Phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 4 thông qua văn bản văn học nước ngoài

Phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 4 thông qua văn bản văn học nước ngoài

Phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 4 thông qua văn bản văn học nước ngoài

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài 

Bác Hồ đã dạy:

“Có tài mà không có đức là người vô dụng,

Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó.”

Đúng vậy, ở bất kì đất nước nào, xã hội nào, nền văn hóa nào thì chuẩn mực đạo đức của con người cũng luôn được chú trọng hàng đầu. Ngoài giáo dục văn hoá thì giáo dục đạo đức con người luôn là một việc cần thiết và quan trọng trong xã hội. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh đang trở nên cấp bách và cần thiết. Bởi lẽ, trong xã hội hiện nay, sự suy thoái đạo đức đang diễn ra nghiêm trọng xung quanh chúng ta gây nhức nhối trong xã hội. Chính vì thế, giáo dục đạo đức lại càng phải quan tâm và coi trọng, nó là một nhân tố quyết định đến nhân cách con người.

Nghị quyết 29 – NQ/TW, ngày 4/11/2013 về đổi mới toàn diện giáo dục, chương trình GDPT 2018 đã và đang đi vào trong thực tiễn dạy học. Ngoài ra, trong Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể chính thức được Bộ giáo dục và Đào tạo công bố vào ngày 27 tháng 12 năm 2018, phẩm chất “nhân ái” là phẩm chất đầu tiên trong năm phẩm chất cốt lõi: Yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. Nhân ái là truyền thống của dân tộc ta từ ngàn đời, lòng nhân ái mang lại sự ấm áp đến với cả người cho và người nhận. Đối với phẩm chất nhân ái ở lứa tuổi học sinh, các em biết đùm bọc mọi người, yêu cái đẹp, yêu cái thiện, thể hiện tình yêu thương đối với người khác. Bên cạnh đó là sẵn sàng tha thứ, cảm thông cho mọi người cũng như tôn trọng tất cả mọi người xung quanh kể cả người lớn và trẻ em, tôn trọng văn hóa của các dân tộc vùng miền và giúp đỡ người khác. Ngoài ra, phẩm chất nhân ái không phải bản tính có sẵn mà nó được giáo dục để hình thành từ gia đình, nhà trường và cả xã hội.

Các văn bản văn học trong môn Tiếng Việt đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển cá nhân của trẻ em vì người đọc trở nên gắn bó tình cảm với câu chuyện và điều này có tác động tích cực không chỉ đến sự phát triển cá nhân mà còn đối với toàn bộ quá trình học tập. Các yếu tố của cuộc sống được tìm thấy trong các văn bản văn học làm cho mỗi tác phẩm chứa đựng những giá trị đạo đức hữu ích trong thế giới giáo dục. Không chỉ ở các văn bản văn học Việt Nam, mà các văn bản văn học nước ngoài cũng có vai trò lớn trong đời sống tinh thần của thiếu nhi Việt Nam. Trong chương trình Tiếng Việt ở tiểu học, các văn bản văn học nước ngoài được đưa vào dạy học là những truyện kể dân gian, những truyện hiện đại, các đoạn trích văn thơ của những nhà văn nổi tiếng trên thế giới đã được xem xét và chọn lọc kĩ về nhiều phương diện để đưa vào chương trình, nhằm phục vụ mục đích giáo dục phẩm chất cho học sinh tiểu học. Ngoài ra, nó còn giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về phẩm chất, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản cho mình. Các văn bản văn học nước ngoài đã để lại trong tâm trí học sinh những bài học nhẹ nhàng mà sâu lắng về tình yêu thương, lòng nhân ái, sự vị tha từ đó hình thành và phát triển tình yêu con người, tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người.

Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy phẩm chất nhân ái của học sinh còn nhiều hạn chế. Một số em còn có hành động chưa lễ phép với người lớn, thờ ơ với các em nhỏ, cười đùa khi thấy bạn khác biệt, đôi khi còn chọc ghẹo bạn bè. Nhận thấy được tầm quan trọng của việc phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 4 thông qua văn bản văn học nước ngoài” làm đề tài của đề án này.

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

3. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu xác định cơ sở lý luận và thực tiễn làm căn cứ để xây dựng các thang đánh giá, hệ thống bài tập nhằm phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 4 thông qua văn bản văn học nước ngoài. Qua đó, đề xuất một số biện pháp cụ thể góp phần phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 4 thông qua văn bản văn học nước ngoài một cách hiệu quả.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ sau:

– Hệ thống hóa cơ sở lí luận về lý thuyết phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 4 thông qua văn bản văn học nước ngoài

–  Xác định cơ sở thực tiễn của việc phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 4 thông qua văn bản văn học nước ngoài

– Đề xuất các biện pháp phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 4 thông qua văn bản văn học nước ngoài

– Tiến hành thực nghiệm sư phạm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất. 

5. Giả thuyết khoa học

Nếu các biện pháp đề xuất được áp dụng thì có thể góp phần phát triển phẩm chất nhân ái trong quá trình dạy học văn bản văn học nước ngoài cho học sinh lớp 4 nói riêng, và dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học nói chung.

6. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

6.1. Đối tượng nghiên cứu

– Các biện pháp phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 4 thông qua văn bản văn học nước ngoài ở Trường TH Ngô Mây, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

6.2. Phạm vi nghiên cứu

–  Về nội dung: Đề xuất các biện pháp phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 4 thông qua văn bản văn học nước ngoài.

– Về địa bàn điều tra, khảo sát và thực nghiệm:

+ Trường TH Ngô Mây, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

– Về thời gian nghiên cứu: từ tháng 12/2023 – 6/2024

7. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

7.1. Phương pháp nghiên cứu. 

7.1.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết

– Phương pháp thu thập tài liệu: thu thập các tài liệu liên quan như sách, báo, tạp chí chuyên ngành, tài liệu nghiên cứu khoa học, các công trình nghiên cứu có liên quan, các văn bản của Bộ GD&ĐT, các trang mạng… 

– Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: xem xét, lựa chọn tư liệu liên quan, phân loại, hệ thống các nguồn tài liệu làm cơ sở khoa học cho đề tài.

– Phương pháp phân loại, hệ thống hóa tài liệu theo từng nội dung nghiên cứu.

Phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 4 thông qua văn bản văn học nước ngoài
Phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 4 thông qua văn bản văn học nước ngoài

7.1.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

– Phương pháp quan sát: Tiến hành dự giờ, quan sát hoạt động dạy và học văn bản văn học nước ngoài, dạy học phát triển năng lực phẩm chất của GV và HS ở Trường TH Ngô Mây, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

– Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Lập các phiếu điều tra và tiến hành điều tra tình hình dạy học của GV và HS về thực trạng tổ chức dạy học phát triển phẩm chất nhân ái thông qua văn bản văn học nước ngoài trong môn Tiếng Việt.   

– Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với một số GV, HS nhằm làm rõ hơn những kết quả thu được qua phiếu hỏi, đồng thời bổ sung thêm những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài.

7.1.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tổ chức thực nghiệm sư phạm có đối chứng trên đối tượng là HS lớp 4 ở Trường TH Ngô Mây, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng nhằm đánh giá tính khả thi của các biện pháp mà đề tài đề xuất.

7.1.4. Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học, phần mềm Excel để xử lí các số liệu thu thập được sau khi đã điều tra khảo sát và thực nghiệm sư phạm để rút ra kết luận cần thiết về thực trạng, hiệu quả của đề tài nghiên cứu.

7.2. Nguồn ngữ liệu

Đề án dựa trên nguồn ngữ liệu chính: 

– Văn bản văn học nước ngoài trong sách giáo khoa của Bộ Kết nối Tri thức với Cuộc sống.

Ngoài ra, còn dựa trên 2 nguồn ngữ liệu: 

– Văn bản văn học nước ngoài trong sách giáo khoa của Bộ Chân trời sáng tạo.

– Văn bản văn học nước ngoài trong sách giáo khoa của Bộ Cánh diều.

8. Cấu trúc đề án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục; phần nội dung của đề án gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.

Chương 2: Biện pháp phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 4 thông qua văn bản văn học nước ngoài

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Khái quát chung về văn bản văn học nước ngoài trong môn Tiếng Việt lớp 4

      1. Khái niệm văn bản văn học nước ngoài

Khái niệm văn bản

Đồng thời với quá trình đưa văn bản vào vị trí đối tượng của ngôn ngữ học và tiếp theo sau đó, một loạt định nghĩa về văn bản đã xuất hiện. Rất khó để xác định số lượng các định nghĩa và đằng sau các định nghĩa là quan niệm, những cách hiểu khác nhau về đối tượng ngôn ngữ học khá mới mẻ này. Có thể xem xét một vài quan niệm tiêu biểu: Quan điểm thứ nhất, văn bản là bản viết hoặc in, mang nội dung là những gì cần được ghi lại. Quan điểm thứ hai, văn bản với nghĩa rộng là bản ghi bằng chữ viết hoặc chữ in, một phát ngôn hoặc một thông báo ngôn từ (phân biệt với việc thực hiện phát ngôn hoặc thông báo bằng nói miệng); với nghĩa hẹp văn bản là một chỉnh thể nghĩa, một khối thống nhất có tổ chức của các thành tố hợp thành, một thông báo mà tác giả (người phát) gửi tới người đọc, người xem (người nhận). Nghĩa của văn bản được xác định bởi quan hệ của nó với thực tại ngoài văn bản, với các văn bản khác, với từng cá nhân, với kí ức và các phẩm chất khác nữa của người phát và người nhận thông báo. Van bản thực hiện ba chức năng chính: truyền thông tin, chế biến thông tin mới và bản quản thông tin (ghi nhớ). Quan điểm thứ ba, văn bản là sản phẩm của quá trình viết hoặc nói (trong giao tiếp, thông tin), có thể lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, chủ đề, đề tài, v.v… làm thành một đơn vị, như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường,…,tồn tại dưới dạng văn tự hoặc được ghi âm; phân biệt với diễn ngôn hiểu như chính “ quá trình” tạo ra phẩm vật đó.

Khái niệm văn bản văn học nước ngoài

Khái niệm văn bản văn học nước ngoài là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực văn học. Đây là những tác phẩm văn học được sáng tác bởi các tác giả từ các quốc gia khác, mang đậm bản sắc văn hóa và ngôn ngữ của đất nước mình. Các văn bản văn học nước ngoài có thể là tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kịch, và nhiều thể loại khác.

Văn bản văn học nước ngoài xuất hiện ở Việt Nam là kết quả tất yếu của quá trình tiếp xúc văn hóa Đông – Tây, sự giao lưu văn học của các nước diễn ra liên tục, sâu sắc. Bên cạnh việc thỏa mãn nhu cầu thưởng thức của người đọc, văn bản văn học nước ngoài còn góp phần làm phát triển văn học Việt Nam.

Việc tiếp nhận và hiểu các văn bản văn học nước ngoài đòi hỏi người đọc phải có kiến thức về lịch sử, văn hóa, và ngôn ngữ của quốc gia tương ứng. Điều này giúp chúng ta hiểu sâu hơn về tư duy, giá trị, và tri thức của những tác phẩm này muốn truyền tải. Một số các tác giả nổi tiếng như Shakespeare, Tolstoy, hoặc Gabriel García Márquez.

      1. Đặc trưng của văn bản văn học nước ngoài trong chương trình Tiếng Việt ở cấp Tiểu học

Các VBVHNN được đưa vào chương trình Tiếng Việt ở cấp tiểu học thường là những văn bản văn học ngắn mang dáng dấp những câu truyện cổ dân gian, truyện cổ viết lại. Hai thể loại phổ biến là truyện (gồm các trích đoạn, truyện ngụ ngôn, truyện ngắn hiện đại) và thơ (thơ ngụ ngôn hoặc thơ hiện đại). Số lượng các văn bản văn học theo thể loại cũng không đồng đều, truyện cổ tích chiếm đa số ở lớp 1; từ lớp 2 đến lớp 5, bên cạnh các truyện ngắn có xen kẽ một số truyện ngụ ngôn, truyện cười. Sự bố trí không cân đối về thể loại này xuất phát từ sự phù hợp với thực tiễn nhận thức của lứa tuổi Tiểu học.

Ở lớp 1, học sinh đang cần được phát triển về ngôn ngữ, đang có nhu cầu khám phá thế giới của những điều kì diệu; ở lớp 2 đến lớp 5, các em từng bước được làm quen với các thể loại phức tạp hơn, được tiếp xúc với các tác giả của nhiều nước, nhiều nền văn học, nội dung giáo dục của các câu chuyện cũng phức tạp và sâu sắc hơn. Tương tự như thế, ở lớp 1, khi các em còn nhỏ, năng lực tư duy chưa phát triển, nhận thức về cái hay và cái đẹp của văn chương hầu như chưa có, thì kể chuyện chính là hình thức phù hợp để bước đầu đưa các em vào thế giới của những điều kì diệu này. Các câu chuyện qua lời kể của GV sẽ có sức lôi cuốn, hấp dẫn hơn, kích thích sự tưởng tượng và niềm say mê tìm tòi khám phá của các em. Lớp 2 và lớp 3, khi vốn Tiếng Việt của các em bớt nghèo nàn, bắt đầu có khả năng nhận thức, đánh giá các sự kiện, hiện tượng theo ý kiến của riêng mình thì việc để các em tự thể hiện những cảm nhận riêng qua việc tập đọc diễn cảm là cần thiết. Tùy theo sự cảm nhận riêng của mình, các em sẽ thể hiện các cảm xúc khác nhau. Đến lớp 4, 5, vai trò mở của dẫn dắt của GV đã được giảm bớt, các em đã có thể tự bước vào thế giới huyền diệu của các tác phẩm văn chương theo cách của riêng mình. Vì là năm cuối cấp, chuẩn bị bước sang một cấp học mới, với những nội dung kiến thức cần tiếp nhận rộng hơn, sâu hơn, nên số VBVHNN cũng được giảm thiểu, sự tiếp nhận chủ động của học sinh có sự điều chỉnh, gợi mở của GV. Quan sát bố cục và sự sắp xếp các VBVHNN theo lớp và phân môn như thế, phần nào có thể hình dung được ý đồ của các nhà biên soạn sách. Việc lựa chọn thể loại nào, văn bản văn học nào, giảng dạy ở phân môn nào ở từng lớp, ngoài việc phải phù hợp với đặc trưng tâm lý, lứa tuổi, còn phải bảo đảm tính hài hoà, gắn kết với các tác phẩm văn học thiếu nhi trong nước khác được giới thiệu và giảng dạy.

  • Về chủ đề:

Tính phù hợp lứa tuổi, trình độ nhận thức của đối tượng tiếp nhận luôn là tiêu chí tối cao cho việc lựa chọn văn bản văn học để đưa vào chương trình dạy và học. Hiệu quả giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, bước đầu nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Tiểu học phụ thuộc vào yếu tố này. Chương trình dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học được phân phối theo các chủ điểm. Bởi thế, các nhà biên soạn, khi lựa chọn giới thiệu, giảng dạy các văn bản văn học trong nước và nước ngoài trong chương trình Tiểu học đều quan tâm trước hết đến ý nghĩa giáo dục của nó.

  • Về ngôn ngữ:

+ Ngắn gọn, súc tích, đơn giản, không cầu kì, không rườm rà và phù hợp với độ tuổi bậc Tiểu học, nhiều đoạn có chất văn học cao.

+ Ngôn ngữ miêu tả được sử dụng khá nhuần nhuyễn, tự nhiên, tái hiện được hình ảnh thiên nhiên, đất nước, con người và vật một cách trong sáng, sinh động, giàu cảm xúc, gần gũi với sự cảm nhận ngây thơ, hồn nhiên của tuổi thơ, phát huy được óc tưởng tượng phong phú của các em.

+ Giúp học sinh tiểu học phát triển vốn từ vựng qua các đề tài phong phú, đa dạng gắn liền với cuộc sống hàng ngày của các em.

      1. Vai trò của văn bản văn học nước ngoài trong chương trình Tiếng Việt đối với học sinh

Văn bản văn học là sản phẩm kết tinh từ quá trình học tập, nhằm đáp ứng những nhu cầu khác nhau trong cuộc sống của con người, tác động sâu sắc tới con người và cuộc sống. Vai trò của một văn bản văn học gắn với đặc trưng, bản chất của văn bản văn học đó. Có thể có nhiều vai trò như giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ, cung cấp tri thức, giải trí, giao tiếp,… nhưng có bốn vai trò cơ bản là giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ, cung cấp tri thức, hình thành và phát triển ngôn ngữ. Đặc biệt, nhờ có VBVHNN mà HS được nhìn ra thế giới rộng lớn; thông qua các văn bản văn học đó để xem những con người ở đất nước khác họ có cuộc sống ra sao, họ có những câu chuyện gì, những địa điểm đó ở đâu,…

Cung cấp tri thức, hiểu biết cho học sinh

Như chúng ta đã biết tác phẩm văn học của bất kì nhà văn nào cũng là kết quả của quá trình nhà văn đó khám phá, lí giải hiện thực đời sống rồi chuyển hoá những hiểu biết đó vào nội dung tác phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của con người. Hiện thực cuộc sống vô cùng phong phú với những kiến thức về địa lí, lịch sử, phong tục, tôn giáo, đạo đức, văn hóa của một dân tộc hoặc một thời đại (Lê Lưu Oanh và Phạm Đăng Dư, 2008). Mỗi người chỉ sống trong một khoảng thời gian nhất định, ở những không gian nhất định với những mối quan hệ nhất định vì vậy thông qua những tác phẩm này, đọc người có được những hiểu biết, những nhận thức mới mẻ, sâu rộng về nhiều mặt của cuộc sống trong những khoảng thời gian và không gian khác nhau từ ngày xưa đến ngày nay, từ trong nước đến nước ngoài. Mỗi VBVHNN trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học, dù nhân vật là con người hay đồ vật, loài vật cũng đều có nội dung khá phong phú và đa dạng. Vì vậy, mỗi câu chuyện đều mang đến cho HS những hiểu biết về nhiều mặt của cuộc sống với những thời gian, không gian khác nhau như quá khứ, hiện tại, các vùng đất, các dân tộc, phong tục, tập quán,… Trước hết, VBVHNN cung cấp cho HS những hiểu biết về sự vật, đất nước và con người của các nước trên thế giới. HS nhận biết được cảnh vật mùa hè, mùa thu tuyệt đẹp, cây cối luôn chuyển động như đang hòa chung nhịp sống với con người ở Nga trong văn bản văn học “Bầu trời mùa thu” của Xu-khôm-lin-xki. Từ văn bản này chúng ta có thể hình dung về mùa hè, mùa thu và bầu trời như sau: “Mùa hè, nó rất nóng với những tia nắng mặt trời chói chang” còn “Bầu trời xanh như mặt nước mệt mỏi trong ao” và “Mùa thu, nó mệt nên đứng yên với màu xanh nhạt”. Bên cạnh đó, HS còn nhận biết được nét đẹp văn hóa ở mỗi đất nước thông qua các truyện Cô bé bán diêm (An-đéc-xen), Đất quý, đất yêu (Ê-ti-ô-pi-a),… Các VBVHNN còn giúp HS nhận ra những tình cảm tốt đẹp trong cuộc sống là tình yêu quê hương đất nước; tình nghĩa thầy trò sâu đậm, tình bạn chân thành, luôn quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau,…

Giáo dục đạo đức cho học sinh

Nhân cách của HS tiểu học không phải sinh ra đã có sẵn, mà nó được hình thành và phát triển thông qua nhiều yếu tố, trong đó yếu tố giáo dục là vô cùng quan trọng, góp phần hoàn thiện nhân cách cho HS. Những văn bản văn học luôn khơi dậy khả năng đồng cảm, làm cho con người biết vui buồn trước những nỗi buồn vui của mỗi người, dạy ta biết yêu cái đẹp, đức tính tốt và biết ghét cái lười biếng, độc ác gian tham. Văn học khơi dậy niềm tin vào sự chiến thắng của cái thiện, niềm tin vào cuộc sống, vào tương lai, dạy cho người ta biết đồng cảm, hành động vì điều đúng đắn, khát khao đóng góp cho cuộc sống ngày càng tươi đẹp hơn. Tiếp xúc với các VBVHNN, HS được giáo dục những bài học bổ ích như: biết yêu thương, vâng lời ông bà, cha mẹ, anh em trong gia đình; chăm học, chăm lao động, không lười biếng; không ích kỉ, biết giúp đỡ lẫn nhau,… VBVHNN còn giáo dục những phẩm chất tốt đẹp như lời nói phải đi đôi với việc làm, biết giữ lời; kính trọng người lớn tuổi; tôn trọng vẻ khác biệt của mỗi người,…Đây là những phẩm chất rất cần thiết trong cuộc sống thường ngày. Các VBVHNN giúp các em nhận thức đúng, có thái độ, hành vi đúng mực. Bên cạnh đó, các em được tham gia vào các tình tiết của câu chuyện, sống bằng cuộc sống của nhân vật, từ đó biết ủng hộ cái thiện, lên án cái xấu, cái ác.

Giáo dục thẩm mĩ cho học sinh

Con người luôn có nhu cầu cảm thụ, thưởng thức cái đẹp. Văn học là cái đẹp mà nhà văn ban tặng cho người đọc. Giáo dục thẩm mĩ cho HS tức là giáo dục cho HS biết yêu cái đẹp. Với nội dung phong phú và đa dạng, cách lựa chọn, sắp xếp ngôn ngữ kết hợp với các biện pháp nghệ thuật nhân hóa, so sánh, ẩn dụ,… của các tác giả, các VBVHNN mang đến cho HS muôn ngàn vẻ đẹp của bản thân đời sống (từ cỏ cây hoa lá đến sông núi, biển trời và các con vật,…) và vẻ đẹp của con người (từ ngoại hình đến tính cách, phẩm chất bên trong). Thông qua những văn bản văn học đó, các em biết thưởng thức cái đẹp, biết phân biệt cái đẹp – cái xấu, cái đúng – cái sai, cái cao cả – cái thấp hèn,… từ đó, hành động đúng, sống đúng với những chuẩn mực của xã hội.

Hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ

VBVHNN còn giúp HS phát triển, mở rộng vốn từ, phát triển năng lực ngôn ngữ. Qua các văn bản Tập đọc, các em học được nhiều từ mới, nhiều câu hay, cách sử dụng ngôn từ và các biện pháp nghệ thuật của tác giả. Bên cạnh đó, các em còn học được cách đọc một văn bản văn học như thế nào. Chẳng hạn, với VBVHNN Công chúa và người dẫn truyện (Tiếng Việt 4, Tập 1, Bộ Kết nối Tri thức với Cuộc Sống), HS cần 2 hoạt động đọc là đọc đúng và đọc diễn cảm, cụ thể:

  • Hoạt động 1: Đọc đúng.

+ GV hướng dẫn đọc: Đọc trôi chảy toàn bài, ngắt nghỉ câu đúng, chú ý câu dài. Đọc diễn cảm các từ ngữ thể hiện tâm trạng cảm xúc của nhân vật trong câu chuyện. Đọc phân biệt giọng điệu của các nhân vật trong câu chuyện.

+ GV chia đoạn: 4 đoạn theo thứ tự: đoạn 1: từ đầu đến vui lắm; đoạn 2: tiếp theo cho đến nhường vai chính cho bạn; đoạn 3: tiếp theo cho đến Giét – xi nói; đoạn 4: đoạn còn lại.

  • Hoạt động 2: Đọc diễn cảm.

+ GV hướng dẫn đọc: Đọc diễn cảm nhấn giọng ở những từ ngữ thể hiện tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trong câu chuyện. VD: vui lắm, hào hứng, buồn lắm,…

Việc thể hiện đúng giọng đọc, đọc diễn cảm không chỉ giúp cho bài tập đọc thêm hấp dẫn, truyền tải được xúc cảm đến người nghe mà còn giúp bản thân người đọc tiếp cận với tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật cũng như cảm thụ sâu sắc thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm thông qua nhân vật đó.

      1. Khái quát chung về văn bản văn học nước ngoài trong chương trình Tiếng Việt lớp 4

Bộ sách Kết nối Tri thức với Cuộc sống

Bảng 1.1. Các VBVHNN trong Bộ Kết nối Tri thức với Cuộc sống

STTTên văn bản văn họcTác giảNội dung
1Công chúa và người dẫn truyệnDu – nan biên soạn, Hoà Vân dịchCũng như các loài hoa, mỗi người có vẻ đẹp và giá trị riêng.
2Thằn lằn xanh và tắc kèTheo Sâng Lê-kha-naMỗi loài vật đều có đặc tính riêng với một môi trường sống phù hợp với những đặc tính đó. Cần trân trọng những đặc điểm của mình và biết lựa chọn hoàn cảnh sống phù hợp với những đặc điểm đó.
3Những bức chân dungTheo ni-cô-lai Nô – xốpMỗi người đều có một vẻ đẹp riêng, không ai giống ai, không nên thay đổi vẻ riêng của mình theo bất cứ một tiêu chuẩn nào, vì điều đó sẽ tạo ra những vẻ đẹp rập khuôn, nhàm chán.
4Tiếng nói của cỏ câyTheo Ben –la Đi- guaVăn bản nói đến sự thay đổi của khóm hoa hồng khi được Ta-nhi-a di chuyển đến một vị trí khác. Mỗi loài cây đều cần một sự chăm sóc phù hợp để có thể trở nên tươi tốt nhất.
5Bầu trời mùa thuTheo Xu – khôm-lin-xkiThầy giáo giao cho các bạn học sinh nhiệm vụ suy nghĩ và chọn những từ ngữ thích hợp để nói về bầu trời. Hình ảnh bầu trời trong các câu văn của mỗi bạn nhỏ rất khác nhau. Các bạn hào hứng suy nghĩ và tưởng tượng để nói về bầu trời theo cách của riêng mình. Nhờ vậy bầu trời trở nên rất sinh động.
6Ở vương quốc tương laiTheo Mát-téc-líchVăn bản đề cập đến những sáng chế của các cậu bé có thể giúp cuộc sống con người tốt đẹp hơn. Mỗi sáng chế mang một ý nghĩa to lớn.
7Người thầy đầu tiên của bố tôiTheo A-mi-xiCâu chuyện hai bố con nhân vật tôi đến thăm người thầy đầu tiên của bố. Dù đã xa cách nhiều năm nhưng bố vẫn rất biết ơn và tôn trọng thầy. Qua câu chuyện có thể thấy được tình cảm thầy trò là tình cảm rất thiêng liêng, cao quý và cần được giữ gìn. Từ đó, nhắc nhở bạn đọc về lòng biết ơn đối với thầy cô của mình.

Bộ sách Cánh diều

Bảng 1.2. Các VBVHNN trong Bộ Cánh diều

STTTên văn bản văn họcTác giảNội dung
1Những chú bé giàu trí tưởng tượngTheo Nô-xốp, Hoàng Anh dịchBằng những câu chuyện tưởng tượng, tán dóc mà vừa có thể mua vui, gây tiếng cười cho nhau; vừa có thể giúp xoa dịu, an ủi những người xung quanh nhờ câu chuyện vui của mình; Mi-sa và Xa-sa đã biến trí tưởng tượng của mình trở nên thiết thực, hữu ích hơn bao giờ hết.
2Ở vương quốc tương laiTheo Mát-téc-lích, Nguyễn Trường Lịch dịchVương quốc Tương Lai với những ước mơ, niềm mong muốn về những hạnh phúc, những cuộc hội ngộ gần gũi của con người trong gia đình và xã hội. Dù là tưởng tượng, nhưng đó là những khát vọng, chờ mong của con người về một xã hội có thật, hạnh phúc thật.
3Bức mật thưGiuyn véc – nơ, Bích Thuỷ dịchCâu chuyện kể về một lần cậu bé nọ vô tình phát hiện ra cách thức đọc bức mật thư, dẫn tới quyết định thực hiện cuộc thám hiểm của người chú.
4Nụ cười Ga-ga-rinTheo Xti- vân đao-linhVăn bản kể về phi công vũ trụ tên Ga-ga-rin – người đầu tiên bay vào vũ trụ.

Bộ sách Chân trời sáng tạo

Bảng 1.3 Các VBVHNN trong Bộ Chân trời sáng tạo

STTTên văn bản văn họcTác giảNội dung
1Ở vương quốc tương laiTheo Mát-téc-lích, Nguyễn Trường Lịch dịchVương quốc Tương lai sáng chế ra những thứ mới lạ, tưởng chừng như không thể thực hiện được. Những ý tưởng ấy sau này đã thực sự trở thành hiện thực. Không điều gì là không thể thực hiện, chỉ cần ta có ý chí, lòng yêu thích và sáng tạo ra nó.
2Điều ước của vua Mi-đátTheo thần thoại Hi – lạp, Nhữ Thành dịchVị vua Mi-đát có lòng tham vô đáy, ông được thần Đi-ô-ni-dốt ban cho một điều ước, ông đã ước rằng mọi vật ông chạm vào đều hóa thành vàng. Vua Mi-đát cứ tưởng rằng mình là người sung sướng nhất trên đời rồi, cho đến khi ông nhận ra rằng ông không thể sống nếu như bất cứ thứ gì ông chạm vào cũng hóa thành vàng như vậy.
3Cậu bé gặt gióTheo Uy-li-am Cam-goam-ba và Brai-ơn Mi-lơ, Pha-tác Ra-cun dịchVăn bản ca ngợi cậu bé Uy-li-am Cam-goam-ba đã có công lao trong việc chế tạo ra chiếc cối xay gió.
4Thảo nguyên bao laTheo Ai-ma-tốp, Cao Xuân Hạo và Nguyễn Ngọc Bằng dịchVăn bản nói về mùa xuân trên thảo nguyên với những dấu hiệu của mùa xuân.
5Biển và rừng cây dưới lòng đấtTheo Giuyn véc – nơ, Giang Hà Vỵ dịchVăn bản kể về chuyến phiêu lưu, khám phá dưới lòng đất của Giáo sư Brốc, anh Han và Éc-xen

Một số vấn đề chung về phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh tiểu học

Phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh tiểu học là một nhiệm vụ quan trọng đối với các nhà trường. Xuất phát từ mục tiêu giáo dục, yêu cầu cần đạt của mỗi quốc gia hoặc nhà trường mà từ đó có thể xác định những nội dung cụ thể khác nhau để thực hiện phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh tiểu học.

      1. Khái niệm phẩm chất

Trong Chương trình Giáo dục Phổ thông Tổng thể (GDPT) 2018 đã khẳng định:

“Phẩm chất là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con người; cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người.”

Phẩm chất có thể hiểu là bản chất, là cái làm nên giá trị riêng của mỗi con người. Đạo đức là những chuẩn mực hành vi ứng xử giữa người với người, giữa người với tự nhiên, vạn vật. Phẩm chất đạo đức là những chuẩn mực hành vi làm nên giá trị của một con người.

Phẩm chất là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng mối quan hệ giữa con người với con người, từ những chuyện bình thường, mối quan hệ trong gia đình, kết giao với bạn bè, và đối với những người xung quanh. Ngoài ra, phẩm chất cũng thể hiện qua cách ứng xử của con người đối với sự việc trong cuộc sống. Đồng thời qua đó thể hiện trình độ văn hóa, nhân tính và nguyên tắc sống của con người. Con người là một thực thể xã hội. Vì vậy chất lượng mối quan hệ xã hội có ảnh hưởng quyết định đối với chất lượng cuộc sống.

Từ điển Tâm lí học của Raymond J.Corsini quan niệm “Phẩm chất là đặc điểm (hoặc đặc trưng) về cảm giác hoặc thực thể khác để cho nó trở thành độc đáo, là sự khác về chất (loại, thứ, hạng) chứ không phải về số lượng”. Như vậy, theo những cách hiểu này, phẩm chất được hiểu là những đặc điểm (đặc trưng) về thực thể hoặc về sự phản ánh thế giới (tinh thần) của đối tượng để tạo nên sự khác biệt với đối tượng khác về tính chất, giúp đánh giá phân loại hay xếp hạng đối tượng. Có hai loại phẩm chất: phẩm chất thực thể (vật chất) và phẩm chất của cảm giác (tinh thần). Có thể khái quát một số nội dung cơ bản sau: phẩm chất là đặc điểm, thuộc tính gắn bó với đối tượng; phẩm chất là mức độ giá trị của những đặc điểm, thuộc tính. . . của đối tượng để tạo nên sự khác biệt của chúng, là cơ sở cho sự đánh giá, phân loại, xếp hạng; Có những phẩm chất thiên về tinh thần (xét riêng về khía cạnh con người), nhưng cũng có những phẩm chất thiên về thực thể vật chất (cả con người và đồ vật, vật chất). Từ những phân tích trên, có thể hiểu “phẩm chất là cái làm nên giá trị của người hay vật. Nói khác đi, phẩm chất là những yếu tố đạo đức, hành vi ứng xử, tình cảm, niềm tin, giá trị cuộc sống; ý thức thực hiện pháp luật của con người được hình thành sau một quá trình giáo dục”.

Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng quan điểm coi nhân cách là tổ hợp những đặc điểm và phẩm chất tâm lí của cá nhân nói lên hành vi xã hội và giá trị xã hội của con người. Hay nói cách khác, phẩm chất bao gồm thái độ, hành vi ứng xử, tình cảm, niềm tin để từ đó tạo nên nhân cách của con người. Việc xác định những phẩm chất nhân cách là cần thiết để định hướng cho việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh.

      1. Khái niệm phẩm chất nhân ái

Theo quan điểm truyền thống thì “Nhân” có nghĩa là người, “Ái” có nghĩa là tình yêu thương. Nên có thể hiểu nhân ái chính là sự giúp đỡ, chia sẻ, bảo bọc, tình yêu thương giữa con người với con người.

Phẩm chất nhân ái là một khía cạnh quan trọng trong hình thành và phát triển của con người. Phẩm chất nhân ái là phẩm chất biểu thị tình thương và sự quan tâm đến người khác. Nhân ái bao gồm việc yêu thương, đùm bọc mọi người, tôn trọng sự khác biệt, cảm thông, và sẵn lòng giúp đỡ người khác.

Trong Chương trình Giáo dục Phổ thông Tổng thể (GDPT) 2018, phẩm chất nhân ái được xem là một trong năm phẩm chất cốt lõi cần hình thành ở học sinh. Cùng với yêu nước, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm, phẩm chất nhân ái giúp học sinh phát triển toàn diện và trở thành những công dân có ý thức, trách nhiệm và tình thương đối với cộng đồng và xã hội.

Từ những phân tích trên, theo tôi, phẩm chất nhân ái của học sinh tiểu học trong nghiên cứu này được hiểu là một đặc trưng của nhân cách, góp phần tạo nên giá trị của mỗi người, thể hiện ở tình yêu thương, quan tâm đối với bạn bè, với gia đình và với xã hội. Phẩm chất nhân ái làm học sinh có những hành vi theo hướng tích cực, thúc đẩy học sinh thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình. Ở độ tiểu học sinh tiểu học, các em cần ý thức một cách sâu sắc về lòng vị tha, từ đó sẽ cho phép học sinh quyết định và lựa chọn hành động, hành vi một cách đúng đắn hơn.

Mục tiêu của phẩm chất nhân ái đối với học sinh Tiểu học

Xác định mục tiêu là bước khởi đầu của mọi hoạt động để có định hướng thực hiện đúng ở những bước tiếp theo. Mục tiêu phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh tùy thuộc vào mục tiêu giáo dục của mỗi nhà trường, địa phương dựa trên nền mục tiêu chung của quốc gia dân tộc.

Ở nước ta, nội dung giáo dục phẩm chất nhân ái là một trong năm phẩm chất cốt lõi cho học sinh tiểu học nhằm thực hiện quan điểm và mục tiêu yêu cầu đổi mới theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Chương trình được xây dựng trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,… gắn với nhu cầu phát triển của đất nước, những tiến bộ của thời đại về khoa học – công nghệ và xã hội; phù hợp với đặc điểm con người, văn hoá Việt Nam, các giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị chung của nhân loại cũng như các sáng kiến và định hướng phát triển chung của UNESCO về giáo dục. Căn cứ vào việc mô tả những biểu hiện phẩm chất nhân ái trong Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể và những đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh, bước đầu tôi phân tích và đề xuất 3 mục tiêu thành phần của phẩm chất nhân ái nhằm cụ thể hóa những nội dung giáo dục phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh tiểu học.

  • Mục tiêu nhận thức:

Giúp hình thành cho học sinh biết nhận biết những biểu hiện, những dấu hiệu của phẩm chất nhân ái, lý do cần nhân ái với bản thân và mọi người xung quanh.

+ Giải thích được nhân ái là gì, chỉ ra được một số biểu hiện của phẩm chất nhân ái;

+ Nhận ra được nhân ái là truyền thống tốt đẹp của con người;

+ Nêu lên được tác dụng của nhân ái trong cuộc sống.

  • Mục tiêu thái độ:

Giúp học sinh biết bày tỏ thái độ phù hợp với những hành vi nhân ái và không nhân ái; Biết thể hiện xúc cảm, tình cảm phù hợp với hoàn cảnh. Đây là yếu tố cơ bản có vai trò thúc đẩy, lôi kéo học sinh hướng về điều thiện. Khi bản thân học sinh thực hiện việc ác hoặc có các hành vi xấu xa, các em sẽ cảm thấy xấu hổ, hối tiếc, cắn rứt, ăn năn… Nhờ đó, việc nhận thức về sự sai trái trong con người ta sẽ dễ hơn. Hành vi thiện, ác, tốt, xấu của những người khác cũng gây ra trong lương tâm ta những tình cảm đạo đức khác nhau như quý trọng, cảm phục, kính nể, khen ngợi hoặc bức xúc, thương hại, khinh bỉ, chê bai,…

+ Biết thể hiện yêu thương, quan tâm, chăm sóc đối với người thân trong gia đình;

+ Biết thể hiện sự yêu quý bạn bè, thầy cô; quan tâm, động viên, khích lệ bạn bè;

+ Biết tôn trọng người lớn tuổi; người già, người ốm yếu, người khuyết tật;

+ Biết tôn trọng sự khác biệt của bạn bè trong lớp về cách ăn mặc, tính nết và hoàn cảnh gia đình.

  • Mục tiêu hành động:

Giúp HS có những hành động thể hiện sự nhân ái của bản thân, có nhu cầu phấn đấu rèn luyện theo yêu cầu của phẩm chất nhân ái, có yêu cầu tự điều chinh, tự hoàn thiện nhân cách. Từ đó trân trọng, kế thừa, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

+ An ủi, động viên, khích lệ mọi người như bạn bè, người thân, em nhỏ,… (nhất là những người đang gặp khó khăn);

+ Chia sẻ với những bạn có hoàn cảnh khó khăn, các bạn ở vùng sâu, vùng xa, người khuyết tật và đồng bào bị ảnh hưởng của thiên tai;

+ Giúp đỡ người khác (nhất là những người yếu thế, thiệt thòi như người già, người ốm yếu, người khuyết tật; em nhỏ);

+ Nhường nhịn và giúp đỡ em nhỏ;

+ Sẵn sàng tha thứ cho những hành vi có lỗi của người khác;

+ Không phân biệt đối xử, chia rẽ mọi người.

Các mục tiêu chính của phẩm chất nhân ái cho HS tiểu học là giáo dục nhận thức và giáo dục thái độ, hành vi có mối liên hệ mật thiết với nhau. Yếu tố tình cảm đóng vai trò chủ đạo, có tác dụng như động lực thúc đẩy con người tích cực lĩnh hội kiến thức để có hiểu biết đúng về phẩm chất nhân ái và thể hiện hành vi nhân ái với mọi người và sự vật xung quanh. Điều này. đặc biệt quan trọng đối với học sinh tiểu học, khi nhận thức về phẩm chất nhân ái của học sinh còn hạn chế thì cũng dẫn đến những hành vi sai lệch cho học sinh.

      1. Yêu cầu cần đạt về phẩm chất nhân ái cho học sinh tiểu học

Yêu cầu cần đạt về phẩm chất là kết quả mà học sinh cần đạt được về phẩm chất sau mỗi cấp học, lớp học ở từng môn học và hoạt động giáo dục; trong đó, mỗi cấp học, lớp học sau đều có những yêu cầu riêng cao hơn, đồng thời bao gồm những yêu cầu đối với các cấp học, lớp học trước đó.

Khi đã có các mục tiêu của phẩm chất nhân ái nhất định thì có thể đưa ra được các yêu cầu cần đạt phù hợp nhằm đảm bảo phát huy phẩm chất nhân ái cho học sinh một cách phù hợp nhất, đặc biệt là đối với đối tượng học sinh tiểu học.

Trong Chương trình Giáo dục Phổ thông Tổng thể (GDPT) 2018 cũng đã đưa ra những yêu cầu cần đạt đối với phẩm chất nhân ái ở cấp tiểu học như sau:

  • Yêu quý mọi người:

+ Yêu thương, quan tâm, chăm sóc người thân trong gia đình.

+ Yêu quý bạn bè, thầy cô; quan tâm, động viên, khích lệ bạn bè.

+ Tôn trọng người lớn tuổi; giúp đỡ người già, người ốm yếu, người khuyết tật; nhường nhịn và giúp đỡ em nhỏ.

+ Biết chia sẻ với những bạn có hoàn cảnh khó khăn, các bạn ở vùng sâu, vùng xa, người khuyết tật và đồng bào bị ảnh hưởng của thiên tai.

  • Tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người:

+ Tôn trọng sự khác biệt của bạn bè trong lớp về cách ăn mặc, tính nết và hoàn cảnh gia đình.

+ Không phân biệt đối xử, chia rẽ các bạn.

+ Sẵn sàng tha thứ cho những hành vi có lỗi của bạn.

Như vậy, có thể thấy ở cấp tiểu học thì phẩm chất nhân ái được chia thành hai yêu cầu rõ rệt đó là yêu quý mọi người và tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người.

      1. Các biểu hiện của phẩm chất nhân ái cho học sinh tiểu học

Các biểu hiện của phẩm chất nhân ái bao gồm: sự đồng cảm, quan tâm, chia sẻ; giúp đỡ, bao dung, tha thứ; tôn trọng…Tất cả những điều nói trên không thể tách rời mà gắn liền với nhau tạo nên sự hài hoà giữa tư tưởng, tình cảm và hành động của con người.

Những biểu hiện cụ thể về phẩm chất nhân ái ở học sinh được nhận thấy trong cuộc sống hàng ngày như:

  • Yêu quý và quan tâm đến người khác:

Học sinh tiểu học đã biết thể hiện tình cảm yêu thương và quan tâm đến người thân trong gia đình. Các em thường thể hiện bằng cách chào hỏi ba mẹ, ông bà, người lớn khi đi học về; chơi cùng với anh chị em; thường xuyên hỏi han, quan tâm khi người thân trong gia đình gặp chuyện không vui;….Ngoài ra, khi đến trường các em cũng thể hiện niềm yêu quý của mình với bạn bè bằng cách luôn luôn thân thiện, vui vẻ khi gặp bạn bè; biết động viên, khích lệ khi bạn bè buồn; quan tâm đến cảm xúc của bạn khi kết quả học tập không được cao;…

  • Nhường nhịn và giúp đỡ:

Ở độ tuổi này, các em đã biết giúp đỡ bạn bè. Khi trong lớp có một bạn quên mang dụng cụ học tập thì đa số tất cả các học sinh trong lớp đều sẵn sàng cho bạn mượn. Hoặc khi bạn gặp khó khăn khi làm việc gì đó thì các em có xu hướng hỗ trợ bạn thực hiện, ví dụ như việc bạn nữ không thể chạm tới những chỗ cao ở mép bảng khi trực nhật thì các bạn nam luôn luôn lau giúp.

Đa số các em học sinh đều có suy nghĩ mình đã lớn hơn nên các em thường nhường nhịn em nhỏ trong gia đình hay các em lớp nhỏ cùng trường. Nếu ở nhà, khi thấy em nhỏ cũng muốn được món đồ chơi giống mình thì các em thường sẽ lựa chọn nhường cho em nhỏ, chơi cùng với em chứ không tranh giành. Hoặc khi ở trường, chúng ta sẽ bắt gặp rất nhiều lần các bạn học sinh dắt những em lớp 1 đi nhầm lớp, cùng chơi với các em ở ngoài sân trường.

Không chỉ đối với gia đình và bạn bè, các em học sinh còn rất tôn trọng người lớn tuổi và biết giúp đỡ người già, người ốm yếu, người khuyết tật. Khi gặp tình huống nếu gặp người già cần qua đường thì tất cả học sinh đều lựa chọn sẽ giúp cụ già qua đường mà không ngần ngại.

  • Tôn trọng sự khác biệt:

Học sinh đã biết tôn trọng sự khác biệt về cách ăn mặc, tính cách và hoàn cảnh gia đình của từng cá nhân. Các em lắng nghe bạn bè một cách tôn trọng và cố gắng hiểu cảm xúc, suy nghĩ và cách người đó hành động. Không thể hiện đánh giá hoặc phê phán bạn bè dựa trên tính cách của người đó mà chấp nhận và tôn trọng sự đa dạng trong tính cách của bạn bè, các em hiểu được mỗi người có một tính cách khác nhau mà không ai giống ai cả. Ngoài tôn trọng bạn bè thì các em cũng thể hiện tôn trọng và quan tâm đến gia đình của bạn bè như không nói xấu hoặc phê phán gia đình của bạn, không can thiệp vào cuộc sống cá nhân của gia đình bạn, không đặt câu hỏi quá cá nhân về gia đình của bạn. Đa số các em đều thích được đến nhà bạn chơi và mời bạn bè khi đến chơi nhà của mình để có thể chia sẻ những đồ chơi, sách truyện của mình đang có. Đặc biệt, các em đã biết tôn trọng quyền riêng tư của bạn bằng cách không can thiệp vào cuộc sống cá nhân, sử dụng đồ dùng của bạn bè mà không được phép.

      1. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh tiểu học

Phẩm chất nhân ái là một khía cạnh quan trọng trong hình thành và phát triển của con người. Dưới đây là một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của phẩm chất nhân ái đối với học sinh:

  • Yếu tố di truyền: Bẩm sinh di truyền đóng vai trò trong việc hình thành phẩm chất nhân ái. Các phẩm chất nhân ái có thể được kế thừa từ bố mẹ hoặc gia đình.
  • Yếu tố hoàn cảnh sống: Môi trường sống, gia đình, bạn bè, và xã hội ảnh hưởng đến phẩm chất nhân ái. Học sinh học hỏi và phát triển qua các mối quan hệ xã hội và hoàn cảnh tự nhiên.
  • Yếu tố giáo dục: Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành phẩm chất nhân ái. Học sinh học được giá trị nhân ái thông qua giáo dục, ví dụ như tôn trọng, lòng nhân ái, và sẵn lòng giúp đỡ người khác.
  • Yếu tố hoạt động và giao tiếp: Hoạt động cá nhân và giao tiếp với người khác giúp học sinh phát triển phẩm chất nhân ái. Thông qua hoạt động và giao tiếp, học sinh học cách đồng cảm, chia sẻ, và thể hiện lòng nhân ái.

Đặc điểm nhận thức và đặc điểm nhân cách của học sinh lớp 4

Học sinh tiểu học có độ tuổi từ 6 đến 10 tuổi. Đó là những học sinh đang theo học trường Tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5. Ở mỗi trẻ em tiềm tàng khả năng phát triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện và hoạt động xã hội đế đạt một trình độ nhất định về lao động nghề nghiệp, về quan hệ giao lưu và chăm lo cuộc sống cá nhân, gia đình. Học sinh tiểu học thường có nhiều nét tính cách tốt như hồn nhiên, ham hiểu biết, lòng thương người, lòng vị tha. Giáo viên nên tận dụng đặc tính này để giáo dục học sinh của mình nhưng cần phải đúng, phải chính xác, đi học đúng giờ, làm việc theo hướng dẫn của giáo viên.

Riêng đối với học sinh lớp 4, các em cũng có những đặc điểm riêng biệt của độ tuổi này mà không phải chỉ có những đặc điểm chung của độ tuổi học sinh tiểu học. Dưới đây là những đặc điểm nhận thức và nhân cách cụ thể của học sinh lớp 4:

      1. Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 4

Tri giác

Tri giác là một quá trình tâm lý, phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng ta.

  • Các loại tri giác:

+ Tri giác nhìn: Liên quan đến việc nhìn thấy và phân tích hình ảnh.

+ Tri giác không gian: Đánh giá vị trí và khoảng cách giữa các đối tượng.

+ Tri giác thời gian: Liên quan đến việc hiểu thời gian và chu kỳ.

+ Tri giác chuyển động: Theo dõi và hiểu các chuyển động.

+ Tri giác con người: Tổng hợp của nhiều cảm giác.

Tri giác là kết quả của sự tác động trực tiếp của sự vật lên nhiều giác quan của con người. Quan sát là hình thức cao nhất của tri giác và đã trở thành một phương pháp nghiên cứu khoa học.

Chú ý

Chú ý chính là sự tập trung của ý thức vào một hay nhóm các sự vật hiện tượng để định hướng hoạt động, đẩm bảo điều kiện thần kinh – tâm lý cần thiết để tiến hành hiệu quả.

  • Biểu hiện của chú ý: Chú ý thường được biểu hiện ra bằng cả những dấu hiệu bên ngoài và bên trong.

+ Biểu hiện bên ngoài: ánh mắt (nhìn chằm chằm, mơ màng,…); nét mặt (nhíu mày, nhăn trán,…); tư thế ( ngồi yên lặng, nằm ra bàn,…); cử chỉ điệu bộ (vểnh tai lắng nghe, há hốc miệng,…)

+ Biểu hiện bên trong: hô hấp nông, thưa hơn (thời gian hít thở thưa, ngắn, thở dài khi chú ý lâu, căng thẳng, ngừng thở, nghe được hơi thở khi chú ý ngắn,…); các giác quan (cơ quan chịu sự tác động của kích thích chú ý) sẽ căng ra và nhạy cảm hơn như căng mắt, vểnh tai,..; đo điện não đồ cho thấy sự thay đổi trên vỏ não.

Ví dụ: học sinh đang lắng nghe cô giáo giảng bài thì có thể nhìn “chằm chằm,” “không chớp mắt,” “vểnh tai,” hoặc kìm hãm những động tác thừa khi nghe.

  • Vai trò của chú ý: Chú ý là nền tảng để nhận thức diễn ra một cách dễ dàng, nhanh chóng và chính xác hơn. Chú ý có vai trò lớn đối với cuộc sống và các hoạt động của học sinh, là điều kiện không thể thiếu để tiến hành hoạt động học tập có kết quả.
  • Đặc điểm về chú ý của học sinh lớp 4: ở độ tuổi này, chú ý có chủ định đã đạt được cấp độ phát triển cao, học sinh có thể thực hiện một hoạt động học tập trong thời gian khá lâu và kiểm soát được hành vi của mình. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng lên chất lượng chú ý không chỉ dựa vào đặc điểm lứa tuổi và còn cả ở điều kiện giáo dục.

Ví dụ: học sinh có thể học thuộc một bài thơ hay một công thức toán dài. Học sinh còn biết giới hạn thời gian cho phép bản thân hoàn thành việc gì đó và hết sức chú ý để hoàn thành nhiệm vụ của mình trong giới hạn đó.

Trí nhớ

Trí nhớ là quá trình tâm lý phản ánh vốn kinh nghiệm của cá nhân dưới hình thức biểu tượng, bằng cách ghi nhớ, lưu giữ, nhận biết và phản ánh lại điều mà con người đã trải qua.

  • Vai trò của trí nhớ: đối với học sính lớp 4, trí nhớ đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong quá trình học tập giúp học sinh thu thập và có một vốn kiến thức cơ bản để chuẩn bị cho những bậc phát triển cao hơn. Do vậy, rèn luyện trí nhớ cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình dạy học.
  • Đặc điểm về trí nhớ của học sinh lớp 4:

+ Trí nhớ trực quan – hình ảnh: Học sinh lớp 4 thường ghi nhớ bằng cách tạo ra hình ảnh, biểu đồ, và các hình thức trực quan khác. Học sinh có khả năng nhớ các thông tin dựa trên hình ảnh, ví dụ như hình dáng của một đối tượng, một bức tranh, hoặc một sự kiện.

+ Khả năng ghi nhớ ý nghĩa: Học sinh lớp 4 có thể ghi nhớ các thông tin có ý nghĩa, ví dụ như câu chuyện, thông điệp, hoặc các khái niệm quan trọng. Học sinh thường tập trung vào những điều có ý nghĩa và liên quan đến cuộc sống hàng ngày.

+ Tính hiếu động và khả năng tập trung: Học sinh lớp 4 có thể nhanh chóng chuyển đổi giữa các nhiệm vụ và hoạt động. Tuy nhiên, khả năng tập trung của họ vẫn còn đang phát triển, và họ cần thời gian để học cách tập trung vào một việc cụ thể.

+ Sự ảnh hưởng của môi trường học tập: Môi trường học tập ảnh hưởng đến khả năng ghi nhớ của học sinh lớp 4. Sự yên tĩnh, sự hỗ trợ từ giáo viên và bạn bè có thể giúp học sinh tập trung ghi nhớ hơn.

Tư duy

Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó con người chưa biết đến.

Các loại tư duy:

  • Tư duy trực quan – hành động: đối với sự phát triển của tư duy thì loại tư duy này chủ yếu ở trẻ 3 – 4 tuổi. Qua quá trình tham gia vào hoạt động thực tiễn, loại tư duy này ở trẻ dần hoàn thiện và ngày càng giữ vai trò thứ yếu.
  • Tư duy trực quan – hình ảnh: Học sinh lớp 4 thường tuy duy bằng cách tạo ra hình ảnh, biểu đồ, và các hình thức trực quan khác, ví dụ như sử dụng sơ đồ tư duy.
  • Tư duy trừu tượng: Học sinh lớp 4 thường làm toán bằng cách sử dụng các công thức toán học, thiết lập quan hệ logic những kiến thức đã biết và sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện biểu đạt đắc lực.

Tưởng tượng

Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có.

Tưởng tượng ở giai đoạn học sinh lớp 4 đã phát triển và phong phú hơn so với trẻ mầm non và đầu lứa tuổi tiểu học rất nhiều.

  • Đặc điểm tưởng tượng của học sinh lớp 4:

+ Tưởng tượng tái tạo: Học sinh lớp 4 có khả năng tưởng tượng lại các tình huống, sự kiện, và hình ảnh. Học sinh có thể tạo ra các câu chuyện, hình dung về những điều chưa từng trải qua.

+ Tưởng tượng sáng tạo: Học sinh lớp 4 bắt đầu phát triển khả năng tưởng tượng sáng tạo. Học sinh có thể tạo ra những ý tưởng mới, kết hợp các yếu tố khác nhau để tạo ra điều gì đó mới mẻ.

+ Tính chất trực quan: Tưởng tượng của học sinh lớp 4 thường mang tính chất hình ảnh, cụ thể. Học sinh có thể tưởng tượng về các đối tượng, sự kiện, và cảm nhận chúng thông qua hình ảnh.

Ngôn ngữ

Ngôn ngữ là hệ thống các dấu hiệu, ký hiệu từ ngữ, nhờ đó mà có thể truyền tải được sự phối hợp của các âm có ý nghĩa nào đó đối với con người, có chức năng là phương tiện của giao tiếp và là công cụ của tư duy.

  • Đặc điểm về ngôn ngữ của học sinh lớp 4:

+ Từ vựng và ngữ pháp: Học sinh lớp 4 đã nắm vững nhiều từ vựng và cấu trúc ngữ pháp, có khả năng sử dụng đúng đại từ và tạo câu đầy đủ để người khác hiểu.

+ Khả năng diễn đạt: Học sinh lớp 4 có thể nói rõ ràng, rành mạch và miêu tả ý một cách chi tiết. Ngoài ra, học sinh còn phát triển khả năng diễn đạt qua việc học nhiều môn học và tiếp xúc với nhiều từ vựng.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\LUẬN VĂN\Phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 4 thông qua văn bản văn học nước ngoài

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *