác nhau thì hệ thống các mục tiêu của CSPLHS đặt ra cũng khác nhau. Nhu cầu và lợi ích đó có thể là chủ quyền quốc gia; an ninh, trật tự, an toàn xãhội của đất nước; cáclợi ích về kinh tế, chính trị, xã hội; quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, của con người, của công dân; và các nhu cầu, lợi ích khác trong mỗi chế độ, Nhànước nhất định. CSPLHS luônhướngđến việc hoàn thiện các hình thức thể hiện và nâng cao hiệu quả trong hoạt động thực hiện đưa CSPLHS vào điều chỉnh các quan hệ PLHS trong đời sống xã hội, để từ đó đấu tranh phòng, chống các tội phạm một cách toàn diện và triệt để. Tóm lại, mục tiêu của CSPLHS về các TPMT là những mong muốn đạt được và những kỳ vọng của các chủ thể thực hiện CSPLHS về hiệu quảcủa công tác đấu tranh phòng, chống các TPMT. Đồng thời, là sự hướng đến bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân, thiết lập một môi trường kinh tếphát triển gắn liền với công cuộc BVMT. Cụ thể:

a. Chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường phải đảm bảo tính khả thi

Tội phạm là hiện tượng tiêu cực và gây nguy hiểm cao cho xã hội loài người, do đó, mục tiêu tiên quyết đầu tiên của CSPLHS là hướngđến việc phòng và chống tội

42

phạm. Để đấu tranh phòng, chống các TPMT, CSPLHS cần đạt được các mục tiêucụthể sau:

Thứ nhất, Xây dựng và hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật đối với các tội phạm môi trường.

Hệthống QPPLHSđốivới các TPMT là hình thức biểu hiện cơ bản nhất của CSPLHS. Những quan điểm khoa học, tiến bộ cùng với hệ thống các nguyên tắc, nhiệm vụcủa LHS đều được thể hiện trong BLHS thông qua các quy phạm, quyđịnh cụthể. Cùng với đó là sự ghi nhận các hành vi xâm phạm môi trường là tội phạm cũng như hình phạt tương ứng với tội phạm đó. Đây là công cụ hữu hiệu để đấu tranh phòng, chống nhóm

tội phạm mà Nhà nước sử dụng. Do đó, đòi hỏi các quy phạm, quy định đó phải phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị xã hội trong từng giai đoạn. Trước sự phát triển mạnh mẽcủa điều kiện kinh tế – xã hội, các hành vi xâm phạm của nhóm tội phạm này ngày càng nguy hiểm và phức tạp, cùng với đó, các quy định trong BLHS cũng bộc lộ những thiếu sót, hạn chế, đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống PLHS để đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong giai đoạn mới. Và đương nhiên, việc thay đổi và hoàn thiện hệ thống QPPLđối với các TPMT phụ thuộc vào CSPLHS mà Nhà nước hoạchđịnhvà xây dựngđối với nhóm tội phạm này. Dođó,khi xác định mục tiêu của CSPLHS về các TPMT, một trong những mục tiêu đầu tiên mà Nhà nước hướng tới là xây dựng và hoàn thiện hệ thống PLHS về các TPMT, bởi vìđạt được mục tiêu này sẽ làtiền đề, là cơ sở pháp lý vững chắc, hữu hiệu để các cơ quan chức năng áp dụng xử lý tội phạm một cách hiệu quả.

Như vậy, mục tiêu mà CSPLHS về các TPMT hướng tới ở đây là sự xây dựng hoàn thiện của các quy định về tội phạm và hình phạt để xử lý các TPMT. Mặt khác, bên cạnh những tội phạm đã được quy định, CSPLHS hướng đến việc xác định các hành vi xâm phạm môi trường mang tính nguy hiểm cao, đã xảy ra trên thực tế, nhưng chưađược quy định,để từ đó bổ sungvào trong quy địnhcủaBLHSnhằm xửlý một cách toàn diện và phùhợpđốivới các hành vi xâm phạm này. Bên cạnh đó, CSPLHS còn hướng đến việc hoàn thiện hệ thống hình phạt áp dụng đối với nhóm tội phạm này, nhằm đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe nhưng vẫn thể hiện được sự nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước.

43

Thứ hai, Xây dựng cơ chế thực hiện có hiệu quả các quy phạm pháp luật về xửlý các tội phạm môi trường.

Để các QPPL đi vào đời sống xã hội và điều chỉnh một cách có hiệu quả, đòi hỏi cơ chế thực hiện (thực thi) phải phù hợp và hoàn thiện. Cơ chế này được biểu hiện qua hệ thống các cơ quan thực thi, đội ngũ cán bộ thực thi, sự liên hệ, phối hợp thực thi giữa các chủ thể có thẩm quyền trong việc phát hiện và xử lý tội phạm. Việc các QPPLvềnhóm tội phạm này có được vận dụng giải quyết các tội phạm đúng hay không, hiệu quảhay chưa phụ thuộc vào cơ chế thực thi đó, vì vậy, phải xây dựngđược cơchế thực hiện có hiệu quảcác QPPL. Cơ chếthực hiện các QPPLđối với các TPMT là một trong những tiêu chí để đánh giá sự hoàn thiện của CSPLHS đối với nhóm tội phạm này, dođó đây là một trong những mục tiêu quan trọng của CSPLHS nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống các TPMT.

Một trong nhiều mục tiêu xây dựng cơ chế thực thi có hiệu quả của CSPLHS vềcác TPMT thì mục tiêu nâng cao hiệu quả áp dụng PLHS đối với nhóm tội phạm này làmột trong những mục tiêu quan trọng nhất. Áp dụng QPPL đối với các TPMT là hình thức thực hiện quan trọng nhất của CSPLHS đối với nhóm tội phạm này. Hoạt động nàyđược biểu hiện qua quá trình áp dụng PLHS vào giải quyết các TPMT của các chủ thểđược trao quyền. Cụ thể, hoạt động này được thực hiện chủ yếu thông qua cơ quan Viện Kiểm sát, Cơ quan điều tra và đặc biệt được thể hiện cơ bản qua hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt của Tòa án. CSPLHS luôn coi hiệu quả áp dụng QPPL đối với các TPMT là một trong những mục tiêu quan trọng, bởi vì hoạtđộngnàyảnhhưởng rất lớn đến nhữngquyền cơ bản của con người (người phạm tội), đòi hỏi phải áp dụngđúng người, đúng tội, quyết định hình phạt phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhưng vẫn có tính nhân đạo, khoan hồng đối với các trường hợp cụ thể để lựa chọn hình phạt, mức phạt cho phù hợp. Bên cạnh đó, CSPLHS về các TPMT còn hướng đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan chuyên trách như Công an, Tòa án, Thanh tra chuyên ngành, Ủy ban nhân dân các cấp, dođóđòihỏi phải có sự phối hợp vàhoạt độnghiệu quả, từ đómới kịp thời phát hiện vàxử lýtội phạm một cách toàn diện vàtriệt để.

44

Thứ ba, Huy động được sức mạnh toàn dân tham gia tích cực vào công tác phát hiện và tố giác tội phạm.

Các TPMT gây ảnh hưởng tiêu cực cho nền kinh tế và quyền, lợi ích hợp pháp

của các cá nhân, tổ chức…. Tuy nhiên, đa số người dân chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc BVMT, cũng như những tác hại do hành vi phạm tội này gây ra, do đó vẫn còn khá thờ ơ với nhóm tội phạm này. Vì vậy, để đạt được hiệu quả cao trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đòi hỏi CSPLHS phải hướng đến việc tác động vào nhận thức và hành vi tích cực của mọi tầng lớp xã hội để họ cùng tham gia vào công tác phòng, chống tội phạm, đặc biệt là góp phần vào phát hiện và xử lý các TPMT một cách toàn diện và hiệu quả.

b. Bảo vệ quyền con người trước sự tác động tiêu cực của các tội phạm về môi trường Trong xã hội ngày nay, quyền con người luôn được Nhà nước quan tâm và bảo

vệ một cách đầy đủ và hiệu quả nhất bằng các thiết chế khác nhau. Ở Việt Nam, quyền con người luôn được bảo vệ chủ yếu thông qua hệ thống các QPPL. Trong sự vận động và phát triển của nền kinh tế – xã hội, Nhà nước luôn có những thay đổi về CSPL đểhướng đến bảo vệ đầy đủ quyền con người trước các hành vi xâm phạm, đặc biệt là tội phạm. Nhóm các TPMT là nhóm tội phạm không chỉ xâm phạm đến môi trường, màcòn gây ảnhhưởngtrực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của con người. Có thể thấy rằng, quyền được bảo vệ tính mạng và sức khỏe là quyền cơ bản và quan trọng nhất của con người. Tuy nhiên, các hành vi phạm tội trong nhóm tội phạm này đã gây ra và đe dọa gây ra những thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe con người. Các hành vi phạm tội vềmôi trường thông thường không xác định được mức độ hậu quả ngay mà có tính tích lũy theo thời gian. Người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm tội vì lợi nhuận trước mắt bằng mọi thủ đoạn thực hiện hành vi xâm phạm đến môi trường mà không cần quan tâm hậu quả to lớn mà hành vi xâm phạm gây ra. Bên cạnh đó, các cơ quan thực thi pháp luật thường có tâm lý chủ quan, xem nhẹ, thiếu quyết liệt trong đấu tranh, xử lý. Như vậy, với những thiệt hại nghiêm trọng do các TPMT gây ra đối với con người, việc hoàn thiện và thực hiện đúng CSPLHS đối với nhóm tội phạm này cònhướngđến mục tiêu bảo vệ tính mạng, sức khỏe của con người vì đây là những quyền cơ bản nhất của con người.

c. Bảo vệ môi trường gắn với phát triển kinh tế – xã hội

45

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực, nhất là sự phát triển nhanh vượt bậc của nền kinhtế, đồngthời đời sốngvật chất và tinh thần của con người không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế – xã hội nhanh chóng đã tạo áp lực không nhỏ lên môi trường, các hệ sinh thái và đa dạng sinh học. Tình trạng ô nhiễm môi trường diễn biến phức tạp, chất lượng

môi trường suy giảm mạnh, các sự cố môi trường liên tiếp gia tăng…Vì vậy, CSPLHS về các TPMT hướng tới mục tiêu quan trọng là BVMT trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Với mục tiêu xác định cụ thể, Nhà nước đã xây dựng và hoạch định các CSPLHS vềcác TPMT nhằm BVMT, BVMT sống của con người trước các hành vi

xâm hại môi trường. Ngoài ra, bên cạnh việc BVMT thì mụctiêu quan trọng của CSPLHS về các TPMT là phát triển kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Hiện nay, mô hình kinh tế tuần hoàn đangđược cả thế giới đánh giácao vì trước mắt đáp ứng yêu cầu giải quyết ô nhiễm môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu nhưng vẫn hướng đến mục tiêu phát triển bền vững. Vì vậy, mục tiêu quan trọng của Nhà nước khi xây dựng và triển khai các CSPLHS về các TPMT luôn xem trọng mô hình này làm sao để phát triển kinh tế xanh không làm hại đến môi trường.

d. Đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế về tội phạm môi trường

Mục tiêu của CSPLHS về các TPMT là đẩy mạnh quan hệ quốc tế, hợp tác quốc tế trong phát triển kinhtế, xã hội đất nước.Trong những năm gần đây, với tự do thương mại toàn cầu, có nhiều phương thức dễ dàng vận chuyển hàng hóa, tiền bạc, là những nguyên nhân tạo điều kiện cho sự phát triển của TPMT. Tội phạm môi trường có yếu tốnước ngoài thể hiện ở một số lĩnh vực sau: xử lý chất thải công nghiệp; nhập khẩu máy móc, thiết bị lạc hậu, phế liệu; buôn bán động vật hoang dã, quý hiếm; khai thác khoáng

sản…Việc xác định mục tiêu của CSPLHS vềcác TPMT nhằm hoàn thiện hệthống PLHS quốc gia về nhóm tội phạm này để hướng đến mục tiêu đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực BVMT góp phần phát triển kinh tế, xã hội đất nước gắn với phát triển bền vững.

2.2.2. Các nguyên tắc của chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường

46

Chính sách PLHS về các TPMT được xây dựng và thực hiện theo những tư tưởng, luận điểm cơ bản, các giá trịmang tính định hướng,chỉđạo.Các nguyên tắccủa CSPLHS về các TPMT là các tư tưởng nền tảng cơ bản quyết định các cách tiếp cận chung của quyền lực nhà nước đến hoạt động mang tính định hướng chiến lược trong việc điều chỉnh các quan hệ hình sự. Những nguyên tắc này xuất phát từ các quy luật khách quan của sự phát triển pháp luật, từ chức năng tiền định và tính định hướng của sự phát triển pháp luật, có nhiệm vụ thống nhất hóa tính chất của sự tác động mang tính hướng đích đến các quan hệ xã hội có sự trợ giúp của các phương tiện pháp luật, đồng thời là các tiêu chuẩn đánh giá tính đúng đắn của các quyết định xây dựng pháp luật vàcác quyết định áp dụng pháp luật được đưa ra [146, tr.13-14].

Các nguyên tắc của CSPLHS về các TPMT bao gồm:

Thứ nhất, Nguyên tắc nhân đạo

Trong CSPLHS, tính nhânđạo làmột trong những nguyên tắc quan trọng, làsựthể hiện của tư tưởng, quan điểm chỉ đạo hình thành và phát triển của CSPLHS. Mặt khác, tính nhân đạo còn thểhiện là một xu hướng phát triển, tiến bộtrong CSPLHS mang tính toàn cầu.Địnhhướngnày mang tính chất tĩnh và tính chấtđộng,được phản ánh vật chất hóa không chỉ trong các quan niệm, học thuyết, cấu trúc lý luận mà cảtrong thực tiễn CSHS [146, tr.26].

Tính nhân đạo củaCSPLHS được thểhiện trong các quyđịnhcủaBLHSvềđường lối xửlý tội phạm cũng như hình phạt được áp dụng, trong thực tiễn áp dụng PLHS của các chủ thể có thẩm quyền. Khi xây dựng các giải pháp hoàn thiện và thực hiện PLHS về các TPMT cần phải đảm bảo tính nhân đạo trong mỗi giải pháp, đặc biệt là các giải pháp lập pháp hình sự như quy định hệ thống hình phạt áp dụng đối với người phạm tội theo hướng mở rộng áp dụng hình phạt tiền, quy định nhiều hình phạt trong

một tội danhđể Tòa ánlinh hoạt trong sự lựa chọn áp dụngđối với người phạm tội… Trong thực tiễn áp dụng và quyết định hình phạt, nếu xét thấy người phạm tội có đủ điều kiện để hưởngán treo thì nên chohưởngán treo, hạn chế áp dụng hình phạt tù chung thân vàtửhình,chỉáp dụng trong trườnghợpcầnthiết nhất đối với cáctội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

47

Hiện nay, tính nhân đạo là một nguyên tắc và xu hướng phát triển, tiến bộ trong CSPL của quốc gia, khu vực và toàn cầu. Mang những ý nghĩa nhân văn cao cả trong việc xác định trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể vi phạm, giúphọ hướng đến sựhoàn thiện về nhân cách, đạo đức và phẩm chất của mình, từ đó sẽ lựa chọn các hành vi tích cực, phù hợp với yêu cầu của pháp luật và yêu cầu của xã hội.

Thứ hai, Đảm bảo tính khoa học

Đảm bảo tính khoa học, tính khả thi là một trong những nguyên tắc cơ bản vàquan trọng nhất khi xây dựng CSPL.Đólà những giátrịkhoahọclý luận và khoa học thực tiễn mà các chủ thể – với vai trò là người xây dựng, ban hành CSPLhướngđến,nhằmđảmbảorằng, CSPL mà mình đưa racó đầy đủ giátrị, phúcđápnhu cầu phát triển xã hội.

Hoạt động xây dựng các giải pháp hoàn thiện CSPLHS về các TPMT là một quátrình đa dạng và phức tạp, đòi hỏi phải thực hiện một cách khoa học. Theođó,các giải pháp nhằm hoàn thiện các CSPLHS về các TPMT phải dựa trên những thành tựu khoa học của thời đại. Khi đưa ra giải pháp hoàn thiện PLHS, thì việc hoàn thiện PLHS cần dựa trên những cơ sở lý luận của khoa học luật hình sự được làm sáng tỏ một cách xácđáng, khách quan và đảm bảo sức thuyết phục với tư duy pháp lý mới, tiến bộ và dân chủ [19, tr. 446]. Tính khoa học, còn thể hiện ở sự kế thừa và phát triển những tưtưởng, quan điểm tiến bộ từ những học thuyết, công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố trước đó. Mỗi học thuyết hay công trình khoa học đều hướng đến việc gợi mở những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện những tồn tại, hạn chế liên quan đến vấn đề nghiên cứu, do đó, khi xây dựng các giải pháp phải có sự tích lũy những giá trị khoa học từ các học thuyết, công trình khoa học này.

Thứ ba, Đảm bảo tính khả thi

Bên cạnh việc đảm bảo tính khoa học thì đảm bảo tính khả thi cũng là một trong những yêu cầu quan trọng trong hoạt động xây dựng CSPL. Các chủ thể xây dựng, phảiđảm bảo rằng, các chính sách, quy định mà mình đưa ra phải thực hiện được trên thực tế. Khi hoạchđịnhcác đề xuất, kiến nghị hoàn thiện CSPL cũng vậy, phải đảm bảo rằng, những gợi ý giải pháp đưa ra phải có tính khả thi khi thực hiện. Để đảm bảo tốt nguyên

tắc này, cần lưu ý rằng, khi xây dựng giải pháp phải cân nhắc đến những yếu tố kinh tế

48

– xã hội gây cản trở cũng như những điều kiện cần thiết cho việc triển khai, thực hiện các giải pháp. Đó là sự cân nhắc đầy đủ và toàn diện trạng thái kinh tế – xã hội hiện cócủa xã hội, các giá trị truyền thống dân tộc, tôn giáo, văn hóa và đạo đức, .v.v… của xãhội. Đặc biệt, cần phải dựa vào trình độ phát triển hiện thực, hiện có của các quan hệ xãhội, tránh xa rời hiện thực [146, tr.16]. Các giải pháp đưa ra phải xác định được mục tiêu,kết quả đạt được trên thực tế. Mục đíchchung của việc thực hiện các giải pháp lànhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại và khó khăn của đời sống pháp luật hình sự vềcác TPMT, do đó, kết quả đạt được sẽ là sự hoàn thiện CSPL và thực hiện đúng CSPLđối với nhóm tội phạm này.

Ngoài ra, việc đề xuất các giải pháp cần dựa trên những điều kiện cần thiết, tácđộng đến việc thực hiện, triển khai các giải pháp trên thực tế của chủ thể xây dựng giải pháp hoàn thiện CSPLHS về các TPMT.

Thứ tư, Nguyên tắc đồng bộ, thống nhất

Để hoàn thiện CSPLHS về các TPMT đòi hỏi phải nghiên cứu và triển khai nhiều giải pháp khác nhau, bởi nó chịu sự tác động của nhiều lĩnh vực, nhiều yếu tố trong đời sống xã hội. Do đó, các giải pháp đưa ra phải đảm bảo tính đồng bộ và có hệ thống. Mặc dù mỗi giải pháp hướng đến hoàn thiện một vấn đề khác nhau, nhưng mỗi vấn đề khác nhau đó nằm trong một tổng thể vấn đề chung mà nghiên cứu hướng đến. Chẳng hạn như, để đổi mới CSPLHS về các TPMT cần phải có giải pháp về pháp luật, giải pháp về

phát triển kinh tế, giải pháp về con người…mỗi giải pháp đều nhằm hoàn thiện một vấn đề, nhưng tất cả những vấn đề này lại nằm trong một tổng thể chungđó làhướng đến việc hoàn thiện CSPLHS về các TPMT. Hay khi đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật, thì tính thống nhất đòi hỏi không có hiện tượng trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau giữa các QPPL trong cùng ngành luật và giữa các ngành luật với nhau. Tính đồng bộ đòi hỏi việc ban hành đầy đủ các văn bản quy định chi tiết các văn bản, quy định pháp luật trong những trường hợp cần có sự quy định chi tiết, để khi văn bản pháp luật có hiệu lực thì nó cũngđãcó đủ các điều kiện để có thể được tổ chức thực hiện ngay trên thực tế. Và tính đồng bộ của hệ thống pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến tính khảthi và hiệu quả của pháp luật.

49

Để thực hiện nguyên tắc này, các giải pháp đưa ra phải thể hiện được sự hài hòa, đảm bảo tính kết nối và có sự phối hợp. Điều này có nghĩa rằng, các giải pháp không được mâu thuẫn, chồng chéo nhau, gây cản trở việc triển khai thực hiện trên thực tế, ngược lại phải có sự tương tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa các giải pháp, cùnghướngđến một kết quả chung,đãđược địnhhướngtừ trước. Tính đồng bộ và hệ thống như sợi dây liên kết các giải pháp với nhau, nhằm tạo tính tối ưu và hiệu quả nhất của mỗi giải pháp, góp phần vào hoàn thiện CSPLHS về các TPMT.

Thứ năm, Nguyên tắc bảo vệ quyền con người, quyền công dân

Ở Việt Nam, quyền con người, quyền công dân luôn được bảo vệ thông qua các quy định của pháp luật. Trong sự vận động và phát triển của nền kinh tế – xã hội, Nhànước luôn có những thay đổi về CSPLđể hướng đến bảo vệ đầy đủ quyền conngười trước các hành vi xâm phạm, đặc biệt là tội phạm. Nhóm các TPMT là nhóm tội phạm không chỉ xâm phạm đến môi trường, mà còn gây ảnhhưởngtrực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của con người. Vì vậy, khi xây dựng các giải pháp hoàn thiện và thực hiện PLHS về các TPMT cần phải đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong mỗi giải pháp, đặc biệt là quyền con người được sống trong một môi trường trong lành.

Đây là những nguyên tắc quan trọng nhất của CSPLHS về các TPMT, tất cả các nguyên tắc này đều là đặc trưng cho bản chất và thực chất của CSPLHS về các TPMT, bởi vì chúng được phản ánh trong quan niệm vềCSPLHS vềcác TPMT. Tất cảcác nguyên tắc của CSPLHS về các TPMT có mối liên hệ chặt chẽ lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách.

2.3. Yêu cầu và các yếu tố bảo đảm xây dựng, thực hiện chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường

2.3.1. Yêu cầu của chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường

Mục tiêu của CSPLHS về các TPMT là kết quả nhất định trong tương lai, các tưtưởng, giá trị quan trọng nhất định nào đó, thì yêu cầu của CSPLHS về các TPMTđược quyết định bởi các mục tiêu nói trên, là những giai đoạn, cách thức và các hình thức văn minh của việc đạt được các mụctiêu đã được tuyên bố, là những định hướng pháp lýđặc biệt nào đó cụ thể hóa các mục tiêu [83]. Cụ thể:

50

Thứ nhất, CSPLHS về các TPMT phải nhằm tiếp tục khẳng định các quan điểm, tư tưởng pháp lý tiến bộcủa nền văn minh nhân loại, công bằng, nhânđạo, dân chủ, pháp chế trong Nhà nước pháp quyền XHCN, luôn luôn coi các quyền và tự do của con người là những giá trị xã hội cao quý nhất. Đồng thời, thể chế hóa tinh thần cải cách tưpháp củaBộChính trịtheo hướng hoàn thiện CSPLHS phù hợp với nền kinhtếthịtrường (KTTT)địnhhướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người.

Thứ hai, CSPLHS về các TPMT phải tạo ra được những cơ sở cho việc xây dựng các quy định của PLHS liên quan đến các TPMT. Cùng với việc hoạch định chính sách

kinh tế, văn hóa, xã hội…. Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay, cần hoạchđịnhCSPLHS nói chung và CSPLHS về các TPMT nói riêng dựa trên những cơ sở khoa học, thực tiễn khách quan, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục, đáp ứng được các yêucầu củacuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nhằm giải quyết một cách công minh, có căncứvà đúng pháp luật vấnđềTNHSđối với các TPMT nhằm góp phần tăng cường pháp chế và củng cố trật tự pháp luật, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức xã hội, của mỗi công dân. Các quy định của PLHS liên quan đến các TPMTphải được thể chế hóa kịpthời, đầy đủ, đúng đắn đường lối của Đảng, cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân. Muốn vậy, việc tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện CSPLHS nói chung, CSPLHS về các TPMT nói riêng chính là nền tảng để xây dựng và hoàn thiện các quy định của PLHS liên quan đến các TPMT.

Thứ ba, CSPLHS về các TPMT phải tạo ra nền tảng cho việc xây dựng các giải pháp, kếhoạch, chiến lược tổng thểphòng ngừa các TPMT.Chủnghĩa xã hội tạo ra những tiền đề khách quan cho việc xây dựng ý thức pháp luật, thiết lập nên các quan hệkinh tế xã hội, văn hóa, giáo dục con người, loại trừ các vi phạm pháp luật. F.Ăngghenđã viết: “Trong xã hội cộng sản chủ nghĩa… chúng ta sẽ tiêu diệt sự đối kháng giữa từng người với những người xung quanh, chúng ta sẽ chặt đứt gốc rễ làm phát sinh tội phạm”. Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức và của mỗi công dân

51

được tiến hành bằng nhiều biện pháp, phương tiện để phát hiện nguyên nhân, điều kiện của tội phạm, xóa bỏ, hạn chế hoặc làm mất tác dụng của nó, không để tội phạm xảy ra, tiến tới thủ tiêu hiện tượng tội phạm trong xã hội tương lai. Phòng ngừa tội phạm tức làkhông để tội phạm xảy ra và gây nên những hậu quả nguy hiểm cho xã hội, không đểcho các thành viên của xã hội phải chịu hình phạt. Và nếu tội phạm xảy ra thì phải kịp thời phát hiện xử lý để bảo đảm cho người phạm tội không thể tránh khỏi hình phạt, giáo dục và cải tạo những người phạm tội trở thành những công dân có ích cho xã hội [64].

Thứtư, CSPLHS vềcác TPMT phải góp phần hình thành hệthống CSPLHS chung của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc giải quyết và quản lýcác vấn đề xãhội.Hoạt độngcủa Nhà nước trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, các TPMT nói riêng là đặc trưng cơ bản trong CSPLHSthống nhất của Đảng và Nhà nước ta. Những quan điểmvà đường lốithểhiện trong CSPLHS vềcác TPMTđược hình thành trên cơ sở phân tích các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội có tính đến những đặc điểm vànhu cầu của xã hội trong từng giai đoạn nhất định. Nội dung của chính sách đó là việc áp dụng tất cả các biện pháp kinh tế, xã hội, tổ chức, pháp luật trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Chính sách đó là một bộ phận không thểtách rời trong chính sách đối nội của Nhà nước, nó có những nét chủ yếu của chính sách xã hội, nhưng đồng thời nó khác biệt với các chính sách khác ở đối tượng, các nhiệm vụvà cách thức tác động. Tuy vậy, nó hợp thành chính sách chung của Nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội.

2.3.2. Các yếu tố bảo đảm xây dựng, thực hiện chính sách pháp luật hình sự vềcác tội phạm môi trường

CSPLHS vềcác TPMT được thực hiện thông qua các phương hướngchủyếu gồm: lập pháp hình sự, thực hiện PLHS, giải thích PLHS, giáo dục và đào tạo nâng cao ý thức pháp luật, trình độ pháp luật của nhân dân.

a. Xây dựng pháp luật hình sự

Hoạt động xây dựng PLHS có ý nghĩa quan trọng bởi vì các hình thức khác của việc thực hiện CSPLHS về các TPMT đều phát sinhtừ hoạtđộng lập pháp hình sự. Hoạt động xây dựng PLHS là quá trình thường xuyên hoàn thiện và củng cố các chuẩn mực, các quy tắc quan hệ pháp luật hình sự phản ánh ý chí của nhân dân. Trong CSPLHS về

52

các TPMT, đạo luật hình sự là hình thức chủ yếu thể hiện khách quan ý chí của Đảng vàNhà nước (đại diện cho đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội). Bởi vậy, việc xây dựng PLHS cần phải phản ánh được tối đa bối cảnh và nhữngđòi hỏi củaxã hội, đồng thời, có khả năng tác động hiệu quả nhất đến các quan hệ xã hội được PLHS xác lập và điều chỉnh. Hoạt động lập pháp hình sự phải tuân theo một quy trình rất chặt chẽ do Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm2020) quy định.Điều đóđảm bảo cho hoạt động xây dựng PLHS do nhiều người, nhiều chủ thể khác nhau tham gia, nhưngđều thể hiệnđúngđắn,thống nhất ý chí của nhân dân laođộng,đều phản ánh được quan điểm, chủ trương, phương hướng có tính chất chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. Thông qua các giai đoạn của quy trình lập pháp hình sự, các giá trị mà xã hội có, xã hội cần và xã hội ủng hộ được phân tích, đánh giá để ghi nhận và thể chế hóa trong đạo luật hình sự. Chính vì vậy, việc quy định thành luật các quy trình ban hành văn bản QPPL và việc tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định này là đòi hỏi của nguyên tắc pháp chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền trong tổ chức và hoạt độngcủa bộ máy nhà nước ta. Nắm vững quy trình xây dựng PLHS và phân tích đánh giá các giá trị xã hội trong các giai đoạn của quy trình xây dựng PLHS đảm bảo cho hoạt động này tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật mà còn là nhân tố đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng của đạo luật hình sự. Đạo luật hình sự mà biểu hiện sinh động nhất, đầy đủ nhất chính là BLHS, công cụ chủyếu thực hiện CSPLHS về các TPMT. BLHS ghi nhận những nguyên tắc cơ bản để xử lý về các TPMT, giới hạn sự can thiệp của các QPPLHS vàođời sống của công dân, quy định cơ sở của TNHS, miễn TNHS cũng như hình phạt, hệthống hình phạt và các căn cứ, điều kiện áp dụng từng loại hình phạt đối với các TPMT. Đồng thời, thông qua hoạt động lập pháp hình sự, các yêu cầu củaCSPLHS vềcác TPMT trở thành sự thể hiện ý chí của nhân dân và có hiệu lực pháp lý cao. Ngoài ra, cũng chính từ quá trình đó, kể từ lúc được ghi nhận và mặt lập pháp hình sự, CSPLHS về các TPMT đã phần nào được triển khai và thực tiễn trong thực tiễn.

b. Thực hiện pháp luật hình sự

Thực hiện PLHS mà chủyếu nhất là áp dụng PLHS, quá trình hiện thực hóa CSPLHS về các TPMT, đưa nội dung các quy định của PLHS đã được ban hành vào thực tiễn công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với các TPMT. Quá trình

53

áp dụng PLHS là quá trình rất phức tạp, rất đa dạng do đó một mặt phải duy trì và giữvững quan điểm, chủ trương, phương hướng có tính chất chỉ đạo đã được thể hiện trong CSPLHS về các TPMT, nguyên tắc pháp chế, công bằng, nhân đạo XHCN, tính thống nhất của PLHS và CSPLHS về các TPMT, mặt khác, phải đảm bảo phúc đáp được yêu cầu cụ thể của tình hình và sự chuyển biến linh hoạt, mềm dẻo trong đối sách nhằm phục vụ có hiệu quả cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Một trong những đảm bảo để việc áp dụng PLHS có khả năng vừa thực hiện đầy đủ, đúng đắn quan điểm, tưtưởng của CSPLHS về các TPMT, vừa đáp ứng yêu cầu cụ thể của thực tiễn trong nhữngđiều kiện cụ thể là sự hiệndiện của các quy định có tính chất đánh giá của PLHS tạo ra những khả năngđể chủ thể ápdụng PLHS có những quyết định đúng đắn, phù hợp với thực tế. Bên cạnh đó, PLHS còn giao trách nhiệm cho chủ thể áp dụng PLHS phải cân nhắc, đánh giá tình hình thực tế trên cơ sở quy định của pháp luật để có quyết định đúngđắn. Khẳng định này được thể hiện rõ nét nhất, sinh động nhất trong thực tiễn quá trìnhđịnh tội danh và quyết định hình phạt đối với các TPMT, khi mà chủ thể định tội danh và quyết định hình phạt phải cân nhắc lựa chọn QPPL quy định về một tội danh cụ thểđể xác định, ghi nhận về mặt pháp lý hình sự sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xãhội của các TPMT với các dấu hiệu pháp lý được quy định trong CTTP cụ thể.

Đồng thời, khi quyết định hình phạt, Tòa án phải lựa chọn loại và mức hình phạt phù hợp để ápdụng đối với các TPMT, trên cơ sở quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS. Đặc trưng của QPPLHS luôn thể hiện tính phổ biến và khái quát hóa cao, bên cạnh yêu cầu áp dụng quy phạm đó vào thực tiễn cụthể sinh động đã tạo thành hai mặt của sự thống nhất biện chứng. Sự thống nhất này đòi hỏi sự sáng tạo và qua đó làm nổi bật vai trò thực tiễn của các chủ thể áp dụng PLHS. Vai trò đó thể hiện ở yêu cầu làm thế nàođể mụcđích của cơ quan lập pháp ghi nhận trong các QPPLHSđược thựchiện đầy đủ vàđúng đắn trong mọi điều kiện. Điều này một lần nữa đòi hỏi hoạt động áp dụng PLHS trong đó đặc biệt phải kể đến chủ thể áp dụng PLHS cần chú trọng đến việc tăngcườnghướngdẫn, giải thích, nâng cao trìnhđộchuyên môn, giữ vững bản lĩnh chính trị, có đạo đức trong sáng, phẩm chất tốt,thực sự

54

là công bộc của nhân dân, thực sự là những người có đủ tư cách“vừa hồng, vừa chuyên” để gánh vác nhiệm vụ thực thi công lý, công bằng xã hội.

c. Giải thích pháp luật hình sự

Giải thích PLHS, một hình thức thực hiện CSPLHS về các TPMT chính là việc triển khai thực hiện các quy định của PLHS tùy thuộc vào hoàn cảnh và lịch sử cụ thểnhằm đảm bảo tinh thần của QPPLHS được hiện thực hóa trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm đảm bảo xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Giải thích PLHS là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền theo một quy trình pháp lý nhằm xácđịnhchính xácýnghĩa, nộidung PLHSđểnhận thức, thực hiện PLHS đúng đắn, thống nhất. Giải thích PLHS là nhu cầu tự thân, nó xuất hiện trong hầu hết các quá trình của hoạt động PLHS, từ việc xây dựng, thực hiện, áp dụng chođến cáchoạt độnggiảng dạy, nghiên cứu khoa học pháp lý. Do vậy, sẽ có rất nhiều cách giải thích khác nhauvềcùng mộtvấn đề, cùng một QPPLHS. Tình trạng này vô hình chung gây ra khó khăn, phức tạp cho các đối tượng liên quan trực tiếp và rộng ra là phức tạp cho cả đời sống pháp lý. Điều đósẽ dẫn đến nhữngkhó khăn trong việc thực hiện PLHS, bởi các chủ thể không biết phải hiểu quy phạm theo cách nào và khiấy PLHS sẽ trở nên khó thực hiện. Giải thích PLHS là một hoạt động độc lập, khác biệt hẳn so với hoạt động xây dựng PLHS. Nếu xây dựng PLHS là xác lập những quy tắc xử sự thì giải thích PLHS là xác định những quy tắc xử sự. Bản thân hoạt động giải thích PLHS xuất hiện trong cả quá trình xây dựng PLHS và thực hiện PLHS. Tuy nhiên, điểm khác nhau là ở chỗ: giải thích của người xây dựng PLHS là giải thích theo quy trình lập pháp, một quy trình chính trị, giải thích đểkhẳngđịnhý chí của mình; giải thíchcủangười thực hiện PLHS là giải thích theo quy trình giải thích, một quy trình pháp lý, giải thích để thấy được ý nghĩa cuối cùng, đích thực của pháp luật trong quá trình hiện thực hóa PLHS vào cuộc sống.

Đối tượng của hoạt động giải thích PLHS là những QPPLHS, nhằm mục đích cao nhất và mang tính quyết định là xác định đúng quy tắc xử sự mà nhà lập pháp đã thểhiện trong những quy định của PLHS để giúp cho việc nhận thức, thực hiện pháp luật một cách đúng đắn, thống nhất. Hoạt động giải thích PLHS sẽ chính là hoạt động bảo đảm cho PLHS trở thành đại lượng được nhận thức và thực hiện thống nhất trong thực tế.Yêu cầu pháp chế đòi hỏi PLHS phải được hiểu đúng về tinh thần cũng như nội dung

55

của điều luật mà không có một ngoại lệ nào khác, không được suy diễn một cách tùy tiện, áp đặt tư duy chủ quan. Tuy nhiên, điều kiện hoàn cảnh chính trị, xã hội luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng, cho nên PLHS không thuần túy cứng nhắc, màngược lại luôn bị chi phối bởi toàn bộ bối cảnh trên, điều quan trọng là chủ thể thực hiện PLHS phải phát huy năng lực đánh giá và từ đó vận dụng điều luật phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện lịch sự cụ thể.

d. Ý thức pháp luật, trình độ pháp luật

Giáo dục và đào tạo nâng cao ý thức pháp luật, trình độ pháp luật của nhân dân

– thành tố cơ bản trong thực hiện CSPLHS về các TPMT. Trình độ ý thức pháp luật vàvăn hóa pháp lý của mỗi cá nhân, của cáctập thểvà của cả xã nội nói chung là một trong những điềukiện quan trọng đểđảm bảoviệc thực hiện có hiệuquảCSPLHS vềcác TPMT. Ý thức pháp luật là cơ sở tư tưởng chỉ đạo toàn bộ quá trình điều chỉnh pháp luật để việc điều chỉnhpháp luật được tiến hànhđúng đắn,khoa học và đạt kết quả cao. Hình thành và phát triển trong quá trình con người phản ánh và nhận thức về đời sống pháp lý trong xã hội, ý thức pháp luật gồm những tri thức về việc tổ chức các QHXH bằng phương tiện pháp luật, về thái độ của Nhà nước, xã hội đối với các hiện tượng pháp luật, các sự kiện pháp lý. Do vậy, sự phản ánh trong ý thức pháp luật của các chủ thể đối với đờisống xã hội càng chính xác, đầy đủ thì khả năng lựa chọn và quyết định hành vi của họ càng chính xác, chặt chẽ và hợp pháp. Phù hợp với quy luật của quá trình nhậnthức,ý thức pháp luật pháttriển từ thấp đến cao, từ chưa đầy đủ đến đầy đủ hơn,chính xác, khoa học hơn. Các tổ chức, cá nhân sau khi đã tích lũy được một lượng tri thức pháp luật nhất định sẽ có khả năng tự đánh giá về các hiện tượng chính trị pháp lý trongđời sống xã hội. Trên cơ sở ý thức pháp luật, sự nhận thức về lợi ích, về trách nhiệm của các cá nhân, tập thể, tổ chức và toàn xã hội, các chủ thể tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với pháp luật, với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật.

Ý thức pháp luật được xem là điều kiện quan trọng, làtiền đề tưtưởng trực tiếp cho việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện pháp luật nên bất kỳ tổ chức, cá nhân nào tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật cũng cần phải có một trình độ kiến thức pháp luật nhất định. Ý thức pháp luật còn có ý nghĩa lớn trong hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật, đối với người áp dụng pháp luật cũng nhưngười bị ápdụng pháp luật pháp

56

luật. Khi chủ thể có những nhận thức pháp luật cần thiết họ sẽ có niềm tin vào pháp luật, vào những hoạt động hợp pháp của mình, thấy được giá trị của việc tôn trọng và thực hiện chính xác, đầy đủ các quy định của pháp luật, từ đó họ tự giác tuân theo pháp luật, vận động những người khác làm theo pháp luật. Ý thức pháp luật là cơ sở tạo nên văn hóa pháp lý của các chủ thể pháp luật. Trình độ văn hóa pháp lý cao đòihỏi chủ thểtrước hết phải có những tri thức cơ bản về pháp luật; về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của con người cũng như cơ chế để đảm bảo tính hiện thực cho các quyền và nghĩa vụđó; về cơ chế hợp pháp để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của công dân, có kỹ năng và khả năng sử dụng có hiệu quả cơ chế đó để bảo vệ lợi ích cho bản thân, cho người khác và cho xã hội; xử sự đúng đắn, chừng mực trong các mối quan hệ xã hội. Khi có đủ tri thức pháp luật cần thiết sẽ hình thành ở chủ thể tình cảm và lòng tin đối với các chuẩn mực của pháp luật, tạo điều kiện cho chủ thể chủ động xác lập và chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Với ý nghĩa đó, công tác giáo dục và đào tạo nâng cao ý thức pháp luật, trình độ pháp luật của nhân dân thông qua đó nâng cao văn hóa pháp lý chính là tiền đềgóp phần hiện thực hóa những quan điểm, tư tưởng, phương hướng của Đảng vàNhà nước trong áp dụng PLHSđểxửlý đốivới các TPMT. Ý thức pháp luật trong CSPLHS về các TPMT là ý thức xã hội, ý thức cá nhân về vai trò, mục đích và ý nghĩa của PLHS nói chung cũng nhưchếđịnh nào đó trong PLHS, là trình độhiểu biết vànhận thức của nhân dân về ý nghĩa và tầm quan trọng của môi trường, bảo vệ môi trường. Ý thức pháp luật trong CSPLHS về các TPMT được thể hiện ở những điểm sau:

– CSPLHS được nhận thức trở thành quan điểm chung của mọi người sẽ giúp con người không thực hiện hành vi VPPL, hành vi phạm tội và có thái độ đúng đắn trong việc đấu tranh chống và phòng ngừa các TPMT; hỗ trợ, giúp đỡ cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ;

– CSPLHS được cơ quan, cán bộ bảo vệ pháp luật nhận thức đúngđắn sẽ giúp họthực hiện và duy trìđường lối xử lýđúng đắn, ổn định, theo sát yêu cầu của pháp luật, bảo vệ lợi ích của cá nhân, pháp nhân, Nhà nước.

– Đối với hoạt động lập pháp, nhận thức đúng CSPLHS sẽ tạo cơ sở, căn cứ cần thiết đảm bảo quá trình TPH, PTPH, HSH, PHSH được thực hiện một cách khoa học, phù hợp với đường lối của Đảng và tiến bộ xã hội.

57

2.4. Các yếu tố tác động đến chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường

CSPLHS về các TPMT liên quan đến một chuỗi các quá trình chính sách, bắt đầu từ việc hoạch định chính sách, tổ chức thực thi chính sách đến việc phân tích cũng nhưđánh giá chính sách. Mỗi bước trong quy trình đó đều được tiến hành bởi những chủ thểnhất định và chịu sự tác động của một hoặc một nhóm các yếu tố nhất định, các yếu tốđó có thể giống hoặc khác nhau tùy vào mỗi hoạt động. Cụ thể:

2.4.1. Tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

KHO TÀI LIỆU.rar\TÀI LIỆU 2025 – RAR archive, unpacked size 67,209,508 bytes/ 112_Chính sách pháp luật hình sự về các tội phạm môi trường ở Việt Nam hiện nay_Vũ Thị Thùy Dung

Chính sách pháp luật hình sự về tội phạm môi trường ở Việt Nam hiện nay Chính sách pháp luật hình sự về tội phạm môi trường ở Việt Nam hiện nay Chính sách pháp luật hình sự về tội phạm môi trường ở Việt Nam hiện nay Chính sách pháp luật hình sự về tội phạm môi trường ở Việt Nam hiện nay Chính sách pháp luật hình sự về tội phạm môi trường ở Việt Nam hiện nay Chính sách pháp luật hình sự về tội phạm môi trường ở Việt Nam hiện nay Chính sách pháp luật hình sự về tội phạm môi trường ở Việt Nam hiện nay Chính sách pháp luật hình sự về tội phạm môi trường ở Việt Nam hiện nay Chính sách pháp luật hình sự về tội phạm môi trường ở Việt Nam hiện nay Chính sách pháp luật hình sự về tội phạm môi trường ở Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *