Hoàn thiện công tác quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Trong quá trình đổi mới, phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, Nhà nuớc cần tập trung các nguồn lực xã hội trong đó có nguồn thu ngân sách (thuế, phí, lệ phí…) để đảm bảo nhu cầu hoạt động của Nhà nước. Để huy động đầy đủ nguồn thu vào NSNN nhằm thực hiện nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước thì những hình thức thu ngân sách phải phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và đất nước. Trong tiến trình đổi mới nền kinh tế, các hình thức thu NSNN ở địa phương đã từng bước thay đổi, điều chỉnh để thực hiện nhiệm vụ tập trung nguồn thu cho chi NSNN, là công cụ điều chỉnh vĩ mô quan trọng của Nhà nước. Ngoài ra, nó còn giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo thực hiện công bằng, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động xã hội. Thu ngân sách là nguồn tài chính quan trọng của đất nước nói chung và của cấp tỉnh, cấp huyện nói riêng. Ở Việt Nam, theo từng giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội, Quốc hội đã ban hành Luật ngân sách năm 2002, Luật ngân sách năm 2015 để điều chỉnh các quan hệ trong quản lý ngân sách nhà nước. Trong giai đoạn 2019-2021, thị xã Điện Bàn đã đạt được những kết quả phát triển kinh tế – xã hội nhất định, góp phần vào sự phát triển của tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên do ảnh hưởng do ảnh hưởng lớn từ Đại dịch Covid-19 tình hình thu ngân sách của thị xã trong năm 2020, năm 2021 nguồn thu giảm mạnh, trong đó giảm thu mạnh nhất là nguồn thu từ doanh nghiệp có vốn đầy tư nước ngoài và thu từ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Nguồn thu chủ yếu những năm gần đây vẫn đảm bảo tăng trưởng là nguồn thu từ tài nguyên đất đai, do đó có nguồn tài chính cần thiết, chủ yếu cho các nhu cầu chi của bộ máy hành chính, an ninh và quốc phòng và đầu tư vào phát triển. Tuy nhiên, công tác quản lý thu ngân sách thị xã vẫn còn những bất cập, chưa bao quát hết các nguồn thu trên địa bàn, vẫn còn tình trạng thất thu, nợ đọng; đặc biệt việc mở rộng các nguồn thu và nuôi dưỡng nguồn thu còn hạn chế … Xuất phát từ thực tiễn và hạn chế nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ trong quá trình theo học tại Trường ĐH Duy Tân.
2. Mục tiêu nghiên cứu
– Trình bày một số vấn đề về lý luận cơ bản cũng như thực tiễn về quản lý thu ngân sách nhà nước của thị xã Điện Bàn trong thời gian qua.
– Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm bảo đảm thu ngân sách Nhà nước một cách đúng, hợp pháp, đầy đủ, hiệu quả, phù hợp với quy định của Luật ngân sách Nhà nước, góp phần hoàn thiện công tác quản lý thu ngân sách tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề về lý luận và thực trạng của việc quản lý thu ngân sách trên địa bàn thị xã Điện Bàn.
– Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu công tác quản lý thu ngân sách thị xã Điện Bàn trong giai đoạn 2019-2021; tập trung đánh giá thực trạng và đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Điện Bàn trong thời gian đến.
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích, đối chiếu, so sánh, khảo sát kinh nghiệm thực tế… để phân tích thực trạng và qua đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện phù hợp. Cụ thể như sau:
-Phương pháp thống kê: Thu thập thông tin sơ cấp, thứ cấp có liên quan đến thu ngân sách từ Phòng Tài chính- Kế hoach và Chi cục thuế thị xã Điện Bàn; và trình bày có hệ thống các nguồn thu và tổng hợp các khoản thu theo từng niên độ.
-Phương pháp so sánh, phân tích: Được sử dụng để so sánh, đánh giá mức độ thực hiện dự toán thu các loại thuế phí so với dự toán được giao qua các năm. Phân tích, đánh giá việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ thu ngân sách ở các khía cạnh: Bộ máy tổ chức thu; Thực hiện các quy định pháp luật về thu; Công tác lập bộ; Công tác chỉ đạo của UBND tỉnh, UBND thị xã; Công tác phối hợp thu v.v..
5. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài được trình bày theo 03 chương như sau:
– Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý thu ngân sách Nhà nước.
– Chương 2: Thực trạng quản lý thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
– Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1. THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ VAI TRÒ CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI
1.1.1. Khái niệm ngân sách, thu ngân sách và quản lý thu ngân sách nhà nước
1.1.1.1. Khái niệm ngân sách Nhà nước
Có nhiều khái niệm về ngân sách nhà nước, thu ngân sách nhà nước và quản lý thu ngân sách nhà nước (NSNN)
Theo Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015 thì Ngân sách Nhà nước được quy định như sau: “Ngân sách là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [3].
Từ khái niệm trên, ngân sách Nhà nước có các đặc điểm sau:
– Ngân sách là một bảng liệt kê, trong đó dự kiến và cho phép thực hiện các khoản thu, chi bằng tiền của một chủ thể nào đó.
– Hoạt động thu, chi của ngân sách thể hiện quá trình phân phối và phân phối lại giá trị tổng sản phẩm xã hội. Về bản chất xã hội, do nhà nước là đại diện của một giai cấp, nên ngân sách nhà nước cũng mang tính giai cấp, nó phục vụ trực tiếp cho yêu cầu thực hiện chức năng của nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
– Ngân sách tồn tại trong một khoản thời gian nhất định, thường là một năm.
– Thu, chi NSNN hoàn toàn khác với thu chi của các chủ thể khác trong xã hội. Thu, chi của nhà nước luôn luôn được thực hiện bằng pháp luật và do pháp luật quy định (về thu có các luật thuế, pháp lệnh phí, lệ phí và các văn bản pháp luật khác; về chi có các tiêu chuẩn, định mức).
1.1.1.2. Khái niệm thu ngân sách nhà nước
Thông qua hệ thống luật pháp và các văn bản pháp quy, Nhà nước bắt buộc các chủ thể trong xã hội phải nộp một phần thu nhập để Nhà nước tạo lập quỹ tiền tệ cho mình và sử dụng quỹ tiền tệ đó phù hợp với các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
Như vậy, thu ngân sách nhà nước là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực của mình để huy động một phần giá trị của cải xã hội để xây dựng quỹ ngân sách đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
Thu ngân sách nhà nước bao gồm: [3]
a) Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí;
b) Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;
c) Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương;
d) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
Thu ngân sách nhà nước có những đặc điểm sau:
Thu ngân sách nhà nước gắn liền với các hoạt động kinh tế trong xã hội, và phụ thuộc mức độ phát triển, tỷ lệ tăng trường GDP hàng năm,chính sách huy động các khoản thu ngân sách nhà nước.
Có một số đặc điểm của thu NSNN như sau: [9]
Một là, thu NSNN dưới bất cứ xã hội nào cũng đều gắn liền với quyền lực chính trị và việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Hai là, các hoạt động thu NSNN được tiến hành trên cơ sở các luật, pháp lệnh thuế, quy trình, thủ tục thu NSNN… do Nhà nước ban hành.
Ba là, nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên nguồn thu NSNN- một quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước là từ giá trị sản phẩm thặng dư của xã hội và được hình thành chủ yếu qua quá trình phân phối lại mà trong đó thuế là hình thức thu phổ biến.
Bốn là, thu NSNN gắn chặt với quy mô và trình độ phát triển của nền kinh tế. Kết quả quá trình hoạt động của nền kinh tế và hình thức, phạm vi, mức độ vận động của các phạm trù giá trị khác là tiền đề quan trọng đối với thu NSNN.
1.1.1.3. Khái niệm quản lý thu ngân sách Nhà nước
Quản lý thu NSNN được hiểu là quá trình nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ chính sách, pháp luật để tiến hành quản lý thu thuế và các khoản thu ngoài thuế vào NSNN, cụ thể:
– Đối với khoản thu ngoài nước, quản lý thu từ các nguồn như: thu từ các khoản tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ngoài nước; các khoản thu về vay, viện trợ từ các tổ chức chính phủ và phí chính phủ của nước ngoài
– Đối với nguồn thu trong nước, quản lý thu từ các nguồn như: Thu thuế, phí của các tổ chức cá nhân nộp theo luật định; thu từ tiền sử dụng đất, đất công ích; thu từ các hoạt động sự nghiệp; thu từ hoạt động kinh tế Nhà nước; thu hồi quỹ dự trữ Nhà nước; các khoản thu đóng góp của dân cư, xã hội để đầu tư cơ sở hạ tầng; thu kết dư ngân sách năm trước; tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sử hữu Nhà nước và các khoản thu theo quy định của pháp luật.

Phần lớn các khoản thu NSNN đều mang tính chất cưỡng bức, do đó đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ để bắt buộc chủ thể kinh tế phải tuân thủ thực hiện theo pháp luật.
1.1.2. Vai trò của thu ngân sách nhà nước và quản lý thu ngân sách Nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế -xã hội
1.1.2.1. Vai trò của thu ngân sách nhà nước
– Là công cụ nhằm khai thác, động viên và tập trung các nguồn lực tài chính để đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu đã được Nhà nước dự tính cho từng thời kỳ phát triển.
Thu ngân sách nhà nước là để đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước. Để duy trì sự tồn tại và hoạt động, bộ máy nhà nước cần phải có nguồn tài chính đảm bảo cho các nhu cầu chi tiêu. Các nguồn lực này có thể được tập trung ở cả trong và ngoài nước, từ mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế, có bắt buộc và tự nguyện, trong đó bắt buộc là nét đặc trưng.
– Là công cụ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, định hướng phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước; thực hiện và điều tiết các mục tiêu kinh tế vĩ mô, tạo nguồn thu để chi, thực hiện công bằng xã hội và điều tiết chênh lệch thu nhập của các tầng lớp dân cư bằng cách đánh thuế thu nhập cao, giảm thuế tiêu thụ với hàng hóa thiết yếu, …
+ Với các mức thuế suất, chính sách ưu đãi khác nhau, ngân sách nhà nước có vai trò định hướng đầu tư, điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế theo các định hướng phát triển của Nhà nước cả về cơ cấu ngành và cơ cấu vùng lãnh thổ kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh theo ngành hoặc theo sản phẩm…
+ Hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp cần nâng đỡ, khuyến khích sẽ góp phần tạo điều kiện sản xuất thuận lợi, hoàn thiện cơ cấu sản xuất, đảm bảo tính cân đối của nền kinh tế, đảm bảo tăng trưởng và phát triển bền vững.
1.1.2.2. Vai trò quản lý thu ngân sách nhà nước
– Dự toán, xác định các nguồn lực tài chính của đất nước để có thể huy động, đồng thời không ngừng hoàn thiện chính sách, phương án thu để có tổ chức và cơ chế quản lý hợp lý.
– Là công cụ huy động và huy động các nguồn tài chính cần thiết để tạo quỹ tiền tệ tập trung từ ngân sách nhà nước.
– Là công cụ quản lý nhà nước để kiểm soát, điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế, kiểm soát thu nhập của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội nhằm khuyến khích đóng góp đảm bảo công bằng, hợp lý.
– Tạo lập môi trường kinh tế thuận lợi cho quá trình sản xuất kinh doanh và là công cụ quan trọng trong việc thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra của Nhà nước đối với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
1.2. NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Công tác quản lý thu ngân sách nhà nước liên quan đến nhiều hoạt động như:
1.2.1. Phân cấp quản lý thu ngân sách nhà nước
1.2.1.1. Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước
Ngân sách Nhà nước Việt Nam gồm ngân sách Trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương.
Giữa các cấp có mối quan hệ với nhau và được thực hiện dựa trên những nguyên tắc sau:
+ Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương được phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể;
+ Ngân sách trung ương bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chi quốc gia, hỗ trợ địa phương chưa cân đối được ngân sách và hỗ trợ các địa phương theo quy định.
+ Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ chi được giao. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách ở địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh. Nhiệm vụ chi thuộc cấp ngân sách nào thì do ngân sách cấp đó cân đối. Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó;
Tổ chức hệ thống ngân sách Việt Nam theo Hình 1.1
Ngân sách trung ương
Ngân sách
Nhà nước
Ngân sách tỉnh
Ngân sách địa phương
Ngân sách xã, phường
Ngân sách huyện, quận
Hình 1.1. Hệ thống Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam
Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, trong đó: (NĐ 163/2016/NĐ-CP)
- Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là ngân sách tỉnh), bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương;
- Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là ngân sách huyện), bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách của các xã, phường, thị trấn;
- Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã).
+ Thực hiện việc bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương. Số bổ sung này là khoản thu của ngân sách cấp dưới;
+ Ngoài việc bổ sung nguồn thu và ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chi vừa nêu trên, không được dùng ngân sách cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác.
1.2.1.2. Nội dung phân cấp ngân sách nhà nước
Phân cấp NSNN bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, xác định rõ và ủy quyền việc ban hành thu chi ngân sách nhà nước trên cơ sở luật ngân sách nhà nước đã được hoạch định.
Thứ hai, việc phân cấp nhiệm vụ thu, chi theo từng cấp ngân sách. Quy chế quản lý thu chi chi tiết đối với từng cấp ngân sách.
Thứ ba, quy định cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của từng cấp chính quyền trong chu trình quản lý ngân sách nhà nước (xây dựng, thực hiện, điều chỉnh và quyết toán ngân sách nhà nước); quyền được vay nợ trong nhân dân, mức chi, mức phụ thu, bổ sung ngân sách cấp dưới và tỷ lệ phân bổ thu nhập giữa ngân sách các cấp, thời điểm lập, chấp hành và báo cáo quyết toán ngân sách
Thứ tư, việc bổ sung có mục tiêu của ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được xác định theo nguyên tắc, tiêu chí, tiêu chuẩn phân bổ ngân sách và chế độ, tiêu chuẩn chi ngân sách; khả năng cân đối tài khóa của từng địa phương
1.2.1.3. Nguyên tắc phân cấp nguồn thu, nhỉệm vụ chi giữa ngân sách các cấp ở địa phương
1. Căn cứ Điều 15 và Điều 16 của Nghị định 163/2016/NĐ- CP [5], Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định phân cấp cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp ở địa phương theo nguyên tắc sau:
- Phù hợp với phân cấp nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh đôi với từng lĩnh vực và đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư, trình độ quản lý của từng vùng, từng địa phương;
- Ngân sách xã, thị trấn được phân chia nguồn thu từ các khoản: thuế sử dụng đât phi nông nghiệp; lệ phí môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh; thué sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình; lệ phí trước bạ nhà, đất;
- Ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã không có nhiệm vụ chi nghiên cứu khoa học và công nghệ. Ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã được chi cho nhiệm vụ ứng dụng, chuyển giao công nghệ;
- Trong phân cấp nhiệm vụ chi đối với thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương phải có nhiệm vụ chi đâu tư xây dựng các trường phổ thông công lập các cấp, điện chiếu sáng, cấp thoát nước, giao thông đô thị, vệ sinh đô thị và các công trình phúc lợi công cộng khác.
2.Căn cứ nguồn thu ngân sách địa phương hưởng 100% và các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) do Quốc hội quyết định, Thủ tướng Chính phủ giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định tỷ lệ phần tràm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp ở địa phương.
Đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, khi phân chia cho ngân sách các cấp chính quyền địa phương thì tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu không được vượt quá tỷ lệ do Quốc hội quyết định, Thủ tướng Chính phủ giao cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
3.Giao Bộ Tài chính quy định cụ thể về quản lý ngân sách và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn.
1.2.1.4. Phân chia nguồn thu giữa các cấp ngân sách
a. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương: (NĐ 163/2016)
- Thuế giá trị gia tăng, bao gồm cả thuế giá trị gia tăng của các nhà thầu phụ phát sinh từ các hoạt động dịch vụ phục vụ hoạt động thăm dò và khai thác dầu, khí; không kể thuế giá trị gia tăng quy định tại điểm a và diêm đ khoản 1 Điều này;
- Thuế thu nhập doanh nghiệp, bao gồm cả thuế thu nhập doanh nghiệp của các nhà thầu phụ phát sinh từ các hoạt động dịch vụ phục vụ hoạt động thăm dò và khai thác dầu, khí; không kể thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này.
- Thuế thu nhập cá nhân;
- Thuế tiêu thụ đặc biệt, không kể thuế tiêu thụ đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều này;
đ) Thuế bảo vệ môi trường, không kể thuế bảo vệ môi trường thu từ hàng hoá nhập khẩu. Đối với thuế bảo vệ môi trường thu từ xăng dâu sản xuất trong nước, việc xác định số thu phát sinh căn cứ vào sản lượng do doanh nghiệp đầu mối bán ra trên thị trường và tỷ trọng tông sản lượng xăng dầu sản xuẩt trong nước và tổng sản lượng xăng dầu nhập khẩu.
b. Các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100% (NĐ 163/2016)
1. Các loại thuế, phí được hưởng 100%
- Thuế tài nguyên, không kể thuế tài nguyên thu từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu, khí;
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp;
- Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp;
- Tiền sử dụng đất;
đ) Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước, không kể tiền thuê đất, thuê mặt nước từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu, khí;
- Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
- Lệ phí môn bài;
- Lệ phí trước bạ;
- Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết, kể cả hoạt động xổ số điện toán;
k) Các khoản thu hồi vốn của ngân sách địa phương đầu tư tại các tổ chức kinh tế (bao gồm cả gốc và lãi); thu cổ tức, lợi nhuận được chia tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có vốn góp của Nhà nước do Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đại diện chủ sở hữu; thu phần lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ của doanh nghiệp nhà nước do Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đại diện chủ sở hữu;
l)Thu từ bán tài sản nhà nước, kể cả thu từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản trên đất, chuyển mục đích sử dụng đất do các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị-xã hội, các đơn vị sự nghiệp công lập, các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu đơn vị hoặc doanh nghiệp mà có vốn của ngân sách địa phương tham gia trước khi thực hiện cổ phần hóa, sắp xếp lại và các đơn vị, tổ chức khác thuộc địa phương quản lý;
m) Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho địa phương;
n) Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do các cơ quan nhà nước địa phương thực hiện, trường hợp được cấp có thẩm quyền cho khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập địa phương và doanh nghiệp nhà nước địa phương thực hiện, sau khi trừ phần được trích lại để bù đắp chi phí theo quy định của pháp luật;
o) Lệ phí do các cơ quan nhà nước địa phương thực hiện thu;
p) Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính, phạt, tịch thu khác theo quy định của pháp luật do các cơ quan nhà nước địa phương quyết định thực hiện xử phạt, tịch thu;
q)Thu từ tài sản được xác lập quyền sở hữu của nhà nước do các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc địa phương xử lý, sau khi trừ đi các chi phí theo quy định của pháp luật;
r) Thu từ tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, cấp quyền khai thác tài nguyên nước phần ngân sách địa phương được hưởng theo quy định của pháp luật;
s) Tiền sử dụng khu vực biển đối với khu vực biển thuộc thẩm quyền giao của địa phương;
t) Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác;
u) Huy động đóng góp từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật;
- Thu từ quỹ dự trữ tài chính địa phương;
- Thu kết dư ngân sách địa phương;
y) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
2.Thu bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương.
3.Thu chuyển nguồn của ngân sách địa phương từ năm trước chuyển sang.
1.2.2. Hướng dẫn lập dự toán thu
– Lập dự toán, Thực hiện dự toán và Quyết toán ngân sách là các khâu của Chu trình quản lý ngân sách.
– Công tác lập dự toán thu NSNN các cấp phải dựa trên các căn cứ sau:
Một là, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng – an ninh; các chỉ tiêu cụ thể của năm kế hoạch; đặc biệt tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh, tốc độ tăng trưởng của từng ngành và từng lĩnh vực kinh tế – xã hội là căn cứ vừa để xác định yêu cầu và vừa để xác định khả năng về nguồn thu tập trung vào NSNN.
Hai là, các chính sách chế độ về thuế và thu NSNN như Luật NSNN, Luật Thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành. Các chính sách chế độ về thuế và thu NSNN là căn cứ pháp lý quan trọng nhất trong việc tính toán xác định các chỉ tiêu của dự toán thu NSNN.
Nguồn thu NSNN cấp thành phố thuộc tỉnh đuợc quy định cụ thể tùy theo đặc điểm của từng địa phương, do HĐND tỉnh quy định trong từng giai đoạn. Về cơ bản nguồn thu của NSNN cấp huyện, thị xã bao gồm 3 nguồn thu chính:
+ Các khoản thu ngân sách huyện, thị xã hưởng 100%.
+ Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách cấp tỉnh và ngân sách huyện, thị xã.
+ Thu bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh.
Ba là, các văn bản hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội, dự toán NSNN, dự toán thu của cơ quan thuế.
Bốn là, tình hình thực hiện dự toán thu NSNN một số năm liền kề, đặc biệt là năm liền kề trước năm kế hoạch.
* Thời gian hướng dẫn lập, xây dựng, tông hợp, quyết định và giao dự toán ngân sách nhà nước (Điều 22 NĐ 163/2016)
- Trước ngày 15 tháng 5 hàng năm, Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm sau.
- Trước ngày 01 tháng 6 hàng năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Ban hành thông tư hướng dẫn về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, kế hoạch đầu tư phát triển năm sau;
3. Trước ngày 01 tháng 6 hàng năm, Bộ Tài chính:
- Ban hành Thông tư hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách nhà nước năm sau;
b) Thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách với tổng mức và từng khoản thu, chi ngân sách
c) Thông báo số kiểm tra dự toán tổng số thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, tổng số chi ngân sách địa phương và một số lĩnh vực chi quan trọng đến từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
4.Trước ngày 15 tháng 6 hàng năm:
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách năm sau trong phạm vi được giao quản lý; thông báo số kiểm tra dự toán thu, chi ngân sách năm sau đến từng cơ quan, đơn vị trực thuộc;
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách năm sau ở địa phương đến từng cơ quan, đơn vị trực thuộc và Ủy ban nhân dân cấp huyện; Ủy ban nhân dân cấp huyện thông báo số kiểm tra dự toán thu, chi ngân sách năm sau đến từng cơ quan, đơn vị trực thuộc và Ủy ban nhân dân cấp xã.
5. Trước ngày 20 tháng 7 hàng năm:
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương lập dự toán thu, chi ngân sách, phương án phân bổ ngân sách năm sau chi tiết theo từng lĩnh vực và chi tiết tới từng cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách, gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập, tổng hợp dự toán ngân sách địa phương năm sau gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các cơ quan quản lý chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu (phần dự toán chi chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu).
6. Trước ngày 15 tháng 8 hàng năm, các bộ, cơ quan quản lý chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu chủ trì lập dự toán chi và phương án phân bổ năm sau của chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
7. Trước ngày 31 tháng 8 hàng năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư gửi phương án phân bổ chi đầu tư phát triển của ngân sách trung ương năm sau tới Bộ Tài chính để tổng hợp.
8. Bộ Tài chính chủ trì, tổng hợp và lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương năm sau báo cáo Chính phủ để trình Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước ngày 20 tháng 9. Trên cơ sở ý kiến thẩm tra của các cơ quan của Quốc hội, Bộ Tài chính chủ trì hoàn thiện báo cáo đánh giá tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm hiện hành, dự toán ngân sách nhà nước, báo cáo phân bổ ngân sách trung ương năm sau trình Chính phủ .
9. Sau khi Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách trung ương, Thủ tướng Chính phủ giao dự toán thu, chi ngân sách năm sau cho từng bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương và từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trước ngày 20 tháng 11 năm trước. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định dự toán ngân sách địa phương, phân bổ ngân sách cấp tỉnh năm sau trước ngày 10 tháng 12. Hội đồng nhân dân cấp dưới quyết định dự toán ngân sách địa phương, phân bổ ngân sách năm sau của cấp mình chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày Hội đồng nhân dân cấp trên trực tiếp quyết định dự toán và phân bổ ngân sách.
10. Chậm nhất là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Hội đồng nhân dân quyết định dự toán ngân sách, Ủy ban nhân dân cùng cấp giao dự toán thu, chi ngân sách năm sau cho từng cơ quan, đơn vị thuộc cấp mình và cấp dưới; đồng thời, báo cáo Ủy ban nhân dân và cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp
11. Trước ngày 31 tháng 12, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp ở địa phương phải hoàn thành việc giao dự toán ngân sách cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc và Ủy ban nhân dân cấp dưới
1.2.3. Thực hiện dự toán thu, chi ngân sách
Sau khi được ủy ban nhân dân giao dự toán ngân sách, đơn vị dự toán cấp I ở trung ương và địa phương thực hiện phân bô, giao dự toán ngân sách nhà nước cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc và cấp dưới theo đúng quy trình, yêu cầu và thời hạn quy định [5]
– Tổ chức quản lý và thực hiện thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước. Trường hợp được phép thu qua ủy nhiệm thu thì phải nộp đầy đủ, đúng thời hạn vào Kho bạc Nhà nước theo quy định của Bộ Tài chính.
– Các khoản viện trợ không hoàn lại bằng tiền phải thu nộp kịp thời vào ngân sách nhà nước, trường họp theo hiệp định hoặc thỏa thuận tài trợ có quy định giải ngân trực tiếp đến chương trình, dự án, thì định kỳ phải hạch toán đầy đủ vào ngân sách nhà nước theo quy định của Bộ Tài chính.
– Các khoản thu NSNN phải được nộp qua ngân hàng hoặc nộp trực tiếp tại KBNN. Trường hợp ở những địa bàn có khó khăn trong việc nộp qua ngân hàng” hoặc nộp trực tiếp tại KBNN hoặc không tổ chức thu tiền tại địa diêm làm thủ tục hải quan, thì cơ quan thu được trực tiếp thu hoặc ủy nhiệm cho tổ chức thu tiền mặt từ người nộp NSNN và sau đó, phải nộp đầy đủ, đúng thời hạn vào KBNN theo quy định; trường họp cơ quan Thuế ủy nhiệm thu tiền mặt đổi với sổ thuế phải nộp của các hộ khoán, thì thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính và hướng dẫn của Tổng cục Thuế. Các khoản viện trợ không hoàn lại bằng tiền (trừ các khoản viện trợ nước ngoài trực tiêp cho các dự án) phải chuyên tiên nộp kịp thời vào thu NSNN. Tất cả các khoản thu NSNN được hạch toán bằng đồng Việt Nam, chi tiêt theo niên,độ ngân sách, mục lục NSNN và được phân chia cho các cấp ngân sách theo ty lệ phan trăm (%) do câp có thẩm quyền quy định. Các khoản thu NSNN băne ngoại tệ được qnv đôi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hạch toán ngoại tệ tại thoi diêm hạch toán (TT 328/2016/TT-BTC
- Kết thúc năm ngân sách, các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan đến thu, chi ngân sách thực hiện khóa sổ kế toán và lập báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước theo các nội dung dự toán được giao và theo Mục lục ngân sách nhà nước.
- Việc khóa sổ kế toán phải bảo đảm thực hiện theo các yêu cầu sau:
- Các khoản thu thuộc ngân sách các năm trước, nhưng nộp từ ngày 01 tháng 01 năm sau thì phải hạch toán và quyết toán vào thu ngân sách năm sau, trừ các khoản thu quy định tại khoản 4 Điều này;
- Hết thời gian chỉnh lý quyết toán ngân sách, các khoản dự toán chi, bao gồm cả các khoản bổ sung trong năm, chưa thực hiện hoặc chưa chi hết phải hủy bỏ, trừ các trường hợp được chuyển nguồn sang năm sau để tiếp tục thực hiện theo quy định tại Điều 43 của Nghị định này;
- Các khoản đã tạm ứng trong dự toán được thanh toán đến hết thời gian chỉnh lý quyết toán; nếu hết thời gian chỉnh lý quyết toán mà vẫn chưa đủ thủ tục thanh toán thì xử lý như sau:
Trường hợp được chuyển nguồn sang năm sau theo quy định thì chuyển sang năm sau thực hiện;
Trường hợp không được chuyển sang năm sau, thì đơn vị nộp lại ngân sách nhà nước trước ngày 15 tháng 02 năm sau. Sau thời hạn này, đơn vị chưa nộp, Kho bạc Nhà nước thực hiện thu hồi số tạm ứng bằng cách trừ lĩnh vực chi tương ứng thuộc dự toán ngân sách năm sau của đơn vị, nếu dự toán năm sau không bố trí lĩnh vực chi đó hoặc có bố trí nhưng ít hơn số phải thu hồi, Kho bạc Nhà nước thông báo cho cơ quan tài chính cùng cấp để xử lý;
- Các khoản tạm thu, tạm giữ thực hiện xử lý theo quyết định của cấp có thẩm quyền, Trường họp đến hết ngày 31 tháng 12 số dư trên tài khoản tạm thu, tạm giữ mà chưa được cấp có thẩm quyền quyết định xử lý, được chuyển sang năm sau để theo dõi và xử lý tiếp theo quy định của pháp luật;
đ) Đối với các loại vật tư, hàng hóa tồn kho tại các đơn vị dự toán đến cuối ngày 31 tháng 12 thực hiện kiểm kê theo quy định hiện hành và xử lý như sau: Giá trị đã mua hàng hoá, vật tư tồn kho được quyết toán vào chi ngân sách năm trước theo quy định. Trường họp sử dụng tiếp cho năm sau, đom vị tổ chức theo dõi chặt chẽ, sử dụng và có báo cáo riêng. Trường hợp không còn sử dụng tiếp cho năm sau, đơn vị thành lập hội đồng thanh lý bán, nộp tiền vào ngân sách nhà nước; đối với đơn vị sự nghiệp công lập được sử dụng theo quy định của pháp luật;
- Số dư tài khoản tiền gừi các khoản ngân sách cấp của đơn vị dự toán mờ tại Kho bạc Nhà nước đến cuối ngày 31 tháng 12 được tiếp tục thanh toán theo quy định trong thời gian chỉnh lý quyết toán. Đến hết thời gian chỉnh lý quyết toán mà vẫn còn dư, thì phải nộp vào ngân sách nhà nước; trừ trường hợp được chuyển nguồn sang năm sau theo quy định. Số dư trên tài khoản tiền gửi không thuộc ngân sách nhà nước câp, được chuyển sang năm sau sử dụng theo quy định của pháp luật.
- Thời gian chỉnh lý quyết toán ngân sách nhà nước kết thúc vào ngày 31 tháng 01 năm sau.
- Các cơ quan, đơn vị, tổ chức và các cấp ngân sách trong thời gian chỉnh lý quyết toán thực hiện các nội dung sau:
- Hạch toán tiếp các khoản thu, chi ngân sách phát sinh từ ngày 31 tháng 12 trở về trước nhưng chứng từ đang luân chuyển;
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\NGUYEN HUU SINH


