Các yếu tố tác động đến quyết định chấp nhận duy trì khách hàng của các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam

Các yếu tố tác động đến quyết định chấp nhận duy trì khách hàng của các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam

CHƯƠNG 1: TÍNH CẤP THIẾT VÀ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Tính cấp thiết của vấn đề và lí do chọn chủ đề

“Trong một nền kinh tế nếu doanh nghiệp được coi như là các động cơ thì kiểm toán có thể coi như các bộ phanh, thiếu một trong hai bộ phận trên, nền kinh tế sẽ không hoạt động hiệu quả” . Các công ty bắt buộc yêu cầu kiểm toán thường là các công ty đại chúng, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, công ty tham gia hoạt động ngân hàng, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài… Do kiểm toán là bên trung gian đảm bảo sự công bằng, lợi ích của các bên như đảm bảo độ tin cậy của các báo cáo tài chính cho các cổ đông, đối với các công ty khách hàng, kiểm toán đóng vai trò cải thiện kiểm soát nội bộ và hệ thống trong công ty.Vai trò của kiểm toán rất quan trọng trong nền kinh tế, nên các kiểm toán viên phải đảm bảo các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp của mình (VSA 200). Vì công ty kiểm toán độc lập chịu nhiều trách nhiệm liên quan đến đảm bảo tính minh bạch của công ty khách hàng và nhiều vấn đề khác, nên công ty kiểm toán luôn cân nhắc chọn lọc khách hàng, quản lý danh mục khách hàng thông qua quyết định chấp nhận và duy trì khách hàng của mình. Quyết định chấp nhận hay duy trì khách hàng quan trọng bởi vì nó có thể ảnh hưởng đến doanh thu của công ty, không những vậy công ty kiểm toán đối diện với rủi ro kiểm toán và rủi ro tài chính tiềm tàng với bất kỳ khách hàng nào, một khi rủi ro xảy ra, công ty kiểm toán sẽ chịu nhiều tổn thất, đặc biệt với công ty kiểm toán lớn, chịu thiệt hại qua kiện tụng và mất đi danh tiếng, hay thậm chí là ngừng hoạt động như vụ kiện Eron (The New York Times, 2002), Trong những thời điểm xuất hiện những vụ kiện tụng lớn như sự kiện Eron, ảnh hưởng toàn ngành kiểm toán, các kiểm toán tái cân bằng lại danh sách khách hàng của mình, những công ty kiểm toán nhạy cảm hơn đối với rủi ro khách hàng dịch chuyển từ công ty kiểm toán lớn xuống các công ty kiểm toán lớn khác hoặc nhỏ hơn . Vụ truy tố trách nhiệm của 3 công ty kiểm toán trong sự việc Vạn Thịnh Phát – SCB . Quyết định chấp nhận duy trì khách hàng là bước đầu quan trọng để công ty kiểm toán có thể kiểm soát rủi ro của mình, tránh kiện tụng và bảo vệ danh tiếng. Chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động quyết định chấp nhận khách hàng và duy trì khách hàng của các công ty kiểm toán. Đồng thời, bài nghiên cứu cũng mở rộng sự thay đổi trong tác động của các yếu tố ảnh hưởng quyết định chấp nhận và tiếp tục khách hàng trước và sau thời kỳ covid 19.

Dù đã có những hướng dẫn cụ thể về tiêu chuẩn chất lượng nghề nghiệp, như chỉ dẫn của (AICPA, VSQC1) về quyết định tiếp tục khách hàng, Nhưng các kiểm toán viên có thể diễn dịch khác nhau tủy theo ngữ cảnh, các hướng dẫn chỉ là các nguyên lý cơ sở và không đóng góp nhiều trong quá trình đưa ra quyết định chấp nhận, duy trì khách hàng của kiểm toán viên. Đã có nhiều bài nghiên cứu trước đây về quyết định tiếp tục khách hàng, chấp nhận, hay từ bỏ khách hàng, công ty kiểm toán phải cân nhắc giữa rủi ro và lợi ích kinh tế nhận được, sự lựa chọn này sẽ tùy thuộc vào chiến lược quản lý danh mục khách hàng của công ty, tình hình kinh tế và xem xét, đánh giá của kiểm toán về các công ty khách hàng (Johnstone, 2000) có ba rủi ro chính mà công ty kiểm toán cân nhắc trước khi đưa ra quyết định, là rủi ro công ty khách hàng, rủi ro công ty kiểm toán và rủi ro kinh doanh của công ty kiểm toán .(Asare và cộng sự, 1994) Tuy nhiên, quyết định chấp nhận khách hàng khá dễ dàng, các partner có xu hướng chấp nhận khách hàng vì bác bỏ một khách hàng tiềm năng là lựa chọn khó khăn đối với nhiều người. Trong một số công ty, chấp nhận khách hàng thành công là một tiêu chí thường được sử dụng để đánh giá khả năng thăng tiến của người quản lý để xác định phần chia lợi nhuận của partner. (Francis và Reynolds, 2002) các công ty kiểm toán không từ chối tất cả khách hàng của mình dù không phù hợp với mục tiêu của công ty kiểm toán. Họ chỉ chủ sẽ phân biệt và đưa vào mục khách hàng ít hấp dẫn để từ chối khỏi danh mục khách hàng họ sẽ tiếp tục cung cấp dịch vụ. Chúng tôi nhận thấy rằng những vụ việc vừa qua như vụ kiện tụng liên quan đến sự sụp đổ của Evergrande, PwC vướng vào bê bối khai khống 78 tỷ USD doanh thu tại Trung Quốc, tại Việt Nam vụ bê bối Vạn Thịnh Phát và SCB, đã gây thất thoát gần 764,000 tỷ đồng. Tuy tổng số thiệt hại không lớn như vụ kiện Eron hay Evergrande, nhưng xét về quy mô, thì thiệt hại mà nó ảnh hưởng lên tổng thể nền kinh tế Việt Nam là vô cùng đáng kể, có thể xem là một vụ Eron thứ 2 tại Việt Nam. (Papadopoulou, S. 2023) cho thấy rằng đại dịch Covid cũng có tác động tiêu cực lên quá trình ra quyết định chấp nhận khách hàng và có tác động tích cực đến quyết định tiếp tục khách hàng, qua dữ liệu câu hỏi có cấu trúc và giả thuyết tham số, phân tích hồi quy dữ liệu. Qua nhiều biến cố và thay đổi từ môi trường, chúng tôi muốn tìm hiểu sự chuyển dịch và liệu có sự thay đổi nào về các tác động của các yếu tố duy trì khách hàng công ty kiểm toán tại Việt Nam hay không.

Xuất phát từ những thông tin nêu trên, bài nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến quyết định chấp nhận, duy trì khách hàng của các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam”. Bởi vì có những chuyển biến và thay đổi về môi trường được đề cập ở trên, từ đó chúng tôi rút ra được kết luận liệu có sự thay đổi nào về các yếu tố tác động lên quyết định chấp nhận, duy trì khách hàng kiểm toán của công ty kiểm toán.

1.2 Câu hỏi nghiên cứu:

Những yếu tố nào tác động lên quyết định chấp nhận và duy trì khách hàng kiểm toán ?

Tình hình chấp nhận và duy trì khách hàng kiểm toán của công ty kiểm toán những năm gần đây?

Có sự khác biệt nào về các yếu tố tác động lên quyết định chấp nhận và duy trì khách hàng kiểm toán trước và sau thời kỳ Covid hay không?

Covid đã ảnh hưởng đến các yếu tố ảnh hưởng quyết định chấp nhận và duy trì khách hàng như thế nào?

Làm thế nào để đảm bảo tính rủi ro thấp khi đưa ra quyết định chấp nhận và tiếp tục khách hàng?

1.3 Mục tiêu nghiên cứu:

1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát:

Mục tiêu nghiên cứu trước hết của chúng tôi trước hết là nghiên cứu, kiểm tra các yếu tố tác động lên quyết định chấp nhận và duy trì khách hàng của các công ty kiểm toán tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2017 – 2023. Các công ty mà chúng tôi kiểm tra phần lớn là các công ty đại chúng, được công bố trên sàn chứng khoán HOSE và HNX.

1.3.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

Đầu tiên, chúng tôi nghiên cứu các lý thuyết nền tảng phía sau các quyết định được đưa ra bởi công ty kiểm toán, bao gồm lý thuyết ra quyết định, lý thuyết quản trị rủi ro, và các bộ luật và tiêu chuẩn, hướng dẫn nghề nghiệp về việc chấp nhận và tiếp tục khách hàng. Các thông tin sẽ được xâu chuỗi và cho thấy sự liên hệ và tác động giữa chúng.

Thứ hai, chúng tôi xây dựng cơ sở lý thuyết theo phương pháp quy nạp dựa trên dữ liệu của các bài nghiên cứu trước và phát triển giả thuyết; được dùng trong nghiên cứu định lượng.Tìm ra mô hình và các biến phù hợp cho nghiên cứu, xem xét liệu có những yếu tố nào đã được đa số chứng minh là có tác động lên quyết định chấp nhận và duy trì khách hàng, yếu tố nào đã bị bác bỏ, hoặc có sự mâu thuẫn về kết quả của các nhà nghiên cứu. Chúng tôi cũng xem xét về khu vực địa lý, thời điểm, ngữ cảnh cụ thể mà các nghiên cứu trước đã diễn ra để cân nhắc các yếu tố phù hợp với bài nghiên cứu chúng tôi đang thực hiện tại thời điểm hiện tại và môi trường pháp lý tại Việt Nam.

Thứ ba, chúng tôi thực hiện đo lường mô hình, bằng cách thu thập dữ liệu. Chúng tôi so sánh tác động của các yếu tố trước và sau thời kỳ Covid, đưa ra dự đoán về các yếu tố môi trường đã có ảnh hưởng lên các yếu tố nào dẫn đến sự thay đổi trong việc quyết định chấp nhận và duy trì khách hàng kiểm toán.

Các yếu tố tác động đến quyết định chấp nhận duy trì khách hàng của các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam
Các yếu tố tác động đến quyết định chấp nhận duy trì khách hàng của các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

  • Các biến độc lập, có tác động lên quyết định chấp nhận và duy trì khách hàng như rủi ro kiểm toán (AUDR), rủi ro tài chính của công ty kiểm toán (FINR) và rủi ro kinh doanh của công ty khách hàng kiểm toán (BUS) , các biến được đo lường bởi dữ liệu thu thập từ các báo cáo tài chính của công ty khách hàng, trên trang thông tin chính phủ.
  • Các biến phụ thuộc như: Biến chấp nhận, duy trì khách hàng (AC)
  • Biến kiểm soát: Quy mô khách hàng kiểm toán (FIRMSIZE)

1.4.2 Phạm vi nghiên nghiên cứu:

Phạm vi về không gian: Bao gồm các công ty kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán cho các công ty niêm yết trên HOSE và HNX, tại Việt Nam.

Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu thu thập dữ liệu trong khoảng thời gian 7 năm từ năm 2017-2023. Trong đó khoảng thời gian tiền Covid là từ (2017-2019) và hậu Covid là (2020-2023).

1.5 Phương pháp nghiên cứu:

Sử dụng mô hình hồi quy binary logistic và mô hình Zscore

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

1.6.1 Ý nghĩa khoa học:

Kết quả của cuộc nghiên cứu sẽ làm vững chắc thêm cho cơ sở lý luận và nội dung cơ sở cho các nghiên cứu liên quan, những dữ liệu thu được từ bài nghiên cứu giúp củng cố sự chắc chắn về vấn đề mà những người thực hiện nghiên cứu khác liên quan chú ý đến. Bên cạnh đó, kết quả của nghiên cứu cũng đóng góp một phần nào cho các khoảng trống còn thiếu lý lẽ, đưa ra những phát hiện mới về vấn đề được nghiên cứu.

1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Mục đích cốt lõi của nghiên cứu là kiểm tra các yếu tố tác động lên quyết định chấp nhận và duy trì khách hàng của các công ty kiểm toán tại Việt Nam

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

2.1 Những lý luận cơ bản

2.1.1 Một số khái niệm nền tảng

Nhận xét về quyết định chấp nhận và duy trì khách hàng

Quyết định chấp nhận và duy trì khách hàng giống nhau về mặt quy định, hai quyết định này cũng không được phân biệt bởi các cơ quan quản lý của Canada và Hoa Kỳ (ví dụ: Tuyên bố về Kiểm soát Chất lượng, tiêu chuẩn 2 và 4 ở Hoa Kỳ và CSQC-1, Kiểm soát Chất lượng đối với các Công ty Thực hiện Kiểm toán và Đánh giá Báo cáo Tài chính, và các cam kết đảm bảo khác, ở Canada). Quyết định duy trì và chấp nhận khách hàng đều giống nhau. Cả hai đều yêu cầu kiểm toán viên đánh giá khách hàng kiểm toán và sau đó quyết định có cung cấp dịch vụ kiểm toán cho khách hàng đó hay không. Asare et al., 1994, Schroeder và Verrault, 1987; Huss và Jacobs, 1991. Hay nói cách khác, tiếp tục khách hàng kiểm toán khi công ty khách hàng tiếp tục đáp ứng các tiêu chí chấp nhận được kiểm toán viên đưa ra quyết định tiếp tục hợp đồng thêm một năm.

Về sự khác nhau, quyết định chấp nhận khách hàng liên quan đến khách hàng mới trong khi quyết định tiếp tục khách hàng liên quan đến khách hàng hiện tại. Thứ hai là nguồn thông tin thu thập để đưa ra hai loại quyết định có sự khác biệt. (Asare và Knechel, 1995)

Quyết định chấp nhận khách hàng: Là quyết định liệu có chấp nhận khách hàng kiểm toán tiềm năng sau khi khách hàng tiềm năng đã qua các quy trình và các bước đánh giá bởi công ty cung cấp dịch vụ kiểm toán. Mục đích của việc chấp nhận và chính sách duy trì khách hàng để các công ty có thể xác định rủi ro liên quan đến các dịch vụ cung cấp đến mỗi khách hàng. Journal of Accountant (2020), Basioudis, (2002).Tuy nhiên, quyết định chấp nhận khách hàng vẫn là một quá trình phức tạp và chủ quan, phụ thuộc vào bản năng và phán đoán của công ty kiểm toán

Quyết định duy trì khách hàng: Khái niệm tiếp tục duy trì khách hàng chỉ áp dụng cho những khách hàng đã được kiểm toán trước đó, không phải là khách hàng mới. Quá trình quyết định duy trì khách hàng bao gồm tiếp tục đánh giá khách hàng hiện tại và quyết định liệu có tiếp tục cung cấp dịch vụ kiểm toán cho khách hàng nữa hay không. Shu (2000), Johnstone và Bedard (2004)

Ba vấn đề chính mà kiểm toán viên cân nhắc khi quyết định tiếp tục mối quan hệ nghề nghiệp là:

1. Những thay đổi về hoàn cảnh khách hàng có liên quan đến các vấn đề được xem xét trong quá trình phân tích chấp nhận,

2. Kết quả kiểm toán và tình trạng quan hệ khách hàng,

3. Lợi nhuận thực tế nhận được trong kỳ kiểm toán trước.

Rủi ro kinh doanh của công ty khách hàng: Là rủi ro tình hình kinh tế của khách hàng sẽ trở nên tồi tệ trong trung hạn hay dài hạn, được đo lường bởi lợi nhuận và tính thanh khoản, môi trường kinh doanh của khách hàng… (Colbert và cộng sự 1996: 54). Rủi ro kinh doanh của công ty khách hàng là kết quả của các điều kiện, sự kiện quan trọng các

tình huống, hành động hoặc việc không hành động có thể ảnh hưởng bất lợi đến khả năng của đơn vị trong việc đạt được mục tiêu và thực hiện các chiến lược của mình hoặc do việc thiết lập các mục tiêu và chiến lược không phù hợp. (điều 4 ISA 315 (2019). Colbert và cộng sự (1996) đã liệt kê các dấu hiệu cho thấy khách hàng có thể có rủi ro kinh doanh như:

– Khách hàng là công ty niêm yết.

-Khách hàng có sự thay đổi liên tục về công ty kiểm toán.

– Khách hàng có dấu hiệu của vi phạm tính hoạt động liên tục hoặc sự gian lận của nhà quản lý.

– Trong năm xuất hiện mua, hợp nhất hay bán lại trái phiếu trong ngành.

Trong ISA 315 (2019), tại A37-38 cho rằng rủi ro kinh doanh của công ty của khách hàng sẽ được biểu thị trên báo cáo tài chính. Tuy nhiên phần lớn các công ty kiểm toán không thể kiểm tra chính xác được rủi ro kinh doanh của công ty khách hàng bởi vì phần lớn rủi ro này đến từ việc sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính. Rủi ro kinh doanh bao hàm cả sai sót trọng yếu của báo cáo tài chính, mặc dù là hệ quả của nó. Rủi ro kinh doanh có thể thay đổi bởi nhiều biến số. Khi thất bại trong việc nhận ra sự thay đổi cũng làm tăng rủi ro kinh doanh như:

  • Sự phát triển của sản phẩm hoặc dịch vụ mới mà có thể sẽ thất bại
  • Thị trường đã phát trển thành công trước đó, sẽ không đủ để hỗ trợ đẩy mạnh sản phẩm và dịch vụ
  • Các lỗi của sản phẩm hoặc dịch vụ có thể dẫn đến rủi ro về nợ hoặc danh tiếng.

Trong A 39 tại điều luật này đưa ra các ví dụ của các vấn đề như mục tiêu, chiến lược và rủi ro kinh doanh của đơn vị có thể dẫn đến rủi ro trọng yếu trên bảng báo cáo tài chính mà kiểm toán viên có thể thu thập:

– Sự phát triển của ngành công nghiệp ( là một yếu tố tiềm tàng có thể liên quan đến rủi ro kinh doanh, ví dụ công ty không có nhân sự hoặc chuyên môn để đối phó với những thay đổi trong ngành)

– Các sản phẩm và dịch vụ mới (ví dụ: rủi ro kinh doanh tiềm ẩn liên quan có thể là trách nhiệm pháp lý đối với sản phẩm tăng lên).

– Mở rộng kinh doanh (ví dụ: rủi ro kinh doanh tiềm ẩn liên quan có thể là nhu cầu chưa được ước tính chính xác).

– Các yêu cầu kế toán mới (ví dụ: rủi ro kinh doanh tiềm ẩn liên quan có thể là việc thực hiện không đầy đủ hoặc không đúng cách hoặc chi phí tăng lên).

– Các yêu cầu pháp lý (ví dụ: rủi ro kinh doanh tiềm ẩn liên quan có thể là rủi ro pháp lý tăng lên).

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024/ Các yếu tố tác động đến quyết định chấp nhận, duy trì khách hàng của các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *