Quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở tại huyện Đức Phổ

Quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở tại huyện Đức Phổ - tỉnh Quảng Ngãi

Quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở tại  huyện Đức Phổ – tỉnh Quảng Ngãi

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Những năm vừa qua, hòa giải ở cơ sở không ngừng được củng cố về tổ chức, đội ngũ, từng bước nâng cao về chất lượng, hiệu quả hoạt động, góp phần quan trọng trong việc giữ gìn tình đoàn kết tương thân tương ái trong cộng đồng dân cư, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc, kịp thời ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo đảm ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, giảm bớt các vụ việc phải chuyển đến Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, tiết kiệm thời gian, tiền bạc của nhân dân, kinh phí cho Nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác hòa giải ở cơ sở trong thời gian qua đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cần được hoàn thiện như: công tác hòa giải chưa được chính quyền một số xã, thị trấn quan tâm đúng mức; việc hòa giải có nơi có lúc chưa thực hiện kịp thời, đúng quy định, số vụ việc tồn đọng còn lớn, nhiều vụ việc hòa giải mang tính hình thức; kiến thức pháp luật và kỹ năng hòa giải của một số hòa giải viên còn hạn chế…

Với thực tế nêu trên, việc nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở tại huyện Đức Phổ – tỉnh Quảng Ngãi” là hết sức cần thiết nhằm tăng cường và nâng cao hơn nữa, giải quyết những vấn đề nóng bỏng nhưng mang tính lâu dài, góp phần quan trọng trong công tác quản lý nhà nước ở địa bàn huyện Đức Phổ.

  1. Tình hình nghiên cứu

Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1. Mục đích của luận văn

Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

3.2. Nhiệm vụ

– Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về hòa giải ở cơ sở;

– Phân tích, đánh giá, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng đối với công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở đã đạt được; tồn tại, hạn chế trong quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước trên địa bàn huyện Đức Phổ.

– Đề xuất những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả đối với quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là lý luận và thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở và việc áp dụng các quy định pháp lý, đội ngũ cán bộ, công chức, tổ chức bộ máy, các nguồn lực thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian: Hoạt động quản lý nhà nước đối với hòa giải ở cơ sở kể từ năm 2009 trở lại đây.

Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

  1. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận nhằm thừa nhận tính khách quan của các quy luật hoạt động và phát triển của xã hội, thừa nhận quan điểm lịch sử với sự nhận thức các hiện tượng, các quá trình của đời sống xã hội, thừa nhận quan điểm: “tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội”. Việc vận dụng và phát triển phép duy vật biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự vật, hiện tượng trong nhiều mối quan hệ và tác động qua lại với nhau, trong mâu thuẫn và vận động phát triển không ngừng của lịch sử xã hội.

Vì vậy, cách vận dụng phương pháp này sẽ giúp cho vấn đề nghiên cứu một cách toàn diện hơn, có thể chỉ ra những biện pháp, giải pháp tối ưu để giải quyết vấn đề đó. Ngoài ra, luận văn thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh trong phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” gắn liền với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân và đó là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta; các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở, hoạt động quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở. Chính vì vậy, cần vận dụng cách tiếp cận lịch sử cụ thể để nghiên cứu, khảo sát các sự việc hòa giải ở cơ sở để từ đó có những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn còn sử dụng phương pháp tổng hợp; phương pháp hệ thống; phương pháp thu thập, phân tích và xử lý thông tin … để thu thập số liệu, phân tích tổng hợp các thông tin về công tác hòa giải ở cơ sở và quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở.

Một số tài liệu, sách báo liên quan. Tình hình tổ chức và hoạt động về công tác hòa giải ở cơ sở hiện nay.

6. Đóng góp của luận văn

Là công trình chuyên khảo với những nội dung mới về quản lý nhà nước đối với công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Vì thế, luận văn có một số đóng góp khoa học như sau:

– Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung nhất về hòa giải ở cơ sở và quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở;

– Đánh giá thực trạng về quản lý nhà nước đối với hòa giải ở cơ sở. Phân tích và chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của thực trạng quản lý nhà nước đối với hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Đức Phổ từ năm 2009 trở lại đây;

– Đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Đức Phổ trong thời gian đến.

7. Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở;

Chương 2: Thực trạng công tác hòa giải ở cơ sở và quản lý Nhà nước về hòa giải ở cơ sở tại huyện Đức Phổ – tỉnh Quảng Ngãi.

Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

Quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở tại  huyện Đức Phổ - tỉnh Quảng Ngãi
Quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở tại huyện Đức Phổ – tỉnh Quảng Ngãi

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ

HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

1.1. QUAN NIỆM VỀ HÒA GIẢI VÀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

1.1.1. Khái niệm về hòa giải

Trong khoa học cũng như trong thực tiễn có nhiều quan niệm về hòa giải tùy theo cách tiếp cận phù hợp với từng loại hình hòa giải. Một số luật gia cho rằng hòa giải là chế định pháp luật về hòa giải, coi hòa giải như một nguyên tắc, trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động của Tòa án; còn các nhà thực tiễn thì coi hòa giải là những hành vi thuyết phục các bên tranh chấp xóa bỏ những tranh chấp, mâu thuẫn, bất đồng, tiến đến sự hòa thuận, đoàn kết thương yêu đùm bọc lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, xã hội hài hòa, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Tuy có nhiều quan niệm khác nhau, nhưng có thể hiểu: hòa giải, xem xét ở mức độ chung, là một phương thức giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp, theo đó, với sự giúp đỡ của cá nhân, tổ chức giữ vai trò trung gian, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn, phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội.

1.1.3. Khái niệm và đặc điểm hòa giải ở cơ sở

– Khái niệm về hòa giải ở cơ sở: theo quy định tại Điều 2, Luật hòa giải ở cơ sở: “ Hoà giải ở cơ sở là việc hoà giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật hòa giải ở cơ sở”.

– Đặc điểm:

Về chủ thể hòa giải: Tổ hòa giải hiện nay không phải là một tổ chức chính quyền mà là một tổ chức quần chúng của nhân dân, do nhân dân cử ra và được thành lập theo đơn vị dân cư như: xóm, thôn, tổ dân phố, làng, bản, ấp, cụm dân cư… việc hòa giải các tranh chấp nhỏ trong nhan dân do tổ viên Tổ hòa giải thực hiện.

Về bản chất hòa giải: tôn trọng sự tự nguyện các bên, do tổ hòa giải, hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ.

Về phương pháp hòa giải: trên cơ sở quy định của pháp luật, đạo đức xã hội, các hòa giải viên giải thích, thuyết phục, giáo dục, cảm hóa, động viên trên tinh thần tự nguyện.

Về quy trình, thủ tục hòa giải: Trình tự ,thủ tục hòa giải không quy định bắt buộc và không có khuôn mẫu thống nhất. Tùy thuộc vào đối tượng, nội dung, tính chất vụ việc… mà hòa giải viên lựa chọn phương pháp, cách thức, kỹ năng hòa giải cho thích hợp.

1.1.4. Vai trò của hòa giải ở cơ sở

Công tác hòa giải có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp nhỏ trong nhân dân, phòng ngừa vi phạm pháp luật; xây dựng tình làng, nghĩa xóm đầm ấm, đùm bọc giúp đỡ nhau, “ chín bỏ làm mười”, xây dựng xã hội bình yên, giàu mạnh, tăng cường tình đoàn kết trong nhân dân và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân; tiết kiệm thời gian, chi phí cho nhà nước và nhân dân.

1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở

Hòa giải ở cơ sở là một hoạt động mang tính nhân văn, xã hội tự nguyện, tự quản đã trở thành đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Hòa giải ở cơ sở không chỉ đơn thuần góp phần hạn chế các tranh chấp dân sự và phòng ngừa tội phạm, vận động nhân dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, củng cố tình làng nghĩa xóm, tăng cường tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư, mà còn góp phần quan trọng trong việc giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội. Duy trì, phát triển, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở cũng chính là góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước.

Vậy, Quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở được hiểu là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm tạo ra các điều kiện để công nhận, xác lập, duy trì, ổn định, phát triển tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở, bảo đảm cho hoạt động hòa giải ở cơ sở đạt hiệu quả, vừa tuân theo các quy định của pháp luật vừa giữ gìn và không ngừng vun đắp cho nghĩa tình, đạo lý giữa con người với nhau trong đời sống cộng đồng, xã hội.

1.2.2. Đặc điểm quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở

Quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, Quản lý nhà nước về hòa giải là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước vừa mang tính xã hội. Quản lý nhà nước về hòa giải thông qua nhiều phương tiện, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng là ban hành văn bản.

Thứ hai, Quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ.

Thứ ba, hoạt động quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở có tính chấp hành và điều hành.

Thứ tư, Quản lý nhà nước về hòa giải là hoạt động mang tính xã hội và phối hợp.

Thứ năm, Quản lý nhà nước đối với hòa giải cần có tính liên tục, kịp thời, linh hoạt để đáp ứng sự vận động không ngừng của đời sống xã hội.

1.2.3. Hình thức và phương pháp quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở

– Căn cứ vào nội dung, tính chất và phương thức tác động của chủ thể quản lý lên khách thể, đối tượng quản lý. Các hình thức quản lý được khái quát có 5 hình thức cơ bản: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật; thực hiện các hoạt động khác mang tính pháp lý; tiến hành các hoạt động tổ chức trực tiếp; thực hiện các tác động về nghiệp vụ – kỹ thuật.

– Phương pháp quản lý là cách thức thực hiện những chức năng của quản lý hay cách thức tác động của các chủ thể quản lý lên các đối tượng quản lý nhằm đạt được hành vi xử sự cần thiết. Có nhiều phương pháp như: phương pháp tuyên truyền, phổ biến; thuyết phục, động viên, khen thưởng, kiểm tra, giám sát; phương pháp hành chính, kinh tế, tự quản…

1.2.4. Nội dung quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở

Thứ nhất, xây dựng, ban hành văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở;

Thứ hai, tổ chức bộ máy và bố trí đội ngũ cán bộ làm công tác hòa giải ở cơ sở;

Thứ ba, thực hiện kiểm tra, giám sát công tác hòa giải ở cơ sở;

Thứ tư, tuyên truyền, huấn luyện về công tác hòa giải ở cơ sở;

1.2.5. Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở

Các cơ quan quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở bao gồm: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác hòa giải trong phạm vi cả nước; Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở và chỉ đạo, hướng dẫn Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở địa phương.

1.3. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

1.3.1. Sự hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở

Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Nghị định số: 160/1999/NĐ-CP đã đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã nảy sinh nhiều vấn đề không còn phù hợp, bất cập. Chính vì vậy, Ngày 20 tháng 6 năm 2013, Quốc hội đã ban hành Luật hòa giải ở cơ sở. Để kịp thời đưa Luật hòa giải đi vào cuộc sống, Chính phủ đã ban hành Nghị định số: 15/2014/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hòa giải ở cơ sở. Đây là hai văn bản luật quy định một cách đầy đủ và đồng bộ các vấn đề về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở.

1.3.2. Công tác tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở

Công tác tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở phải được tiến hành đồng bộ từ Trung ương tới địa phương và sự phối kết hợp giữa các cơ quan hữu quan, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Công tác tổ chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở có hiệu quả hay không phụ thuộc phần lớn vào nhận thức về tầm quan trọng công tác này của cá nhân người đứng đầu, của tập thể lãnh đạo, của cán bộ quản lý. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, có cơ chế cho công tác hòa giải phát huy tác dụng sẽ góp phần cho quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở đạt hiệu quả.

1.3.3. Năng lực, trình độ, tinh thần trách nhiệm, số lượng, chất lượng của cán bộ, công chức, đội ngũ hòa giải viên tham gia hoạt động hòa giải ở cơ sở

Đội ngũ cán bộ, công chức Tư pháp chuyên trách từ tỉnh đến huyện, xã, thị trấn còn thiếu và thường xuyên thay đổi nên thiếu kinh nghiệm trong thực tiễn, trong hướng dẫn, kiểm tra công tác hòa giải ở cơ sở. Một số cán bộ Tư pháp cấp xã chưa thực hiện tốt vai trò công tác tham mưu cho Ủy ban nhân dân cùng cấp trong công tác hòa giải ở cơ sở. Đội ngũ hòa giải viên tuy đông, nhưng chất lượng hòa giải chưa cao.

Ngoài tác động từ các quy định pháp luật có liên quan đến công tác hòa giải thì còn những yếu tố tác động đến công tác quản lý nhà nước như các giá trị đạo đức chuẩn mực, phong tục, tập quán được vận dụng ở từng vùng, miền khác nhau. Từ đó pháp luật cũng chưa quy định và pháp điển hóa trong các văn bản pháp luật.

1.3.4. Nhận thức của cộng đồng dân cư về hòa giải ở cơ sở

Trình độ nhận thức của cộng đồng dân cư đối với công tác hòa giải, hiểu biết pháp luật ngày càng được nâng cao thông qua nhiều hình thức tuyên truyền, các phương tiện thông tin đại chúng giúp hóa giải nhiều mâu thuẫn đem lại sự cảm thông, chia sẻ, tha thứ… giữa con người với con người, tạo nên cuộc sống hòa thuận, tươi đẹp, bình an trong từng khu dân cư, thôn, xóm,…Do đó, trình độ nhận thức của cộng đồng dân cư là yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở, nếu trình độ nhận thức của nhân dân cao sẽ giúp giảm bớt các vụ mâu thuẫn, thắc mắc trong nội bộ nhân dân và ngược lại, nếu trình độ của nhân dân còn hạn chế sẽ phát sinh nhiều mâu thuẫn có khi dẫn đến các vụ án hình sự, gây mất tình làng, nghĩa xóm, đoàn kết nội bộ trong nhân dân, đạo đức bị xói mòn, ảnh hưởng đến an ninh, chính trị và trật tư an toàn xã hội ở địa phương.

1.3.5. Sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động hòa giải ở cơ sở

Để nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở, pháp luật hiện hành đã xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan tới hoạt động này, trong đó có nhiều quy định về việc phối hợp trong hoạt động hòa giải. Nếu công tác phối hợp giữa các cơ quan thiếu chặt chẽ, thiếu đồng bộ, thiếu sự quan tâm, thiếu trách nhiệm; chắt chắn kết quả đem lại không cao, thậm chí đi ngược trở lại.

1.3.6. Tác động của sự phát triển kinh tế – xã hội và xây dựng xã hội dân chủ

Do tốc độ phát triển của xã hội ngày càng tăng, kinh tế – xã hội, văn hóa phát triển là một yêu cầu, là quy luật tất yếu của mỗi quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển đó nó làm nảy sinh các quan hệ xã hội như: tranh chấp dân sự ( các hợp đồng dân sự, ranh giới…), hôn nhân gia đình, trong lĩnh vực đất đai, môi trường sinh thái, trong quan hệ ứng xử… các loại vụ việc tranh chấp ngày càng đa dạng và phức tạp. Đây cũng là những yếu tố tác động trực tiếp đến việc quản lý nhà nước đối với công tác hòa giải tại cơ sở.

Dù đã nói nhiều tới các khái niệm như Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra (và cả dân thụ hưởng); xây dựng dân chủ ở cơ sở…song cho tới nay cơ chế vận hành để đưa các khái niệm ấy vào cuộc sống vẫn còn nhiều khoảng trống.

Một yêu cầu quan trọng, có ý nghĩa quyết định là xây dựng nhận thức của cả bộ máy nhà nước, cán bộ, đảng viên và người dân về một xã hội dân chủ, ở đó người dân phải có ý thức tự chăm lo, tự quản, tránh ỷ lại vào nhà nước. Trước mắt rõ ràng là cần xây dựng, hoàn thiện, nhân rộng cơ chế tự quản ở khu dân cư theo pháp luật của nhà nước.

1.3.7. Kinh phí phục vụ cho công tác hòa giải ở cơ sở

Từ quan điểm “có thực mới vực được đạo”, cho dù hoạt động của các Hòa giải viên là tự nguyện và cơ bản dựa trên sự nhiệt tình cá nhân của họ, nhưng việc “hỗ trợ và động viên” về vật chất là cần thiết. Nhằm duy trì sự hoạt động hòa giải ở cơ sở rất cần được quan tâm. Nên một trong những quyền của hòa giải viên theo Điều 9 Luật hòa giải ở cơ sở là được “hưởng thù lao theo vụ, việc khi thực hiện hòa giải”.

Chương 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ VÀ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

TẠI HUYỆN ĐỨC PHỔ – TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TÁC HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

2.1.1. Khái quát về huyện Đức Phổ

Đức Phổ là huyện đồng bằng, nằm về phía Đông nam tỉnh Quảng Ngãi, nơi tiếp giáp với tỉnh Bình Định. Cách trung tâm tỉnh lỵ khoảng 40 km. Huyện Đức Phổ có diện tích tự nhiên: 372,76km2. Dân số: 146.183 người (năm 2013). Mật độ dân số: 392 người/km2. Đơn vị hành chính trực thuộc gồm 14 xã (Phổ Hòa, Phổ Thuận, Phổ Văn, Phổ Phong, Phổ An, Phổ Quang, Phổ Ninh, Phổ Minh, Phổ Nhơn, Phổ Cường, Phổ Khánh, Phổ Thạnh, Phổ Châu, Phổ Vinh), và 1 (một) thị trấn Đức Phổ (huyện lị), với 91 thôn, tổ dân phố.

Nền kinh tế huyện Đức Phổ đã có những chuyển biến mạnh mẽ. Kinh tế của huyện có tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo đúng định hướng tăng dần tỷ trọng ngành dịch vụ, du lịch và thương mại, công nghiệp – xây dựng, giảm dần tỷ trọng nông – lâm nghiệp. Sự tăng trưởng này đã góp phần tăng thêm tiềm lực cho nền kinh tế, quy mô kinh tế của huyện ngày càng lớn và đã có những đóng góp nhất định vào sự phát triển chung của tỉnh. Tuy nhiên vẫn còn những tồn tại hạn chế nhất định; tình trạng lấn chiếm đất đai thường xảy ra, việc áp giá bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phức tạp, khai thác tài nguyên khoáng sản không theo quy hoạch làm biến dạng cảnh quan; môi trường ngày càng ô nhiễm nặng; tham ô, tham nhũng, lãng phí, làm giàu bất chính gây bất bình trong nhân dân… từ đó đơn thư khiếu nại vượt cấp ngày càng gia tăng về số lượng và cả tính phức tạp.

2.1.2. Thực trạng công tác hòa giải ở cở sở tại huyện Đức Phổ

a. Mô hình tổ hòa giải ở cơ sở

Tổ hòa giải trên địa bàn huyện Đức Phổ được thành lập 100% ở các thôn, tổ dân phố, cụm dân cư. Tùy đặc điểm, tình hình cụ thể của cơ sở, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định số lượng Tổ hòa giải ở địa phương. Thành phần Tổ hòa giải: gồm Trưởng thôn, tổ dân phố, khu dân cư; Bí thư chi bộ hoặc chi ủy viên, cán bộ Mặt trận thôn, Hội Phụ nữ, Nông dân, Cựu chiến binh, Người cao tuổi, Đoàn thanh niên, các chức sắc tôn giáo, người có uy tín, am hiểu pháp luật…được cơ cấu vào trong các Tổ hòa giải.

b. Hoạt động của Tổ hòa giải ở cơ sở

Trong những năm qua, các thành viên của Tổ hòa giải cùng sống trong cộng đồng dân cư thường xuyên chăm lo về cuộc sống tinh thần cho từng gia đình, mỗi khi có những mâu thuẫn, xích mích phát sinh trong gia đình, cá nhân với cá nhân, cá nhân với tổ chức, Tổ hòa giải phối hợp với Ban công tác Mặt trận thôn bàn bạc, trao đổi, thống nhất nội dung và phân công thành viên tổ hòa giải kịp thời gặp gỡ, lắng nghe, phân tích những điều hay lẽ phải, giảng giải cho đôi bên thấy được những cái sai, cái đúng, cái nghĩa, cái tình mà tự nguyện dàn xếp, thỏa thuận, biến những vụ việc từ to chuyển thành nhỏ và việc nhỏ trở thành không có việc.

Phân công trách nhiệm cho từng hòa giải viên, mở sở theo dõi hoạt động; giải quyết các trường hợp không thành…

Quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở tại  huyện Đức Phổ - tỉnh Quảng Ngãi
Quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở tại huyện Đức Phổ – tỉnh Quảng Ngãi

2.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ CỦA HUYỆN ĐỨC PHỔ

2.2.1. Công tác xây dựng và ban hành văn bản

      1. Trên cơ sở các văn bản luật, văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn của cấp trên về công tác hòa giải ở cơ sở. Phòng Tư pháp tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện ban hành một số văn bản chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, công tác ban hành văn bản ở cấp huyện mới chỉ dừng lại công văn chỉ đạo. Phòng Tư pháp chưa tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện trong công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chương trình kế hoạch thực hiện, nhất là việc hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ, tổ chức tập huấn cho đội ngũ hòa giải viên, tài liệu cung cấp cho hòa giải viên còn quá thiếu; từ đó, các hòa giải viên lúng túng trong khi tổ chức hòa giải, dẫn đến một số hòa giải viên thực hiện hòa giải sai quy định, thậm chí vi phạm nguyên tắc hòa giải, hòa giải những vụ việc mà pháp luật cấm không được hòa giải.

2.2.2. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở

Trong những năm qua, công tác Tư pháp được Đảng, Nhà nước quan tâm đổi mới, cải cách, đặc biệt đối với công tác hòa giải ở cơ sở; từ đó đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về công tác hòa giải cũng được củng cố và kiện toàn cả về số lượng và chất lượng. Phòng Tư pháp có 04 cán bộ có trình độ đại học luật. Toàn huyện có 15 xã, thị trấn; có 15 cán bộ đại học luật, 07 cán bộ có trình độ trung cấp luật, còn lại có trình độ trung cấp và đại học thuộc các lĩnh vực khác.

2.2.3. Công tác triển khai, tuyên truyền, phổ biến các văn bản về công tác hòa giải ở cơ sở, tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hòa giải cho đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở

Phòng Tư pháp tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện triển khai các đạo luật, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để cán bộ và nhân dân tôn trọng thực hiện. Cụ thể, Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013; Nghị định số 15/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hòa giải ở cơ sở; Chỉ thị số 03/CT-BTP ngày ngày 27/6/2011 của Bộ Tư pháp về tăng cường công tác hòa giải ở cơ sở; Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT-CP-UBMTTQVN ngày 18/11/2014 của Chính phủ và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về hướng dẫn phối hợp thực hiện một số quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở…; đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho người dân thông qua công tác hòa giải ở cơ sở. Tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ hòa giải viên để nâng cao kiến thức và kỹ năng hòa giải; tổ chức các cuộc thi hòa giải viên giỏi mỗi năm một lần để các hòa giải viên có dịp giao lưu, học tập, trao đổi kinh nghiệm.

2.2.4. Về công tác sơ – tổng kết, thi đua khen thưởng

Với chức năng quản lý nhà nước đối với công tác hòa giải ở địa phương, Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Tư pháp đã thường xuyên chỉ đạo , hướng dẫn Ủy ban nhân dân, Ban Tư pháp các xã, thị trấn tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp định kỳ đánh giá sơ kết, tổng kết công tác hòa giải ở cở sở. Biểu dương, khen thưởng các hòa giải viên có thành tích xuất sắc trong công tác hòa giải.

2.2.5. Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở

Bên cạnh việc quan tâm tổ chức hoạt động sơ kết, tổng kết thi đua khen thưởng, Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo Phòng Tư pháp chú ý đến kiểm tra, hướng dẫn cơ sở trong thực thi văn bản quy phạm pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Thường xuyên chủ động phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, các tổ chức thành viên tổ chức kiểm tra, hướng dẫn Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn trong quá trình triển khai, thực hiện các quy định pháp luật về hòa giải.

2.2.6. Sự phối hợp giữa cơ quan Tư pháp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hòa giải ở cơ sở

Công tác hòa giải ở cơ sở là công tác vận động quần chúng do vậy đòi hỏi sự tham gia tích cực của các ban, ngành, Mặt trận, hội đoàn thể ở cơ sở và phải gắn chặt với các phong trào quần chúng ở địa phương. Theo quy định tại Điều 30, Luật hoà giải ở cơ sở quy định: “ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tham gia quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở, vận động tổ chức, cá nhân chấp hành pháp luật, giám sát việc thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở; phối hợp kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở; các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật”.

2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG

2.3.1. Ưu điểm và nguyên nhân của ưu điểm

a. Thành tựu

Trong những năm qua, tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Đức Phổ đã có nhiều chuyển biến tích cực. Mạng lưới Tổ hòa giải được thành lập rộng khắp; hoạt động quản lý nhà nước về hòa giải từ huyện xã, thị trấn và các Tổ hòa giải đã được quan tâm, chỉ đạo và đi vào nề nếp; chất lượng, hiệu quả hoạt động ngày càng được nâng lên, hàng năm tỷ lệ hòa giải thành đạt trên 80%; hoạt động hòa giải ở cơ sở đã giải quyết kịp thời những mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ trong nội bộ nhân dân, qua đó đã góp phần giảm số lượng vụ việc phải chuyển đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và Tòa án giải quyết. Có thể nêu ra một số ưu điểm sau đây:

– Sự quan tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối hợp với UBMTTQVN cùng cấp có nhiều nỗ lực chỉ đạo, triển khai, tổ chức thực hiện, xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật về công tác hòa giải ở cơ sở phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương.

– Có một mạng lưới Tổ hòa giải đều khắp trên địa bàn huyện, đã hoạt động và thường xuyên được củng cố, kiện toàn theo đúng quy định của pháp luật. Giải quyết từ cơ sở các tranh chấp, mâu thuẫn, khiếu nại trong nhân dân, giảm áp lực lớn cho chính quyền các cấp. Các cơ quan Tư pháp đã phát huy được vai trò của cơ quan tham mưu về công tác hòa giải ở cơ sở cho UBND cùng cấp tại địa phương. Đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp đa số có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực, trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ, tận tụy với công việc được giao.

– Việc tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ hòa giải, cung cấp tài liệu cho các hòa giải viên được quan tâm thường xuyên nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ hòa giải viên trên địa bàn huyện. Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật ngày càng được chú trọng, đa số các văn bản luật, các văn bản dưới luật được triển khai đầy đủ cho cán bộ, nhân dân.

– Công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở được tăng cường. Có thể khẳng định, hầu hết các vụ việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhờ có công tác hòa giải mà các bên tranh chấp đạt được sự tự nguyện thỏa thuận, giải quyết với nhau, hạn chế được việc phải đưa ra cơ quan chức năng giải quyết, góp phần phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

b. Nguyên nhân của ưu điểm

– Sự quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh, huyện, xã ngày càng được sâu sát và thường xuyên kiểm tra, kiện toàn tổ chức, tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức và cho đội ngũ hòa giải viên, tuyên truyền viên pháp luật nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ hòa giải ở cơ sở.

+ Thực hiện nghiêm túc “Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2008 đến năm 2012” của Chính phủ. Đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, nhân dân.

+ Sự phối hợp giữa UBND với UBMTTQVN cùng cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận được tăng cường, linh hoạt. Vì vậy đã từng bước thu được nhiều kết quả khả quan trong quá trình hòa giải. Đội ngũ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở đảm bảo về số lượng và chất lượng, trình độ, năng lực quản lý ngày càng được nâng cao.

+ Hoạt động của các Tổ hòa giải được gắn liền với nhiệm vụ của các thôn, tổ dân phố, khu dân cư nên sát với thực tế. Do đó, những mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ trong nội bộ tổ dân phố, khu dân cư đã được hòa giải nhanh chóng, kịp thời và được nhân dân đồng tình ủng hộ.

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế

a. Hạn chế

Thứ nhất, sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền đối với công tác hòa giải ở cơ sở có lúc, có nơi chưa quan tâm đúng mức. Một vài địa phương, trong đó có cấp xã triển khai công tác hòa giải không đồng đều, một số nơi tiến hành còn chậm, chưa hiệu quả, chưa chủ động kiện toàn đội ngũ hòa giải viên.

Thứ hai, mạng lưới các Tổ hòa giải tuy rộng khắp nhưng chưa đủ sức đảm đương hết công việc, chất lượng của đội ngũ hòa giải viên chưa cao.

Đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch tại cấp xã còn thiếu, đảm nhận nhiều công việc và thường xuyên biến động sau mỗi kỳ bầu cử cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến công tác chỉ đạo, hướng dẫn, tập huấn, kiểm tra công tác hòa giải ở cơ sở.

Thứ ba, tỷ lệ các vụ việc hòa giải thành cao. Song, chất lượng hòa giải các vụ việc chưa thật sự có hiệu quả. Hoạt động của Tổ hòa giải ở một số nơi còn hình thức, bị “hành chính hóa”, làm mất đi ý nghĩa, bản chất tự nguyện, tự thỏa thuận của hòa giải.

Thứ tư, công tác kiểm tra, theo dõi, tổng hợp, thống kê tình hình và tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở chưa thường xuyên, chặt chẽ.

Thứ năm, sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước với các ban, ngành, đoàn thể, nhất là với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong công tác hòa giải ở cơ sở chưa thực sự chặt chẽ, chưa phát huy hết vai trò, nhiệm vụ của các tổ chức quần chúng theo quy định của pháp luật, thiếu cơ chế phối hợp. Do đó, công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở gặp nhiều khó khăn bất cập.

Thứ sáu, việc tổ chức in ấn, biên soạn và cấp phát tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ về hòa giải cơ sở còn hạn chế. Nội dung, hình thức bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ hòa giải cho các hòa giải viên quá sơ sài, chưa thật sự đa dạng, phong phú (chủ yếu là hội nghị).

Thứ bảy, kinh phí dành cho công tác hòa giải còn rất hạn chế, có nơi không có nguồn kinh phí hoạt động, khoán trằng cho Tổ hòa giải. Mức chi hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu thực tế; chưa tạo được động lực thúc đẩy các hòa giải viên tích cực, hăng hái giải quyết kịp thời các mâu thuẫn, xích mích trong cộng đồng dân cư.

Thứ tám, đội ngũ cán bộ quản lý về công tác hòa giải còn quá mỏng. Công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã hoạt động chuyên trách với rất nhiều loại công việc khác nhau… Rất nhiều nơi còn giao việc thường trực bộ phận “ một cửa” cho công chức Tư pháp – Hộ tịch… Cho nên, họ khó có thể đảm nhiệm tốt chức năng quản lý công tác Tư pháp nói chung, quản lý hòa giải ở cơ sở nói riêng.

b. Nguyên nhân của những hạn chế

– Các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở chưa hoàn thiện, khi chưa thực hiện Luật hòa giải.

– Các cấp ủy, chính quyền ở địa phương chưa thật sự nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác hòa giải đối với đời sống xã hội, chưa huy động cả hệ thống chính trị vào công tác hòa giải ở cơ sở; thiếu sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất cho công tác này; Sự phối hợp giữa Mặt trận và các tổ chức thành viên của Mặt trận với chính quyền và cơ quan Tư pháp cùng cấp thiếu chặt chẽ.

– Cơ quan Tư pháp chưa thật sự chủ động tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp trong quản lý công tác hòa giải ở cơ sở. Mặt khác nhận thức của người dân về vị trí, vai trò và nhiệm vụ của Tổ hòa giải còn hạn chế nên thiếu tin tưởng và hợp tác có hiệu quả.

– Các mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân, nhất là tranh chấp đất đai ngày càng gia tăng và phức tạp hơn. Trong khi đó số lượng, chất lượng và trình độ của hòa giải viên có hạn nên ảnh hưởng rất nhiều đến công tác hòa giải ở cơ sở.

– Đội ngũ công chức ở cấp huyện chưa có quy định cụ thể và cũng chưa bố trí công chức đảm nhiệm theo dõi riêng mà chỉ kiêm nhiệm. Đối với công chức làm công tác tư pháp ở cấp xã quá ít, chỉ có một vài địa phương bố trí 02 (hai) cán bộ Tư pháp – Hộ tịch, còn phần lớn bố trí (01) một công chức Tư pháp – Hộ tịch. Công chức này thường giải quyết công tác chứng thực, hộ tịch, tuyên truyền pháp luật, thi hành án, công tác văn bản… không còn quỹ thời gian dành cho công tác hòa giải, từ đó công tác hòa giải ở cơ sở xem như bỏ ngõ, khoán trắng cho các Tổ hòa giải và các hòa giải viên. Mặt khác, đối với công tác hòa giải ở cơ sở là mang tính tự nguyện, nên việc tham gia của các thành viên của tổ hòa giải mang tính hình thức, nặng công việc gia đình và cho rằng “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng” từ đó chất lượng hòa giải ở cơ sở không cao.

Quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở tại  huyện Đức Phổ - tỉnh Quảng Ngãi
Quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở tại huyện Đức Phổ – tỉnh Quảng Ngãi

– Nguồn kinh phí của huyện và xã, thị trấn gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí không bố trí nguồn kinh phí để phục vụ cho công tác này mà “khoán trắng” cho Tổ hòa giải.

– Thực tế hiện nay, việc giải quyết tranh chấp đất đai là một vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp, trong khi đó các văn bản liên quan về chính sách đất đai quá rộng, quá nhiều văn bản, hòa giải viên thì thiếu thông tin, trình độ còn nhiều hạn chế từ đó mà việc hòa giải ở cơ sở về lĩnh vực này chưa thật sự đem lại kết quả như mong muốn.

– Chế độ bồi dưỡng cho những người làm công tác hòa giải ở cơ sở hầu như chưa được thỏa đáng, từ đó công tác hòa giải ở cơ sở chưa thật sự đem lại hiệu quả cao, chưa khuyến khích các thành phần trong xã hội tham gia một cách tích cực.

– Các văn bản pháp luật quy định còn chồng chéo, chung chung, chưa rõ ràng, cụ thể dẫn đến việc áp dụng chưa thống nhất như: cơ chế phối hợp giữa cơ quan nhà nước và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc trong công tác hòa giải chưa rõ ràng.

Chương 3

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ TẠI HUYỆN ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI

3.1. ĐỊNH HƯỚNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HÒA GIẢI, TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ

3.1.1. Quan điểm

Một là, quán triệt quan điểm của Đảng về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay

Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được coi “là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong việc tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật, góp phần xây dựng ý thức “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” của cán bộ và nhân dân.…Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần được tăng cường thường xuyên, liên tục ở tầm cao hơn, nhằm làm cho cán bộ và nhân dân hiểu biết và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, thông qua đó mà kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật”.

Hai là, nâng cao chất lượng hoạt động hòa giải ở cơ sở

Thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng nhất là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó xác định “khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài”. Đổi mới cơ chế quản lý đối với tổ chức và hoạt động của tổ hòa giải ở cơ sở. Quan tâm tốt việc thành lập, kiện toàn các tổ hòa giải và lực lượng hòa giải viên theo quy định; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc lãnh đạo chỉ đạo Ủy ban Mặt trận các cấp tham gia quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; vận động tổ chức, cá nhân chấp hành pháp luật và giám sát việc thực hiện về hòa giải ở cơ sở; gắn với thực hiện cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Tiếp tục xã hội hóa công tác này.

3.1.2. Yêu cầu

Một là, nâng cao vị trí, vai trò của các cơ quản lý nhà nước trong hoạt động công tác hòa giải ở cơ sở

Hai là, tăng cường quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở phải xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn và điều kiện cụ thể của địa phương

Ba là, kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy, huy động các thành phần tham gia nhằm nâng cao chất lượng hoạt động hòa giải ở cơ sở

Bốn là, tăng cường quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở phải gắn liền với việc hoàn thiện chế độ, chính sách, bảo đảm kinh phí hoạt động.

3.2. CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ TẠI HUYỆN ĐỨC PHỔ

3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở

Trong điều kiện đẩy mạnh cải cách Tư pháp, mở rộng dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; việc ban hành văn bản pháp lý có hiệu lực là rất cần thiết nhằm:

– Tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, toàn diện và thống nhất điều chỉnh, kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng hoạt động đối với công tác hòa giải ở cơ sở. Các quy định của pháp luật phải thống nhất trong hệ thống pháp luật. Tránh tình trạng một văn bản luật quy định về cùng nội dung nhưng ở một văn bản khác cũng nội dung đó lại quy định khác, dẫn đến chồng chéo, thực hiện không khả thi.

– Quy định rõ trách nhiệm, cơ chế phối hợp giữa các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng có thẩm quyền quản lý, các tổ chức, cá nhân có liên quan đối với hoạt động hòa giải ở cơ sở. Thu hút sự quan tâm tham gia của các ngành, các cấp, tổ chức, cá nhân và toàn xã hội tham gia vào công tác hòa giải ở cơ sở.

      1. 3.2.2. Nâng cao vai trò của các tổ chức Đảng, chính quyền và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp

– Thứ nhất, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, quán triệt, nâng cao nhận thức đối với đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở nói riêng.

– Thứ hai, đẩy mạnh, đổi mới toàn diện phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận và cơ quan Tư pháp các cấp đối với công tác hòa giải ở cơ sở theo chương trình, mục tiêu của Trung ương.

      1. 3.2.3. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, chú trọng đến các văn bản liên quan đến công tác hòa giải ở cơ sở

Tổ chức triển khai một cách đồng bộ và thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương đã chỉ rõ: “Đa dạng cách thức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, hòa giải, giải quyết khiếu nại, tố cáo”. Tổ chức triển khai Luật hòa giải ở cơ sở và các văn bản dưới luật thường xuyên, liên tục và đầy đủ.

3.2.4. Tăng cường quan hệ phối hợp, phát huy vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức Đoàn thể, các tổ chức xã hội khác trong quản lý công tác hòa giải ở cơ sở

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận không những tham gia vào quản lý công tác hòa giải, mà còn là nhân tố tích cực trực tiếp hòa giải các vụ việc, các tranh chấp, xích mích trong nhân dân, trong việc gắn kết công tác hòa giải với các cuộc vận động, các phong trào quần chúng… Điều 7 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã quy định một trong những nhiệm vụ của Mặt trận là: “Tham gia hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật”.

3.2.5. Thực hiện phân công, phân cấp, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở hợp lý

Việc phân công, phân cấp càng rõ ràng, cụ thể thì càng đảm bảo hiệu quả, chất lượng hoạt động của các cơ quan, giảm tình trạng né tránh, đùn đẩy, không thực hiện hết trách nhiệm. Vì vậy, cần xác định rõ, cụ thể trách nhiệm quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở là của các cơ quan quản lý nhà nước,

      1. 3.2.6. Nâng cao năng lực các Tổ hòa giải, các hòa giải viên và các công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã

Khoản 2, Điều 1, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 khẳng định: “Hoạt động hòa giải của Tòa án, hòa giải thương mại, trọng tài, hòa giải lao động và hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) theo quy định của các luật khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này”. Như vậy, mô hình Ban hòa giải hoặc Hội đồng hòa giải ở xã, phường, thị trấn (cấp xã) không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Hòa giải ở cơ sở. Điều này cho thấy tính kế thừa Pháp lệnh năm 1998 về mô hình hòa giải ở cơ sở của Luật Hòa giải. Nâng cao năng lực cho các tổ hòa giải, hòa giải viên, công chức tư pháp – hộ tịch là yêu cầu cần thiết.

3.2.7. Về chế độ tài chính đối với hoạt động hòa giải ở cơ sở

Nhà nước cần hỗ trợ kinh phí cho công tác quản lý, chỉ đạo tổ chức và hoạt động hòa giải, đồng thời bảo đảm cơ sở vật chất thiết yếu phục vụ hoạt động của Tổ hòa giải, có chế độ, chính sách đối với các hòa giải viên. Đồng thời huy động các nguồn lực khác trong xã hội tham gia vào công tác hòa giải ở sở sở. Cần phải xác định việc đầu tư cho hoạt động hòa giải chính là đầu tư cho sự phát triển bền vững.

3.2.8. Các giải pháp khác

3.2.8.1. Về đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ cho hòa giải viên và người làm công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở

Các giải pháp cụ thể:

– Về nội dung đào tạo, bồi dưỡng: Bộ Tư pháp cần nghiên cứu, xây dựng bộ tài liệu thống nhất đào tạo, bồi dưỡng về quản lý, hướng dẫn công tác hòa giải dành cho đội ngũ công chức Tư pháp làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở. Nội dung chủ yếu của tài liệu này bao gồm:

+ Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở.

+ Quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở; hướng dẫn nghiệp vụ quản lý tổ chức và hoạt động hòa giải.

+ Kỹ năng hướng dẫn nghiệp vụ hòa giải, chú ý hướng dẫn kỹ năng hòa giải theo các lĩnh vực (đất đai, dân sự, hôn nhân gia đình,…), theo đối tượng (phụ nữ, người già, nông dân, thành thị…).

+ Các nội dung pháp luật liên quan đến công tác hòa giải, liên quan thiết thực đến đời sống của nhân dân ở cơ sở, đặc biệt cập nhật các nội dung mới.

– Về phương pháp đào tạo, bồi dưỡng: cần kết hợp giữa lý thuyết với thực tiễn, cần có những ví dụ, những tình huống cụ thể. Áp dụng phương pháp cùng tham gia, có sự trao đổi qua lại giữa học viên, làm việc theo nhóm; giảng viên, báo cáo viên chỉ là người hướng dẫn, định hướng cho học viên vừa học vừa hành; kết hợp với các phương tiện hỗ trợ như: tranh ảnh, băng hình, máy chiếu,…để buổi tập huấn sinh động, người học dễ tiếp thu.

– Về hình thức, thời gian đào tạo, bồi dưỡng: tổ chức thường xuyên theo định kỳ hàng tháng, hàng quý hoặc hàng năm và khi có sự thay đổi cán bộ, thay đổi hòa giải viên, thay đổi văn bản pháp luật cần phải được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kịp thời.

3.2.8.2. Về tổ chức in ấn, biên soạn, cung cấp tài liệu nghiệp vụ cho hòa giải viên và người làm công tác quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở

Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp cần thường xuyên cung cấp cho đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và hòa giải viên ở cơ sở các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ hòa giải; sách hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, sách pháp luật phổ thông, bỏ túi, tờ rơi, tờ gấp, sổ tay, cẩm nang, băng đĩa,…

3.2.8.3. Về kiểm tra, đôn đốc, thống kê việc thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở

Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn, thống kê được xem như một nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm bảo cho các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động hòa giải được thực hiện đầy đủ trên thực tế.

3.2.8.4. Về thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, sơ kết, tổng kết, đánh giá công tác hòa giải ở cơ sở

Việc sơ kết, tổng kết, đánh giá công tác hòa giải ở cơ sở giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước định kỳ nắm được tình hình, kết quả của công tác hòa giải, rút ra bài học kinh nghiệm, phát hiện nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để có những biện pháp khắc phục thích hợp đồng thời tiếp tục nhân rộng, phát huy những mô hình, phương pháp hòa giải đạt hiệu quả trong thời gian tới.

3.2.8.5. Về thi đua, khen thưởng trong công tác hòa giải ở cơ sở

Thi đua, khen thưởng là hình thức động viên, khuyến khích các Tổ hòa giải và Tổ viên Tổ hòa giải tham gia tích cực trong công tác hòa giải ở cơ sở.

3.3. Kiến nghị

– Đề nghị Bộ Tư pháp sớm ban hành chương trình khung bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ, kỹ năng hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên.

KẾT LUẬN

Trong thực tiễn đời sống cộng đồng dân cư, những va chạm, xích mích, tranh chấp, mâu thuẫn trong nôi bộ nhân dân thưởng xảy ra và không thể tránh khỏi. Từ những mâu thuẫn ấy, nếu không được giải quyết kịp thời, triệt để từ khi mới phát sinh có thể trở thành những vụ việc phức tạp, dẫn đến khiếu nại, khiếu kiện, tranh chấp dân sự, thậm chí phát sinh thành những vụ án hình sự. Không những thế nó còn có nguy cơ trở thành mầm mống gây mất ốn định về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, làm xói mòn tình cảm tương thân, tương ái và mối đoàn kết gắn bó vốn là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.

Với ý nghĩa của công tác hòa giải ở cơ sở, hòa giải không chỉ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp, mà còn thể hiện trình độ văn hóa trong quan hệ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Xét xử đúng là tốt nhưng nếu không phải xét xử thì càng tốt hơn”. Bản chất xã hội và ý tưởng nhân văn, nhân đạo sâu sắc vì con người là cội nguồn, mảnh đất để hòa giải các mâu thuẫn, tranh chấp được duy trì và không ngừng phát triển. Vì thế, duy trì, phát triển, không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở cũng chính là góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đồng thời, để phát huy hiệu quả hoạt động hòa giải ở cơ sở không thể thiếu được sự quản lý của nhà nước, vai trò của cơ quan, chính quyền địa phương các cấp.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN HOC VIEN HANH CHINH\PHAM NGOC AU

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *