Cáctộiphạmvềtham nhũng theo pháp luật hìnhsựViệt Namtừthực tiễn thành phố Đà Nẵng

Các tội phạm về tham nhũng theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Tham nhũng là một trongnhững trở ngại lớn nhất đối với sự ổn địnhvàphát triểncủamỗi quốc gia, làm suy giảm nghiêm trọng các nguồn lựcphát triểncủađất nước. Ởbình diện quốctế,nhiềunướcphảiđốiphó vớithách thứccủasựgia tăng các hoạt độngtộiphạm vàsựche giấu,tẩután tài sản tham nhũng với phương thức ngày càng tinh vi, phức tạp và mang tính xuyên quốc gia. Vì vậy, các nước đều thể hiện sự quyết tâm, đồng thuận, chung tay đối phó vớinhững thách thức của tham nhũng trên cơ sở Côngước củaLiên Hợp Quốc về chống tham nhũng (Việt Nam phê chuẩn ngày 03/7/2009), thậm chí nhiều nước coi chống tham nhũng là ưu tiên hàng đầu trong nhữngnỗ lực

tăng cường liêm chính và trách nhiệm giải trình toàn cầu….Tuy nhiên, thực tế

PCTN ởnhiềunướccũng gặp những khó khăn, rào cảnnhấtđịnh cảvềthểchế, thiết chế và hoạt động thực tiễn.

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây tình hình tham nhũng nói chung và tình hình cáctộiphạmvềtham nhũng nói riêng có những diễn biến phức tạp ởnhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vựcvà gây hậuquảxấu vềnhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, bởi vậy Đảng Cộng sản Việt Nam đãcó nhiềuchủtrương, giải pháp đấutranh phòng, chốngtệnạntham nhũng cũng nhưtộiphạmvềtham nhũng, trong đó gầnđâynhất tạiĐạihộiXII,Đảngta xácđịnh:Đẩymạnhđấutranh PCTN, lãng phí là nhiệmvụthường xuyên, quan trọngđồngthời là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, lâu dài. Các cấp ủyđảng,trướchết làngườiđứngđầucấp ủy,chính quyền và toànhệthống chínhtrịphải kiên quyết PCTN, lãng phí;xửlý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí [67, tr.50].

1

Ởgócđộthểchế, trên cơsởcác quanđiểm,chủtrươngcủaĐảng vàchính sách hình sựcủaNhànướcvềPCTN, các cơ quan có thẩm quyềnđãkhông ngừng hoàn thiện các quyđịnhpháp luật, tạo cơsởpháp lý cho việc phòng, chống các hành vi tham nhũng, trong đó cóthểkểđếnnhư: BLHS năm 1999 (sửađổi,bổsung năm 2009); Luật PCTN năm 2005 (sửađổi,bổsung năm 2007 và năm 2012); Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 12/5/2009 của Chính phủban hành Chiến lượcquốc gia PCTN đếnnăm 2020; Luật Thanh tra năm 2010; Luật Phòng, chống rửatiền năm 2012; Luật Kiểm toán Nhànước năm 2015, BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (có hiệu lực từngày 01/01/2018); Luật PCTN năm 2018…

Trên cơ sở pháp lý nêu trên, công tác PCTN ở nước ta thời gian qua đãđạt đượcnhững kết quảnhất định,tuy nhiên, bên cạnh những kết quảđạt được, tình hình tham nhũng, trong đó có các tội phạm về tham nhũng, nhưđãnhấn mạnh còn diễn biến phức tạp và công tác PCTN cũng còn những hạn chế, bất cập nhất định.Cụthểnhư: có sựthểhiệnlợiích nhómởcác doanh nghiệp nhà nước trong các hành vi và tội phạm về tham nhũng do cơ chế xin- cho trongđầu tư từvốn Nhà nước; tình trạng tham nhũng quyềnlực dẫn đến làm giảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước; làm tha hóa một bộ phận cán bộ, công chức và gây thất thoát, thiệt hại tài sản rất lớn cho nhànước vànhân dân. Qua tổng kết 10 năm thực hiện Luật PCTN cho thấy thiệt hại do các vụ án, vụ việc tham nhũng được phát hiện là gần 60.000 tỉ đồng vàtrên 400 ha đất nhưngchỉthuhồiđượcgần 5.000 tỉ đồng và hơn 200 ha đất; cả nước có 918 người đứng đầuvà cấp phó đãbịxửlý do thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng [48]. Chỉ riêng từ ngày 01/10/2016 đến 31/7/2017, Tòaán nhân dân các cấp đãxét xửsơ thẩm 145 vụ,328 bịcáo vềcáctộidanh tham nhũng, trongđó tỷlệtộiphạm nghiêm trọng,rấtnghiêm trọng vàđặc biệt nghiêm trọng chiếm 50% (tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2016); số bị cáo

2

đượchưởngán treo,cảitạo không giamgiữchiếm 14,6% (tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2016). Có 07 bị cáo bị tuyên phạt mức án tử hình, tù chung thân (tăng 40% so vớicùng kỳnăm 2016) [11]. Qua công tácđấu tranh PCTN cũng cho thấy có nhiều đối tượng phạm tội tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạnnênsốtiền/tàisảndo tham nhũng khálớnnhưngtỷlệthuhồitài sản tham nhũng còn thấp.

Việc đánh giáởmứcđộkhái quát chung cho thấy công tác PCTN ởnước ta chưa thực sự có sự chuyển biến mang tínhđột phávà vẫn còn nhiều thách thức. Đáng chú ý là năm 2017, Việt Nam vẫn là nước nằm trong nhóm các nước mà tham nhũng được cho là nghiêm trọng trong khu vực công, đứng thứ107/180 trên bảng xếp hạng toàn cầu vềChỉsốcảmnhận tham nhũng (CPI) theo đánh giá của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International – TI). Đến ngày 29 tháng 1 năm 2019, Tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2018, xếp hạng 180 quốc gia và vùng lãnh thổ dựa trên cảm nhận của các doanh nhân và chuyên gia vềtham nhũng trong khu vựccông. Theo đó,năm 2018, Việt Namđạt33/100điểm,xếp hạng 117/180 toàn cầu, giảm nhẹ 2 điểm so với năm 2017.Điểm sốCPI 2018 củaViệt Namđượctínhdựatrên cơsở8 nguồndữliệu là những khảo sát quốc tế độc lập.Vềmặt thống kê, việc giảmđiểmnày đượcxem là

không đáng kể. Tuy nhiên, xét trên thang điểm từ 0 – 100 của CPI, trong đó 0 là rất tham nhũng và 100 là rất trong sạch, tham nhũng trong khu vực côngởViệt Namvẫnđượccho làrấtnghiêm trọng và đang tiếptụctụthạng trên bảng xếp hạng toàn cầu.

Nguyên nhâncủathực trạng trên là do lý luậnvềphòng, chống tham nhũng chưa thật sự mang tính hệ thống, thậm chí chưa thật thống nhất; pháp luật hiện hành ởnướcta còn nhiều quyđịnh chưa rõ ràng, không khảthi vàchưa tương thích với các tiêu chí của Côngước củaLiên hợp quốc về chống

3

tham nhũng.Đồng thời, việc xây dựng vàtổchức thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng chưa thật sựhiệu quả, chưa có sựphối hợp tốt trong công tác phòng, chống tham nhũng giữa các cơ quan có thẩm quyền; các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho công tác phòng, chống tham nhũng chưađược đảm bảo một cách đầy đủ, cònnhiều hạn chế, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu, nhiệmvụPCTN và vẫn đang làlựccảnlớncho công cuộcđổimới ởnước ta.

Ở thànhphố ĐàNẵng, với vị thế là đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương, là trung tâm chính trị, kinhtế,văn hóacủamiền Trung – Tây Nguyên, trong những năm qua, công tác PCTN đã đạt được nhiều kết quả tích cực, trongđóđáng chú ý là hệ thống TAND ở thànhphố ĐàNẵngđãđưa ra xét xử nghiêm minh nhiều vụán lớnđối vớicác tội phạmvềtham nhũng, quađó đãgóp phần tích cực cho hoạt động phòng, chống tội phạm, bước đầu nâng cao được hiệulực của bộmáy nhà nước cũng như hiệu quảhoạt độngcủa các cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quảđạt đượcthì công tác PCTN ởthành phốĐàNẵng cũng còn những hạn chếnhất định,làm cho tình hình tham nhũng nói chung và tình hình các tội phạm về tham nhũng nói riêng diễn biễn phức tạp, nhất là liên quan đếnnhà,đất công sản. Trong sốnhững nguyên nhân của thực trạngđó,nhưđãnhấn mạnh, có một số quyđịnhpháp luật hình sự chưa thật phù hợp, chưa thật đồngbộ vàchưa thật khả thidẫn đến việc xétxửmột sốvụánđốivớicáctộiphạmvềtham nhũng chưa thậtbảođảm tính thuyết phục, bị Tòa án cấp trên sửa án hoặc bị VKSND kháng nghị.

Việc nghiên cứu nhữngvấn đề lýluận về các tội phạm về tham nhũng;đánh giá thực trạng thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách hình sự của Nhà nước vào các quyđịnhcủa pháp luật hình sự về các tội phạm về tham nhũng, thực tiễn áp dụng áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về các tội phạm về tham nhũng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, các yếu

4

tố tác động đến việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự, cụ thể làđến việc xét xử các tội phạm về tham nhũng trên địa bàn này, từ đó đề xuất các giải pháp, nhất là giải pháp pháp luật nhằm bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về các tội phạm về tham nhũng trên địa bàn thành phốĐàNẵng là việc làm có tính cấpthiết, có ý nghĩa lớn vềmặtlýluận và thực tiễn.

Bởinhữnglậpluận khái quát và lý do nêu trên, nghiên cứu sinh chọn đềtài “Cáctộiphạmvềtham nhũng theo pháp luật hìnhsựViệt Namtừthực tiễn thành phố Đà Nẵng” để làm luận án tiến sĩ luật học chuyên ngành luật hình sựvàtốtụng hìnhsựvớimong muốn góp phần vào công cuộc phòng, chống các tội phạm về tham nhũng ở nước ta hiện nay, xây dựng thành côngchủnghĩa xãhộivà bảo vệvững chắcTổquốc Việt Nam xãhộichủnghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnhđạo.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấnđềlý luận về các tội phạmvềtham nhũng; thực trạng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về cáctộiphạm về tham nhũng; thực tiễn áp dụng quyđịnhcủa pháp luật hình sự Việt Nam vềcáctộiphạmvềtham nhũngtạithànhphốĐàNẵng trong thời giantừnăm 2007 đến năm 2017; những ưu điểm, hạn chế, bất cập trong các quyđịnhcủa pháp luật hình sự cũng như trong thực tiễn xét xử các tội phạm về tham nhũng trênđịabàn thànhphốĐàNẵng và nguyên nhâncủachúng, luận ánđềxuất giải pháp hoàn thiện các quyđịnhcủa pháp luật hình sự Việt Nam và các giải pháp khác bảo đảm áp dụng đúng các quyđịnhcủa pháp luật hình sự nước ta về các tội phạm về tham nhũng ở nước ta trong tình hình mới.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

5

Để đạt được mục đích đãđặt ra trên đây, luận án thực hiện các nhiệm vụchủ yếu sau đây:

– Phân tích khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của cáctộiphạm về tham nhũng; phân biệt các tội phạm về tham nhũng với một số tội phạm khác.

– Phân tích, đánh giá thực trạnglậppháp hìnhsựViệt Namvềcác tội phạm về tham nhũng đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

– Phân tích nội dung các quy định của BLHS Việt Nam hiện hành về các tội phạm về tham nhũng.

– Phân tích, đánh giá thực tiễn định tội danh và quyếtđịnhhình phạt đối với các tội phạm về tham nhũng tại thành phố Đà Nẵng.

– Đề xuất hoàn thiện pháp luật hình sự và các giải pháp khác bảo đảm áp dụng đúng các quyđịnhcủapháp luật hìnhsựViệt Namvềcáctộiphạmvềtham nhũng trong tình hình mới.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận ánlấycác quanđiểmkhoa học; các vănbảnthểhiệnchủtrương,đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng;các Công ước, điều ước quốc tế vềtham nhũng và PCTN; thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt của Tòaán đối với các tội phạm về tham nhũng tại thành phố Đà Nẵng để nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của mình.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Luận án nghiêncứuđềtàicủamìnhdướigócđộchuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hìnhsự.

– Ởkhía cạnh lý luận và lịchsửlậppháp hìnhsự,luận ánchỉđềcập nghiên cứu khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về tham nhũng;

6

phân biệt các tội phạm về tham nhũng với một số tội phạm khác; khái quát quátrình quy định và hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các

tội phạm về tham nhũng đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

– Ở khía cạnh thực tiễn, luận án chủ yếu tập trung phân tích các quy định của BLHS Việt Nam năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 về các tội phạm vềtham nhũng; thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam vềcác tội phạm về tham nhũng trong định tội danh và quyết định hình phạt của Tòaán trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đối với các tội phạm về tham nhũng.

– Ởkhía cạnh không gian(địabàn) nghiên cứu, luận án, nhưđãnhấn mạnh giới hạn nghiên cứu tại thành phố Đà Nẵng.

– Ởkhía cạnh thời gian nghiên cứu, luận án giớihạnnghiêncứutrong thời gian 10 năm, từ năm 2007 đến năm 2017.

4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án 4.1. Phương pháp luận nghiên cứu

Luận ánđược thựchiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duyvậtbiện chứng vàchủnghĩa duyvậtlịchsửcủachủnghĩa Mác-Lênin; tư tưởngHồChí Minh; quanđiểm,đườnglối,chủtrươngcủaĐảng Cộng sản Việt Nam và chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Namvềtộiphạm,vềhình phạt,vềcảicách tư pháp,vềPCTN. Luận án cònđượcthực hiệndựatrên các cách tiếp cậnđa ngành, liên ngành luật học, nhất là các cách tiếp cận của khoa học luật hình sự, xãhộihọcluật

hìnhsự, tội phạm học…

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án cònsử dụngtrong một tổng thểcác phương pháp nghiên cứu cụthểnhư phương pháp lịch sửcụthể,

phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, so sánh, thống kê…., trongđó:

– Các phương pháp lịch sử cụ thể, phân tích, quy nạp, hệ thống hóa, so sánh được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu các vấn đề tại chương 2 nhằm làm rõ nhữngvấnđềlý luận như khái niệm và các dấu hiệu pháp lý củacác tội phạmvềtham nhũng, phân biệt cáctộiphạmvềtham nhũng vớimột sốtội phạm khác, khái quát quá trình quy định và hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng đến trước khi ban hànhBộluật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

– Các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh,điềutra xãhội học được áp dụng đểnghiên cứu cácvấn đề tại chương3 nhằm đánh giáthực trạng quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và thực tiễn áp dụng quyđịnhpháp luật hình sự trong định tội danh và quyết địnhhình phạt của Tòaán đốivới các tội phạm về tham nhũng tại thànhphốĐàNẵng, quađó rút ra những ưuđiểm,nhữnghạnchếvà nguyên nhân của hạn chế để làm tiền đề cho việc đề xuất các giải pháp ở chương 4 của luận án.

– Các phương pháp phân tích, hệthốngđượcsửdụngchủyếutại chương 4 để làm rõ những quan điểm, giải pháp nhằm bảo đảm áp dụng đúng quy định pháp luật hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng phù hợp với yêu cầuđấu tranh PCTN; yêu cầu cảicách tư pháp và xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Sovớicác công trình nghiêncứukhoahọcvềcáctộiphạmvềtham nhũng đã được công bố, luận án có những đóng góp mới như sau:

8

Thứ nhất, luận án làm rõ mối liên hệ giữa các quy định của pháp luật hình sự nước ta về các tội phạm về tham nhũng với chính sách hình sự nói chung vàchính sách pháp luật hình sự nói riêng về các tội phạm này, theo đó các quy định củapháp luật hìnhsựlà phương tiện chuyểntảichính sách hìnhsựcũng nhưchính sách pháp luật hình sự và chính sách hình sự và chính sách pháp luật hình sự, đến lượt mình thể hiện (hiện thực hóa) chủ trương, đường lối của Đảng đối với các tội phạm về tham nhũng, qua đó luận án làm sáng tỏ tính quyết định về mặt xãhội của các quy định của pháp luật hình sự về các tội phạm về tham nhũng.

Thứhai, luận án làm rõnộihạmcủakhái niệm và cácdấuhiệu pháp lýcủa các tội phạm về tham nhũng, những điểm giống nhau và khác nhau giữa các

tội phạm về tham nhũng và một số tội phạm khác, tính kế thừa và phát triển của các quy định pháp luật về các tội phạm về tham nhũng ở nước ta.

Thứba, luận án làm rõ thực trạng quyđịnhcủapháp luật hìnhsựViệt Nam hiện hành về các tội phạm về tham nhũng và thực tiễn áp dụng trong định tội danh và quyết định hình phạt tại các Tòa án trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, những thành tựu, khó khăn, hạn chế, bất cập và nguyên nhân của chúng.

Thứtư,luận án đềxuất được cácgiải phápbảo đảm áp dụngđúng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng ở nước ta hiện nay.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

-Ýnghĩavềmặtlý luận:Kếtquảnghiêncứucủaluận án góp phần làm giàu thêm lý luậnvềPCTN nói chung, cáctộiphạmvềtham nhũng nói riêng; đồng thời, góp phần luận giải tính phổ biến và tính đặc thù của các hành vi tham nhũng, xử lý hành vi tham nhũng ở mỗi nước.

– Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần nhận diện thực tiễn nhận thức, thực tiễn quy định của pháp luật hìnhsựvà thực tiễn xétxửcáctộiphạmvềtham nhũngtạithànhphốĐàNẵng trong thời gian 10 năm từ năm 2007 đến năm 2017, qua đó trang bị kiến thức thực tiễn cho các cơ

9

quan có thẩm quyền, nhất là các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của việc xét xử các tội phạm về tham nhũng ở nước ta nói chung và

tại thành phố Đà Nẵng nói riêng.

Với những kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn nêu trên, luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo giảng dạy và học tập tại các cơ sở đào tạo luật ở nước ta hiện nay.

7. Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Những vấn đề lý luận và lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam vềcác tội phạm về tham nhũng đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Chương 3: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về các tội phạm về tham nhũng và thực tiễn áp dụng tại thành phố Đà Nẵng

Chương 4: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quyđịnhcủa pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng.

10

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Tham nhũng nói chung và tội phạm về tham nhũng nói riêng là những hiện tượng xã hội tiêu cực, gây nguy hại đặc biệt lớn cho mọi xã hội. Vì vậy, là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Kết quả làđãcó khá nhiều công trình nghiên cứu các tội phạm vềtham nhũng đãđượccôngbốởnướcngoài cũng nhưởtrongnước.Một điềuđãđượcthừa nhận chung là kết quảnghiêncứucáctộiphạmvềtham nhũng dưới gócđộluật hìnhsựvà tố tụng hình sự tùy thuộc rất lớnvào việc tham khảo những công trình khoahọcđãđượccôngbốđó.Việc tham khảo các công trình khoahọccó nghiêncứucáctộiphạmvềtham nhũng không những cho phép người nghiên cứunhận diện mộtcách tổng quan tình hình nghiên cứu ởtrong nướcvàởngoàinước,nhận diện đượcnhững vấnđềlý luận và thực tiễn nào đã được nghiên cứu, nghiên cứu đến đâu, vấn đề gì về lý luận và thực tiễn đã được làm sángtỏ, vấn đề gìcần được nghiên cứu bổ sung sâu hơn, toàn diện hơn?Vấn đề gìchưa được nghiên cứu mà trong công trình nghiêncứucủamình, người nghiêncứucầnphải tiếp tụcnghiên cứu hay nghiên cứu mới?… Bởi lý do đó, trong chương 1 của luận án, nghiên cứu sinh tiến hành tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và ở trongnước.

1.1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài

1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nƣớc

Tham nhũng và các tội phạm về tham nhũng từ lâu đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học nước ta, nhất là các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực pháp luật.Dướigóc độluật hình sự, các tội phạm về tham nhũngđược đềcậpnghiêncứunhiều, nhất làvềphạm vi các hành vi tham nhũngbịcoi là tội phạm; các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về tham nhũng; TNHS đối với các

tộiphạmvềtham nhũng…Nhằm phụcvụchomụcđích nghiêncứutổng quan tình hình nghiên cứu, nghiên cứu sinh tham khảo, tập hợp, phân loại và đánh giá các tài liệu thành hai nhóm cơ bản sau đây:

1.2.1. Nhóm các công trình nghiêncứulý luậnvềcác tội phạmvềtham nhũng

1.2.2. Nhóm các công trình nghiêncứuvềgiải pháp áp dụng đúng các quy định pháp luật hình sự về các tội phạm về tham nhũng và nâng cao hiệu quả đấu tranh với các tội phạm về tham nhũng

1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Từ việc tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và ở trong nước vềcác tội phạm về tham nhũng, nghiên cứu sinh có một số đánh giá như sau:

Thứnhất, các công trình nghiêncứuởnướcngoàihướngvào nghiên cứu cơ sở lý luận của tham nhũng trong các lĩnh vực chính trị, quản lý công, pháp luật, kinhtếvàđờisống xãhộivà rút ra kết luận là tham nhũng xuất phát từtính không ngay thẳng trong thực thi pháp luật. Do vậy,để đấutranh với những hành vi tham nhũng và các tội phạmvềtham nhũng,vấn đềquan trọng nhất là cần phải nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, nhất là trình tự tố

tụng hình sựđểxửlý TNHSđốivớicáctộiphạmvềtham nhũng.Mộtsốcông trình nghiêncứucó tiếp cận nghiên cứutham nhũng bằng cảcách tiếp

22

cậnluật họcso sánh, quađó cho thấy cácnướccó hệthống pháp luật khác nhau, có cách tiếp cận khác nhau đối với tham nhũng và các tội phạm về tham nhũng thì khái niệm tham nhũng cũng như khái niệm các tội phạmvềtham nhũng cũng khác nhau.Kết quảnghiên cứu này gợimở cho nghiên cứu sinh cầntiếp trong một tổngthểcác cách tiếp cậnnghiêncứukhác nhauđểxây dựng khái niệm về các tội phạm về tham nhũng một cách đa chiều, đa phương diện,lột tả được bản chất của các tộiphạm về tham nhũng. Đây còn là điểm xuất phát rất quan trọng, mang tính tiền đề để nghiên cứu sinh tiếp tục đi sâu phân tích các cơ sở lý luận của việc quyđịnhcác tội phạm về tham nhũng vàcác biện pháp pháp luật hình sựđốivớicáctộiphạm này. Ngoài ra, kết quả

tổng quan tình hình nghiên cứu ởnướcngoài giúp nghiên cứu sinhbước đầu nhận diện được thực trạng pháp luật quốctế vềtham nhũng và cách tiếp cận nghiêncứucáctộiphạmvềtham nhũng.Điềunày giúp nghiêncứusinh so sánh thực trạng pháp luật nướcngoàivớithực trạng pháp luật Việt Namvềtham nhũng, các tội phạm về tham nhũng, luận giải một số vấn đề, nhất là giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng.

Thứhai, các công trình nghiên cứu ởtrongnướcchủyếutập trung nghiêncứukhái niệmvềtham nhũng; nguyên nhâncủatham nhũng và các giải pháp phòng, chống tham nhũng; cơ chế kiểm soát, phát hiện,xửlý tham nhũng; cơsởlý luậncủahệthống pháp luật vềphòng, chống tham nhũng; mối quan hệ giữa sự minh bạch hoạt động trong các cơ quan, tổ chức, đơn vịcủaNhànướcvà tham nhũng; thực trạng pháp luậtvềphòng, chống tham nhũngởViệt Nam; quan điểm,phươnghướngvà giải pháp hoàn thiện pháp luật vềphòng, chống tham nhũng ởViệt Nam, trongđó có một sốkiến nghịsửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quyđịnhcủa Bộ luật hình sự về các tội phạm

về tham nhũng… Đồng thời các công trình nghiên cứu ở trong nước tập trung phân tích thực trạng các tội phạm về tham nhũng và thực trạng xử lý (hình sự)

23

đốivới loạitộiphạm này,đưara phương hướngvà giải pháp nâng cao hiệu quảxửlý hình sự đốivới các tội phạm về tham nhũng ởnước ta. Điều đáng nói là ngày càng có nhiều hơn các công trình nghiêncứutầmđềtài nghiên cứukhoahọccấp Nhànước,cấpBộ,ngành và sách chuyên khảo đãđược xuất bản, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các bàitạpchí chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự được công bố trên các tạp chí chuyên ngành do các tác giả là các nhà khoa học và là những người làm việc trong các cơ quan nhưThanh tra Chính phủ,BộTư pháp,BộCông an, VKSND tối cao, TAND tối cao, các Viện nghiên cứu, các cơ sở đào tạo làm chủ nhiệm và thực hiện.

Thứba, những công trình nghiêncứukhoahọcđãđượccôngbốmànghiên cứu sinhđãtham khảo và tổng quan, mặc dù có những đóng góp nhất địnhcho việc nhận thức thống nhất một số vấn đề lýluận, xây dựng và hoàn thiện pháp luật, áp dụng pháp luật hình sựđốivớicáctộiphạmvềtham nhũng, songđứngtrướcnhững yêucầumớicủacông tác phòng chống tham nhũng, chúng không còn đáp ứng một cách đầy đủ, toàn diện cả về lý luận lẫn về thực tiễn cho cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng nói chung, các tội phạm về tham nhũng nói riêng. Yêu cầu mới hiện nay đặt ra nhu cầu cần phải có công trình khoahọcnghiêncứumột cách chuyên biệt vềcáctộiphạm tham nhũng, bao hàmcảnhững vấn đềnhư cơsởpháp lý củađịnh tộidanh các tội phạm về tham nhũng; định tội danh các tội phạm về tham nhũng theo cấuthànhtộiphạm cơ bản, theo cấuthànhtộiphạm tăng nặng, trong trường hợp phạm nhiều tội hay trong trườnghợp đồngphạm. Đồng thời, cần phải cócông trình khoahọcnghiêncứumột cách chuyên biệt vềcáctộiphạmvềtham nhũng nhìntừgócđộquyết địnhhình phạt, chẳnghạnnhư quyết định hình phạt đối với các tội phạm về tham nhũng theo khoản cơ bản, theo khoản tăng nặng, trong trường hợp phạm nhiều tội hay trong trườnghợp đồngphạm.

24

Thứ tư, vấn đề về tham nhũng và các tội phạm về tham nhũng mang tính thời sự, cóýnghĩa quan trọngvề tưtưởng, lý luận và thực tiễn đối với phòng, chống tham nhũng. Tuy vậy, cáctộiphạmvềtham nhũngchỉđượcquan tâm nghiêncứutrong phạm vi chuyên môn hẹp củangành khoahọcnhấtđịnhmàchưa trở thành đối tượng nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực của khoa học xã hội, trong đó có khoa học pháp lý, bởi vậy, kết quả nghiên cứu chưa mang tính tổng thể. Do vậy, việc nghiên cứu các tội phạm về tham nhũng bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau cho phép khắc phục tình trạng nghiên cứu nói trên. Rõ ràng, cần phải có công trình nghiên cứu ởcấp độluận án tiến sĩvềcáctộiphạmvềtham nhũng theo pháp luật hình sựViệt Namtừgócđộthực tiễn xét xửtại mộtđịabàn như thành phốĐàNẵng chẳng hạn. Công trình nghiêncứuđóphải đượctiến hành nghiêncứumột cách toàn diện, chuyên sâuvềcác tội phạm về tham nhũng dưới góc độ luật hình sự và tố tụng hình sự với các cách tiếp cậnnghiêncứukhác nhau,đặcbiệt là cách tiếp cậnnghiêncứuchính

sách, cách tiếp cậnxãhộihọcluật hình sự,cách tiếp cậnluật họcso sánh… nhằm tránh khuynh hướngnghiêncứudựatuần túy vào các quyđịnhcủa pháp luật thực định vốn không thể làm sángtỏ được tính quyết định về mặt xãhội của các tội phạm về tham nhũng và của việc xử lý chúng trên thực tế. Với những cách tiếp cận đó, người nghiên cứu có thể làm rõ yêu cầu đối với việc xác định ranh giới giữa hành vi tham nhũng và tội phạm về tham nhũng; các yếutốtácđộngđếnxây dựng và áp dụng pháp luật hình sựđốivớicác tội phạm này, các giải pháp bảo đảmáp dụng đúng các quyđịnh củapháp luật hình sựvềcáctộiphạmvềtham nhũng. Việc nghiên cứu những vấnđềđó phảiđượctiến hành trên cơsởmốiquanhệgiữa cái chung và cái riêng, cái phổbiến và cáiđặcthù.Vớicác các cách tiếp cậnnghiêncứuđó,người nghiêncứumớicó thểlàm sángtỏmột cách có cơsởkhoahọcvà thực tiễn những vấnđềlý luận, lịchsửlậppháp hình sự,thực trạng quy định và áp

25

dụng pháp luật hình sựvà các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sựcũng như các giải pháp khác bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đốivới các

tội phạm về các tội phạm về tham nhũng ở nước ta.

Cũng từ việc tổng quan và đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trên đây, nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục nghiên cứu các vấn đề sau đây:

Thứnhất, nghiêncứulàm rõ nộihàm của khái niệm và cácdấuhiệu pháp lýcủacáctộiphạmvềtham nhũng. Việc nghiêncứunộihàmcủakhái niệm vàcủacácdấuhiệu pháp lý củacáctộiphạmvềtham nhũng không chỉ dựavào các quyđịnhcủapháp luật hìnhsựthựcđịnhmà còndựavào tính đặc thùcủa các tội phạm về tham nhũng. Tínhđặc thùđó cũng chính là cơ sởchủyếuđểquyđịnhbiện pháp trách nhiệm hìnhsựvà rộng hơn làđểhoạch địnhchính sách hình sự của Nhà nước ta đối với các tội phạm này.

Thứhai, phân biệt các tội phạmvềtham nhũng với mộtsốtội phạm khác, từ đó làm rõ những điểm giống nhau và khác nhau của chúng, làm cơsở cho việc hoàn thiện pháp luật hình sự và áp dụng pháp luật hình sự trongđịnh tội danh đúng và quyết định hình phạt chính xác đối với các tội phạm về tham nhũng.

Thứ ba, khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các tội phạm vềtham nhũng đếntrướckhi ban hànhBộluật hìnhsựnăm 2015, quađó làm sángtỏtính kếthừa và phát triển,đặcbiệt là tính quyết định xã hội củacác quy định pháp luật hình sự nước ta về các tội phạm về tham nhũng, làm cơ sởcho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự về loại tội phạm nói trên.

Thứ tư, phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật hình sự nước ta trong định tội danh và quyết định hình phạt của Tòa ántạithành phố Đà Nẵngđốivới các tội phạm về tham nhũng, quađólàm rõ những thành tựu cũng nhưnhững hạn chế, bất cập, khó khăn trong áp dụng pháp luật hìnhsự đối với các tội phạm về tham nhũng và nguyên nhân của chúng, làm cơ sở cho việc đề xuất các

26

giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng ở nước ta nói chung và tại thành phố Đà Nẵng nói riêng. Đồng thời, việc phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm vềtham nhũng được thực hiện kết hợp với việc phân tích những nhân tố xã hội trênđịa bàn thành phố Đà Nẵng tác động đến áp dụng pháp luật hình sự trên địa bàn này, cũng làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói chung.

Thứ năm, lập luận và đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sựđối vớicác tội phạmvềtham nhũng, trong đó ngoài giải pháp pháp luật, còn có các giải pháp khác phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh xã hội tại thànhphố ĐàNẵng hiện nay.

Tóm lại, luận ánsẽđi sâu phân tích các nội dung sau: (i) Khái niệm tham nhũng và tội phạmvềtham nhũng; các dấuhiệu pháp lý củacác tội phạmvềtham nhũng; cơsởxácđịnh TNHS đốivớicáctộiphạmvềtham nhũng; quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật hìnhsựViệt Namvềcác

tội phạm về tham nhũng; xu hướng đấu tranh phòng, chống tội phạm về tham nhũng trong hệ thống tư pháp hình sự thế giới và Việt Nam. (ii) Nghiên cứu,đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật hìnhsựtrong xét xửđốivớicác tội phạm về tham nhũng ở Việt Nam nói chung, ở thànhphố ĐàNẵng nói riêng.

(iii) Phân tích các yêucầuđấutranh PCTN ởViệt Nam giaiđoạnhiện nay,địnhhướngnăm 2030 và các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật hìnhsựViệt Nam nhằm bảo đảmhiệuquảáp dụng pháp luật hìnhsựđốivớicác tội phạm về tham nhũng ở Việt Nam trong tình hình mới.

Kết luận chƣơng 1

Tham nhũng là một rào cản rất lớn đối với sự ổn định và phát triển kinh tế củamỗi quốc gia, thậm chí là nguy cơcủamột nền chính trị của quốc gia

27

có tham nhũng lan tràn.Bởivậy, không có quốc gia nào không quan tâm nghiên cứu tham nhũng nhằm mục đích phòng, chống có hiệu quả hiện tượng xã hội tiêu cực này.

Tổng quan tình hình nghiên cứu tham nhũng và cáctộiphạmvềtham nhũng ở trongnướcvà ởnướcngoài cho thấy có khá nhiều vấn đề của tham nhũng và các tội phạm về tham nhũngđãđược đề cập nghiên cứuvớinhững kết quả nhất định. Vì vậy, để PCTN, mỗi quốc gia phải có các biện pháp thích hợp cảvềlập pháp, hành pháp và tư pháp. Các hành vi tham nhũng và tội phạmvềtham nhũng có tính lịch sử; có thểdiễn ra trong nhiều lĩnhvựccủa đời sống xã hội vàchủthểcủahành vi tham nhũng có những đặcthù nhất định… Vì vậy, việc nghiên cứu, luận giải khái niệm, đặc điểm của hành vi tham nhũng, tội phạm về tham nhũng nhằm mục đích góp phần đấu tranh có hiệu quảvới các tội phạm về tham nhũng.

Trên cơ sở đánh giá tình hình nghiên cứu có thể thấy rằng ởnhững mức độnhất định, các công trình nghiên cứu được công bố đãđề cậpnhữngvấn đề

tộiphạm tham nhũngở cácgóc độ khác nhau. Tuy nhiên, việc tiếp cậnvấn đềcác tội phạmvềtham nhũngdướigóc độ khoahọchìnhsựvà từthực tiễn của một địa phương cụ thể thì chưa có công trình nào nghiên cứu có hệ thống để đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật hìnhsựvề các tội phạm này đápứngvới điều kiện thực tế của Việt Nam và phù hợp với pháp luật quốc tế. Từ các yêu cầu đó, việc nghiên cứu đề tài “Các tội phạm về tham nhũng theo pháp luật hình sựViệt Namtừthực tiễn thànhphốĐà Nẵng” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, góp phần cung cấp cơsởkhoahọcvà thựctếcho việc hoàn thiện các quy địnhvề tội phạm về tham nhũng trong BLHS của nước ta trong thời gian tới.

28

Chƣơng 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ LẬP PHÁP HÌNH SỰ

VIỆT NAM VỀ CÁC TỘI PHẠM VỀ THAM NHŨNG ĐẾN TRƢỚC

KHI BAN HÀNH BLHS NĂM 2015

2.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về tham nhũng 2.1.1. Khái niệm các tội phạm về tham nhũng

Đểcó thểxây dựng khái niệmvềcác tội phạmvềtham nhũng, trước hết cầnlàm rõ cácvấn đềvềnộihàmcủakhái niệm tham nhũng, nguồn gốc của tham nhũng, bản chất của tham nhũng…Vấn đề là ở chỗ, thuật ngữ tham nhũng bao hàm trong nó tham nhũng là hành vi vi phạm pháp luật và tham nhũng là hành vi tội phạm. Ranh giới để phân biệt đâu là hành vi tham nhũng là vi phạm pháp luật và đâu là hành vi tham nhũng làtộiphạm nằm ởquy định”tínhchất nguy hiểm cho xãhộikhông đángkểthì không phải là tội phạm…” (khoản 2 Điều 8 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017). Dưới góc độ luật pháp lý, tham nhũng là hành vi hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật, có lỗivàbịáp dụng trách nhiệm pháp lý, còndướigócđộlà một tiểu hệthống xã hội, tham nhũng là hiệntượngxã hội tiêu cực, trái với các chuẩnmựcxã hội,đạo đức,tín ngưỡng…, hiệntượngxãhộitiêu cực mà xãhội không mong muốn, muốn loại trừ, hiện tượng ”có chiều rộng của thế gian và chiều sâu của lịch sử xã hội loài người”. Chính vì vậy, tham nhũng có nội hàm phong phú, phức tạp. Cũng chính vì vậy, cho đến nay cả trong ý thức xãhội không thường, cả trong các quan điểm khoa học, cả trong pháp luật thực địnhcủa các nước khác nhau, tham nhũngđược hiểu khác nhau. Chẳng hạn, theo Tổchức Minh bạch Quốctế(TI), tham nhũng làlợidụng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy của dân [1]. Trong khi đó, Ngân hàng phát triển ChâuÁ(ADB)lạicho rằng “Tham nhũng là lạm dụng chứcvụ

29

công hoặc tưđểtưlợi”[2]. Còn theoTổchức hợp tác và phát triển kinh tế

(OECD) thì tham nhũng là sự lạm dụng chức vụ, vai trò hoặc nguồn lực công để trục lợi cá nhân [31, tr. 682]. Theo Đại từ điển tiếng Việt thì “Tham nhũng

là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu dân, và lấy của” [30, tr.1521]….

ỞViệt Nam, nghiên cứu lịch sửcũng cho thấy rằng tham nhũng đãxuất hiện từ lâu trongđời sốngxã hội và được thể hiện qua các câu ca dao, tác phẩm văn học lịch sử, vídụ như: “nén bạc đâm toạc tờ giấy”; hay “Quan thấy kiện (mừng) như kiến thấy mỡ” hoặc ”Có ba trăm lạng việc này mới

xong”….Sinh thời,ChủtịchHồChí Minh coi các hành vi có tính chất tham nhũng như tham ô, lãng phílà tội lỗi đêtiện nhất trong xã hội. Theo Người thì“Đứng vềphía cán bộmà nói, tham ô là ăn cắp của công làm của tư.Đục khoét của nhân dân. Ăn bớt của bộđội.Tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủđểlàm quỹriêng cho địa phương mình, đơn vịmình,

cũng là tham ô…”[25, tr.488]. Nghiên cứu các tác phẩm, bài nói chuyện của Chủtịch Hồ Chí Minh có thể thấy rằng Người đãđề cập đếnviệc chống các bệnh bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí … , tựu chunglại được thể hiện ở thuật ngữ “bất liêm” mà ngày nay chúng ta gọi là tham nhũng và được hiểu là hành vilợidụng chứcvụ,quyềnhạnđểtham ô, bòn rút củacông nhànướcnhằm làm giàu, vun vén cho cá nhân một cách không chính đáng.

Ngày nay tham nhũng không chỉ tồn tại trong khu vực công mà còn tồn tại cả trong khu vực tư. Tham nhũng, nhưđãnhấn mạnh là hiện tượng xã hội tiêu cực, phức tạp, nhiều mặt, nhiều cấp độ. Bởi vậy, bản chất của tham nhũng đượcnhìn nhận từcác gócđộchính trị,đạo đức,kinh tế,văn hóa, xã hội, pháp lý, quản lý nhà nước… mà trong một tổngthểphản ánh nó ”làhiện tượngxãhộitiêucựcbao gồmtổngthểnhững hành vi có hạicho chính trị, kinh tế, văn hóa, đạo đức, pháp luật; là những hành vi đi ngược với các chuẩn mựcvà giá trịxã hội; là những hành vi xã hội không mong muốn và lên án,

30

muốn khắc phục, loạibỏra khỏiđờisống xã hội; những hành vi nàyđược kiểm soát bởi ýchícủachủthểthực hiện làngườicó chứcvụ,quyền hạn; những hành vi có tính phổ quát (ở đâu có quyền lực thìở đó có nguy cơ xảy ra tham nhũng và khi phổbiến, chúng trởthành tệnạnxãhộivà tồn tạibên cạnh các tệ nạn xã hội khác).

Sự xuất hiện của tham nhũng gắn với quyền lực, tổ chức sử dụng quyền lực trong xã hội có giai cấp vàgắnvớilòng tham của conngười. Điều đó cónghĩa là “nguồngốccủatham nhũng gắnvớiyếutốlịchsửhình thành Nhànướcvà pháp luật vàvớiyếutốtâm lý xãhội”.Như vậy,sựxuất hiện của tham nhũnggắnliềnvớisựrađờicủachếđộtư hữu,sựphân chia giai cấp trong xã hội,sựxuất hiện củaNhà nướcvà pháp luật.Mặtkhác tham nhũng xuất hiện khi có sự theo đuổi lợi ích cá nhân của những cá nhân làm việc trong bộmáy nhànướcđãsửdụng quyền lựcmà Nhànướctrao chođể chiếm đoạt tài sản. Chính vì vậy, tham nhũng chính là “sự tham lam, vụ

lợi, nhũng nhiễu chiếm đoạtlợi ích, tài sản củaNhànước,củatổchức vàcủangười khác làm củariêng mình”. Không phải ngẫu nhiên mà nhà làm luậtnướcta tại khoản 2,Điều 1 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”, trong đó “Vụ lợi là lợi ích vật chất, tinh thần mà người có chứcvụ,quyền hạn đạtđượchoặc cóthểđạtđược thông qua hành vi tham nhũng”.

Khi bàn đến nguồn gốc của tham nhũng, một câu hỏi đặt ra cần có câu trảlờimột cách xác đáng,vậythìtạisao trong xãhộihiệnđạitham nhũng vẫnxuất hiện,tồntại, thậm chí còn giá tăng và diễn biến hết sứcphức tạp? Vấnđềlàởchỗ, nóiđếnnguồngốccủatham nhũng là nóiđếnsựxuất hiện củanó từchỗchưa có tham nhũngđếnchỗcó tham nhũnggắnvớisựxuất hiện Nhà nước, gắn với nó là vấn đề quyền lực nhà nước và tổ chức thực hiện

31

quyền lực nhà nước và gắn với khía cạnh tâm lý của nó là lòng tham của con người và các điều kiện kinh tế-xã hội để có thể “thỏa mãn” lòng tham của con người. Rõ ràng, tham nhũng chỉ xuất hiện khi xã hội phân chia thành giai cấp, Nhà nước và pháp luật ra đời.

Việc tham nhũng vẫnxảyra trong xã hội đươngđạiđượcquyết định bởinhững nguyên nhân vàđiềukiện,tứccủanhững “hiệntượngxãhộitiêu cực”mà trongsựtácđộnglẫnnhau làm phát sinh tham nhũng.Đó là những yếukém trong quản lý kinh tế-xã hội, những hạn chế, bất cập, khiếm khuyết liên quan đến công tác cán bộ, tính hiệu lực và hiệu quả thấp của cơ chế kiểm tra hoạt độngcủabộmáy nhànước,tính chưa nghiêm minh củaviệcxửlý ngườitham nhũng, thiếu cơchếbảo vệhữuhiệnngườitốcáo hành vi tham nhũng, trình độdân trí thấp…Nói cách khác, xãhộiđươngđạivẫn chưa giải quyết tốt những mâu thuẫn xã hội, xung đột xã hội và đây chính là “miếng đất màu mỡ” của tham nhũng. Những mâu thuẫn xã hội, xung đột xã hội, nhất làmâu thuẫn, xung đột về lợi ích trong xã hội, những hiện tượng xã hội tiêu cực nói trên luôn gắn với những biến đổi xã hội, và là hệ quả của nhữngbiến đổi xãhộiđó.Chẳng hạn,ởnướcta bướcchuyểnđổicơchếquản lý kinhtếtừquan liêu bao cấp sang thị trường có thể được xem là một biến đổi xã hội. Sựmâu thuẫn giữa cái cũ và cái mới, những mặttrái củacơchếthịtrường làm xuất hiện những mâu thuẫn, những hiệntượngxã hội tiêu cực khác tácđộng mạnh mẽ đến “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên… trong Bộ máy nhànước”làm cho họthoái hóa, biến chất,đãsửdụng quyềnlựcđượcgiao đểtham nhũng. Mặt khác, nhìntừgócđộcườngđộ,tầnsuất, lĩnhvựcđờisống xã hội… tham nhũng, nhất là tham nhũng vặt xảy ra nhiều hơn so với thời kỳquan liêu, bao cấp trước đây.

Từ những phân tích khái quát trên đây có thể thấy, tham nhũng đúng là đi ra từ xã hội có giai cấp hay nói cụ thể hơn là đi ra từ các quan hệ xã hội trong

32

xã hội có giai cấp hay nói cụ thể hơn nữa là đi ra từ những hành vi xã hội vốn là kết quảcủacác quanhệxã hội. Như vậy,trướckhi có phạm trù tham nhũng, trong xãhộiđã xuất hiện các dạng hành vi khác nhau, trongsố đó cónhững hành vi mà theo quan điểm của giai cấp thốngtrịxã hội, có tính nguy hiểm cho xãhội cần phải được điều chỉnhbằng pháp luật, trên cơ sở đó Nhànước hoạch địnhchính sách pháp luật tương ứng, chính sách pháp luật đó đến lượt mình được thể chế hóa vào pháp luật thành những hành vi pháp luật. Cốnhiên, đó là hành vi trái pháp luật hay còn được gọi là hành vi bất hợp pháp. Tham nhũng là một trong những loại hành vi như vậy. Tùy mức độ nguy hiểm cho xã hội và sự ghi nhận về mặt pháp lý, tham nhũng hiện diện với tư cách làhành vi vi phạm pháp luật hoặcvớitư cách là tội phạm tham nhũng. Ranh giới phân biệt tham nhũng là hành vi vi phạm pháp luật vớitham nhũng làhành vitộiphạmđượcxácđịnhbằng thuật ngữ”nguy hiểm đángkểcho xãhội” của hành vi tham nhũng. Tất nhiên, việc xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, đến lượt nó lại tùy thuộc vào điều kiên, hoàn cảnh xã hội trong giai đoạn lịch sử nhất định.

Theo logicđãphân tích trên đâythì nhìntừgócđộhệthống xã hội, các tội phạm vềtham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cựccó nội hàm phong phú, đa dạng, phức tạp, nhiều mặt, nhiều cấpđộ.Đồng thời,dưới góc độ pháp luật hình sự, các tội phạm về tham nhũng là những hành vi cótính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, trái pháp luật hình sự, có lỗi và có tính phải chịu hình phạt.

Cũng theo phân tích trên đây, các tội phạm tham nhũng đi ra từ xã hội có giai cấp, nói cụ thể hơn là đi ra từ các quanhệxã hội trong xã hội có giai cấp và nói cụ thể hơn nữa là đi ra từ các hành vi (của con người)đãxuất hiện và đang tồn tại trong xã hội nhưng có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội màtheo quan điểm của giai cấp thống trị xã hội phải được điều chỉnh bằng pháp

33

luật hình sự.Quanđiểmđó củagiai cấp thống trịxãhộilà tiềnđề,cơsởđểNhànướchoạchđịnhchính sách pháp luật hình sựvà chính sách pháp luật hình sựđó đếnlượt mình đượcthểchếhóa vào pháp luật hình sựthông qua phương thức thực hiện chính sách pháp luật hình sự, đó là tội phạm hóa hoặc phi tội phạm hóa các tội phạm về tham nhũng. Như vậy, các tội phạm về tham nhũng tồn tại trong các quy phạm pháp luật hình sự, là kết quả của quá trình tộiphạm hóa hoặc phitộiphạm hóa vốn đượchiểu là những phương thức thực hiện chính sách pháp luật hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng.

Tộiphạm tham nhũng trướchết là hành vi xãhộicó tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội. Cố nhiên, trước khi bị quy định trong pháp luật hình sự là

tộiphạm, hành viđóđãxuất hiện và đangtồntạitrong xã hội.Bởixâm hại đếnnhững quanhệxãhộimà pháp luật hìnhsự bảo vệ,gây ra thiệt hạihoặc đedọagây ra thiệthạicho xãhộiởmứcđộđượccoi là”có tính chất nguy hiểm đángkểcho xãhội”,lạiđượcthực hiệnbởingườicó chứcvụ,quyền hạn…hành viđó cần điều chỉnhbằng pháp luật hình sự và “nhucầu” đó được khẳng định bởichính sách pháp luật hìnhsựthểhiện thái độcủagiai cấp thốngtrịxã hội,củaNhànướcđạidiện cho giai cấp thốngtrịxãhộiđốivới hành vi nguy hiểm cho xã hội đángkể đó.

Tội phạm hóa hành viđóthànhtộiphạm tham nhũng là phương thức thực hiện chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước. Kết quả là nhà làm luật chuyển hành vi xãhộinguy hiểm đángkểcho xãhội”lêntầm”tộiphạm vàghi nhận nó trongđiềuluật cụthểcủaBộluật hìnhsự.Như vậy,tộiphạm tham nhũng phải là hành vi nguy hiểm đángkểcho xãhộiđượcquyđịnh trongBộluật hìnhsự.Hay nói cách khác,tộiphạm tham nhũng có tính trái pháp luật hình sự.

Vậy,vớihaidấuhiệu(đặcđiểm)trên đây, hành vi nguy hiểm cho xãhội đãtrởthành tộiphạm tham nhũng hay chưa? Câutrảlờilà chưa, bởi lẽ,

34

không phải ai thực hiện hành viđó cũngđềubịcoi là phạm tội tham nhũng mà phải là người có chứcvụ,quyền hạn đượcNhànướcgiao đểthực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Tiếp nữa, người có chức vụ, quyền hạn đóđã

lợidụng chứcvụ,quyềnhạnđó vìvụlợi. Chínhyếutốlợidụng chức vụ, quyền hạnvì vụlợi nói lên hình thức lỗi trong hành vingườiđónói lên tính chất nguy hiểm đángkểcủahành vicủahọ,nói lên triết lý củatrách nhiệm hìnhsựmàhọphải gánh chịutrướcNhànướcvà xã hội. Như vậy,tộiphạm tham nhũng phải là hành vi có tính có lỗi. Cố nhiên, bởi là hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội, trái pháp luật hình sự, có lỗi, tội phạm tham nhũng có tính phải chịu hình phạt,tứctính phải gánh chịuhậuquảpháp lý hìnhsựbất lợi (nói ở đây là hình phạt) do pháp luật hình sự quyđịnh.

Cần lưu ý rằng, việc đánh giá ”tính chất nguy hiểm đáng kể” cho xã hội của hành vi tham nhũng và số lượng hành vi tham nhũng bị quy định trongBộluật hình sự là tội phạm tham nhũng, mức độ trách nhiệm pháp lý hình sự (nói ởđâylà hình phạt)đốivớicáctộiphạmvềtham nhũng ởnhững giaiđoạn lịch sử khác nhau là không giống nhau. Điều đó cũng có nghĩa là các tội phạm vềtham nhũng và các biện pháp trách nhiệm pháp lý hình sự(hình phạt) cótính quyết định về mặt xã hội.

Nhìn sâu vào quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự nước tavềcáctộiphạmvềtham nhũngtừnăm 1945 đếnnay có thểthấy nhà làm luật không ghi nhận khái niệm các tội phạm về tham nhũng mà chỉ ghi nhận một tội hoặc một số tội phạm tham nhũng trong văn bản quy phạm pháp luật hìnhsự nhất định, chẳng hạn, tội hối lộ được quyđịnhtrong Sắc lệnh 223/SL/1946 ngày 17 tháng 11 năm 1946; tội lạmdụng chứcvụ,quyền hạn và hối lộ được quy định trong Sắc lệnh số 03/SL/1976 ngày 15 tháng 3 năm 1976; Pháp lệnh trừng trị các tội phạm về hối lộ ngày 20/5/1981; BLHS năm 1985; BLHS năm 1999, sửađổi,bổ sung năm 2009 và BLHS năm 2015, sửa

35

đổi,bổsung năm 2017đềucó các quyđịnhvềcáctộiphạmvềtham nhũng gồm7 tội;tộitham ô tài sản (Điều353),tộinhậnhốilộ(Điều354),tộilạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355), tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356), tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357), tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởngđối với người khác để trục lợi (Điều 358), tội giả mạo trong công tác (Điều 359).

Vềmặt pháp lý, nhưđãnhấn mạnh, nhà làm luật nướcta không ghi nhận khái niệm các tội phạm về tham nhũng, nhưng có ghi nhận khái niệm tội phạm về chức vụ, theo đó: 1) Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện côngvụ,nhiệm vụ; 2)Ngườicó chứcvụlàngườido bổnhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và cóquyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ” (Điều 352 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vậy thì tại sao, nhà làm luậtnướcta không ghi nhận khái niệm các tội phạm về tham nhũng mà chỉ ghi nhận khái niệm khái niệm tội phạm về chức vụ? Vấn đề trước hết là ở chỗ, các tội phạm tham nhũngđượcghi nhận trongMục1 và cáctộiphạm khácvềchứcvụđượcghi nhậntạiMục2 củaChương XXIII Cáctộiphạmvềchứcvụ”; tiếp đến,trongMục2 cũng cótộimàchủthểcủanó cũng làngườicó chức vụ, quyền hạn, song thực hiện hành vi với lỗivô ý và không vìvụlợi. Như vậy, với quy định này của pháp luật hình sự, cần nhận thức và xây dựng khái niệm các tội phạm về tham nhũng trên nền tảng khái niệm các tội phạm về chức vụvàbổsung những dấuhiệu (yếutố)đặctrưng củacác tội phạmvềtham nhũng. Tất nhiên, khi xây dựng khái niệm các tội phạmvềtham nhũng cần cân nhắc quy địnhcủaĐiều8 BLHS năm 2015,sửađổi,bổsung năm 2017 về khái niệm tội phạm, theo đó:

36

Khi nghiêncứucác tội phạmvềtham nhũng, các nhà luật họcnướcta thường không nêu khái niệmvềcáctộiphạm này mà thường nêu cácđặc điểm của chúng. Theo quan điểm phổ biến hiện nayvề các đặc điểm của các

tội phạm về tham nhũng thì các tội phạm về tham nhũng có nhữngđặc điểm như: Chủ thể của các tội phạm về tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn; người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để thực hiện hành vi tráivớicôngvụ,nhiệm vụ; các tội phạmvềtham nhũng xâm hại đến uy tín và hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, lợi ích của Nhànước,quyền, lợi ích hợpphápcủacông dân và cáctộiphạm tham nhũngđều có mục đích vụ lợi.

Dưới gócđộluật hình sự,cũng như các tội phạm khác, các tội phạm về tham nhũng là những hành vi nguy hiểm “cao” cho xãhội thểhiện ở sựxâm phạm những quan hệxãhội đượcluật hình sự bảovệmà những quan hệxã hội này tạonên nội dung hoạtđộngđúng đắn củacác cơ quan nhànước,củacáctổchức trong xã hội và uy tíncủacác cơ quan,tổchứcđó,đặcbiệt là uy tín củaĐảng vốngiữvai trò lãnhđạoNhànướcvà xã hội. Tính nguy hiểm caocủacác hành vi phạm tộitham nhũng còn thểhiện ởnhững thiệt hại mà chúng gây ra hoặc đe dọa trực tiếp gây ra cho xãhội vềmặtkinh tế,văn hóa, xãhội, ởhình thức lỗi,ởđặcđiểm củachủthểthực hiện chúng là những người có chứcvụ,quyền hạn trong các cơ quan nhànước, tổ chức trong xã hội…

Cũng bởi có tính nguy hiểm đáng kể cho xãhộinhưđãphân tích ở trên mà một trong số phương tiện mà Nhà nước sử dụng để đấu tranh với chúng làpháp luật hình sự. Chính vì vậy, tùy thuộc vào từng giai đoạn lịch sử mà Nhànước cân nhắc tội phạm hóa các hành vi tham nhũng thành các tội phạm tham nhũng với những chế tài hình sự mà trong sự so sánh với nhữngchế tài được quyđịnhđốivớicáctộiphạm khác, nhìn chung là nghiêm khắc hơn.Đồng

37

thời, tùy thuộc vào điều kiệnhoàn cảnhlịch sửmà Nhànướcmở rộng phạm vi đấu tranh bằng pháp luật hình sự đối với các hành vi phạm tội tham nhũng. Chẳng hạn, trongBộluật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, nhàlàm luật đã quy định trách nhiệm hình sự đối với cả hành vi tham ô, nhận hối lộtrong khuvựcngoài nhànước.Như vậy, cáctộiphạmvềtham nhũng lànhững hành vi trái pháp luật hìnhsự.

Bởixâm phạmđếnnhững quanhệxãhộiđượcluật hìnhsựbảo vệmànhững quan hệxãhộinày tạo nên nội dung hoạt độngđúngđắncủacác cơquan nhànước,củacáctổchức trong xãhộivà uy tíncủacác cơ quan,tổchức đó, đặc biệt là uy tíncủa Đảngvốn giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xãhội,lạiđượcthực hiệnbởinhữngngườicó chứcvụquyềnhạnvốn lợidụng chứcvụ,quyềnhạnđượcgiao đó vìvụlợi, nên các hành vi phạmtộiluôn đượckiểm soát bởilý trí vàýchícủangườiphạmtộitham nhũng.Bởimục đích hướng tới đạt được lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào đó, người phạm tội tham nhũng thường thực hiện đến cùng.Bởivậy, các hành vi phạm tội tham nhũng có tính có lỗi thểhiện tháiđộtâm lý(cốýthực hiện bằngđượchành vi)củangười thực hiện tội phạm tham nhũng. Bởi vậy, các hành vi phạm tội tham nhũng có tính có lỗi (cố ý).

Cũngbởinhững đặcđiểm(tính chất) nêu trên, khi quyđịnh làtộiphạm tham nhũng, căncứvào chính sách pháp luật hìnhsựvềhình phạt, nhà làm luật bao giờcũng quyđịnhcác hình phạt nghiêm khắcđốivớiloạitộiphạm này. Điều đó có nghĩa là các tội phạm về tham nhũng là những hành vi có tính phải chịu hình phạt.

Là một trong những tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự, các tội phạmvềtham nhũng có những dấuhiêu chungcủatội phạm (nói chung), song cũng có những dấu hiệu đặc trưng liên quan đến khách thể xâm hại, chủthể thực hiện, cách thức và mục đích phạm tội.

38

Từ những phân tích khái quát trên đây và căn cứ vào các quy định pháp luật hình sự hiện hành ở nước ta về khái niệm tội phạm (nói chung) được ghi nhận tại khoản 1 và khoản 2 Điều 8 vàvềcác tội phạmvề chứcvụghi nhận tại Điều352 Bộluật hình sựnăm 2015,sửađổi,bổsung năm 2017, có thểkhái niệm: “Các tội phạm về tham nhũng là những hành vi nguy hiểm cho xãhội được quyđịnh trong Bộ luật hình sự do người có chức vụ, quyền hạn đã

lợi dụng chứcvụ,quyền hạn đóthực hiện trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụxâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước,cáctổchức trong xã hội; xâm phạm uy tín của cơ quan,tổchức; xâm phạm tài sản, lợi ích của Nhà nước, của tổ chức; xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, của công dân vì động cơ vụ lợi”.

2.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về tham nhũng

Dướigóc độ khoahọchình sự, tội phạm là hành vi nguy hiểm đángkểcho xã hội có các dấu hiệu cần và đủ trong các yếu tố của cấu thành tội phạm:

kháchthểcủatộiphạm, mặt khách quancủatộiphạm,chủthểcủatộiphạm, mặt chủ quan của tội phạm. Nhữngdấuhiệu pháp lý cần và đủ của cấu thành tội phạm cho phép phân biệt tội phạm này với tội phạm khác. Đối với các tội phạm về tham nhũng, điều đó cũng không phải là ngoạilệ. Điềunày cũng cónghĩa là một hành vi tham nhũng nàođónếu không thỏa mãn các dấu hiệu được nhà làm luật mô tả trong 4 yếu tố của cấu thành tội phạm tham nhũng cụthểthì khôngbịcoi làtộiphạm và không chịu TNHSvềnó và mỗi một tội phạm tham nhũngđềucóđặctrưng riêng cho phép phân biệt tộiphạm tham nhũng này với tội phạm tham nhũng khác. Điều đó cũng còn có nghĩa là trong một tổngthể(nhómtộiphạm),cảtrong 4 yếutốcủacấuthànhtộiphạm (nhóm) có những dấuhiệuđặctrưng cho phép phân biệt nhóm cáctộiphạm về tham nhũng với các nhóm tội phạm khác, cũng như với các tội phạm khác

39

vềchứcvụđượcghi nhận trong cùng một chươngvớicáctộiphạm tham nhũng (chương XXIII Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2.1.2.1. Khách thể của các tội phạm về tham nhũng

Trong khoahọcluật hìnhsựViệt Nam, kháchthểcủatộiphạmđược hiểu “là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại” [66, tr.94]. Theo cấp độ, khách thể của tội phạm bao gồm khách thể chung của tội phạm, khách thể loại của tội phạm và khách thể trực tiếp của tội phạm.

Khách thể chung của tội phạm là các quan hệ xã hội được pháp luật ghi nhận, bảo vệ và bị các tội phạm xâm phạm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nhất định. Vai trò của khách thể chung của tội phạm thể hiện ở chỗ nó cho phép khẳngđịnh một hành vi đãxảyra là tộiphạm hay không phải là tội phạm. Điều đócó nghĩa là một hành vi dù có nguy hiểm đáng kể cho xã hội nhưng không xâmhạiđến quanhệxãhộimà pháp luật hình sựghi nhận vàbảo vệ thì không phải là tội phạm. Điều đó cũng đặt ra vấn đề đối với những hành vi xâmhạiđếnquanhệxãhộimà luật hìnhsựghi nhận và bảo vệcần được nghiên cứu để tội phạm hóa chúng thành tội phạm.

Khách thể loại của tội phạm là nhóm quan hệ xã hội trong một lĩnh vực của đời sốngxã hội có sự tươngđồngvề tính chất bị một nhóm tội phạm xâm phạm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho chúng. Khách thể loại của tội phạm là cơsởđểcóthểtiến hành phân loại tộiphạm thành các nhóm khác nhau. Kháchthểloại củatộiphạm cũng là cơsởđểnhận biết hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội thuộc nhóm tội phạm nào phục vụ cho việc định tội danh chính xác, trên cơsởđóáp dụng các biện pháp trách nhiệm hình sựđược chính xác.

Khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội bị một hành vi phạm tội xâm hại gây thiệt hại hoặc đe dọa trực tiếp gây thiệt hại cho nó. Khách thểtrực tiếp là cơ sở đểnhận biết hành vi phạmtội đãxảyra làtội phạm cụ thể

40

nào thuộc nhóm tội phạm nào đãđược quy địnhtại Phần các tội phạm của Bộluật hìnhsự.

Mối quan hệ giữa khách thể chung của tội phạm, khách thể loại của tội phạm và khách thể trực tiếp của tội phạm là mối quanhệgiữa cái chung, cái riêng và cái đơn nhất. Mối quan hệ này có ý nghĩa đối với việc định tội danh hành viphạm tội cụ thể đãxảy ra trên thực tế bắt đầu đi từ xác định khách thểchung, xácđịnh kháchthểloại và cuối cùng là xácđịnh khách thểtrực tiếp của tội phạm.

Như vậy, mỗi một tội phạm tham nhũng cụ thể đều xâmhại đếnkhách thểchung,đềuxâmhạiđếnkháchthểloạiđượcghi nhận tại chương XXIII Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và đều xâm hại đến một quanhệxãhộiđượcghi nhậntạichương này trongđiềuluật tương ứng vềmột tộicụthể. Nói cách khác,đối vớicáctộiphạmvềtham nhũng, ngoài khách thể chung, để có cơ sở cá biệt hóa TNHS thì vấn đề quan trọng là cần xác định khách thể loại và khách thể trực tiếp của các tội phạm đó.

Khách thểloạicủacáctộiphạmvềtham nhũng,đó là những quanhệxã hội, nhưđãnhấn mạnh, tạo nên nội dung hoạt độngđúngđắncủacác cơquan nhà nước, của các tổ chức trong xã hội, uy tín của các cơ quan, tổ chức đó,đặc biệt là uy tíncủa Đảngvốngiữvai trò lãnhđạo Nhànướcvà xã hội; quyền,lợiích hợp pháp củacá nhân, công dân. Xét vềmụcđíchtổchức vàhoạt độngcủa các cơ quan, tổ chức, có thể thấy rằnghoạt độngđúngđắn của các cơ quan,tổchức là hoạt độngphù hợp vớilợiích củaxã hội,củaNhànước,củacáctổchức, phù hợp vớiquyền,lợiích hợp pháp củacông dân. Tuy nhiên,đểđảmbảo tính khách quan, toàn diện khi nghiêncứukháchthểloại củatội phạmvềtham nhũng vấnđềquan trọng là cần hiểu cơ quan,tổchức không chỉ là các cơ quan nhà nước mà còn là các tổ chức xã hội, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xãhộinghề nghiệp vàmột sốtổ

41

chức kinh tế (ví dụ như: doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, doanh nghiệp cóvốn góp của nhà nước…). Bởi vì, ở nước ta, các tổ chức này đóng vai trò quan trọng trong thực hiệnđườnglốichính sáchcủaĐảng,pháp luật của Nhànước; thực hiện các nhiệmvụchính trị, kinh tếtheo chức năng, nhiệmvụđược giao và trong quá trìnhhoạt độngcũng có những cá nhân lợi dụng chức vụ, quyềnhạnvìvụlợi, làm mất uy tín của tổ chức, ảnhhưởngtrực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác (Ví dụ: các bịcáo trong một sốvụán hìnhsựđượcđưara xét xửgầnđâynhưvụVinashin,vụCông ty cho thuê tài chính ALCII, vụNgân hàngĐại dương-

Ocean Bank, vụ Ngân hàng Xây dựng Việt Nam…).

Vềmặt lý luận, kháchthểtrực tiếpcủamộttộiphạm tham nhũng làquan hệ xã hội bị một tội phạm tham nhũng cụ thể xâm hại trực tiếp gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho nó. Trong trường hợp hành vi cùng lúc xâm hại nhiều quan hệ xã hội thì để xác định khách thể trực tiếp của tội phạm, cần căn cứ vào mức độ quan trọng của quan hệ xã hội, mục đích phạm tội, mức độthiệt hạigây racủahành vi phạm tội. Vì vậy, theo quyđịnhtại mục1, Chương XXIII của BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì mỗi tội phạm cụ thể chỉ xâm phạmmột hoạt độngcụ thể trong một lĩnh vực cụ thể của các cơ quan, tổ chức nên việc xác định rõ ràng hoạt động đúng đắn nào bị xâm hại thìcầncăncứvào chức năng, nhiệmvụcủacơ quan,tổchức màngườicóhành vi phạm tội là thành viên.

2.1.2.2. Mặt khách quan của các tội phạm về tham nhũng

Vềmặt lý luận,mặtkhách quan củatội phạm làsựthểhiện ra bên ngoài củatội phạm bao gồm mộtloạt dấu hiệu như hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội dưới hình thức hành động và không hành động,hậu quảnguy hiểm cho xã hội, mối quan hệnhân quảgiữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quảnguy hiểm cho xãhộido hành vi đógây ra, thời

42

gian, địa điểm, hoàn cảnh, công cụ, thủ đoạn, phương tiện phạm tội… Cũng như cáctộiphạm khác,bấtkỳmộttộiphạm tham nhũng nào cũng có biểu hiệncủanó ra bên ngoàithếgiới khách quan.Điềuđó có nghĩa là không cóbiểu hiện ra bên ngoài,tứckhông có mặt khách quan, thì hành vi không cấu thành tội phạm. Đối với các tội phạm về tham nhũng, hành vi nguy hiểm cho xăhộilà hành vilợidụng chứcvụ,quyềnhạntrong khi thi hành côngvụ

(hànhđộnghoặc không hànhđộng)do ngườicó chứcvụ,quyềnhạnthực hiện.Điều này có nghĩa là các hành vi phạmtộivềtham nhũng phải có dấu hiệu “lợi dụng chức vụ, quyền hạn”,đó có thểlà trực tiếp lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để phạm tội hoặc có thể lợi dụngđịa vị côngtác hay uy tín,địavịdo công tác mà mình có đểphạmtộitrong phạm vi ngoài thẩm quyền côngvụcủamình (vídụnhư:lợidụng chứcvụ,quyềnhạngây ảnh hưởngđối vớingườikhácđểtrục lợi).Đồng thời,đểchứng minh hành vi phạmtộicủangườicó chứcvụ,quyềnhạn(hành độnghoặc không hành động),vấnđềquan trọng là phải làm rõ phạm vi chức năng, nhiệmvụđược giao; tính chất “làmtrái quyền hạn” trong thực hiện công vụ, nhiệm vụ được giao đểtừđó chứng minh rằng hành vi phạmtộiđãtrực tiếp hoặc gián tiếp cản trở hoạt độngđúng đắn, uy tín của các cơ quan, tổ chức, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Hậu quả nguy hiểm cho xã hội là cơ sở quan trọng để định tội danh vàcáthểhóa TNHS đốivớicáctộiphạmvềtham nhũng. Tuy nhiên,dấuhiệu hậu quả được quyđịnhtùy thuộc vào từng tội phạm cụ thể về tham nhũng vàđược đánh giá trên cơ sở hình thức lỗi, mức độ thiệt hại gây ra cho xã hội, cơquan,tổchức và quyền,lợiích hợp pháp củacông dân. Chẳng hạn:Đối với tội tham ô tài sản, theo Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, nếu hành vi tham ô tài sản chiếm đoạt tài sảntrịgiá từ 2.000.000đồngđến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưngđãbị xử lý

43

kỷ luật về hành vi hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong cáctộiquyđịnhtạiMục1 chương XXIII, chưađượcxóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt từ 2 đến 7 năm tù; nếu hành vi tham ô tài sản gây thiệt hại vềtàisản trịgiá từ 1000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng thì bị phạt tù từ 7 năm đến15 năm; nếu hành vi tham ô tài sản gây thiệt hạitừ3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm; nếu hành vi tham ô tàisản gây thiệt hại về tàisảntrị giá từ5.000.000.000 đồng trở lên thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của hầu hết cáctộiphạm về tham nhũng. Chỉ có một tội trongsốđó là

tội giả mạo trong công tác không có dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội làdấuhiệu bắt buộccủacấuthànhtộiphạm cơ bản.Đểxácđịnh rõ hậuquảnguy hiểm cho xã hội thì cần xem xét tính chất của hậu quả gây ra dưới hình thức vật chất (sốlượngtàisảnhaysốtiềnbịthất thoát) vàhậuquảphi vật chất (làm giảm uy tín,mấtlòng tinđốivớicơ quan,tổchức)…Hay nói cách khác, hậu quả gây ra là nghiêm trọng hay không được xem xét và đánh giá tùy vào tình tiết củamỗivụ án cụ thể(hình thức lỗi, tính chất nguy hiểm cho xãhội của hành vi phạm tội và thiệt hại cụ thể gây ra cho xã hội, cho cơ quan, tổchức, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân) mà BLHS không quy định tiêu chuẩn chung cho mọi trường hợp.

Mốiquanhệnhân quảgiữa hành vi phạm tộivớihậu quảdo hành vi phạm tội gây ra là dấuhiệu bắt buộc đốivới các tội phạm về tham nhũng cócấuthành vật chất,bởivì vềnguyêntắcvà theo logic thì hành vi phạm tội phải là nguyên nhân chính, nguyên nhân trực tiếp và có tính tất yếu làm phát sinhhậu quả. Điềunày cũng có nghĩa là nếu không xác định đượcmối quan hệnhân quảgiữa hành vi phạm tội củangười lợi dụng chứcvụ,quyền hạn và hậu quả của hành vi đó gây ra thì không thể truy cứu TNHScủa người đó

44

về tội phạm về tham nhũng và nếu làm ngược lại thì đồng nghĩa với việc làm oan người vô tội. Trên cơ sở nghiên cứu các quy định pháp luật và thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm về tham nhũng có thể thấy, mối quan hệnhân quả giữa hành vi phạm tội của người có chức vụ, quyền hạn với hậu quảcủahành vi đó gây ra rất đa dạng và phức tạp. Vì vậy, tùy vào cách tiếp cận có thểxácđịnhcó mốiquanhệnhânquảtrực tiếp, gián tiếp; mốiquanhệnhânquảđơngiản, phức tạp…Trongmặtkhách quancủacáctộiphạmvềtham nhũng, các dấu hiệu khác như thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, công cụ, thủ đoạn,phương tiện phạm tội…không phải là dấu hiệu bắt buộc (định tội) củatấtcảcác tội phạmvềtham nhũng.Mộttrong những dấu hiệu đó,nếu điều luật có quy định,chúng là dấu hiệu củacấuthành tội phạm tham nhũng. Chẳng hạn, dấu hiệu dùng thủđoạn xảoquyết, nguy hiểm là dấu hiệu của cấu thành tội phạm tăng nặng của các tội tham ô tài sản (Điều 353 BLHS năm 2015,sửađổi,bổsung năm 2017), tội lạm dụng chứcvụchức vụ,quyền hạn chiếm đoạttài sản (Điều 355 BLHS năm 2015,sửađổi,bổsung năm 2017), còn dấu hiệu đòihối lộ,sách nhiễu hoặc dùng thủđoạn xảoquyệt là dấu hiệu định khung tăng nặng củatội nhận hối lộ(Điều354 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2.1.2.3. Chủ thể của các tội phạm về tham nhũng

Lý luận luật hình sự Việt Nam hiện nay thừa nhận chủ thể của tội phạm tùy thuộc vào các loạitộiphạm, là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại. Ngoài cá nhân, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cũngđãquyđịnhchủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại. Các dấu hiệu của chủthểcủatộiphạm không nhiều, ngoài dấu hiệu là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại nhưđãnhấn mạnh, còn có dấu hiệu độ tuổi (đối với chủ thể là cánhân) năng lực trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, đối với các tội phạm về chức vụ,bởiyếu tốchứcvụ,quyền hạnvà lợi dụng chứcvụ,quyền hạn vìvụlợi

45

màchủthểcủacác tội phạmvềtham nhũng khôngthểlà pháp nhân thương mại. Điều đó có nghĩa là chủ thể của các tội phạm về tham nhũng là cá nhân. Tất nhiên, cũngbởicácyếutốgắnliềnvớichứcvụ,quyềnhạnvàlợidụng chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi mà chủ thể của các tội phạm về tham nhũng làngười từ đủ 16 tuổi trở lên (cố nhiên về nguyên tắc là người đã thành niên). Bởi là người có chứcvụ,quyền hạn, nên người đódĩ nhiên là có năng lực trách nhiệm hình sự,tứccókhảnăng nhận thức vàkhảnăng điều khiển hành vi của mình. Như vậy, đối với các tội phạm về tham nhũng, ngoài haiđiều kiện vềđộtuổi và năng lựcTNHS thì chủthểcủacác tội phạm vềtham nhũng phải là người có chứcvụ,quyền hạn. Chứcvụ,quyền hạn làdấu hiệu cơ bản đối với các tội phạm về tham nhũng, bởi vì không có chức vụhoặc quyền hạn thì không thểlợi dụng chứcvụ,quyền hạn đểvụlợi. Nhân đây cũng cần bàn sâu vềthếnào là người có chứcvụ,quyền hạn. Theo quy định tại khoản 3, Điều 1 Luật PCTN thì người có chức vụ, quyền hạn bao gồm 04 nhóm:

– Cán bộ, công chức, viên chức (Những ngườilà cánbộ,công chức được điều chỉnhtheo Luật Cán bộ, công chức năm 2008; những người là viên chức được điều chỉnhtheo Luật Viên chức năm 2010).

– Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơquan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân (Những người thuộc nhóm này được điều chỉnh theo Luật Quốc phòng vàLuật Công an nhân dân).

– Cán bộlãnhđạo,quản lý trong doanh nghiệpcủaNhànước;cán bộlãnhđạo,quản lý là người đại diện phần vốn gópcủaNhànướctại doanh nghiệp;

46

– Người đượcgiao thực hiện nhiệmvụ,công vụcó quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.

Còn theo quy định tại Điều 352 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì“Ngườicó chứcvụlàngườido bổnhiệm, do bầucử,do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện mộtnhiệmvụnhất định và có quyền hạn nhấtđịnh trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”. Vì vậy, dấu hiệu có ý nghĩa quyết địnhđể xácđịnh một người có chức vụ, quyền hạn là “tính chất chức năng, nhiệm vụ màngười đó thực hiện và quyền hạn người đó được thực hiện theo quy định pháp luật”.Để xác định người có chức vụ, quyền hạn thì có thể dựa vào chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức gồm ba nhóm cơ bản là: những người đại diện quyền lựcNhànước(ví dụnhư:Đại biểu Quốc hội; Kiểm sát viên, Thẩm phán..); những ngườicó chứcvụ,quyềnhạnliên quanđếnviệc thực hiện chức năng tổ chức, điều hành, quản lý hành chính trong các cơ quan, tổ chức

(vídụnhư:Cụctrưởng,Vụtrưởng, Viện trưởng, Trưởng phòng…); những ngườigiữchứcvụ,quyền hạn có liên quanđếnviệc thực hiện chức năng, nhiệm vụ tổ chức sản xuất, kinh doanh trong các cơ quan, tổ chức (ví dụ như: Giámđốc,Chủtịch Hộiđồngquản trị,Thủquỹ,Thủkho…). Tuy nhiên,đểxác định người có chức vụ, quyền hạn có phạm tội về tham nhũng hay không thì còn cần căn cứ vào những hành vi cụ thể theo pháp luật; quy chế quyđịnh vềthực hiện nhiệmvụ,quyền hạn; tính chất công việcđượcgiao thường xuyên haytạmthời … và đánh giá xemngườiđó có làm tráivớiquyền hạn được giao trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ hay không.

Bên cạnhđó,căncứcác quyđịnhpháp luật hiện hành thìchủthểcóchức vụ, quyền hạn được giao chỉ trở thành chủ thể của các tội phạm về tham nhũng khilợidụng chứcvụ,quyềnhạnđượcgiao thông qua các hành vi (hànhđộng hoặc không hànhđộng)tráivớicôngvụhay quy địnhcủapháp

47

luật để vụ lợi – lợi ích vật chất, tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đạt đượchoặc có thểđạt đượcthông qua hành vi tham nhũng (Điều 2, Luật PCTN). Vì vậy, khi chứng minh hành vi tham nhũng, cần lưu ý rằng lợiích vật chất, tinh thần có thể đãđạt được hoặc sẽ đạt được trong tươnglai (vídụnhư: tiền, tài sản, huy chương, bằng khen, và thậm chí là chứcvụđượcbổnhiệm) và mục đích vụ lợi không chỉ thể hiện ở việc chủ thể có hành vi tham nhũng đượchưởnglợimà có thểlàngườithân,ngườicó liên quan hay cơquan,tổchức,địaphươngcủachủthểthực hiện hành vi tham nhũng.Điều này cũng có nghĩa là nếu không chứng minh được có dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyềnhạn để thực hiệnhành vi trái côngvụ đượcgiao hay trái pháp luật đểvụlợi thì khôngthểcoi hành vicủangườicó chứcvụ,quyềnhạnlà tội phạm tham nhũng. Tuy vậy, cũng cầnphân biệt yếu tốlợidụng chức vụ, quyền hạn trong các tội phạm về tham nhũng và trong các tội phạm khác, bởi vìvớimột sốtộiphạm khác, việclợidụng chứcvụ,quyềnhạnđểphạm tội được coi là tình tiết tăng nặng theo Điều 52 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

2.1.2.4. Mặt chủ quan của các tội phạm về tham nhũng

Một điềuđãđượcthừa nhận chung là tộiphạm là một thểthống nhất giữa hai mặt khách quan và chủ quan của nó. Mặt khách quan của tội phạm lànhững biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm, mặt chủ quan là hoạt động tâm lí bên trongcủangườiphạmtội[66, tr.147]. Vì vậy, cũng như cáctộiphạm khác, các tội phạm về tham nhũng cũng có sự thống nhất giữa mặt khách quan vàmặt chủ quan của chúng. Mặt chủ quan của các tội phạm về tham nhũng có các dấu hiệu lỗi, động cơ phạm tội, mục đích phạm tội.

Trước hết cầnnhấn mạnh rằnglỗilà dấu hiệu bắt buộc của mọi tội phạm nói chung và của các tội phạm về tham nhũng nói riêng. Lỗi được coi là một trong nhữngcơ sở đểxem xét truy cứu TNHS đối với một cá nhân, bởi vì, theo nhận

48

thức chung thì lỗi là tháiđộtâm lýcủacon ngườiđối vớihành vi nguy hiểm cho xãhội củamình và đốivớihậu quả do hành viđó gây ra được biểu hiện dướihình thứccốýhoặc vô ý.Điềunày có nghĩa là hành vicủangườigây thiệt hạilàkếtquảcủasựtựlựachọncủahọtrong khi cóđủđiềukiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và xử sự khác nhau phù hợp với đòi hỏi của xã hội.

Đối với các tội phạm về tham nhũng, do đặc trưng cơ bản của chủ thểlà người có chức vụ, quyền hạn, mặt khác là việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi là vì vụ lợi, nên các tội phạm về tham nhũng có dấu hiệu lỗi cố ý, vì chính người có chức vụ, quyền hạn đều nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội củahành vi lợidụng chứcvụ,quyềnhạncủamình,tứclànhận thức được tính trái công vụ, nhiệm vụ của hành vi sẽ xâm hại lợi ích của Nhànước,củaxãhộivàcủacá nhân,củacông dân,đồng thời thấy trước đượchậu quả củahành viđó và mong muốn hoặc có ý thức đểmặchậu quảđó xảy ra.

Động cơ phạm tội được hiểu là động lực thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý, do đó, với các tội phạm về tham nhũng, người thực hiện hành viphạm tội đều thể hiện rõ độngcơ vụ lợi hay động cơcá nhân khác. Đó có thể là mong muốn thu lợi bất chính được thể hiện qua lợi ích vật chất hay lợi ích phi vật chất hoặc lợi ích cá nhân khác (như giúp chạy

án, giúp nâng điểm thi…). Mục đích của người phạm tội được thể hiện qua ý thức chủ quan về kết quả đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội, do đó,đối với các tội phạm tham nhũng,mụcđích củangười phạm tội làmong muốnđạtđượctiền, tàisảnhoặclợiích vật chất (hoặc phi vật chất) khác do độngcơ vụlợi cá nhân. Ví dụ như mục đích chiếm đoạt tiền, tài sản thểhiện rõ đối với tộitham ô tài sản,tộinhậnhốilộ, tộilạmdụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng

đốivớingườikhácđểtrụclợi…Do vậy,động cơvụlợivàmụcđích chiếm

49

đoạt tài sản hoặc lợi ích khác là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của các tội phạm về tham nhũng.

Như vậy, việc xácđịnh và chứng minh đượcđộng cơ,mụcđích của ngườiphạmtộicó ýnghĩa quan trọng trong việc truycứuTNHS, tuy nhiên đốivớitừng tộiphạmvềtham nhũng cụthểthì cầnphải xem xét toàn diện động cơ,mụcđích trongmốiquan hệbiện chứng với yếutốlỗiđểtừđó chứng minh ngườiphạmtộicó nhận thứcđượchành vicủamình là trái với côngvụ,lợiích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, công dân hay không. Ví dụnhư: nếu không chứng minh được người phạm tội nhận thức được hành vi cốý làm trái với công vụ, trái với quyền, lợi ích của công dân thì cũng khôngthểtruycứu người đó về tội lợi dụngchức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ hay tội lạm quyền trong khi thi hành côngvụ.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

Các tội phạm về tham nhũng theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Các tội phạm về tham nhũng theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\CÁC TỘI PHẠM VỀ THAM NHŨNG THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *