Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Đồng Hới
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình cũng như Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Hới cũng đã đề ra phương hướng thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh và thành phố. Một trong những phương hướng chủ yếu là phát triển các doanh nghiệp có qui mô nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh, mà Đồng Hới là địa bàn được ưu tiên nhất.
Đồng Hới là đầu mối giao thương, là trung tâm kinh tế, kỹ thuật, văn hóa, xã hội của tỉnh Quảng Bình. Thêm vào đó, vị trí địa lý đã ưu đãi cho Đồng Hới điều kiện tự nhiên phong phú, tạo nhiều lợi thế và tiềm năng để phát triển các doanh nghiệp. Trong những năm qua, sự phát triển kinh tế của Đồng Hới mang lại cơ hội cho tất cả các doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Sự phát triển của các doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của Đồng Hới.
Sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thành phố Đồng Hới hiện nay chưa tương xứng với điều kiện và tiềm năng hiện có, nhiều doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không có lãi, thậm chí một số doanh nghiệp còn bị thua lỗ, phá sản. Việc tìm ra phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa là việc làm cấp thiết và có ý nghĩa to lớn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Đồng Hới nói riêng, của tỉnh Quảng Bình nói chung.
Xuất phát từ thực trạng trên, tôi đã chọn đề tài “Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình” để làm luận văn tốt nghiệp cao học.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở thành phố Đồng Hới, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế trên địa bàn và tỉnh Quảng Bình.
Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá những vấn đề mang tính lý luận chung về DNNVV.
- Đánh giá thực trạng phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Đồng Hới.
- Đề xuất phương hướng và đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển các DNNVV trên địa bàn thành phố Đồng Hới từ nay đến năm 2020.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến phát triển các DNNVV trên địa bàn thành phố Đồng Hới.
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Đồng Hới. Xem xét những yếu tố có liên quan đến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ( nguồn lực lao động, vốn, khoa học – công nghệ, tài nguyên môi trường, cơ chế chính sách và tổ chức quản lý…) và việc sử dụng các nguồn đó trên quan điểm tiết kiệm, hiệu quả.
Về không gian
Nghiên cứu các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang hoạt động trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
Về thời gian
Luận văn nghiên cứu thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa từ năm 2020-2022; trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu để phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa từ nay đến năm 2020.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận
Phương pháp luận cơ bản được sử dụng trong quá trình triển khai đề tài là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, theo đó mọi sự vật và hiện tượng nghiên cứu đều nằm trong mối quan hệ biện chứng, không ngừng vận động biến đổi và hoàn thiện. Điều này phù hợp với nguyên tắc quan trọng trong quản trị chiến lược là mọi quyết định phải được đặt trọng một bối cảnh thị trường nhất định cả về không gian và thời gian.
Song song với phương pháp luận duy vật biện chứng, những phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng hợp lý bao gồm: các phương pháp phân tích thống kê, so sánh đối chiếu giữa các yếu tố trong mối quan hệ với thời gian, các phương pháp phân tích chiến lược dựa trên các mô hình được sử dụng rộng rãi, các phương pháp suy luận lô-gic và các phương pháp khác.
Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp: chủ yếu dựa vào các tài liệu như: Niên giám thống kê Quảng Bình, Niên giám thống kê thành phố Đồng Hới, các văn bản của liên quan đến DNNVV, các tạp chí chuyên ngành, mạng internet, Website của hội DNNVV và các DNNVV trên địa bàn v.v…
- Thu thập số liệu sơ cấp: thu thập bằng cách thông qua một cuộc điều tra sử dụng bảng câu hỏi bao gồm một danh mục các số liệu về DN, các yếu tố thành công, hiệu quả sản xuất kinh doanh và những khó khăn vướng mắc của các DNNVV.
Về lựa chọn mẫu điều tra, tác giả đã lựa chọn ngẫu nhiên các doanh nghiệp 03 tiêu chí: Số năm hoạt động của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động và loại hình doanh nghiệp. Phương pháp chọn mẫu của cuộc điều tra này là phương pháp chọn mẫu có phân loại; trên cơ sở danh sách DNNVV (không kể hộ kinh doanh cá thể) được tổng hợp từ Phòng đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Bình, Cục Thống kê Quảng Bình và Cục Thuế tỉnh Quảng Bình; mẫu điều tra được chọn có kích thước mẫu là 43 doanh nghiệp trên địa bàn. Cơ cấu mẫu điều tra gồm: Nếu chia theo loại hình thì mẫu điều tra gồm 8 doanh nghiệp tư nhân, 30 công ty trách nhiệm hữu hạn và 5 công ty cổ phần. Nếu chia theo lĩnh vực hoạt động thì sản xuất có 5 doanh nghiệp, xây dựng có 17 doanh nghiệp, thương mại- dịch vụ có 21 doanh nghiệp. Cơ cấu mẫu như vậy nhằm đảm bảo tính chất đại diện của mẫu điều tra.
Phương pháp tiến hành khảo sát điều tra là tiếp cận trực tiếp các DNNVV trên địa bàn. Sau khi mẫu điều tra đã được xác định với các doanh nghiệp đã lựa chọn, tiến hành phỏng vấn và điều tra các thông tin cần thiết theo phiếu điều tra doanh nghiệp đã xây dựng sẵn.
Kết quả điều tra là cơ sở hữu ích giúp cho đề tài có thêm chứng cứ khoa học khi đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp phát triển DNNVV hiện nay trên địa bàn.

Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, dùng các chỉ số tương đối, số tuyệt đối và số bình quân để phân tích đánh giá sự biến động cũng như mối quan hệ giữa các hiện tượng.
Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài củng cố thêm về mặt lý thuyết các nội dung về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung. Đồng thời qua đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển DNNVV trên địa bàn Tp Đồng hới, đề tài sẽ phần nào
giúp các DNNVV phát huy tốt mọi nguồn lực và tự hoàn thiện để đạt hiệu quả trong SXKD, giúp chính quyền thành phố Đồng hới có tầm nhìn và giải pháp chiến lược về phát triển DNNVV, từ đó phát triển kinh tế – xã hội ngày càng vững chắc hơn.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Khái niệm doanh nghiệp
Quá trình hình thành và phát triển kinh tế của bất cứ một quốc gia nào trên thế giới cũng đều cần có nền tảng của nó. Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế cơ sở, là tế bào của nền kinh tế, là nơi kết hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý để tạo ra sản phẩm dịch vụ có hiệu quả cao và tạo ra của cải vật chất cho xã hội.
Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh; đó là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.[14]
Trên quan điểm nhà tổ chức, người ta cho rằng: Doanh nghiệp là một tổng thể các phương tiện, máy móc thiết bị và nhân lực được tổ chức lại nhằm thực hiện một mục đích [16]. Mục đích được đề cập ở đây là làm lợi vốn đầu tư, làm lợi cho công nhân viên và đảm bảo sự phát triển trong tương lai. Quan điểm này chỉ mới đề cập các yếu tố đầu vào và mục đích cần đạt được, chưa nêu lên được các chức năng, các mối quan hệ trong quá trình hoạt động kinh doanh. Vì đạt được mục đích làm lợi vốn đầu tư, doanh nghiệp cần phải có sự kết hợp giữa các yếu tố đầu vào theo từng chức năng để đạt hiệu quả như mong muốn.
Trên quan điểm lý thuyết hệ thống: Doanh nghiệp là một bộ phận hợp thành trong hệ thống kinh tế, mỗi đơn vị trong hệ thống đó phải chịu sự tác
động tương hỗ lẫn nhau, phải tuân thủ những điều kiện hoạt động mà Nhà nước đặt ra cho hệ thống kinh tế đó, nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng của xã hội [16] .
Quan điểm này chỉ mới mô tả rất tổng quát, chưa nêu lên được chức năng, nhiệm vụ và vị trí cũng như tính pháp lý của doanh nghiệp.
Việc đưa ra một khái niệm chuẩn xác về DN có ý nghĩa rất quan trọng đối với các quốc gia trên thế giới; bởi đó là cơ sở để xác định cơ chế quản lý với những chính sách ưu tiên thích hợp và xây dựng cơ cấu tổ chức, quản lý hiệu quả đối với hệ thống các doanh nghiệp này. Tuy nhiên, không có tiêu thức thống nhất để phân loại DNNVV cho tất cả các nước vì điều kiện kinh tế
- xã hội của mỗi nước không giống nhau, thậm chí ngay trong một nước sự phân loại cũng khác nhau tuỳ theo từng thời kỳ, từng ngành nghề, từng vùng lãnh thổ.
DNNVV không chỉ là phạm trù phản ánh độ lớn của doanh nghiệp, mà còn là một phạm trù bao hàm nội dung tổng hợp về kinh tế, tổ chức sản xuất, quản lý, tiến bộ khoa học công nghệ [10]. Vì vậy, có nhiều quan điểm khác nhau về DNNVV; các quan điểm đó thay đổi theo từng thời điểm khác nhau của mỗi quốc gia, mỗi ngành, địa phương. Sự khác nhau đó chủ yếu là do tiêu chí dùng để đánh giá quy mô DNNVV và lượng hoá từng chỉ tiêu cụ thể đó là bao nhiêu.
Khái niệm, tiêu chí phân loại DNNVV
Nhóm tiêu chí định tính
Nhóm tiêu chí này dựa trên những đặc trưng cơ bản của các DNNVV như: trình độ chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp,… Sử dụng nhóm tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề, nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó, nhóm
tiêu chí này thường được dùng làm cơ sở để tham khảo, kiểm chứng chứ ít
được sử dụng để xác định quy mô doanh nghiệp.
Nhóm tiêu chí định lượng
Được xây dựng trên tiêu chí các chỉ tiêu như số lượng lao động, tổng giá trị tài sản (hay tổng vốn), doanh thu hoặc lợi nhuận của doanh nghiệp. Số lao động có thể là số lao động trung bình trong danh sách hoặc số lao động thường xuyên thực tế của doanh nghiệp. Tài sản hoặc vốn có thể bao gồm tổng giá trị tài sản (hay vốn) cố định hoặc giá trị tài sản (hay vốn) còn lại của doanh nghiệp.
Các tiêu chí định lượng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc xác định quy mô doanh nghiệp. Vào những thời điểm khác nhau các tiêu chí này rất khác nhau giữa các ngành nghề mặc dù chúng vẫn có những yếu tố chung nhất định.
Đối với đa phần các quốc gia phát triển (Mỹ, Pháp, Nhật), những doanh nghiệp có số lao động từ 500 trở xuống thì được coi là có quy mô nhỏ và vừa, trong số đó những doanh nghiệp có số lao động 200 trở xuống được coi là doanh nghiệp nhỏ.
Các cách định nghĩa này cũng chỉ mang tính chất tương đối. Dựa theo quy mô có thể phân loại doanh nghiệp thành doanh nghiệp có quy mô lớn, nhỏ và vừa. Trong đó, việc xác định các tiêu chí và định mức để đánh giá quy mô của một DNNVV có sự khác biệt ở các quốc gia trên thế giới. Ngay trong cùng một quốc gia, những tiêu chí này cũng có thể được thay đổi theo thời gian vì sự phát triển của doanh nghiệp, đặc điểm nền kinh tế hay tốc độ phát triển kinh tế của quốc gia đó, tính đặc thù của từng lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh; mục đích phân định, mục tiêu của từng chính sách kinh tế, chương trình trợ giúp của mỗi quốc gia… Tuy nhiên, các tiêu chí phổ biến nhất được nhiều quốc gia sử dụng là: số lượng lao động bình quân mà doanh
nghiệp sử dụng trong năm, tổng mức vốn đầu tư của doanh nghiệp, tổng doanh thu hàng năm của doanh nghiệp (Bảng 1.1).
Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNNVV của một số quốc gia và khu vực
| Quốc gia/ khu vực | Phân loại DNNVV | Số lao động bình quân | Vốn đầu tư | Doanh thu |
| NHÓM CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN | ||||
| 1. Hoa kỳ | Nhỏ và vừa | 0 – 500 | Không quy định | Không quy định |
| 2. Nhật | – Đối với ngành | 1 – 300 | ¥ 0 – 300 triệu | Không quy định |
| sản xuất | ¥ 0 – 100 triệu | |||
| – Đối với ngành | 1 – 100 | ¥ 0 – 50 triệu | ||
| TM | ||||
| – Đối với ngành | 1 – 100 | |||
| DV | ||||
| 3. EU | Siêu nhỏ | <10 | Không quy | Không quy định |
| định | ||||
| Nhỏ | <50 | < € 7 triệu | ||
| Vừa | <250 | < € 27 triệu | ||
| 4. Australia | Nhỏ và vừa | <200 | Không quy định | Không quy định |
| 5. Canada | Nhỏ | <100 | Không quy | <CDN$ 5 triệu |
| định | ||||
| Vừa | <500 | CDN$ 5-20triệu | ||
| 6. New Zealand | Nhỏ và vừa | <50 | Không quy định | Không quy định |
| 7. Korea | Nhỏ và vừa | <300 | Không quy định | Không quy định |
| 8. Taiwan | Nhỏ và vừa | <200 | <NT$ 80triệu | <NT$ 100triệu |
| B. NHÓM CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN | ||||
| 1. Thái Lan | Nhỏ và vừa | Không quy định | Baht 200 triệu | Không quy định |
| 2. Malaysia | Đối với ngành sản xuất | 0 – 150 | Không quy định | RM 0 – 25 triệu |
| 3. Philippine | Nhỏ và vừa | <200 | Peso 1,5-60 triệu | Không quy định |
| 4. Indonesia | Nhỏ và vừa | Không quy định | <US$ 1 triệu | <US$ 5 triệu |
| 5. Brunei | Nhỏ và vừa | 1 – 100 | Không quy định | Không quy định |
Nguồn: 1) DNNVV, APEC, 1998; 2) Định nghĩa DNNVV, UN/ECE, 1999; 3)
Tổng quan về DNNVV, OECD, 2000.
Bảng 1.1 cho thấy, hầu hết các quốc gia đều lấy tiêu chí số lao động bình quân làm cơ sở quan trọng để phân loại doanh nghiệp theo quy mô. Điều này là hợp lý hơn so với việc lựa chọn các tiêu chí khác như doanh thu, vốn… là các chỉ tiêu lượng hóa bằng giá trị tiền tệ. Các tiêu chí như doanh thu, vốn tuy rất quan trọng nhưng thường xuyên chịu sự tác động bởi những biến đổi của thị trường, sự phát triển của nền kinh tế, tình trạng lạm phát… nên thiếu sự ổn định trong việc phân loại doanh nghiệp. Điều này giải thích tại sao tiêu chí số lao động bình quân được nhiều quốc gia lựa chọn, tiêu chí này thường có tính ổn định lâu dài về mặt thời gian, lại thể hiện được phần nào tính chất, đặc thù của ngành, lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp đang tham gia.
Số liệu ở Bảng 1.1 cũng cho thấy, đa số các quốc gia chỉ sử dụng 1 trong 3 tiêu thức đánh giá trên. Một số quốc gia khác sử dụng kết hợp 2 trong 3 tiêu thức nói trên. Một số ít quốc gia sử dụng kết hợp cả 3 tiêu thức số lao động, vốn và doanh thu.
Ngân hàng thế giới (World Bank) và nhiều tổ chức quốc tế khác cũng đều sử dụng tiêu chí số lao động để đánh giá. Theo World Bank, doanh nghiệp được chia thành 4 loại tương ứng với số lượng lao động như sau: doanh nghiệp siêu nhỏ (số lao động < 10 người), doanh nghiệp nhỏ (số lao động từ 10 người đến dưới 50 người), doanh nghiệp vừa (số lao động từ 50 người đến 300 người), doanh nghiệp lớn (số lao động > 300 người). [13]
Ở Việt Nam, từ năm 1998 trở về trước, nước ta chưa có văn bản nào quy định phân loại doanh nghiệp theo quy mô, mà chủ yếu phân loại doanh nghiệp theo 2 nhóm: doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Sự ra đời của công văn số 681/1998/CP-KTN, ngày 20/06/1998 của Chính phủ về việc định hướng chiến lược và chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV đã đánh dấu bước khởi đầu trong quá trình thống nhất quan niệm và đẩy mạnh hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam. Công văn số 681 quy định, DNNVV
là doanh nghiệp có quy mô vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng và số lượng lao động bình quân năm ít hơn 200 người. Tuy nhiên, công văn này lại khẳng định, các tiêu thức này chủ yếu mang tính chất quy ước hành chính để phục vụ cho việc quản lý và vận dụng chính sách hỗ trợ phát triển. Bước sang năm 1999, với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp, môi trường kinh doanh được cải thiện đáng kể, bằng các chính sách hỗ trợ, ưu đãi doanh nghiệp, thêm vào đó là sự ra đời của các luật thuế, các DNNVV đã có nhiều sự chuyển biến đột phá. Để phù hợp với xu thế mới, ngày 23/11/2001 Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP nhằm trợ giúp phát triển DNNVV. Theo đó, Nghị định số 90 đã đưa ra tiêu chuẩn chính thức, áp dụng thống nhất để phân loại DNNVV. Tại Điều 3 của Nghị định này định nghĩa như sau:
DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.
Căn cứ vào tình hình kinh tế – xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên.
Cùng với quá trình phát triển của đất nước, việc vận dụng Nghị định này vào thực tế đã không còn phù hợp, bộc lộ một số bất cập, nhất là trong vấn đề “Định nghĩa DNNVV”, dẫn đến gây khó khăn và lúng túng cho các doanh nghiệp và các cấp quản lý nhà nước trong vấn đề xác định tiêu chuẩn DNNVV, liên quan đến việc hưởng các chính sách ưu đãi của Chính phủ đối với loại hình doanh nghiệp này. Vì lẽ đó, ngày 30 tháng 6 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 của Chính phủ. Nghị định số 56/2009/NĐ-CP có hai điểm mới nổi bật so với Nghị định
số 90/2001/NĐ-CP: Một là, Nghị định đưa ra định nghĩa DNNVV. Hai là, việc thành lập Quỹ phát triển DNNVV.
Tại Điều 3 Nghị định số 56 quy định: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể :
Bảng 1.2: Tiêu chí phân loại DNNVV hiện nay
| Quy mô Khu vực | Doanh nghiệp siêu nhỏ | Doanh nghiệp nhỏ | Doanh nghiệp vừa | ||
| Số lao động | Tổng nguồn vốn | Số lao động | Tổng nguồn vốn | Số lao động | |
| I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản | 10 người trở xuống | 20 tỷ đồng trở xuống | từ trên 10 người đến 200 người | từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng | từ trên 200 người đến 300 người |
| II. Công nghiệp và xây dựng | 10 người trở xuống | 20 tỷ đồng trở xuống | từ trên 10 người đến 200 người | từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng | từ trên 200 người đến 300 người |
| III. Thương mại và dịch vụ | 10 người trở xuống | 10 tỷ đồng trở xuống | từ trên 10 người đến 50 người | từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng | từ trên 50 người đến 100 người |
Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP
Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp.
Đến thời điểm hiện nay, ở Việt Nam, tiêu chuẩn phân loại DNNVV vẫn được áp dụng theo quy định tại Điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ.
Trong giới hạn của Luận văn này, định nghĩa trên được sử dụng để phân tích DNNVV trên địa bàn thành phố Đồng Hới.
Đặc điểm của DNNVV
DNNVV có các đặc điểm sau:
- DNNVV chiếm trên 95% tổng số doanh nghiệp của cả nước, chủ yếu thuộc khu vực ngoài quốc doanh (NQD) với nhiều hình thức (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh). Đa số số liệu thống kê chủ yếu thống kê cho khu vực DN NQD, ít có số liệu điều tra riêng biệt cho toàn bộ các DNNVV.
- Trình độ công nghệ, kỹ thuật lạc hậu so với mức trung bình của thế giới, tốc độ đổi mới công nghệ chậm; Hạn chế về năng lực cán bộ và công tác nghiên cứu trong doanh nghiệp, nghiên cứu để ứng dụng trong sản xuất – kinh doanh.
- Trình độ quản lý và tay nghề của người lao động còn hạn chế. Tuy Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào, trình độ học vấn tương đối cao so với các nước có cùng trình độ phát triển, nhưng chủ yếu là lao động làm việc đơn giản, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề thấp, sức khoẻ hạn chế, năng suất lao động không cao…
- Sức cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ thấp:
+ Sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ: hàm lượng vốn cấu thành trong sản phẩm thấp; hàm lượng tri thức và công nghệ cũng như tính độc đáo của sản phẩm không cao; giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản phẩm thấp;
+ Khả năng hạn chế về vốn, khả năng tiếp cận nguồn thông tin… của các DNNVV, sự bảo hộ của Nhà nước đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước… đã hạn chế năng lực cạnh tranh của các DNNVV.
- Quản trị nội bộ của DNNVV còn yếu, nhất là quản lý tài chính; ý thức chấp hành các chế độ chính sách chưa cao; còn lúng túng trong việc liên kết, nhất là liên kết trong cùng một hội ngành nghề.
Ưu thế, hạn chế của DNNVV
Ưu thế của DNNVV
DNNVV có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thỏa mãn nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hóa, khuynh hướng sử dụng nhiều lao động với trình độ lao động kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt là rất linh hoạt, nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu và thay đổi của thị trường.
- Dễ dàng khởi nghiệp, bộ máy gọn nhẹ, năng động, nhạy bén với thay
đổi của thị trường.
Chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều kiện sản xuất đơn giản, các DNNVV đã có thể bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh. Vòng quay sản phẩm nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có hoặc vay mượn bạn bè, người thân dễ dàng. Bộ máy tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định. Đồng thời, do tính linh hoạt cũng như quy mô nhỏ, DNNVV có thể dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng. Từ đó, DNNVV ít bị tổn thất hơn so với DN lớn khi thị trường biến động.
- Dễ dàng đổi mới thiết bị công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp.
- Vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao, thu hồi nhanh. Điều này tạo ra sự hấp dẫn trong đầu tư sản xuất kinh doanh đối với nhiều cá nhân, đối với các
thành phần kinh tế. Dễ dàng phát huy với tiềm năng của địa phương, thiết lập và phát triển ở mọi khu vực, mọi phân đoạn của thị trường để tiếp cận và phát huy tiềm năng của địa phương, nơi các DN lớn khó có thể len lõi vào được.
- Không có hoặc ít có xung đột giữa người sử dụng lao động và người lao động. Mối quan hệ giữa họ khá chặt chẽ, gắn bó.
- Sự đình trệ, thua lỗ, phá sản của các DNNVV có ảnh hưởng rất ít hoặc không gây khủng hoảng kinh tế, xã hội, đồng thời ít chịu ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng dây chuyền.
- DNNVV là những mắc xích nhỏ nhưng rất quan trọng đối với DN lớn. DNNVV thường sản xuất hoặc gia công các sản phẩm làm đầu vào hoặc đầu ra cho quá trình sản xuất của DN lớn.
Hạn chế của DNNVV
Bên cạnh những lợi thế nêu trên, DNNVV cũng có những hạn chế so với doanh nghiệp lớn:
- Hạn chế đầu tiên và lớn nhất của DNNVV nằm trong chính đặc điểm của nó, đó là quy mô nhỏ, có nguồn tài chính hạn chế nên thường ở trong tình trạng thiếu vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ thiết bị công nghệ yếu kém, lạc hậu, khó có khả năng mở rộng thị trường. Khả năng đổi mới công nghệ, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất là hạn chế.
- Trình độ quản lý ở các DNNVV còn nhiều hạn chế; nhất là hạn chế trong đào tạo chủ doanh nghiệp, công nhân. Chủ DN thường quản lý DN bằng kinh nghiệm thực tiễn, ít được đào tạo về kiến thức kinh tế và quản trị doanh nghiệp; thiếu bí quyết và trợ giúp kỹ thuật, ít có kinh nghiệm trong thiết kế sản phẩm, thiếu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, kiến thức về kinh tế thị trường còn yếu,… Nói cách khác, chưa đủ năng lực để quản lý tốt, khó nâng cao năng suất và hiệu quả kinh doanh.
- DNNVV gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm sự hỗ trợ về tài chính, thông tin, công nghệ. Khả năng tiếp cận thông tin và tiếp thị của DNNVV bị hạn chế. Những hạn chế này một phần là do nguyên nhân chủ quan từ chính các doanh nghiệp. Trong khi các doanh nghiệp trên thế giới quan tâm hàng đầu về các thông tin công nghệ và tiến bộ kỹ thuật, thị trường cung cấp và tiêu thụ thì doanh nghiệp Việt Nam lại chủ yếu quan tâm đến các thông tin về cơ chế, chính sách liên quan đến doanh nghiệp, rất ít doanh nghiệp quan tâm đến các thông tin về kỹ thuật và công nghệ.
- DNNVV là những mắc xích nhỏ nhưng rất quan trọng đối với doanh nghiệp lớn. DNNVV thường sản xuất hoặc gia công các sản phẩm làm đầu vào hoặc đầu ra cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp lớn cho nên DNNVV phụ thuộc rất nhiều vào các doanh nghiệp lớn.
Do tính chất nhỏ và vừa, DNNVV gặp khó khăn trong thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương nơi doanh nghiệp đó đang hoạt động. Và DNNVV cũng gặp không ít khó khăn trong thiết lập chỗ đứng vững chắc trong thị trường.
Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế
Mặc dù có những hạn chế nhất định nhưng các DNNVV với những tính chất, đặc điểm và ưu thế của nó đã tác động rất lớn đến kinh tế, xã hội của một quốc gia.
Thứ nhất, tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp, tăng thu nhập, góp phần xoá đói giảm nghèo:
Tác động lớn nhất của DNNVV là giải quyết một số lượng lớn việc làm cho người lao động (tạo ra hơn một triệu việc làm mới mỗi năm cho số lao động phần lớn chưa qua đào tạo, các doanh nghiệp này sử dụng trên 50% lao động xã hội), góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng cường an sinh xã hội [17]. Do đặc tính phân bố rải rác của các DNNVV nên tạo nhiều cơ hội việc làm
cho nhiều vùng địa lý và nhiều đối tượng lao động, đặc biệt đối với vùng sâu, vùng xa. Nhờ vậy, vừa giải quyết thất nghiệp vừa góp phần ngăn người lao động chuyển về thành phố tìm việc.
Mặt khác, do tính năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh cùng với hình thức tổ chức kinh doanh có sự kết hợp chuyên môn hóa và đa dạng hóa mềm dẻo, hòa nhịp được với những thay đổi của thị trường nên các DNNVV góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường. Trong trường hợp có biến động của thị trường, các doanh nghiệp lớn sẽ đối phó khá chậm chạp không phải vì yếu kém trong quản lý mà vì khó xoay trở nhanh, do vậy sẽ gặp nhiều khó khăn trong hoạt động, có khi phải sa thải bớt lao động để cắt giảm chi phí đến mức có thể tồn tại. Trong khi đó, do tính linh hoạt, có thể thích ứng nhanh với thay đổi của thị trường, các DNNVV vẫn có thể tồn tại được mà không phải dùng đến biện pháp cắt giảm lao động.
Thứ hai, cung cấp cho xã hội một khối lượng hàng hóa đáng kể về cả chủng loại, số lượng và chất lượng.
DNNVV chiếm đa số về mặt số lượng trong tổng số các cơ sở kinh doanh và ngày càng gia tăng mạnh. Các DNNVV thu hút một lượng lớn lao động và tài nguyên của xã hội để sản xuất ra hàng hóa. Để có thêm sức cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp lớn, hàng hóa của DNNVV rất đa dạng về chủng loại, số lượng, chất lượng, tạo cho người tiêu dùng có thêm cơ hội lựa chọn. Các DNNVV thâm nhập vào thị trường nhỏ mà các DN lớn thường bỏ qua vì doanh thu từ đó quá nhỏ.
Thứ ba, thu hút được khá nhiều vốn trong dân, tăng nguồn tiết kiệm và
đầu tư cho dân địa phương.
Do tính nhỏ lẻ, phân tán, dễ đi sâu vào dân cư và yêu cầu về số lượng vốn ban đầu không nhiều nên các DNNVV dễ thu hút được các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong dân vào sản xuất kinh doanh, tạo lập dần tập quán đầu
tư sản xuất kinh doanh. DNNVV được mở ra ở địa phương nào thì người dân lao động ở địa phương đó có công ăn việc làm, có nguồn thu nhập. Vì vậy, quỹ tiền tiết kiệm – đầu tư của địa phương đó được bổ sung.
Thứ tư, phát huy và tận dụng các nguồn lực địa phương, góp phần tăng trưởng kinh tế, làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn.
Các DN lớn thường bỏ qua các thị trường có quy mô nhỏ, vùng sâu, vùng xa, kém phát triển,… vì cho rằng nguồn lợi thu được từ đó không lớn bằng nguồn lợi thu được từ nơi khác với cùng một chi phí bỏ ra, nói cách khác là chi phí cơ hội của vùng này cao. Đối với các DNNVV thì chi phí cơ hội của vùng này là chấp nhận được, tương xứng với nguồn lợi mang lại. Vì vậy, DNNVV sẵn sàng hoạt động ở đây nếu có các chính sách ưu đãi thích hợp của chính quyền địa phương thì càng tốt. Nếu một nền kinh tế chỉ có các DN lớn thì sẽ dẫn đến một sự phát triển không đều giữa các vùng, không tận dụng hết tài nguyên, làm giảm hiệu quả hoạt động của nền kinh tế, gây ra các thiệt hại tiềm tàng của nền kinh tế.
Thứ năm, đóng góp đáng kể vào việc duy trì và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống nhằm sản xuất các loại hàng hoá mang bản sắc văn hoá dân tộc.
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, các ngành nghề truyền thống đang đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt giữa chế tạo sản phẩm thủ công với sản xuất dây chuyền hàng loạt. DNNVV là loại hình rất thích hợp cho sản xuất thủ công. Các ngành nghề truyền thống có thể dựa vào đó để sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, công nghệ tiên tiến cũng sẽ dần tiếp cận vào các ngành nghề này. Đây cũng là điều cần thiết trong thời đại công nghiệp.
Thứ sáu, DNNVV là nơi ươm mầm cho các tài năng kinh doanh.
Kinh doanh quy mô nhỏ sẽ là nơi đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện các nhà doanh nghiệp làm quen với môi trường kinh doanh. Bắt đầu kinh doanh quy
mô nhỏ và thông qua điều hành quản lý kinh doanh quy mô nhỏ và vừa, một số nhà doanh nghiệp sẽ trưởng thành nên những nhà doanh nghiệp lớn tài ba, biết đưa doanh nghiệp của mình nhanh chóng phát triển. Các tài năng kinh doanh sẽ được ươm mầm từ đây.
NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN DNNVV
Phát triển số lượng DN
Phát triển số lượng DNNVV tức là số lượng DNNVV gia tăng trên thị trường ngày càng nhiều, làm tăng số lượng DNNVV và lan rộng ở tất cả các thành phố, tỉnh, quận, huyện, xã… ở tất cả các ngành nghề công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, thương mại, dịch vụ…
Phát triển về số lượng doanh nghiệp không chỉ là sự tăng lên về số lượng doanh nghiệp đăng ký, mà là sự tăng lên về số lượng doanh nghiệp hoạt động thực chất và ổn định. Mặt khác, sự tăng lên về số lượng đó phải phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế xã hội. Phát triển về số lượng doanh nghiệp cần được xem xét đánh giá cơ cấu ngành nghề, khu vực hợp lý đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu cũng như cơ cấu về trình độ công nghệ phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ trong nước và thế giới.
Sự phát triển về số lượng doanh nghiệp phải được kiểm chứng thông qua cạnh tranh, uy tín thương hiệu, số lượng những doanh nghiệp đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh tranh, hội nhập.
Tiêu chí để đánh giá sự phát triển số lượng DNNVV:
– Số lượng DNNVV qua các năm; số lượng DNNVV gia tăng qua các
năm.
Mở rộng quy mô DNNVV
Quy mô doanh nghiệp có thể hiểu là độ lớn của từng doanh nghiệp về
vốn, lao động, mặt bằng sản xuất kinh doanh… Phát triển quy mô doanh
nghiệp chính là làm cho các yếu tố này của từng doanh nghiệp lớn lên, phù hợp hơn. Quy mô doanh nghiệp hợp lý là sự đầu tư hợp lý về vốn, lao động, mặt bằng sản xuất kinh doanh… nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phù hợp yêu cầu, mục tiêu kinh tế xã hội, với nhu cầu thị trường, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Tăng quy mô lao động trong các doanh nghiệp có nghĩa là gia tăng số lượng lao động tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tăng quy mô vốn: Vốn là nhân tố quan trọng trong quá trình đầu tư và hoạt động phát triển của doanh nghiệp, nguồn vốn của doanh nghiệp càng cao thì quy mô của doanh nghiệp sẽ ngày càng mở rộng.
Mở rộng quy mô của doanh nghiệp còn được đánh giá thông qua việc tăng tài sản cố định và đầu tư dài hạn của doanh nghiệp.
Có thể sử dụng doanh thu thuần để đánh giá mức độ phát triển và quy mô của doanh nghiệp.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của mình một cách lâu dài và bền vững trên thị trường cạnh tranh bằng cách tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hợp lý, cách bán thuận tiện và thu được mức lãi mong muốn.
Năng lực cạnh tranh của DN bao gồm:
+ Năng lực tài chính: khả năng huy động vốn, hiệu quả sử dụng vốn và tài sản.
+ Năng lực công nghệ: Trình độ công nghệ, đầu tư đổi mới công nghệ,
+ Năng lực quản lý và nguồn nhân lực: Năng lực quản lý và chiến lược cạnh tranh, nguồn nhân lực.
+ Chi phí sản xuất và giá cả hàng hóa.
+ Chất lượng sản phẩm.
nhuận.
+ Năng lực về thương hiệu.
+ Năng lực về phát triển thị phần.
Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của DN bao gồm:
- Các chỉ tiêu định lượng: Sản lượng, doanh thu, thị phần, tỷ suất lợi
- Các chỉ tiêu định tính: Chất lượng hàng hóa, dịch vụ, khả năng đáp
ứng yêu cầu của khách hàng, thương hiệu, uy tín…
Lựa chọn phát triển loại hình doanh nghiệp phù hợp
Hiện nay ở Việt nam có nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng riêng có khả năng đem lại cho chủ sở hữu những lợi thế và những hạn chế khác nhau. Chính vì vậy việc lựa chọn được một hình thức doanh nghiệp phù hợp với tính chất kinh doanh, quy mô ngành nghề kinh doanh và khả năng của người bỏ vốn thành lập là vô cùng quan trọng, có tác động tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp về sau.
Những lợi thế so sánh mà doanh nghiệp có thể đem lại cho nhà đầu tư là tiêu chí quan trọng nhất cần được xem xét khi quyết định lựa chọn hình thức doanh nghiệp để đăng ký kinh doanh. Thông thường, những lợi thế mà doanh nghiệp mang lại cho các nhà đầu tư có thể là:
- Uy tín doanh nghiệp có thể tạo ra đối với khách hàng;
- Phạm vi lĩnh vực hoạt động của DN và khả năng huy động vốn;
- Rủi ro đầu tư;
- Tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp;
- Tổ chức quản lý doanh nghiệp và mức độ chi phối của nhà đầu tư tới hoạt động của doanh nghiệp.
Luật về tổ chức và Thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện có Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật Đầu tư. Theo đó, Doanh nghiệp được tổ
chức theo nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng riêng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp.
Vì vậy việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinh doanh là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Các loại hình DNNVV chủ yếu hiện nay gồm: công ty cổ phần, DN tư nhân, công ty TNHH, Hợp tác xã.
Tăng cường liên kết doanh nghiệp
Liên kết doanh nghiệp là quan hệ bình đẳng giữa các DN và dựa trên nguyên tắc tự nguyện nhằm khai thác hết tiềm năng của mọi DN.
Phát triển DNNVV cũng chính là mở rộng mối quan hệ giữa các DN, sự liên kết giữa các DN là cần thiết trong lúc các DN của Việt Nam còn yếu về tiềm lực tài chính, cũng như khả năng quản lý.
Để phát triển các DNNVV cần chú ý đế sự liên kết sản xuất giũa các DN. Liên kết sản xuất giữa các DNNVV có thể thông qua nhiều hình thức và một trong các hình thức quan trọng đó là Hiệp hội.
Gia tăng mức độ đóng góp đối với xã hội
Phát triển DNNVV nhằm mục đích gia tăng của cải cho đất nước, giữa DNNVV và ngân sách có mối quan hệ với nhau thông qua thuế và các khoản đóng góp khác. Thuế chủ yếu là các loại thuế như là thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp…Các khoản đóng góp khác như là các khoản phí phải nộp như phí trước bạ, phí cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, phí xuất khẩu, phiếu kiểm định… là tiêu chí cơ bản và quan trọng để đánh giá sự thành công trong chính sách khuyến khích phát triển DNNVV nhằm mục đích là gia tăng phần đóng góp cho xã hội.
Tiêu chí đóng góp đối với xã hội của DN bao gồm:
+ Đóng góp vào GDP: tăng trưởng GO
+ Đóng góp vào nộp NSNN: số nộp ngân sách
+ Đóng góp vào giải quyết lao động: số lao động
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DNNVV
DNNVV tồn tại và phát triển khi có môi trường kinh doanh thích hợp. Môi trường kinh doanh của DNNVV ở nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Một số nhân tố của môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến sự phát triển của từng DNNVV:
– Một là, về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Những thuận lợi về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đem lại lợi thế so sánh không nhỏ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tận dụng tốt vị trí, điều kiện tự nhiên sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu vào, đầu ra, chi phí sản xuất kinh doanh,… nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngày nay, vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên tuy không còn đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của DNNVV nhưng vẫn còn đóng một vai trò hết sức quan trọng.
– Hai là, về quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp
Thực tế phát triển kinh tế ở nhiều nước trên thế giới cũng chỉ ra rằng, DNNVV khó có thể phát triển được nếu quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp không được giải quyết tốt. Nói cách khác, quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp là một nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến phát triển DNNVV.
Quan hệ này thực chất là quan hệ giữa cơ quan quản lý, điều tiết của Nhà nước, các cấp chính quyền với các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc DNNVV. Các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường luôn cần có sự quản lý của Nhà nước, bởi vai trò điều tiết nền kinh tế nói chung và DNNVV nói riêng của Nhà nước là tất yếu khách quan.
Quan hệ giữa Nhà nước với các doanh nghiệp thuận lợi thể hiện qua hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn chỉnh và đồng bộ, trong đó đảm bảo
quyền tự do và bình đẳng trong đầu tư và kinh doanh, bảo hộ quyền sở hữu tài sản hợp pháp cho mọi công dân, các nhà đầu tư và kinh doanh. Mặt khác, đảm bảo hoạt động quản lý của các cơ quan Nhà nước minh bạch, công khai, thủ tục hành chính đơn giản, thuận lợi, nhanh chóng, cũng như đội ngũ cán bộ công chức công tâm, thiện chí quan tâm giải quyết các yêu cầu và tháo gỡ những khó khăn cho các doanh nghiệp là điều kiện hết sức quan trọng để các DNNVV phát triển. Bên cạnh đó, quan hệ này còn biểu hiện ở sự hỗ trợ, giúp đỡ, khuyến khích của Nhà nước đối với DNNVV trong quá trình phát triển của mình và trên thực tế tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường đều cần sự ủng hộ của Nhà nước. Điều có ý nghĩa tâm lý quan trọng cho phát triển DNNVV là sự động viên, khen thưởng, tôn vinh các doanh nhân thành đạt, sản xuất kinh doanh giỏi đóng góp nhiều cho cộng đồng, xã hội của khu vực kinh tế này.
– Ba là, nhân tố về thị trường
Một trong những nhân tố quyết định việc các doanh nghiệp có đầu tư vào một thị trường, một lĩnh vực nào đó hay không là khả năng tham gia thị trường, nhất là trong điều kiện đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế. Khả năng này tạo thành từ những nhân tố không chỉ do nội lực của bản thân doanh nghiệp mà chủ yếu phụ thuộc rất nhiều vào môi trường thuận lợi từ phía Nhà nước, xã hội là sự phát triển đồng bộ các loại thị trường như: thị trường hàng hóa dịch vụ, thị trường lao động, thị trường tài chính, thị trường khoa học công nghệ, thị trường bất động sản… cùng với việc thiết lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch cũng như điều kiện, thủ tục thành lập doanh nghiệp, yếu tố tâm lý xã hội…
Đặc biệt, trong giai đoạn đầu phát triển, các DNNVV rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước về các mặt như vốn, công nghệ, đào tạo lao động, tìm kiếm thị
trường và nhất là tìm một môi trường xã hội, ở đó có sự thừa nhận, tôn vinh DNNVV.
Một trong những yếu tố làm tăng chi phí đầu vào của các doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV là các doanh nghiệp này ít có điều kiện tiếp cận nguyên vật liệu đầu vào. Khi có các yếu tố đầu vào thuận lợi các doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội tăng cường đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh.
Với mục tiêu lợi nhuận, phát triển thị phần và đầu ra luôn là mục tiêu của các DNNVV. Mặc dù đã có nhiều chuyển biến trong những năm gần đây nhưng khả năng chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nước của DNNVV vẫn chưa thực sự vững chắc ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
- Bốn là, về cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Với trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ cơ sở hạ tầng là một trong những điều kiện cơ bản để phát triển nền kinh tế. Ở đâu có cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại hoàn chỉnh như: giao thông, cấp điện, cấp nước, thông tin liên lạc… thì ở đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi, kích thích được phát triển kinh tế, đặc biệt là đối với DNNVV với tính năng động và hiệu quả của mình.
Vai trò của cơ sở hạ tầng kỹ thuật là rất to lớn nếu thiếu sự quan tâm, đầu tư đúng mức sẽ làm kìm hãm sự phát triển nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng.
- Năm là, nhân tố về thông tin
Hoạt động trong nền kinh tế thị trường trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp muốn tăng cường khả năng cạnh tranh, tận dụng cơ hội, thách thức, giảm thiểu rủi ro, phát huy tính năng động và hiệu quả buộc các doanh nghiệp phải có khả năng, các quyền được tiếp cận và nắm bắt đầy đủ thông tin về môi trường kinh doanh liên quan như: các thông tin về pháp
luật, về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, những biến động thị trường kinh tế khu vực, đất nước và trên thế giới… Môi trường kinh doanh lành mạnh phải đảm bảo bình đẳng, minh bạch, công khai khả năng tiếp cận thông tin của mọi doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế. Tăng cường khả năng tiếp cận thông tin chính là đã đem lại một lợi thế cực lớn cho doanh nghiệp trong hoạch định các chiến lược, xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Vấn đề thiếu thông tin về thị trường và tình hình kinh tế nước ngoài đã dẫn đến việc các đối tác và thị trường không đến được với nhau.Vì vậy thông tin và thương mại điện tử có tác động quan trọng đối với nền kinh tế và các doanh nghiệp: Thứ nhất, thông tin giúp các doanh nghiệp cập nhật các thông tin về tình hình, nhu cầu của thị trường một cách đầy đủ nhất. Doanh nghiệp không chỉ cần quảng bá được những thông tin về quá trình sản xuất kinh doanh, sản phẩm và những mục đích khác ra bên ngoài, mà còn cần tìm kiếm các nhu cầu trên thị trường cũng dễ dàng, thuận tiện.
Vì vậy, nếu biết sử dụng tốt về thông tin các doanh nghiệp sẽ thu thập được những thông tin phong phú về kinh tế – thương mại (thông tin thị trường); giảm chi phí cho sản xuất; giảm thấp chi phí bán hàng và chi phí tiếp thị; tạo điều kiện cho thiết lập và củng cố mối quan hệ với khách hàng.
KINH NGHIỆM TRONG PHÁT TRIỂN DNNVV Ở MỘT VÀI ĐỊA PHƯƠNG TRONG NƯỚC
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\LUẬN VĂN THẠC SĨ CÁC ĐẠI HỌC KHÁC\KHO SỐ 1\Ảnh hưởng của đại dịch covid 19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Đồng Hới\CHUYỂN VÙNG/ THỰC TRẠNG ĐỒNG HỚI
Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Đồng Hới Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Đồng Hới


