Pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau đại dịch Covid-19 ở Việt Nam

Pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau đại dịch Covid-19 ở Việt Nam

MỞ ĐẦU

­1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Dịch Covid-19 đã, đang và sẽ tiếp tục gây ra hàng loạt vụ phá sản ở mỗi quốc gia, cũng như trên toàn cầu; kéo theo đó là việc giảm tổng cầu xã hội và gia tăng nạn thất nghiệp, gây áp lực mạnh đến công tác bảo đảm an sinh, thu nhập, việc làm theo cả quy mô quốc gia và quốc tế. Trong bối cảnh đó, nhiều nước đã tung ra các gói cứu trợ trị giá hàng tỷ USD để giúp DN và NLĐ vượt qua khó khăn trước mắt…

Theo Báo cáo đánh giá sơ bộ của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Covid-19 và thế giới việc làm: Tác động và giải pháp”, cuộc khủng hoảng kinh tế và lao động do dịch Covid-19 gây ra có thể làm tăng thêm 25 triệu người thất nghiệp trên toàn cầu, so với số lượng người thất nghiệp sẵn có là 188 triệu trong năm 2019. Hàng triệu NLĐ sẽ phải rơi vào tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, giảm giờ làm và tiền lương, và rớt xuống dưới chuẩn nghèo. Nhóm lao động tự làm ở các nước đang phát triển, vốn thường là tấm đệm giúp làm nhẹ bớt độ xung của những tác động do những thay đổi đột ngột mang lại, thì lần này sẽ không còn tác dụng vì những hạn chế di chuyển đối với con người và hàng hóa. Giảm số lượng việc làm đồng nghĩa với việc mất đi nguồn thu nhập lớn cho NLĐ, ước tính con số này tương đương từ 860 tỷ USD đến 3,4 nghìn tỷ USD trong năm 2020. ILO ước tính, sẽ có thêm từ 8,8 đến 35 triệu NLĐ rơi vào đói nghèo trên khắp thế giới, so mức ước tính trước đây cho năm 2020 (là giảm 14 triệu người). Ngoài ra, tác động của cuộc khủng hoảng việc làm tới một số nhóm lao động sẽ không đồng đều và làm gia tăng bất bình đẳng. Những người bị ảnh hưởng lớn bao gồm những người được bảo vệ ít hơn và làm những công việc được trả lương thấp, nhất là lao động trẻ và lao động cao tuổi. Phụ nữ và lao động di cư cũng thuộc nhóm này. Lao động di cư dễ bị tổn thương vì họ thường không được hưởng đầy đủ quyền lao động và an sinh xã hội. Trong khi đó, phụ nữ thường chiếm số đông trong nhóm các công việc lương thấp và các ngành kinh tế bị tác động bởi dịch bệnh.

Theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tại cuộc họp ngày 24/3/2021 sơ kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020, cả nước xác nhận được 9,2 triệu người có công, trong đó trên 1,3 triệu người đang hưởng chế độ ưu đãi hằng tháng. Các chính sách việc làm, thu nhập và giảm nghèo, bình quân hằng năm đã giải quyết việc làm trong nước cho 1,5 – 1,6 triệu người, đưa trên 100.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Tỉ lệ thất nghiệp luôn duy trì ở mức thấp, khoảng 2% – 2,2%, tỉ lệ thất nghiệp thành thị dưới 3,5%. Tổng số người tham gia bảo hiểm xã hội lên khoảng 574.000 người. Số người tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 85,3 triệu người, chiếm 90% dân số…

Tuy nhiên, ở Việt Nam, công tác phòng, chống dịch đã bước sang giai đoạn mới với nhiều thách thức lớn. Một loạt lao động trong khu vực kinh tế tư nhân đang chịu cảnh nghỉ không lương hoặc phải giãn, giảm thời gian làm việc, thu nhập giảm sút, không được đóng bảo hiểm xã hội trong tháng cao điểm dịch Covid-19 vì hầu như DN không có việc làm.

Bảo vệ NLĐ trong pháp luật lao động luôn là nội dung trọng tâm được mọi người quan tâm. Có thể thấy nhiều qui định pháp luật được ban hành từ giai đoạn đầu, khi nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, khi đó thị trường NLĐ và các quan hệ lao động chưa vận động hoàn toàn theo qui luật của nó đã quan tâm đến quyền của NLĐ. Hiện nay đất nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề giải quyết việc làm và đảm bảo thu nhập cho NLĐ cũng đã được đưa vào trong các mục tiêu chương trình xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế, nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi danh mục các nước kém phát triển vào năm 2020, trong đó vấn đề giải quyết việc làm đảm bảo nguồn thu nhập ổn định cho NLĐ gắn liền với việc tăng trưởng kinh tế, ổn định và phát triển bền vững là vấn đề cơ bản được quan tâm hàng đầu

Bên cạnh đó, đời sống kinh tế ngày càng nâng cao kéo theo sự phát triển kinh tế về nhận thức của NLĐ. Do đó họ có ý thức hơn trong việc bảo vệ các quyền lợi của mình, đặc biệt là bảo vệ NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam, Vì thế nhu cầu bảo vệ NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam là hoàn toàn hợp lí và thiết thực.

Trong thời gian qua, nhà nước ta cũng đã sửa đổi và ban hành một số các văn bản pháp luật có liên quan đến việc bảo vệ NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam. Tuy nhiên, qua triển khai áp dụng và thực hiện các văn bản qui định đã bộc lộ nhiều thiếu sót, chưa thật sự đảm bảo yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn đời sống xã hội, do bị hạn chế cả về số lượng và chất lượng, ảnh hưởng đến việc bảo vệ hiệu quả NLĐ. Chính vì lí do đó, tác giả chọn đề tài “Pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau đại dịch Covid-19 ở Việt Nam” làm luận văn Thạc sỹ luật học của mình.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1. Mục đích nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam trên cơ sở luật bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam dựa trên Luật lao động 2019 và các văn bản liên quan. Phân tích thực trạng, đánh giá ưu điểm và hạn chế của quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam, thực tiễn tại Việt Nam.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Để hoàn thành mục đích nghiên cứu, Luận văn có các nhiệm vụ cơ bản sau đây:

Một là, Luận văn làm sáng tỏ thêm các khái niệm, đặc điểm về bảo vệ quyền lợi NLĐ nói chung, trong và sau đại dịch Covid-19 ở Việt Nam nói riêng, nội dung điều chỉnh và vai trò của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ

Hai là, trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau Covid-19 ở Việt Nam từ góc độ các chính sách đã ban hành và thực hiện các chính sách đó vào bảo vệ quyền lợi NLĐ.

Ba là, Luận văn đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam hiện nay và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn có phạm nghiên cứu như sau:

Một là, về không gian nghiên cứu: Bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam có thể được phân tích ở nhiều mức độ, nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, trong phạm vi một bản luận văn không thể phân tích hết các vấn đề đó, nên như mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã trình bày ở trên thì luận văn chủ yếu tập trung vào nghiên cứu sự thể hiện bảo vệ quyền lợi NLĐ khi bị ảnh hưởng bởi đại dịch và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam.

Hai là, về địa bàn nghiên cứu: Pháp luật bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam, thực tiễn hiện hành ở Việt Nam

Ba là, về thời gian nghiên cứu: Pháp luật bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam. Các số liệu từ năm 2019 đến 2021.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; đường lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam, đường lối lãnh đạo của Đảng và chính sách pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn tác giả đã sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp. Ngoài ra tác giả đã thu thập được các tài liệu thực tế liên quan đến việc áp dụng quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam.

– Phương pháp phân tích, diễn giải được sử dụng nhằm phân tích đánh giá một số điều luật cụ thể; Phương pháp thống kê các số liệu về pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam.

– Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này được dùng để thống kê số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân các chỉ tiêu thống kê sẽ được tính toán để mô tả thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam

– Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng sau khi số liệu đã được tổng hợp, phân tích. Chúng ta sử dụng phương pháp so sánh để so sánh, đánh giá về các vấn đề nghiên cứu về pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam.

– Phương pháp chuyên gia: Tham khảo những người có kiến thức về lĩnh vực pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam.

6. Những đóng góp của Luận văn

6.1. Ý nghĩa khoa học của Luận văn

Luận văn nêu và phân tích có hệ thống những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam. Đồng thời luận văn nêu và phân tích những ưu điểm, bất cập của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam. Những vấn đề đó có ý nghĩa hoàn thiện cơ sở lý luận về căn cứ bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam

Pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau đại dịch Covid-19 ở Việt Nam
Pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau đại dịch Covid-19 ở Việt Nam

6.2. Ý nghĩa thực tiễn của Luận văn

Luận văn đã đánh giá được những ưu điểm, tiến bộ mà pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam đạt được. Những ví dụ điển hình của luận văn hết sức cụ thể, sát thực, cập nhật và phản ánh rõ bất cập của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam trong chương 2. Xuất phát từ những thực trạng đó, luận văn đã đưa ra hướng hoàn thiện cũng như một số biện pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam. Kết quả luận văn có thể được sử dụng trong việc ban hành và áp dụng bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam được tốt hơn. Ngoài ra, những vấn đề nghiên cứu của luận văn có thể được tham khảo để biên soạn giáo trình về thuế, mà cụ thể là phần pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam.

7. Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1. Những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau đại dịch Covid-19 ở Việt Nam

Chương 2. Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau đại dịch Covid-19 ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau đại dịch Covid-19 ở Việt Nam.

CHƯƠNG I

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG VÀ SAU ĐẠI DỊCH COVID-19 Ở VIỆT NAM

1.1. Bảo vệ quyền lợi người lao động

      1. 1.1.1. Khái niệm

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ (NSDLĐ) là đảm bảo các quyền và lợi ích mà pháp luật đã quy định cho NSDLĐ được thực hiện, không bị các chủ thể khác xâm hại. 

Quan hệ lao động thuộc sự điều chỉnh trực tiếp của Luật Lao động vì thế nguyên tắc Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ được thể hiện rõ nét nhất trong các quy phạm luật lao động.

Khoản 2 Điều 16 BLLĐ có quy định “NSDLĐ có quyền trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức giới thiệu việc làm để tuyển chọn lao động, có quyền tăng giảm lao động phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật”. Quy định trên bảo vệ quyền được tuyển chọn, sử dụng, tăng giảm NLĐ theo nhu cầu sản xuất kinh doanh của NSDLĐ.

NSDLĐ có quyền “tạm đình chỉ công việc của NLĐ khi vụ việc vi phạm có những tình tiết phức tạp…” (Khoản 1 Điều 92), có quyền “đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” (Khoản 1 Điều 38); Bên cạnh đó, NSDLĐ có quyền chọn các hình thức trả lương theo thời gian, theo sản phẩm…(Khoản 1 Điều 58); có quyền “quy định lịch nghỉ hàng năm” (Khoản 1 Điều 76).

Như vậy, pháp luật lao động đã ghi nhận quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ trong nhiều chế định và bảo vệ họ ở mức độ cần thiết. Về nội dung, quyền và lợi ích của NSDLĐ cũng được đảm bảo trên nhiều lĩnh vực nhưng nhất thiết phải trong khuôn khổ luật định. Khuôn khổ đó đảm bảo cho NSDLĐ đạt được mục đích chính đáng của mình ở mức tối đa nhưng không làm phương hại đến NLĐ và các chủ thể khác, đến đời sống xã hội và lợi ích chung. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ cũng là cách giải quyết vấn đề lợi ích hợp lý trong xã hội, yếu tố không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường. Thông qua việc bảo vệ này mà quan hệ lao động có thể phát triển bền vững, NLĐ cũng có điều kiện ổn định việc làm, đảm bảo cuộc sống..

Quyền của NLĐ là vấn đề có ý nghĩa rất lớn về cả lý luận và thực tiễn không chỉ đối với cá nhân con người, tập thể NLĐ, mà còn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Quyền của NLĐ là một bộ phận quan trọng của hệ thống quyền con người, thuộc phạm trù các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, được cộng đồng quốc tế thừa nhận và đảm bảo thực hiện trong các điều ước đa phương. Trong các văn kiện pháp lý quan trọng của Liên hiệp quốc (UN) và công ước, khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về nhân quyền đã quy định về các quyền của NLĐ, như: quyền tự do không bị lao động cưỡng bức, quyền tự do quyết định chấp nhận và lựa chọn công việc, quyền được hưởng mức lương công bằng, quyền có thời giờ nghỉ ngơi và giới hạn hợp lý thời giờ làm việc, quyền được đảm bảo điều kiện làm việc an toàn và vệ sinh[1],…

NLĐ nói chung và NLĐ làm việc theo hợp đồng DN tại các DN có quyền được hưởng những lợi ích về chính trị, xã hội, vật chất, phúc lợi từ Nhà nước hoặc từ DN nơi NLĐ đang làm việc.

Song song với quy định các quyền của NLĐ thì cũng có quy định về việc bảo vệ, bảo đảm các quyền đó được thực hiện trên thực tế. Ở Việt Nam, có nhiều quan điểm nghiên cứu về quyền của NLĐ và vấn đề đảm bảo quyền của NLĐ, tuy nhiên vẫn chưa có sự thống nhất để đưa ra khái niệm chung về bảo đảm quyền trong lĩnh vực lao động làm cơ sở cho việc nghiên cứu và sử dụng trên thực tế. Trong phạm vi pháp luật lao động, việc đảm bảo quyền lợi NLĐ chủ yếu được thể hiện trong mối quan hệ với NSDLĐ, để chống lại nguy cơ bị bóc lột, bị đối xử bất công hay phải lao động trong những điều kiện lao động không đảm bảo cũng như thái độ thiếu tôn trọng của họ.

Theo Từ điển Tiếng Việt, “bảo đảm” là thứ nhất “ tạo điều kiện để chắc chắn giữ gìn được, hoặc thực hiện được, hoặc có được những gì cần thiết (thu nhập cao, đời sống được đảm bảo); Thứ 2, cam đoan chịu trách nhiệm (thư gửi bảo đảm); Thứ ba, nhận chịu trách nhiệm làm tốt (Đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ). Trách nhiệm của một chủ thể (cá nhân, tổ chức) phải làm cho quyền, lợi ích của chủ thể bên kia chắc chắn được thực hiện, được giữ gìn, nếu xảy ra thiệt hại thì phải bồi thường” [2]

Như vậy, bảo đảm quyền lợi của NLĐ làm việc theo HĐLĐ là hình thức, biện pháp tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, DN kết hợp lại với nhau để thực hiện hiệu quả các mục tiêu và đảm bảo NLĐ được hưởng đầy đủ các quyền của mình. Do tính đa dạng của quyền con người trong lĩnh vực lao động mà nội dung bảo vệ quyền của NLĐ ở các quốc gia có phạm vi và mức độ khác nhau.

Từ những phân tích nêu trên rút ra khái niệm, “Bảo đảm quyền lợi của NLĐ làm việc theo HĐLĐ tại DN là việc Nhà nước tạo ra các điều kiện cần thiết, đặc biệt là về mặt pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật, để bảo vệ NLĐ khỏi những hành vi vi phạm các quyền của họ”.

      1. 1.1.2. Đặc điểm của bảo vệ quyền lợi người lao động

Trong lĩnh vực lao động, NSDLĐ cũng được đảm bảo đầy đủ các quyền đối với tài sản đưa vào sản xuất kinh doanh, được tự chủ trong quản lý và phân phối sản phẩm. Họ cũng có quyền tự do liên kết và phát triển trong quá trình sử dụng lao động. Cụ thể, NSDLĐ được bảo vệ các quyền và lợi ích sau:

+ Được tuyển chọn, sử dụng, tăng giảm lao động theo nhu cầu sản xuất kinh doanh. 

+ Được quản lý, điều hành lao động, ban hành nội quy và thực hiện các chế độ khen thưởng, kỉ luật, chấm dứt hợp đồng đối với NLĐ

+ Được sở hữu tài sản hợp pháp trong và sau quá trình lao động, tự chủ trong phân phối, trả lương cho NLĐ theo quy định của pháp luật

+ Được phối hợp với tổ chức công đoàn trong quản lý lao động và kí kết thỏa ước lao động tập thể phù hợp với điều kiện của đơn vị

+ Được nhà nước ưu đãi, hỗ trợ nếu gặp khó khăn hoặc đủ các điều kiện khác do pháp luật quy định

+ Đảm bảo bồi thường thiệt hại nếu bị NLĐ hoặc các chủ thể khác xâm hại lợi ích hợp pháp

+ Được tham gia tổ chức của giới sử dụng lao động theo quy định của pháp luật

+ Được yêu cầu NLĐ và các đối tác khác tôn trọng quyền và lợi ích của mình, nếu bị xâm hại có thể yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền can thiệp bảo vệ

      1. 1.1.3. Vai trò của bảo vệ quyền lợi người lao động

Nguyên tắc bảo vệ NLĐ được pháp luật đưa ra nhằm tạo ra nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội ổn định, ở đây NLĐ chính là nguồn lực chủ yếu để sản xuất, phát triển kinh tế, từ đó phát triển xã hội. Đồng thời, nguyên tắc này còn đảm bảo sự công bằng, thể hiện một tinh thần nhân đạo, nhân văn của pháp luật. NLĐ chiếm một phần lớn dân số, do đó nguyên tắc bảo vệ NLĐ sẽ đảm bảo đời sống cho người dân, tránh những xung đột giữa các chủ thể trong quan hệ lao động, đảm bảo một thể chế chính trị vững chắc.

  • Bảo vệ việc làm cho người lao động:

Bảo vệ việc làm cho NLĐ là việc pháp luật lao động bảo vệ NLĐ để họ làm việc một cách ổn định, không bị NSDLĐ thay đổi hoặc cho nghỉ việc một cách vô lý. NLĐ và NSDLĐ thỏa thuận với nhau để thực hiện một công việc, và pháp luật lao động muốn đảm bảo NLĐ được thực hiện đúng công việc đó. Vẫn có những trường hợp NSDLĐ được phép thay đổi hoặc cho nghỉ việc NLĐ nhưng những trường hợp đó đều phải tuân theo những quy định của pháp luật. Việc bảo vệ việc làm cho NLĐ còn thể hiện ở việc bảo đảm thời gian làm việc của NLĐ lâu dài và đúng theo thỏa thuận với NSDLĐ. NLĐ muốn tạm hoãn, đình chỉ, chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn đều phải có những căn cứ luật định và phải tuân theo những thủ tục riêng.

  • Bảo vệ thu nhập và đời sống người lao động:

NLĐ khi tham gia vào quan hệ lao động thường quan tâm đến thu nhập để đảm bảo đời sống. Tuy nhiên, việc thỏa thuận của NLĐ và NSDLĐ về vấn đề thu nhập và thực tế thực hiện thỏa thuận này nhiều khi không tương xứng với sức lao động bỏ ra hoặc những đóng góp của NLĐ. Đồng thời, thu nhập của NLĐ cũng cần đảm bảo đủ chi trả cho cuộc sống của họ và gia đình. Do đó, bảo vệ thu nhập là một trong những nội dung quan trọng của nguyên tắc bảo vệ NLĐ. Để đảm bảo cuộc sống cho NLĐ, pháp luật quy định về những mức lương tối thiểu vùng, ngành,… Đồng thời, pháp luật cũng có những quy định đảm bảo mức thu nhập của NLĐ phù hợp với công sức họ bỏ ra và những đóng góp của họ cho NSDLĐ. Bên cạnh đó, còn nhiều nội dung mà NLĐ được bảo vệ trong vấn đề này như thử việc, học việc, ngừng lao động không phải do lỗi của NLĐ, khấu trừ lương, giảm lương,…

Hiến pháp nước ta quy định lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho NLĐ. Bộ luật lao động cũng quy định: “Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo”. Nội dung của các quy định này là sự đảm bảo về mặt pháp lý cho NLĐ trong phạm vi khả năng, nguyện vọng của mình có được cơ hội tìm kiếm việc làm và có quyền làm việc. Để NLĐ được hưởng và thực hiện được các quyền nói trên của mình, pháp luật lao động ghi nhận quyền có việc làm và tự do lựa chọn nơi làm việc của NLĐ; đồng thời cũng quy định trách nhiệm của Nhà nước, của các DN và toàn xã hội trong việc tạo điều kiện để NLĐ có việc làm và được làm việc.

  • Bảo vệ các quyền nhân thân của người lao động trong lĩnh vực lao động:

Các quyền nhân thân của NLĐ khi họ tham gia vào quan hệ lao động bị tác động khá nhiều. Pháp luật bảo vệ cho NLĐ một cách toàn diện, do đó các quyền nhân thân của NLĐ như danh dự, nhân phẩm, uy tín, sức khỏe, tính mạng,… của họ cũng được đặc biệt chú trọng. Về vấn đề sức khỏe, tính mạng NLĐ, pháp luật đã đặt ra các quy định về an toàn vệ sinh, an toàn lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi để đảm bảo NLĐ có một sức khỏe ổn định, an toàn. NSDLĐ cần điều chỉnh cho hợp lý thời gian làm việc của những NLĐ đặc biệt như người tàn tật, người chưa thành niên, phụ nữ, người làm công việc nặng nhọc,… Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp khi NLĐ mắc phải thì sẽ được trợ cấp, đảm bảo điều kiện cấp cứu, điều dưỡng, điều trị. Ngoài ra, NLĐ còn được bảo vệ về các quyền nhân thân khác. Đặc biệt các quyền được bảo vệ về danh dự, nhân phẩm, uy tín của NLĐ được trú trọng. NSDLĐ không được phép xúc phạm, phân biệt đối xử, trù dập NLĐ trong bất cứ trường hợp nào, kể cả trường hợp NLĐ bị xử lý kỷ luật.

1.2. Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người lao động trong và sau khi đại dịch Covid-19.

Pháp luật về bảo vệ quyền lợi của NLĐ nói chung và bảo vệ quyền lợi NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 nói riêng phải tuân thủ cơ chế bảo đảm quyền lợi của NLĐ và bảo đảm quyền lợi của NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động. Cơ chế này bao gồm tổng thể các biện pháp mang tính đồng bộ từ xây dựng các quy định pháp luật về bảo đảm quyền lợi cho NLĐ đến quá trình tổ chức thực thi pháp luật, vận hành bộ máy, cơ quan chuyên trách có liên quan,… nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi để quyền lợi NLĐ luôn được thực thi trên thực tế. Cơ chế bảo đảm phải: bao gồm chủ thể bảo đảm, nội dung bảo đảm và các phương thức bảo đảm quyền lợi của NLĐ làm việc theo HĐLĐ tại DN.

      1. 1.2.1. Chủ thể bảo đảm

Đại dịch Covid-19 đã khiến cho nỗ lực đảm bảo quyền con người nói chung và quyền của NLĐ nói riêng ở các quốc gia, dù ở mức độ phát triển nào, bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Về quyền lao động, đại dịch Covid-19 đã gây ra sự rối loạn, ngừng trệ và thậm chí là tê liệt ở các quốc gia mà nó lan tới. Hầu hết các quốc gia, kể cả các quốc gia có độ mở cao, thậm chí ban đầu có sự lựa chọn thiên về miễn dịch cộng đồng, rút cuộc đều phải tạm đóng cửa biên giới. Ở các mức độ khác nhau và ở các thời điểm khác nhau, các nước buộc phải ban bố lệnh phong tỏa, hạn chế đi lại, yêu cầu giãn cách xã hội. Hơn một nửa dân số thế giới phải sống trong tình trạng giãn cách xã hội và phải hy sinh những nhu cầu cơ bản của cá nhân như đi làm, đến trường, đi du lịch hay gặp gỡ người thân… Đây là thực trạng chưa từng có tiền lệ, và đặc biệt nghiêm trọng hơn, nó tác động sâu sắc, tiêu cực đến tâm lý xã hội, con người trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng đã là xu thế lớn trong nhiều thập kỷ qua. Nói cách khác, trong thời đại toàn cầu hóa, chưa bao giờ quyền tự do, đặc biệt là tự do đi lại, của nhân loại bị tác động sâu sắc như vậy. Theo báo cáo mới nhất của Tổ chức Hàng không Dân dụng quốc tế (ICAO) về tác động của đại dịch đối với ngành hàng không, trong năm 2020, số vé bán ra giảm tới 51%, tương đương với giảm hơn 2,8 tỷ hành khách. Thiệt hại của các hãng hàng không trên thế giới vào khoảng 390 tỷ đô-la Mỹ(2). Đại dịch Covid-19 gây nhiều tác động tiêu cực chưa từng có tiền lệ lên toàn cầu, đặc biệt là về kinh tế. Giám đốc điều hành Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Kristalina Georgieva đánh giá “Thế giới đang đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhất kể từ thời kỳ Đại suy thoái vào những năm 30 của thế kỷ trước”(3). IMF dự báo nền kinh tế toàn cầu sẽ giảm khoảng 4,4% trong năm 2020(4). Điều quan trọng hơn là triển vọng kinh tế toàn cầu không chắc chắn và rất khó lường, phụ thuộc vào diễn biến dịch bệnh Covid-19, trong đó có việc sản xuất vắc-xin và điều trị bệnh. Cùng với kinh tế, các vấn đề xã hội, nhất là quyền con người nói chung và quyền của NLĐ nói riêng cũng đang đứng trước những thách thức lớn. Hàng trăm triệu NLĐ sẽ phải rơi vào tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, giảm giờ làm, tiền lương và rớt xuống dưới chuẩn nghèo. Các nước thu nhập trung bình và dưới trung bình chịu tác động nặng nề nhất với số giờ lao động sụt giảm tới 23,3%. Thu nhập lao động toàn cầu giảm tới 15%(5).Tại Khóa họp thường kỳ lần thứ 45 Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc diễn ra ở Geneva, Thụy Sĩ (14/9/2020), Cao ủy Liên hiệp quốc về quyền con người nói chung và quyền của NLĐ nói riêng Michelle Bachelet nhận định “Thế giới hiếm khi phải đối mặt với cú sốc toàn cầu, toàn diện và phức tạp như Covid-19” và “Không còn nghi ngờ gì nữa, vi-rút Corona là một phép thử đối với các nguyên tắc, giá trị và tính nhân văn”. Để vượt qua được phép thử này, các quốc gia cần có chính sách, hành động ứng phó toàn diện không chỉ về mặt y tế mà cả về chính trị, kinh tế, xã hội, trong đó có việc bảo đảm, cân đối giữa biện pháp phòng chống dịch bệnh với tôn trọng các quyền con người nói chung và quyền của NLĐ nói riêng , nhân phẩm của mỗi cá nhân và cộng đồng là một yêu cầu thiết yếu. Bà Bachelet kêu gọi đoàn kết và hợp tác toàn cầu, bảo đảm quyền tiếp cận vắc-xin, bảo hiểm y tế, xã hội và các quyền cơ bản khác đối với tất cả người dân, đồng thời nhấn mạnh bảo vệ quyền con người nói chung và quyền của NLĐ nói riêng là then chốt để bảo đảm hòa bình, an ninh, ổn định xã hội và phát triển bền vững cho các nước.

Tại Việt Nam cũng tuân theo quy tắc chung của các nước trên thế giới, chủ thể bảo đảm là những chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền lợi NLĐ làm việc theo HĐLĐ bao gồm Nhà nước, NSDLĐ, các các tổ chức xã hội, đoàn thể. Trong phạm vi đề tài, nhóm tác giả tập trung nghiên cứu 3 nhóm chủ thể có vai trò cơ bản, đó là cơ quan quản lý nhà nước về lao động, NSDLĐ và tổ chức đại diện NLĐ.

– Cơ quan quản lý nhà nước về lao động bao gồm chính phủ, cơ quan chuyên môn về lĩnh vực lao động và chính quyền địa phương.

Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất, có thẩm quyền quản lý tất cả các mặt, lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực quản lý nhà nước về lao động.

Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội là cơ quan chuyên môn của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: Lao động, tiền lương; việc làm, giáo dục nghề nghiệp; bảo hiểm xã hội;… Cơ quan này có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật lao động nói chung về HĐLĐ nói riêng.

Ở địa phương, thẩm quyền quản lý nhà nước về lao động thuộc về UBND và cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND. Việc bảo đảm quyền lợi của NLĐ của chính quyền các cấp được thể hiện thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện những chính sách, quyết định,… nhằm bảo đảm quyền lợi của NLĐ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, theo lĩnh vực, theo địa bàn quản lý.

– NSDLĐ là chủ thể giao kết HĐLĐ với NLĐ và trực tiếp quản lý NLĐ, do đó NSDLĐ có trách nhiệm bảo đảm quyền lợi của NLĐ. Việc bảo đảm này thông qua việc NSDLĐ tuân thủ HĐLĐ, tuân thủ thỏa ước lao động tập thể tại DN và tuân thủ pháp luật về lĩnh vực này.

– Tổ chức đại diện NLĐ là thiết chế được lập ra với chức năng, nhiệm vụ đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ trong quan hệ lao động. Nhiệm vụ trọng tâm của tổ chức đại diện NLĐ là đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ, tập thể lao động. Trong quan hệ lao động, tổ chức đại diện NLĐ là đối tác, độc lập, bình đẳng, không chịu sự quản lý, điều phối của giới chủ, chỉ cần tuân thủ pháp luật, không bị can thiệp hành chính.

      1. 1.2.2. Nội dung bảo đảm

Trong quan hệ lao động, quyền lợi của NLĐ bao gồm quyền liên quan đến điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động như việc làm, thu nhập, bảo hộ lao động và quyền liên kết, hội họp, cụ thể:

– Quyền làm việc của NLĐ: biểu hiện bằng có quyền tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và sẽ không bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc. Để thỏa mãn nhu cầu việc làm, NLĐ có quyền trực tiếp liên hệ để tìm việc hoặc đăng ký lại các tổ chức dịch vụ việc làm để tìm kiếm công việc; giao kết HĐLĐ với nhiều NSDLĐ, làm bất cứ công việc mà pháp luật không cấm cũng như có quyền lựa chọn nơi làm việc phù hợp với khả năng, nguyện vọng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sức khỏe và học nghề. Trong trường hợp điều kiện lao động không đảm bảo hoặc khi có cơ hội tốt hơn, NLĐ có thể chấm dứt quan hệ lao động này để tham gia vào quan hệ lao động khác trên cơ sở pháp luật.

– Quyền hưởng thu nhập và an sinh xã hội: tổng thu nhập của NLĐ từ công việc được hình thành từ tiền lương (theo HĐLĐ), phụ cấp và phúc lợi khác. Như vậy, bên cạnh tiền lương, NLĐ còn có các khoản thu nhập khác như tiền thưởng, tiền phụ cấp, bảo hiểm xã hội, tiền trợ cấp, phúc lợi xã hội. Trong đời sống xã hội, NLĐ phải đối mặt với những rủi ro từ cơ chế thị trường và các rủi ro khác như thiên tai, mất mùa, dịch bệnh,… Để phòng ngừa, khắc phục các rủi ro này, NLĐ phải được đáp ứng về mặt an sinh xã hội. Quyền được hưởng an sinh xã hội biểu hiện ở quyền được tham gia bảo hiểm xã hội, an toàn việc làm và tiền lương đủ sống; quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, quyền được cứu trợ đột xuất như đau ốm, mất mùa, thiên tai, dịch bệnh,…

– Quyền nghỉ ngơi của NLĐ là một trong những quyền rất cơ bản của NLĐ, được pháp luật can thiệp, bảo vệ. Hầu hết pháp luật các quốc gia đều quy định về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi, tạo hành lang pháp lý nhằm bảo vệ sức khỏe NLĐ trong quan hệ lao động để làm việc được lâu dài, đảm bảo tỷ số hợp lý giữa hai loại thời giờ này, vừa không thiệt hại cho sản xuất – kinh doanh, vừa không làm giảm sút khả năng lao động. Theo đặc điểm tình hình của DN và các ngành nghề khác nhau sẽ quy định những chính sách về thời gian nghỉ ngơi khác nhau, hay những quy định về thời gian nghỉ ngơi bắt buộc trong năm cho NLĐ và vẫn được hưởng lương, để tạo niềm tin cho NLĐ, xây dựng sự gắn kết hài hòa giữa NLĐ và NSDLĐ

– Quyền được bảo đảm ATLĐ, VSLĐ: ATLĐ và VSLĐ là những chế định của Luật Lao động bao gồm những quy phạm pháp luật quy định việc đảm bảo ATLĐ, VSLĐ nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe của NLĐ, đồng thời duy trì tốt khả năng làm việc lâu dài của NLĐ. Trong bất kỳ môi trường làm việc nào, NLĐ cũng sẽ chịu tác động của các yếu tố điều kiện lao động, trong đó có những yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại gây bất lợi cho bản thân NLĐ, có thể gây ra tai nạn lao động, ảnh hưỏng xấu đến sức khỏe NLĐ. Chính vì vậy, việc bảo đảm về ATLĐ, VSLĐ có ý nghĩa rất to lớn và quan trọng đối với NLĐ.

      1. 1.2.3. Phương thức bảo đảm

Phương thức bảo đảm quyền lợi của NLĐ được hiểu là những biện pháp mà các chủ thể bảo đảm sử dụng, kết hợp để thực hiện hiệu quả các mục tiêu và đảm bảo NLĐ được hưởng đầy đủ các quyền của mình theo quy định pháp luật. Trong điều kiện bình thường nói chung và bối cảnh Covid-19 nói riêng, các phương thức bảo đảm quyền lợi của NLĐ làm việc theo HĐLĐ bao gồm:

– Bảo đảm bằng quy định pháp luật về quyền lợi của NLĐ

Việc ban hành các quy định pháp luật rất cần thiết và quan trọng nhằm tạo ra cơ sở pháp lý điều chỉnh và bảo đảm quyền lợi của NLĐ. Các nhóm quyền lợi cơ bản của NLĐ được luật hóa bao gồm: Quyền làm việc; Quyền được hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với NSDLĐ; Quyền được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về ATLĐ, VSLĐ; Quyền được nghỉ ngơi; Quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật,… Như vậy, việc ghi nhận quyền lợi của NLĐ bằng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thống nhất là cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện các bảo đảm về quyền lợi của NLĐ làm việc theo HĐLĐ tại các DN, đặc biệt là trong bối cảnh Covid-19 như hiện nay.

– Bảo đảm bằng tổ chức, hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về lao động

Chủ thể cơ bản có trách nhiệm thúc đẩy và làm cho các quy định về quyền lợi của NLĐ được hiện thực hóa trong cuộc sống là Nhà nước thông qua các cơ quan được giao quyền lực là hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về lao động. Hoạt động của hệ thống này có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ. Pháp luật cần quy định rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước về lao động trong việc bảo đảm các quyền lợi của NLĐ, bởi việc thực hiện quyền làm phát sinh trách nhiệm của chính các cơ quan đó.

Bên cạnh đó, sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhà nước cũng là một trong những yếu tố quan trọng trong việc bảo đảm quyền của NLĐ làm việc theo HĐLĐ. Vì thế, cần có một cơ chế phối hợp chặt chẽ, thông suốt hoạt động giữa các cơ quan này với nhau nhằm đảm bảo hiệu quả thực hiện pháp luật.

– Bảo đảm bằng tổ chức đại diện NLĐ

Chức năng cơ bản và quan trọng nhất của tổ chức đại diện NLĐ là đại diện và bảo vệ quyền lợi của NLĐ. Tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở tham gia trực tiếp bảo vệ quyền của NLĐ trong một số lĩnh vực, như: kiểm tra điều kiện lao động, chấm dứt HĐLĐ, kỷ luật lao động,… Ở các nước Nga, Trung Quốc ghi nhận sự tham gia của công đoàn vào các trường hợp chấm dứt HĐLĐ, kỷ luật lao động,… nhưng Cộng đồng châu Âu lại quy định, công đoàn muốn tham gia thì phải đưa nội dung này vào thỏa ước ngành[3]…

Bên cạnh đó, nhiều quốc gia quy định tổ chức đại diện NLĐ tham gia vào cơ chế 3 bên để phối hợp với đại diện NSDLĐ, Nhà nước nhằm tìm ra các giải pháp bảo vệ lợi ích của mỗi bên và lợi ích chung trong vấn đề về lao động, xã hội mà cả 3 bên cùng quan tâm. Khác với biện pháp thương lượng tập thể (chủ yếu là 2 bên), cơ chế 3 bên hoạt động chủ yếu ở cấp quốc gia. Cùng với thương lượng tập thể, tổ chức đại diện NLĐ còn tham gia trong cơ chế 3 bên để phối hợp với các đối tác quyết định các vấn đề về lao động, giải quyết tranh chấp lao động, nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích của tập thể lao động hiệu quả hơn.

– Bảo đảm bằng trách nhiệm, nghĩa vụ của NSDLĐ

NSDLĐ có trách nhiệm, nghĩa vụ bảo đảm quyền lợi của NLĐ như sau:

Bảo đảm việc làm phù hợp với khả năng, nguyện vọng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sức khỏe của NLĐ, từ đó phân bố công việc hợp lý sẽ làm năng suất lao động tăng cao, hiệu quả, nhanh chóng.

Bảo đảm thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi hợp lý cho NLĐ. Việc áp dụng các quy định pháp luật lao động và các văn bản pháp luật hiện hành khác vào các DN giúp đảm bảo được thời gian lao động hợp lý, giảm thiểu tình trạng chèn ép, bóc lột sức lao động của NLĐ, đảm bảo sức khỏe để NLĐ có thể làm việc bình thường.

Bảo đảm các thu nhập cho NLĐ. NSDLĐ cần có trách nhiệm thỏa thuận mức lương, bậc lương hợp lý cho NLĐ; trách nhiệm tổ chức bồi dưỡng kiến thức, nâng cao tay nghề; tổ chức thi nâng bậc, nâng lương thường xuyên cho NLĐ đủ điều kiện về thời gian giữ bậc, đủ điều kiện về trình độ, kiến thức, kinh nghiệm, tay nghề; xét nâng bậc, nâng lương trước thời hạn cho NLĐ có thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất, có sáng kiến cải tiến kỹ thuật công nghệ, tăng năng suất lao động,…

Bảo đảm các chính sách về ATLĐ, VSLĐ. Đây là một trong những trách nhiệm quan trọng mà NSDLĐ phải đảm bảo cho NLĐ trong quá trình làm việc, giảm thiểu tối đa những nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. DN cần thực hiện nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn về ATLĐ, VSLĐ, phải đăng ký và kiểm định theo quy định của Chính phủ khi hoạt động tại Việt Nam.

– Bảo đảm bằng thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm

Công tác thanh tra luôn được coi là một trong chức năng cơ bản, thường xuyên trong hoạt động quản lý nhà nước của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Thanh tra để phát hiện vi phạm pháp luật trong lĩnh vực lao động và xử lý kịp thời các vi phạm đó có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong việc bảo vệ quyền của NLĐ, mà còn nhằm đảm bảo tính khả thi của các quy định pháp luật bảo vệ quyền của NLĐ nói riêng và của hệ thống pháp luật quốc gia nói chung.

1.3. Vai trò của việc bảo vệ quyền lợi NLĐ bằng pháp luật

Một là, vai trò thực hiện đồng bộ, hiệu quả các cơ chế, chính sách phù hợp, nhất là về tài chính, tiền tệ, an sinh xã hội để DN, NLĐ vượt qua khó khăn của đại dịch Covid-19, nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế – xã hội. Thực hiện chính sách miễn, giảm một số nghĩa vụ thuế đối với một số lĩnh vực, đối tượng chịu thiệt hại nặng nề do đại dịch Covid-19.

Hai là, vai trò đẩy nhanh việc thực hiện hiệu quả các chính sách hỗ trợ DN, cơ sở sản xuất kinh doanh để phục hồi hoạt động kinh tế của tất cả các ngành, đặc biệt là các ngành chịu ảnh hưởng lớn của dịch Covid-19 như ngành công nghiệp chế biến, chế tạo,… Bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với xu thế mới. Thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ an sinh xã hội, giải quyết việc làm, tạo điều kiện cho NLĐ sớm quay trở lại thị trường, bảo đảm đủ lực lượng lao động khi bước vào giai đoạn tăng cường sản xuất, kinh doanh sau dịch.

Ba là, Nhà nước đưa ra những chính sách đảm bảo thu nhập cho NLĐ và hộ gia đình, hạn chế tình trạng mất việc làm trong tình hình nhiều DN phải đóng cửa hoặc giảm quy mô sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, cần có chính sách hỗ trợ tiền lương cho các DN để khuyến khích duy trì và tuyển dụng lao động thuộc các nhóm dễ bị tổn thương như lao động nghèo, tay nghề thấp hoặc lao động phi chính thức, lao động di cư, phụ nữ, người khuyết tật,…

Bốn là, vai trò trung kết nối việc làm và thúc đẩy tạo việc làm trong các lĩnh vực có tiềm năng phục hồi việc làm bằng cách cải thiện các luồng thông tin và cơ chế việc làm linh hoạt, hỗ trợ kết nối NLĐ tìm việc làm và trợ cấp tìm việc làm. Để làm được điều này, cần nâng cao chất lượng của các trung tâm dịch vụ việc làm, hỗ trợ tìm việc. Tăng cường hợp tác giữa DN với các nhà cung cấp dịch vụ việc làm tư nhân kèm theo bảo đảm sự linh hoạt trong khung pháp lý. Cần có các chính sách hỗ trợ tính thanh khoản cho DN trong các lĩnh vực bị ảnh hưởng nhiều do Covid-19 nhằm đảm bảo các DN vừa và nhỏ có cơ hội duy trì hoạt động.

Năm là, đưa ra những quy định cho tổ chức đại diện NLĐ nhằm tích cực hơn trong việc hỗ trợ, bảo vệ NLĐ bị NSDLĐ đối xử không công bằng. Việc đảm bảo thỏa ước lao động tập thể cũng phải bao gồm những lý do liên quan đến dịch bệnh hoặc hoặc các lý do hạ bậc lương và sa thải và rõ ràng, cụ thể. Trong thời kỳ khủng hoảng này, đối thoại xã hội đóng vai trò quan trọng với cả DN và NLĐ để có được giải pháp phù hợp cho cả hai bên và phòng ngừa tranh chấp lao động.

Sáu là, vai trò pháp luật đưa ra quy định cho DN mở rộng cơ chế cho phép NLĐ nghỉ bệnh được trả lương, trợ cấp ốm đau, nghỉ thai sản, nghỉ chăm sóc con nhỏ hoặc gia đình do nguồn tài chính tập thể chi trả để đảm bảo thu nhập cho những người bị bệnh, bị cách ly hoặc chăm sóc trẻ em, người già hoặc các thành viên khác trong gia đình NLĐ. Một đề xuất khác là DN nên bổ sung các chế độ bảo đảm việc làm và giữ chân lao động, như giảm thời gian làm việc hay tăng trợ cấp thất nghiệp và các hình thức hỗ trợ có thời hạn khác như trợ cấp lương khi cho nghỉ tạm thời trong dịch, quyền lợi cho công nhân nghỉ để đào tạo,…

Kết luận chương 1

Bảo vệ quyền lợi của NLĐ nói chung và quyền lợi của NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam là một trong những vấn đề quan trọng trong quan hệ lao động được nhiều công trình đã nghiên cứu, khảo sát dưới các góc độ khác nhau. Những công trình đó, phụ thuộc vào mục tiêu, phạm vi nghiên cứu, điều kiện hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, xã hội ở một giai đoạn nhất định, phục vụ cho ngành khoa học cụ thể, đã nghiên cứu, giải quyết một hoặc một số nội dung liên quan đến bảo vệ quyền lợi của NLĐ

Các kết quả của những công trình nghiên cứu này là những giá trị khoa học quan trọng để luận văn kế thừa trong quá trình nghiên cứu về việc bảo vệ quyền lợi của NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam theo pháp luật Việt Nam hiện hành. Hơn thế nữa, những kết quả nghiên cứu đó cũng sẽ gợi mở để Luận văn đánh giá sâu sắc hơn trên quan điểm cá nhân nhằm giải quyết một cách hệ thống các nhiệm vụ đặt ra trong quá trình nghiên cứu.

Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học, Luận văn tiếp tục làm rõ và giải quyết những nội dung cơ bản sau: khái niệm bảo vệ quyền của NLĐ dưới góc độ cơ chế bảo vệ quyền của NLĐ; khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, nội dung, ý nghĩa pháp luật bảo vệ quyền của NLĐ trong và sau khi đại dịch Covid-19 ở Việt Nam.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG VÀ SAU ĐẠI DỊCH COVID-19 Ở VIỆT NAM

2.1. Tình hình lao động – việc làm tại Việt Nam trong và sau đại dịch Covid-19

      1. 2.1.1. Tình hình lao động – việc làm của Việt Nam trong đại dịch Covid-19

Năm 2020, Việt Nam đã đạt được những thành công nhất định trong kiểm soát dịch Covid-19, với tỷ lệ ca mắc trên 1 triệu dân thuộc nhóm thấp nhất thế giới. Mặc dù vậy, thị trường lao động vẫn chịu ảnh hưởng khá nghiêm trọng. 

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, tính đến hết năm, cả nước có khoảng 32,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch bệnh. Trong đó, 69,2% bị giảm thu nhập, 39,9% phải giảm giờ làm hoặc nghỉ luân phiên và khoảng 14% buộc phải tạm ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của Việt Nam tính trong cả năm 2020 là 2,48%, cao hơn 0,31 phần trăm so với năm 2019 và cao nhất trong 10 năm trở lại đây. 

Tuy nhiên, ở Việt Nam, công tác phòng, chống dịch đã bước sang giai đoạn mới với nhiều thách thức lớn. Một loạt lao động trong khu vực kinh tế tư nhân đang chịu cảnh nghỉ không lương hoặc phải giãn, giảm thời gian làm việc, thu nhập giảm sút, không được đóng bảo hiểm xã hội trong tháng cao điểm dịch Covid-19 vì hầu như DN không có việc làm.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, 2 tháng đầu năm 2021 có hơn 16.200 nghìn DN tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, số chờ giải thể hơn 9.400 DN. Số DN hoàn tất thủ tục giải thể là 2.800 DN, trong đó có 2,5 nghìn DN có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng. Những hành động thiết thực gỡ khó cho cộng đồng DN đang được tích cực triển khai, nổi bật là việc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 01/2020 về việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, giữ nguyên nhóm nợ vay nhằm hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi Covid-19. Bộ Tài chính đang soạn thảo và trình Chính phủ ban hành nghị định về gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất cho đối tượng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 trong tháng 3/2020, với gói hỗ trợ khoảng 30.000 tỷ đồng để góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh;… Hội DN nhỏ và vừa Việt Nam cũng tích cực vào cuộc, kêu gọi các doanh nhân, DN, các tổ chức thành viên của Hiệp hội đề cao trách nhiệm tuyên truyền, vận động hội viên thực hiện tốt việc kiểm soát nguồn lây từ ổ dịch trong nước và đặc biệt là từ nước ngoài; theo dõi thông tin và phối hợp với các cơ quan chức năng để chủ động và nỗ lực duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, bảo đảm quyền lợi của NLĐ; tích cực tái cơ cấu bộ máy, tìm kiếm thị trường và nguồn cung ứng nguyên vật liệu mới, hạn chế thấp nhất việc lệ thuộc vào một thị trường… Đồng thời, vận động các tổ chức, cá nhân, doanh nhân, DN trong và ngoài nước tích cực ủng hộ về vật chất và tinh thần, chia sẻ khó khăn với DN và NLĐ[4].

Trong bối cảnh đó, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra các chính sách hỗ trợ NLĐ được đánh giá là kịp thời và chưa có tiền lệ. Ngay trong tháng 4 năm 2020, Nghị quyết số 42/NQ-CP và Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg về các biện pháp hỗ trợ người dân, DN gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 đã được ban hành.

Sang tới năm 2021, nhất là từ khi đợt dịch lần thứ 4 bùng phát vào cuối tháng 4/2021, thị trường lao động lại rơi vào trạng thái biến động khó lường. Chỉ tính riêng quý II/2021, cả nước có 557 nghìn lao động bị mất việc; 4,1 triệu người phải tạm dừng sản xuất kinh doanh; 4,3 triệu người bị cắt giảm giờ làm hoặc buộc phải nghỉ giãn việc, nghỉ luân phiên; và 8,5 triệu lao động bị giảm thu nhập. 

Chính phủ một lần nữa ban hành thêm các chính sách hỗ trợ NLĐ và NSDLĐ gặp khó khăn trong đại dịch qua Nghị quyết số 68/NQ-CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg. Tuy nhiên, ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 tới thị trường lao động – việc làm vẫn không thể đo đếm được.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\LUẬN VĂN THẠC SĨ CÁC ĐẠI HỌC KHÁC\KHO SỐ 1\Ảnh hưởng của đại dịch covid 19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Đồng Hới\CHUYỂN VÙNG/ LVHC NGUYỄN THỊ YẾN K13-LUẬN VĂN THẠC SỸ- HUẾ- k13

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *