Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của công tác kế toán, là mục tiêu của bộ phận kế toán để cung cấp thông tin tài chính cho các đối tượng bên trong và bên ngoài công ty. Do tính đa dạng của đối tượng sử dụng thông tin nên báo cáo tài chính cung cấp thông tin gì, mức độ chính xác và chi tiết của thông tin luôn là chủ đề được nhiều đối tượng quan tâm

Với mỗi phương pháp kế toán được lựa chọn thì thông tin trình bày trên báo cáo tài chính sẽ khác nhau. Các nghiên cứu trước đây cho thấy, sự vận dụng các chính sách kế toán khác nhau của mỗi công ty phục thuộc vào nhiều yếu tố : nhận thức của người sở hữu, né tránh thuế, thu hút vốn đầu tư mới, kỳ vọng tăng lợi nhuận… Chính mỗi tác nhân này ít nhiều ảnh hưởng đến hành vi khác nhau trong việc điều chỉnh lợi nhuận một cách có thể chấp nhận được.

Nhận thấy được ý nghĩa thiết thực trong việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán, tác giả đã chọn đề tài “ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu này bao gồm:

  • Nghiên cứu thực trạng áp dụng chính sách kế toán tại các công ty xây lắp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
  • Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố có liên quan đến việc lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn TP. Đà Nẵng
  • Đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao tính hiệu quả trong việc lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn TP. Đà Nẵng

* Câu hỏi nghiên cứu

Căn cứ trên mục tiêu nghiên cứu đề xuất, câu hỏi nghiên cứu bao gồm:

  • Thực trạng áp dụng chính sách kế toán tại tại các công ty xây lắp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng?
  • Các yếu tố có liên quan ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn TP. Đà Nẵng như thế nào?
  • Các khuyến nghị nào có thể đưa ra nhằm nâng cao tính hiệu quả trong việc lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn TP. Đà Nẵng?

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện tại TP. Đà Nẵng và phạm vi nghiên cứu là các doanh nghiệp đang thực hiện hoạt động xây lắp trong thành phố. Chủ doanh nghiệp và giám đốc tài chính sẽ có cơ sở để đưa ra các quyết định giúp cho việc quản trị tài chính tốt hơn.

4. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong bài viết này là nghiên cứu định lượng dựa trên các kỹ thuật phân tích thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá, và phân tích hồi quy. Mục tiêu là tìm ra mối quan hệ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc áp dụng chính sách và chuẩn mực kế toán của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn TP. Đà Nẵng. Để thực hiện được các phân tích này, tác giả quyết định sử dụng kỹ thuật điều tra phỏng vấn với mẫu các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố. Bảng hỏi được xây dựng dựa trên thang đo Likert 5 mức độ, trong đó [1] là Rất không đồng ý và [5] là Rất đồng ý. Việc chọn mẫu dựa trên phương pháp chọn mẫu xác suất với mẫu dự kiến là 100 doanh nghiệp xây lắp đang có hoạt động kinh doanh tại TP. Đà Nẵng.

* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

5. Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN

Chương 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 4: HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KIẾN NGHỊ

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

ĐẾN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN

1.1. CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN ĐỐI VỚI VIỆC ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN

1.1.1. Chính sách kế toán

Chính sách kế toán của doanh nghiệp là những nguyên tắc, cơ sở và các phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong quá trình lập và trình bày báo cáo tài chính.

Lựa chọn chính sách kế toán là việc chọn lựa có cân nhắc nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán về các nguyên tắc, cơ sở và các phương pháp kế toán mà doanh nghiệp có thể áp dụng trong các trường hợp khác nhau nhằm phục vụ cho mục đích chủ quan của nhà quản trị. Các chính sách kế toán của doanh nghiệp phân thành các loại sau:

a. Chính sách kế toán ghi nhận doanh thu

b. Chính sách kế toán về TSCĐ

c. Chính sách kế toán liên quan đến hàng tồn kho

d. Chính sách kế toán về chi phí đi vay

e. Chính sách kế toán về lợi thế thương mại

f. Chính sách kế toán đối với giao dịch bằng ngoại tệ

1.1.2. Vai trò của chính sách kế toán đối với việc điều chỉnh lợi nhuận

Chính sách kế toán là một trong những chính sách quan trọng của doanh nghiệp; bao gồm những nguyên tắc, cơ sở và các phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong quá trình lập và trình bày Báo cáo tài chính. Chính sách kế toán áp dụng ở mỗi doanh nghiệp được chuẩn mực kế toán cho phép lựa chọn phù hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp đó. Tuy nhiên, do việc áp dụng các chính sách kế toán khác nhau sẽ mang lại những thông tin khác nhau được trình bày trên báo cáo tài chính, nên bên cạnh việc lựa chọn chính sách kế toán phù hợp theo chuẩn mực, doanh nghiệp còn phải lựa chọn chính sách kế toán có thể giúp họ “quản trị” lợi nhuận, mang lại những thông tin có lợi nhất cho họ.

Ở nước ta đang tồn tại rất nhiều các loại hình doanh nghiệp, với mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ có nhiều chiến lược kinh doanh và các nguồn thông tin tài chính khác nhau nhằm thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, mà các thông tin tài chính này do kế toán cung cấp. Chính vì vậy, thông tin kế toán cung cấp ngày càng phát huy tính hữu hiệu trong việc ra quyết định của các đối tượng có liên quan và báo cáo tài chính là công cụ thể hiện thông tin này.

Rõ ràng giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ khích lệ mạnh mẽ hành động quản trị lợi nhuận chịu thuế theo hướng điều chỉnh lợi nhuận giảm trong năm 2008.

1.2. CÁC MỤC TIÊU CỦA DOANH NGHIỆP ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TẠI DOANH NGHIỆP

1.2.1. Mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp

Nói đến sản xuất kinh doanh dưới bất kỳ hình thái kinh tế xã hội nào không ai có thể quên vấn đề hiệu quả. Năng suất – chất lượng- hiệu quả là mục tiêu phấn đấu của mọi nền sản xuất, là thước đo trình độ phát triển về mọi mặt của toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như từng đơn vị cơ sở. Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế quốc dân, là nơi trực tiếp tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội, tạo tiền đề phấn đấu đạt mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp cũng như tích luỹ cho xã hội. Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp không chủ động khai thác hết khả năng sẵn có của mình để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao mà có thái độ ỷ lại trông chờ vào nhà nước. Từ khi bước sang cơ chế thị trường với sự quản lý vĩ mô của nhà nước đã có không ít các doanh nghiệp do không thích nghi được với cơ chế mới nên đã bị đào thải (giải thể hoặc phá sản). Nền kinh tế thị trường đã mở ra một cơ hội lớn cho các doanh nghiệp hội nhập và phát triển nhưng để thực hiện được điều đó thì mỗi doanh nghiệp phải quan tâm đến chất lượng sản phẩm sản xuất ra, phải hoạt động kinh doanh có hiệu quả mà biểu hiện cụ thể là phải tạo ra lợi nhuận và lợi nhuận ngày càng tăng. Lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế có hiệu quả nhất, là chỉ tiêu phản ánh trình độ quản lý sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn, trình độ tổ chức sản xuất sản phẩm. Lợi nhuận tác động đến tất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại hay phá sản của doanh nghiệp. Việc thực hiện được chỉ tiêu lợi nhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp được vững chắc.

1.2.2. Mục tiêu về thuế thu nhập doanh nghiệp

Thuế thu nhập doanh nghiệp có lịch sử hình thành từ rất sớm được thể hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau. Ở Việt Nam, tiền thân của thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế lợi tức được áp dụng vào trước những năm 90 của thế kỷ XX và áp dụng cho các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh (các cơ sở kinh tế quốc doanh áp dụng chế độ trích nộp lợi nhuận). Từ năm 1990, Quốc hội ban hành luật thuế Lợi tức áp dụng thống nhất chung đối với tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế. Thuế lợi tức được thu dựa trên cơ sở lợi nhuận thu được trong quá trình sản xuất kinh doanh của đối tượng nộp thuế.

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, cùng với sự gia tăng số lượng các doanh nghiệp ở các khu vực và công tác cải cách hệ thống chính sách thuế nói chung, cải tiến công tác quản lý thuế nói riêng đã góp phần quan trọng nâng cao tỷ trọng thuế TNDN trong tổng số thu của NSNN. Năm 2006, số thu thuế TNDN chiếm 9,48% trong tổng thu NSNN, năm 2007 là 12,48%, 2008 là 11,05% Nguồn thu từ thuế TNDN chiếm tỷ trọng lớn trong NSNN không chỉ phản ánh sự gia tăng các doanh nghiệp mà còn phản ánh về chất nguồn thu của NSNN do kết quả lao động thặng dư mà có, đồng thời tạo cho NSNN có tính ổn định nhất định.

Một trong những mục tiêu của thuế TNDN là điều tiết thu nhập, đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập xã hội. Thuế TNDN được áp dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, không những đảm bảo bình đẳng công bằng về chiều ngang mà còn cả công bằng về chiều dọc. Tóm lại, thuế TNDN trong thực thi có vai trò quan trọng không chỉ đối với nguồn thu NSNN mà còn là công cụ trợ giúp Nhà nước trong việc điều chỉnh các mục tiêu của kinh tế vĩ mô, bảo đảm yêu cầu công bằng trong phân phối thu nhập giữa các doanh nghiệp.

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN

1.3.1. Mức độ phức tạp của các chuẩn mực

Những nghiên cứu nguyên thủy về vấn đề này thường liên quan đến mối quan hệ giữa việc vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế với các tổ chức kiểm toán. Al-Baskeki (1995) cho rằng doanh nghiệp kiểm toán có ảnh hưởng đáng kể đến việc quyết định của công ty trong việc lựa chọn chuẩn mực kế toán. Nếu một DN được kiểm toán bởi một trong các hang kiểm toán lớn thì thông thường, DN đó quan tâm nhiều hơn đến việc vận dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế. Từ thực tiễn đó, liên hệ với điều kiện Việt Nam, tác giả cho rằng, nếu báo cáo tài chính (BCTC) của một DN được kiểm toán thì mức độ tuân thủ và vận dụng các chuẩn mực kế toán sẽ cao hơn những DN không yêu cầu bắt buộc kiểm toán.

1.3.2. Tính độc lập về nghề nghiệp

Theo Kết quả điều tra thử nghiệm của PGS.TS Trần Đình Khôi Nguyên (2010) đã cho thấy việc thực hành kế toán hầu như chỉ dựa trên hệ thống các thông tư hướng dẫn, điều này chứng tỏ tính độc lập về nghề nghiệp của các kế toán viên là rất thấp. Chính vì thế, đây là một nhân tố cần xem xét trong quá trình đánh giá vận dụng chuẩn mực kế toán.

1.3.3. Trình độ của kế toán viên

Trình độ của kế toán viên ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn các kỹ thuật, chính sách kế toán phù hợp để tối đa hóa lợi ích của doanh nghiệp. Nếu kế toán có khả năng vận dụng các chính sách ké toán một cách nhuần nhuyễn sẽ giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp đạt được những mục tiêu cần thiết. Việc vận dụng hay thay đổi các chính sách ké toán giữa các kỳ có khi phải áp dụng hồi tố các chính sách đã thay đổi, do đó kế toán phải tính toán lại các số liệu đã cung cấp ở những năm trước nên hầu như các doanh nghiệp ít thay đổi các chính sách kế toán đã áp dụng trước đó.

1.3.4. Ảnh hưởng của tổ chức kiểm toán hay vai trò của công tác thanh tra, kiểm tra

Trong điều kiện của Việt Nam quy định về kiểm toán chỉ áp dụng bắt buộc cho các công ty yết giá hoặc các tổng công ty nhà nước. Nhưng có một vấn đề là, một doanh nghiệp nếu được kiểm toán báo cáo tài chính thì mức độ tuân thủ và vận dụng các chuẩn mực kế toán sẽ cao hơn nhưng doanh nghiệp không bắt buộc kiểm toán. Chính vì vậy, cần phải xem nhân tố này là nhân tố không thể thiếu trong việc lựa chọn chính sách kế toán.

1.3.5. Thuế thu nhập doanh nghiệp

Như ta đã biết, giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế có sự khác biệt. Sự khác biệt này do quy định về đo lường, ghi nhận doanh thu, thu nhâp và chi phí trong kế toán và thuế khác nhau. Theo PGS.TS Nguyễn Công Phương, ở nước ta tồn tại một mối liên hệ chặt chẽ giữa kế toán và thuế, luật thuế can thiệp mạnh mẽ vao lĩnh vực kế toán để quy định các nguyên tắc đánh giá, nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính. Các nguyên tắc kế toán bị áp đặt để xác định lợi nhuận chịu thuế. Từ đó, các phương pháp kế toán được sử dụng để xác định lợi nhuận chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Lợi nhuận chịu thuế chính là lợi nhuận kế toán được điều chỉnh lại một số khoản chi phí được cho là không hợp lý, hợp lệ. Mối quan hệ chặt chẽ này cho thấy rằng, khi một nhà quản trị thực hiện hành động quản trị lợi nhuận kế toán, trong mức độ nào đó lợi nhuận chịu thuế cũng bị ảnh hưởng. Hay nói cách khác, nhà quản trị có thể thực hiện hành động quản trị lợi nhuận để tiết kiệm thuế thu nhập khi có cơ hội.

Các yếu tố ảnh hưởng đến thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp. Mà thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp được luật thuế quy định có tính bắt buộc chung đối với từng loại hình doanh nghiệp, nên nếu cố định thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm, thì thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp phụ thuộc vào thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.

Mục tiêu của nhà quản trị có thể là tăng lợi nhuận để thu hút vốn đầu tư, bán cổ phiếu ra thị trường,… mà họ sẽ lựa chọn điều chỉnh giảm hoặc tăng lợi nhuận. Cụ thể lựa chọn chính sách kế toán như sau:

  • Lựa chọn chính sách kế toán ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí.
  • Tiếp theo việc lựa chọn phương pháp kế toán, các nhà quản trị cũng có thể vận dụng các phương pháp kế toán thông qua việc lựa chọn thời điểm ghi nhận chi phí và các ước tính kế toán.
  • Lựa chọn thời điểm mua hoặc bán tài sản cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán.

1.3.6. Nhận thức của chủ doanh nghiệp

Trong nhiều trường hợp, kế toán được vận dụng như là một phương tiện để kê khai thuế theo quản lý của nhà nước, chứ nhiều chủ doanh nghiệp chưa thật sự quan tâm đến vai trò quản lý của kế toán. Do đó, nhân tố này sẽ ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp.

1.3.7. Quy mô của doanh nghiệp

Qui mô được xem là nhân tố ảnh hưởng đáng kể đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán. Các DN có qui mô lớn thường hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, mức độ phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế rất cao và do vậy việc vận dụng các chuẩn mực kế toán sẽ đầy đủ hơn.

1.3.8. Khả năng sinh lời

Khả năng sinh lợi là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ. Nhìn chung, khả năng sinh lợi cần ít nhất đủ để đáp ứng được hai đòi hỏi cấp bách: Đảm bảo duy trì vốn cho doanh nghiệp (đầu tư); trả được các khoản lãi vay và đảm bảo hoàn trả khoản vay.

Mọi quyết định và thay đổi về việc nắm giữ tài sản không chỉ làm nảy sinh vấn đề tài chính mà còn làm nảy sinh cả vấn đề sinh lợi. Nếu khả năng sinh lợi không đủ lớn, doanh nghiệp sẽ không đủ phương tiện để đáp ứng nhu cầu của nhiều yếu tố sản xuất kinh doanh khác nhau.

CHƯƠNG 2

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

2.1. TỔNG QUAN VỀ CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Trên thế giới, ngành xây dựng luôn được coi là ngành kinh tế quan trọng, là bộ phận không thế thiếu của nền kinh tế quốc dân.

Ở Việt Nam cũng vậy. Khi tổng kết bức tranh kinh tế toàn cảnh, người ta thường chú ý đến 3 chỉ số: Việc sử dụng đất đai, việc sử dụng lao động và sản lượng. Những số liệu thống kê chính thức trong nhiều năm đã cho phép chúng ta cùng hình dung ra các nét cơ bản nhất của ngành công nghiệp xây dựng.

Theo các số liệu gần đây nhất, thì hiện nay ở Việt Nam, ngành Xây dựng là ngành trực tiếp và gián tiếp đào tạo việc làm cho khoảng 15% lực lượng lao động và chiếm gần 15% GDP.

Đà Nẵng là thành phố trẻ, có tốc độ phát triển nhanh trong những năm gần đây. Sự phát triển không những về quy mô đô thị mà còn phát triển cả về chất lượng đi theo hướng hiện đại hóa, nhưng phải bảo đảm mục tiêu thành phố thân thiện với môi trường và lấy lợi ích của người dân làm trung tâm. Để đạt được điều này phải nói đến sự đóng góp của ngành Xây dựng Đà Nẵng trong việc quy hoạch phát triển đô thị tạo nền cho việc phát triển kinh tế – xã hội không những ở hiện tại mà cho cả một tương phát triển bền vững của địa phương.

2.2. QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

2.2.1. Nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính được tiến hành thông qua kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung nhằm vừa đề khám phá, vừa để khẳng định, điều chỉnh, bổ sung các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng và lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp xây lắp tại TP. Đà Nẵng. Nghiên cứu được tiến hành như sau:

Đối tượng tham gia thảo luận nhóm gồm 20 người đang làm công tác kế toán tại các doanh nghiệp tại TP. Đà Nẵng

Chương trình và nội dung thảo luận nhóm được thiết kế theo dàn bài thảo luận nhóm do tác giả soạn thảo (phụ lục 1)

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2015\LUAN VAN KE TOAN\LUAN VAN (Huynh Thi Cam Nhung)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *