Vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Công tác thông tin đối ngoại được Đảng ta xác định là “bộ phận quan trọng của công tác chính trị, tư tưởng và công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân; là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng” [2]. Trong tình hình mới, công tác thông tin đối ngoại phải hướng đến đạt được các mục tiêu chính sau: Một là, đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quảng bá về hình ảnh đất nước Việt Nam hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển; Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Đảng, của đất nước trên trường quốc tế. Hai là, khơi dậy và nâng cao tinh thần yêu nước, niềm tin của nhân dân, củng cố sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Ba là, thực hiện đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động hội nhập quốc tế. Bốn là, tranh thủ sự đồng thuận, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, tạo thuận lợi cho sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [2].
Cùng với những đóng góp nổi bật trong việc cập nhật, phản ánh một cách chân thực, sinh động, khách quan tình hình thế giới đến với mọi tầng lớp nhân dân trong nước; tuyên truyền, giới thiệu chủ trương, đường lối, chính sách, quan điểm, lập trường, thực tiễn phát triển mọi mặt của đất nước đến với bạn bè quốc tế; công tác thông tin đối ngoại góp phần kiên quyết, kiên trì đấu tranh hiệu quả với những hành vi xâm phạm đến chủ quyền quốc gia, trong đó có chủ quyền biển, đảo; kịp thời đấu tranh, phản bác với những luận điệu sai trái, xuyên tạc về công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam ngày càng được được Đảng và Nhà nước coi trọng.
Trước những thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen của bối cảnh thế giới, khu vực Biển Đông và thực tiễn đất nước, đặc biệt là sự chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, thành phần chống đối, phản động đặt ra những yêu cầu mới ngày càng nặng nề hơn, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, trong đó có chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Nhìn nhận một cách khoa học, đúng đắn về cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác thông tin đối ngoại; phân tích thực trạng vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia với những thành tựu đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế; từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao vai trò của công tác thông tin đối ngoại phục vụ nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong giai đoạn mới là một nội dung thiết thực, có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
Với những lý do trên, học viên lựa chọn nội dung “Vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
2.1. Các công trình nghiên cứu về bảo vệ chủ quyền biển, đảo
2.2. Các công trình nghiên cứu về thông tin đối ngoại và công tác thông tin đối ngoại
2.3. Các công trình nghiên cứu về công tác thông tin đối ngoại trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo
2.4. Khái quát thành tựu nghiên cứu liên quan đến đề tài và vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu, có thể thấy nổi bật lên các giá trị mà đề tài luận văn có thể kế thừa, cụ thể là:
Thứ nhất, một số công trình nghiên cứu đã làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến biển, đảo, Biển Đông, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam, trong đó nhấn mạnh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Thứ hai, một số công trình nghiên cứu đã làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác thông tin đối ngoại. Trong đó, bên cạnh việc làm rõ nội hàm các khái niệm, các lý thuyết về thông tin đối ngoại, nội dung, vai trò, nguyên tắc của thông tin đối ngoại; một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến thực tiễn hoạt động thông tin đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số quốc gia trên thế giới, một số kỹ năng, nghiệp vụ liên quan đến công tác thông tin đối ngoại.
Thứ ba, một số công trình nghiên cứu đã làm rõ vai trò, phân tích thực trạng, xác định phương hướng, đưa ra giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng công tác thông tin đối ngoại của Việt Nam nói chung và công tác thông tin đối ngoại trong một số lĩnh vực cụ thể, như: đối với người Việt Nam ở nước ngoài, trong tổ chức các sự kiện đối ngoại…; trong đối tượng thanh niên.
Thứ tư, một số công trình nghiên cứu cũng đã đề cập trực tiếp đến công tác thông tin, tuyên truyền nói chung và nhiệm vụ thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo nói riêng, trong đó có hoạt động đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc về công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Thứ năm, một số công trình nghiên cứu cũng đề cập đến ảnh hưởng của truyền thông số, mạng xã hội đối với việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo, đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn phát triển đất nước.
Nhìn chung, tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy, một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến vai trò của nhiệm vụ thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo đã được các công trình nghiên cứu đề cập, phân tích ở một số khía cạnh nhất định. Tuy nhiên, trong xu hướng nghiên cứu đó, vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam chưa trở thành một nội dung nghiên cứu chuyên biệt trong một công trình nghiên cứu cụ thể, mà nội dung này dường như chỉ mới là một vấn đề nhỏ trong việc phân tích, luận giải về các nội dung khác nhau liên quan công tác thông tin đối ngoại ở các công trình nghiên cứu.
Trong khi đó, công tác thông tin đối ngoại được xác định là một hoạt động có tầm quan trọng đối với công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia; do đó, nghiên cứu về vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam là một nội dung có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Đây chính là khoảng trống để đề tài luận văn thạc sĩ có thể khai thác, đi vào tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích, làm sáng tỏ các nội dung liên quan, phục vụ cho quá trình hoàn thiện đề tài luận văn thạc sĩ “Vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam hiện nay”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về việc thực hiện vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam từ năm 2014 đến nay, luận văn đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam giai đoạn mới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
– Đánh giá việc thực hiện vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam từ năm 2014 đến nay.
– Đề xuất giải pháp góp phần nâng cao vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đề tài luận văn nghiên cứu về vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Về thời gian, đề tài luận văn nghiên cứu về vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam từ năm 2014 đến nay (tháng 5 năm 2014 là thời điểm xảy ra sự kiện Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương HD-981 vào hoạt động trái phép trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài luận văn
5.1. Cơ sở lý luận: Đề tài luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam liên quan đến vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, đề tài luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
– Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thực hiện thu thập tài liệu; đọc hiểu, phân tích các thông tin, luận điểm, quan niệm của các tác giả, nhà nghiên cứu, qua đó hệ thống hóa, tổng hợp các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến nội dung đề tài luận văn.
– Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Xác định, nhận diện khái niệm, các yếu tố cấu thành, nguyên tắc, vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
– Phương pháp phân tích: Tiến hành phân tích thực trạng vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam thông qua làm rõ quá trình thực hiện, đánh giá thành tựu, hạn chế và nguyên nhân.
– Phương pháp thống kê: Dùng để thống kê các sự kiện, dữ liệu, thông tin… có được trong quá trình nghiên cứu, tiếp cận tài liệu liên quan đến vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
– Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến các nhà nghiên cứu, giảng viên của Viện Chính trị học và Quan hệ quốc tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị khu vực III – những người có kinh nghiệm nghiên cứu liên quan đến vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
– Phương pháp lôgic: Trên cơ sở phân tích thực trạng, đánh giá thành tựu, hạn chế, xác định nguyên nhân, tiến hành đề xuất một số giải pháp phù hợp góp phần nâng cao vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài luận văn phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy về công tác thông tin đối ngoại của chương trình thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học; có thể giúp các cơ quan chức năng ở trung ương và địa phương nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong chỉ đạo và thực hiện công tác thông tin đối ngoại phục vụ nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
7. Kết cấu của đề tài luận văn: Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các bảng, Danh mục công trình đã công bố của tác giả có liên quan đến đề tài luận văn, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của đề tài luận văn được kết cấu thành 03 chương, 09 tiết.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ
CỦA CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TRONG
BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
1.1. BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Chủ quyền là “quyền làm chủ của một nước trong các quan hệ đối nội và đối ngoại” [48, tr. 179]. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, chủ quyền quốc gia là thuật ngữ dùng để chỉ quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của một quốc gia độc lập được thể hiện trên mọi phương diện chính trị, an ninh, quốc phòng, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, xã hội và được đảm bảo toàn vẹn, đầy đủ mọi mặt cả lập pháp, hành pháp lẫn tư pháp trong phạm vi lãnh thổ quốc gia [31, tr. 519].
Chủ quyền quốc gia là thuộc tính chính trị – pháp lý không thể tách rời của quốc gia. Nội dung của chủ quyền quốc gia gồm quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Trong đó, quyền tối cao của quốc gia ở trong nước thể hiện ở quyền lực đầy đủ để giải quyết mọi vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa… không có sự can thiệp từ phía các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế. Quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế thể hiện ở chỗ không có một quyền lực nào, một cơ quan nào, một tổ chức quốc tế nào đứng trên các quốc gia; tất cả các quốc gia tham gia quan hệ quốc tế với tư cách là những chủ thể bình đẳng và hoàn toàn độc lập, tự quyết định các vấn đề đối nội, đối ngoại của mình [31, tr. 519]. Hai nội dung của chủ quyền quốc gia gắn bó chặt chẽ, là tiền đề cho nhau. Những nội dung này được khẳng định trong pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật của các quốc gia nói riêng. Việc tôn trọng chủ quyền quốc gia trở thành một nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại.
Chủ quyền biển, đảo: Khoản 1, Điều 3, Luật Biển Việt Nam quy định:
Vùng biển Việt Nam bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, được xác định theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 [36].
Trong đó, đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải là đường cơ sở thẳng đã được Chính phủ Việt Nam công bố. Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam. Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới trên biển của Việt Nam. Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải. Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa [36].
Điều 19, Luật Biển Việt Nam nêu rõ: “Đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước”; “Quần đảo là một tập hợp các đảo, bao gồm cả bộ phận của các đảo, vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau”; “Đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam” [36].
Chủ quyền của quốc gia trên biển bao hàm những nội dung cơ bản về quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi nội thủy và lãnh hải quốc gia; quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền một cách tuyệt đối, đầy đủ, toàn vẹn trong vùng lãnh hải. Theo đó, quyền chủ quyền là quyền của quốc gia ven biển được hưởng trên cơ sở chủ quyền đối với mọi loại tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình, cũng như đối với những hoạt động thăm dò, khai thác vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia đó vì mục đích kinh tế. Quyền tài phán là thẩm quyền riêng biệt của quốc gia ven biển trong việc đưa ra các quyết định, quy phạm và giám sát việc thực hiện chúng, như: cấp phép, giải quyết và xử lý đối với một số loại hình hoạt động, các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển; bảo vệ và gìn giữ môi trường biển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia đó [26, tr. 91-92].
Bảo vệ chủ quyền biển, đảo: Điều 1, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời” [35].
Tiếp nối truyền thống và trách nhiệm đấu tranh, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo luôn được Đảng, Nhà nước Việt Nam đặc biệt coi trọng. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân bởi “Biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [3]. Đây cũng đồng thời là quan điểm cơ bản, xuyên suốt, nhất quán trong hệ thống quan điểm, đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển” [21, tr. 157].
Theo Từ điển tiếng Việt, bảo vệ, hiểu một cách chung nhất là “chống lại mọi sự xâm phạm để giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn” [48, tr. 40]. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo là bảo vệ Tổ quốc trên hướng biển, là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của toàn dân tộc. Để ứng phó hiệu quả với thực tiễn vận động của tình hình thế giới và khu vực, của vấn đề Biển Đông hiện nay, công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo cần sự nghiên cứu, bổ sung những giải pháp phù hợp, khả thi nhằm hướng đến mục tiêu cuối cùng là bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia – dân tộc.
1.1.2. Khái quát về biển, đảo Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia biển nằm ven bờ tây Biển Đông. Các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam trải dọc theo bờ biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang, dài khoảng 3.260 km. Bờ biển Việt Nam khúc khuỷu, nhiều eo, vụng, vũng, vịnh ven bờ. Việt Nam có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng lớn theo quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (viết tắt là UNCLOS); có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nằm giữa Biển Đông; hàng nghìn đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ các vùng biển, thềm lục địa.
Vùng biển ven bờ Việt Nam có khoảng 2.773 hòn đảo lớn, nhỏ. Trên cơ sở vị trí chiến lược, điều kiện địa lý, kinh tế, dân cư, có thể chia các đảo, quần đảo thành các nhóm, bao gồm: Hệ thống đảo tiền tiêu, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, như: quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, đảo Lý Sơn, đảo Cồn Cỏ, đảo Phú Quốc, đảo Bạch Long Vĩ…; trong đó, trên các đảo, có thể lập những căn cứ kiểm soát vùng biển, vùng trời, kiểm tra hoạt động của tàu, thuyền, đảm bảo an ninh quốc phòng, xây dựng kinh tế, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Các đảo lớn có điều kiện tự nhiên cho phát triển kinh tế – xã hội, như: đảo Cát Bà, đảo Cù Lao Chàm, đảo Phú Quý, đảo Phú Quốc… Các đảo ven bờ, gần đất liền, có điều kiện phát triển nghề cá, du lịch, đồng thời là căn cứ để bảo vệ an ninh, trật tự trên vùng biển, bờ biển, như các đảo thuộc huyện đảo Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Phú Quý, Côn Đảo, Lý Sơn, Phú Quốc…
Do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ gió mùa thịnh hành hướng đông bắc và đông nam, vùng biển Việt Nam gánh chịu nhiều thiên tai, sự cố môi trường biển. Chế độ khí hậu khác nhau, gồm: khí hậu nhiệt đới gió mùa ở phía bắc, gió mùa nhiệt đới cận xích đạo ở phía nam, gió mùa nhiệt đới biển ở Biển Đông. Chế độ hải văn ven bờ, dòng chảy bề mặt và sóng biến tính, biến đổi theo mùa gió. Các đặc trưng này góp phần hình thành các vùng địa lý, sinh thái khác nhau, dẫn đến sự khác nhau về thế mạnh tài nguyên sinh vật biển và tiềm năng phát triển kinh tế biển.
Với nguồn tài nguyên sinh vật biển đa dạng cùng các hệ sinh thái biển quan trọng, vùng biển Việt Nam có nhiều loài động vật biển có giá trị kinh tế cao; có phong phú các loài chim biển; có nhiều loại rong biển có giá trị, là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, nguồn dược liệu quý giá. Nguồn hải sản có trữ lượng lớn là cơ sở hình thành các ngư trường khai thác cá xa bờ, thúc đẩy phát triển nghề cá, đánh bắt nuôi trồng thủy sản. Về tài nguyên phi sinh vật, vùng biển Việt Nam có nguồn tài nguyên dầu khí dồi dào, có tầm chiến lược quan trọng; có khí đốt với trữ lượng khai thác lớn; có trữ lượng thiếc lớn; có tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng; có triển vọng băng cháy lớn. Nguồn tài nguyên khoáng sản này được coi là nhân tố quan trọng làm tăng thêm các yêu sách chủ quyền đối với các vùng biển, đảo. Về tài nguyên giao thông vận tải, lãnh thổ Việt Nam có đường bờ biển chạy dọc theo hướng Bắc – Nam, nằm kề trên các tuyến đường biển quốc tế quan trọng, có những vụng sâu kín gió. Về tài nguyên du lịch, bờ biển dài, có nhiều bãi cát, vịnh, hang động tự nhiên…
Nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú này tạo tiềm năng to lớn cho phát triển tổng hợp kinh tế biển, bao gồm kinh tế hàng hải, kinh tế thủy sản, du lịch biển và các lĩnh vực khác. Trong đó, về kinh tế hàng hải, vùng biển Việt Nam án ngữ đường hàng hải quốc tế nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương, một tuyến đường huyết mạch có lưu lượng tàu thuyền tấp nập. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển thương mại và dịch vụ biển.
Đặc điểm văn hóa, xã hội biển, đảo Việt Nam được biểu hiện dưới nhiều dạng thức phong phú, là tiếng nói góp phần khẳng định chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Đó là những kinh nghiệm sống và làm ăn của cư dân được tích tụ và truyền lại từ nhiều thế hệ. Đó là những tri thức được tích lũy và ứng dụng thông qua sinh hoạt thường nhật và lao động sản xuất mùa vụ. Đó là những tín ngưỡng, dân ca, truyền thuyết, thần thoại được sáng tạo và hội nhập từ nhiều nền văn hóa.
Như vậy, cùng với tiềm năng to lớn trong phát triển tổng hợp kinh tế biển, biển, đảo Việt Nam không chỉ có ý nghĩa trong việc kiểm soát các tuyến đường biển qua lại Biển Đông mà còn có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với đất nước. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam, vì lẽ đó, luôn là nhiệm vụ xuyên suốt đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.
1.1.3. Quan điểm của Việt Nam về bảo vệ chủ quyền biển, đảo
Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về bảo vệ chủ quyền biển, đảo được thể hiện xuyên suốt trong các kỳ đại hội của Đảng. Tiếp tục khẳng định, bổ sung, phát triển các quan điểm cơ bản về bảo vệ chủ quyền biển, đảo, Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22 tháng 10 năm 2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đưa ra một số quan điểm cụ thể về nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới.
Thứ nhất, “thống nhất tư tưởng, nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [3]. Với vị trí địa chiến lược quan trọng, biển, đảo Việt Nam được xem là tuyến phòng thủ phía Đông của Tổ quốc, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, kiểm soát và làm chủ các vùng biển, đảo. Cùng với vai trò quan trọng về mặt an ninh, quốc phòng, biển, đảo Việt Nam với tiềm năng dồi dào về các nguồn tài nguyên sinh vật, lợi thế về đường bờ biển dài, đẹp… còn có thế mạnh trong phát triển tổng hợp kinh tế biển. Đặc biệt, việc nằm án ngự ngay trên tuyến đường hàng hải, hàng không nối liền châu Âu với châu Á mang lại lợi thế to lớn cho phát triển ngành kinh tế hàng hải, thương mại trên biển.
Thứ hai, “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển” [21, tr. 157]. Đây là quan điểm thể hiện định hướng chiến lược trong công cuộc bảo vệ chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, trong đó có chủ quyền biển, đảo. Bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và lợi ích quốc gia trên vùng biển, đảo là sự nghiệp của toàn dân, là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi công dân Việt Nam. Trước tình hình Biển Đông ngày càng diễn biến phức tạp, khó dự đoán, đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo được xác định là một nhiệm vụ lâu dài và nhiều khó khăn, thách thức. Vì vậy, cần kiên quyết, kiên trì bảo vệ đến cùng lợi ích quốc gia – dân tộc với quyết tâm cao nhất. Đây là điều kiện tiên quyết góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Thứ ba, “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi” [21, tr. 161-162]. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo, các lợi ích chính đáng, hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông là nhiệm vụ quan trọng, mang tính chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với mục tiêu tạo lập, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, là một thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa; chủ động, tích cực mở rộng quan hệ hợp tác ra thế giới nhưng phải luôn đảm bảo cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc. Đây là mục tiêu xuyên suốt, là nhiệm vụ sống còn nhằm đảm bảo độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, trong đó có chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Thứ tư, “giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế” [21, tr. 157]. Liên quan đến vấn đề Biển Đông, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, Việt Nam luôn nhất quán chủ trương tuân thủ các quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS; kiên trì giải quyết hòa bình các vấn đề, tình huống nảy sinh giữa các bên liên quan; hướng đến mục tiêu tìm kiếm những giải pháp mang tính lâu dài, phù hợp với lợi ích, nguyện vọng chính đáng của của các quốc gia. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Duy trì hòa bình, an ninh, an toàn tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông; giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982” [21, tr. 283].
Thứ năm, “kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh trên từng vùng lãnh thổ, trên các địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo” [21, tr. 278]. Biển, đảo Việt Nam không chỉ có vai trò quan trọng về mặt quốc phòng, an ninh mà còn giàu tiềm năng trong phát triển kinh tế biển và đậm đà bản sắc về mặt văn hóa. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo phải được thực hiện trên cơ sở có sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh. Theo đó, cùng với việc xác định mục tiêu trở thành một quốc gia biển không chỉ giàu, mạnh về tiềm lực mà còn phải phát triển một cách bền vững và thịnh vượng, Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 khẳng định: “Phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ” [3].
Thứ sáu, “tăng cường năng lực bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực thi pháp luật trên biển” [3]. Đây được xem là một yêu cầu bức thiết đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay. Trong đó, Hải quân Nhân dân Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các vùng biển, đảo. Cảnh sát Biển Việt Nam quản lý, duy trì thực thi pháp luật trên biển. Bộ đội Biên phòng giữ gìn an ninh, trật tự, cứu hộ, cứu nạn, chống buôn lậu, các tệ nạn xã hội trên biển. Dân quân tự vệ biển được xây dựng rộng khắp, có mặt ở những nơi tàu thuyền, ngư dân hoạt động, dân cư sinh sống trên đảo. Kiểm ngư phát hiện, ngăn chặn, xử lý các vi phạm của tàu thuyền nước ngoài; hỗ trợ ngư dân, đảm bảo an ninh trật tự trên biển, đảo.
Thứ bảy, “đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về phát triển bền vững biển, tạo sự đồng thuận trong xã hội” [3] dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo nhất quán của các cơ quan chuyên trách ở Trung ương và sự phân công, phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ, ban, ngành, địa phương. Làm tốt được điều này sẽ góp phần nâng cao nhận thức, ý thức, niềm tin, sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân và bạn bè quốc tế đối với công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Trước tác động rộng khắp của Internet, các phương tiện truyền thông mới, sự chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, cần phát huy linh hoạt, đa dạng các phương thức thông tin, tuyên truyền trên cơ sở có sự gắn kết, phối hợp nhịp nhàng giữa hoạt động thông tin, tuyên truyền đối nội và đối ngoại.
1.2. CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TRONG BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
1.2.1. Một số khái niệm liên quan
Thông tin, với nghĩa là một động từ, là “truyền tin, báo tin cho người khác biết” [48, tr. 1226]. Thông tin, với nghĩa là một danh từ, được định nghĩa là “tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra” [39]. “Thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra là tin, dữ liệu được tạo ra trong quá trình cơ quan nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật, được người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước đó ký, đóng dấu hoặc xác nhận bằng văn bản” [39].
Đối ngoại được định nghĩa là “đối với nước ngoài, bên ngoài, nói về đường lối, chính sách, sự giao thiệp của nhà nước, của một tổ chức, phân biệt với đối nội” [48, tr. 338]. Theo đó, phân biệt với đối ngoại, đối nội là “đối với trong nước, trong nội bộ, nói về đường lối, chính sách của nhà nước, của một tổ chức” [48, tr. 338].
Điều 2, Quy chế quản lý nhà nước về thông tin đối ngoại nêu rõ: Thông tin đối ngoại là “thông tin quảng bá hình ảnh quốc gia, đất nước, con người, lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam; thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước Việt Nam ra thế giới và thông tin thế giới vào Việt Nam” [18]. Hiểu theo cách khác, thông tin đối ngoại là những hoạt động chủ động cung cấp thông tin có định hướng của chủ thể để giới thiệu, phổ biến, quảng bá, giải thích, lập luận, thuyết phục… về một đối tượng cụ thể nhằm mục đích gây thiện cảm, mong muốn hợp tác, tranh thủ sự giúp đỡ của các nhân tố có yếu tố nước ngoài hoặc để đối phó, phản bác đối với những thông tin sai lệch, không đúng sự thật, gây bất lợi cho chủ thể thông tin đối ngoại [16, tr. 21]. Theo đó, hoạt động thông tin đối ngoại được hiểu là hoạt động đưa thông tin trong nước ra thế giới, hướng tới các đối tượng, gồm: tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời phối hợp đưa thông tin từ thế giới đến với nhân dân trong nước.
Công tác thông tin đối ngoại là bộ phận cấu thành hoạt động đối ngoại của hệ thống chính trị, giữ vai trò quan trọng trong công tác tư tưởng, đối ngoại, giáo dục nhận thức, đấu tranh dư luận. Khi bàn đến khái niệm công tác thông tin đối ngoại, Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011 – 2020 xác định các nội hàm quan trọng của định nghĩa này, bao gồm: Làm cho thế giới, bạn bè quốc tế hiểu rõ, hiểu đúng quan điểm, chủ trương, đường lối, lập trường, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với các vấn đề ở quy mô khu vực và quốc tế; giới thiệu, tuyên truyền sâu rộng, toàn diện về đất nước và con người Việt Nam trên các lĩnh vực: lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội…; giúp nhân dân trong nước tiếp cận các thành tựu nổi bật, tinh văn văn hóa của nhân loại, góp phần cùng nhân dân thế giới đấu tranh vì hòa bình, hợp tác và phát triển; đấu tranh với các quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc về đất nước, sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; tranh thủ sự đóng góp về nhiều mặt của “những người con Việt Nam” ở nước ngoài, sự giúp đỡ, tiếng nói đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế [5, tr. 10].
Để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới, Kết luận số 57-KL/TW ngày 15 tháng 6 năm 2023 của Bộ Chính trị xác định nhiệm vụ tiếp tục quán triệt, cụ thể hóa, tổ chức triển khai thực hiện một cách hiệu quả chủ trương của Đảng về công tác thông tin đối ngoại; tăng cường sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan; đẩy mạnh đổi mới về nội dung và cách thức thực hiện; chú trọng đấu tranh kịp thời, hiệu quả các thông tin, quan điểm xuyên tạc, thù địch; đồng thời khai thác triệt để nguồn lực Nhà nước và các nguồn lực xã hội phục vụ cho công tác thông tin đối ngoại.
Công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo: Cùng với việc khẳng định vị thế và vai trò đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển mạnh mẽ đất nước trong bối cảnh hiện nay, trước sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, công tác thông tin đối ngoại đã góp phần quan trọng vào nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.
Hiểu một cách chung nhất, công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo là hoạt động thông tin diễn ra theo hai chiều. Chiều thứ nhất là hoạt động thông tin ra thế giới về quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam liên quan đến biển, đảo, công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, những thành tựu trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo… nhằm góp phần khẳng định chủ trương, lập trường nhất quán của Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế, thực hiện bằng các biện pháp hòa bình; đồng thời tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân, bao gồm người Việt Nam ở nước ngoài, người nước ngoài đang sinh sống, học tập, làm việc tại Việt Nam và bạn bè quốc tế. Chiều thứ hai là hoạt động cập nhật, cung cấp thông tin có sự chọn lọc từ bên ngoài vào trong nước liên quan đến vấn đề Biển Đông, sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn, các quốc gia trong khu vực, các tổ chức quốc tế… nhằm giúp nhân dân trong nước hình thành nhận thức toàn diện, khách quan, đa chiều hơn về vấn đề Biển Đông, công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Trước bối cảnh diễn biến ngày càng phức tạp của tình hình khu vực và thế giới, trong đó có vấn đề Biển Đông; trước sự xuyên tạc, chống phá mang tính chất tinh vi, nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động, công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam sẽ đứng trước nhiều thách thức, nguy cơ hơn bao giờ hết. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam được xác định là một cuộc đấu tranh lâu dài, tổng lực trên nhiều mặt trận, được thực hiện bằng nhiều lực lượng, nhiều biện pháp, trong đó thông tin đối ngoại là một vũ khí, công tác thông tin đối ngoại là một lực lượng tham gia. Vì vậy, công tác thông tin đối ngoại được Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định là một bộ phận quan trọng, đóng góp không nhỏ vào nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của dân tộc.
1.2.2. Các yếu tố cấu thành công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam
Công tác thông tin đối ngoại nói chung và công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo nói riêng được cấu thành bởi một số yếu tố căn bản sau:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
Chủ thể là cá nhân hoặc tổ chức tham gia vào một mối quan hệ xác định. Theo Từ điển tiếng Việt, chủ thể được định nghĩa là “bộ phận chính, giữ vai trò chủ yếu” [48, tr. 179]. Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, chủ thể thực hiện công tác thông tin đối ngoại hiểu theo nghĩa rộng là giai cấp, chính đảng, quốc gia… bởi thông tin đối ngoại xét đến cùng là hành vi của giai cấp thống trị, mang tính chính trị và giai cấp. Hiểu theo nghĩa hẹp, chủ thể thực hiện công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo là cá nhân, tổ chức, cơ quan, đơn vị thông tin, giới thiệu, truyền bá, giải thích các chủ trương, quan điểm và những vấn đề khác phục vụ cho sự toàn vẹn chủ quyền biển, đảo nói riêng và lợi ích quốc gia – dân tộc nói chung đến với cộng đồng quốc tế.
Trong đó, chủ thể thực hiện công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệc chủ quyền biển, đảo bao gồm: các cơ quan chỉ đạo, quản lý, như: Ban Tuyên giáo Trung ương (hiện nay được sáp nhập với Ban Dân vận Trung ương và đổi tên thành Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương), Bộ Thông tin và Truyền thông (hiện nay được sáp nhập với Bộ Khoa học và Công nghệ và đổi tên thành Bộ Khoa học và Công nghệ), Bộ Ngoại giao; cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, gồm: cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự và cơ quan đại diện tại tổ chức quốc tế; hệ thống báo chí, truyền thông đối ngoại.
Thứ hai, đối tượng thực hiện công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
Đối tượng được định nghĩa là “người, vật, hiện tượng mà con người nhằm vào trong suy nghĩ, hành động” [48, tr. 338]. Đối tượng của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo là cá nhân, tổ chức, quốc gia… mà chủ thể thực hiện công tác thông tin đối ngoại thông qua các biện pháp nghiệp vụ tác động đến suy nghĩ, nhận thức, hành động theo hướng mà chủ thể thông tin đối ngoại mong muốn. Như vậy, trong công tác thông tin đối ngoại phục vụ nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, đối tượng vừa chỉ đối tượng đấu tranh, vừa chỉ đối tượng hợp tác.
Trong đó, cần phân biệt giữa đối tượng của công tác đối ngoại với đối tượng của công tác thông tin đối ngoại. Đối với công tác đối ngoại, đối tượng chỉ mối quan hệ đối kháng, chống đối, thù địch, gây bất lợi cho việc bảo đảm lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. Đối tượng chính là đối tượng đấu tranh, đối lập với đối tác là đối tác hợp tác. Đối với công tác thông tin đối ngoại, các thế lực thù địch thực hiện tuyên truyền, chống phá, vu cáo, có những nhận xét, đánh giá thiếu khách quan, không đúng sự thật cũng chính là đối tượng. Vì vậy, nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo là phải đấu tranh, phản bác, cung cấp thông tin làm rõ các vấn đề, từng bước thay đổi cái nhìn phiến diện của các đối tượng và nhóm đối tượng này.
Thứ ba, nội dung của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
Nội dung được định nghĩa là “mặt bên trong của sự vật, cái được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện” [48, tr. 738]. Nội dung của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam hiểu một cách ngắn gọn nhất là luồng thông tin “đi ra” và luồng thông tin “đi vào”. Trong đó, những vấn đề trong nước được truyền tải đến cộng đồng quốc tế và từ quốc tế thông tin vào trong nước giúp công tác thông tin đối ngoại hoàn thành các mục tiêu đặt ra.
Theo đó, thông tin chính thức trong nước truyền tải đến cộng đồng quốc tế, gồm: thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo, chủ quyền biển, đảo; thông tin về đặc điểm lịch sử, văn hóa, du lịch, tiềm năng phát triển biển, đảo Việt Nam… Thông tin tình hình thế giới vào Việt Nam, gồm: thông tin về vấn đề Biển Đông; thông tin về chính sách của các cường quốc trên thế giới, các quốc gia trong ASEAN, khu vực châu Á – Thái Bình Dương; thông tin về luật pháp quốc tế liên quan đến vấn đề biển, đảo, Biển Đông… Thông tin giải thích, làm rõ, gồm: những tài liệu, chứng cứ, hồ sơ… phục vụ cho việc giải thích, làm rõ các thông tin sai trái, xuyên tạc về chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Đối với các thông tin quốc tế đi vào trong nước cần được chọn lọc, bảo đảm phù hợp với quan điểm, định hướng, quy định của Đảng, Nhà nước; không trái với thuần phong mỹ tục, văn hóa truyền thống dân tộc; đồng thời phải góp phần nâng cao hiểu biết, nhận thức của người dân về các vấn đề liên quan đến biển, đảo.
Thứ tư, phương thức thực hiện công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
Phương thức hiểu một cách chung nhất là cách thức và phương pháp. Phương thức thực hiện công tác thông tin đối ngoại chỉ việc chủ thể triển khai công tác thông tin đối ngoại vận dụng các phương tiện hiện có để truyền tải thông tin, thông điệp đến đối tượng của công tác thông tin đối ngoại. Có nhiều phương thức khác nhau khi thực hiện công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam, gồm hai kênh chính: Kênh thông tin trực tiếp, gồm: gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi, họp báo, hội thảo, hội nghị, tọa đàm, đối thoại, giao lưu, trao đổi văn hóa, nghệ thuật, triển lãm… Kênh thông tin gián tiếp, gồm: báo chí đối ngoại, báo chí quốc tế (báo in, báo hình, báo nói, báo điện tử, báo ảnh); truyền thông mới (các mạng xã hội, các trang chia sẻ, như: Facebook, Zalo, Youtube…); sách; điện ảnh…
Với sự tác động ngày của Internet và các phương thức truyền thông hiện đại, cần chú trọng đổi mới phương thức thực hiện công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo thông qua việc tăng cường khai thác, phát huy lợi thế của các phương thức truyền đa phương tiện… Đổi mới phương thức thông tin đối ngoại được xem là một trong những nhiệm vụ trọng yếu để nâng cao tính hiệu quả của công tác thông tin đối ngoại phục vụ nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới.
Thứ năm, nguồn lực thực hiện công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
Nguồn lực là những thứ cung cấp cho một quốc gia, một tổ chức hoặc một cá nhân có thể sử dụng, nhằm mục đích đạt được các mục tiêu đặt ra. Nguồn lực cũng có thể được hiểu là nơi bắt đầu, nơi phát sinh hoặc nơi cung cấp sức mạnh. Nguồn lực thực hiện công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo được hiểu là các yếu tố đầu vào phục vụ cho việc tổ chức thực hiện các mảng công việc của hoạt động thông tin đối ngoại, bao gồm: nhân lực, vật lực và tài lực. Trong đó, nhân lực là toàn bộ lực lượng triển khai công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo, gồm chủ thể thực hiện công tác thông tin đối ngoại và những đối tượng hợp tác. Vật lực là toàn bộ cơ sở vật chất tồn tại dưới dạng vật thể và phi vật thể phục vụ cho công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo, như: trụ sở, máy móc, thiết bị, phương tiện, giải pháp công nghệ, lịch sử, văn hóa… Tài lực là tài chính đầu tư vào công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo với vai trò chủ đạo là Nhà nước, đồng thời huy động thêm các nguồn xã hội khác.
1.2.3. Các nguyên tắc của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam
Trên cơ sở các nguyên tắc chung của hoạt động thông tin đối ngoại được quy định tại Nghị định số 72/2015/NĐ-CP ngày 07 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ về Quản lý hoạt động thông tin đối ngoại và Kết luận số 57-KL/TW ngày 15 tháng 6 năm 2023 của Bộ Chính trị về tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới, công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam phải thực hiện dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo phải tuân thủ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Đây là nguyên tắc căn bản đầu tiên khi thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của công tác thông tin đối ngoại. Cũng như bất kỳ một mảng nhiệm vụ nào, việc tuân thủ các quy định của Đảng, Nhà nước là điều kiện tiên quyết mà công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam phải thực hiện. Bởi chỉ có trên cơ sở tuân thủ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thì công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam mới thật sự đi đúng hướng, đảm bảo tính pháp lý minh bạch, chính xác, phù hợp. Cùng với đó, đồng hành với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, là một thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo cũng phải tuân thủ đầy đủ quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó có Hiến chương Liên hợp quốc, UNCLOS.
Thứ hai, công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo phải nhằm đảm bảo an ninh quốc gia, chủ quyền lãnh thổ, trật tự an toàn xã hội, uy tín, hình ảnh, quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế của Việt Nam.
Công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo trước hết phải đảm bảo yêu cầu gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, chủ quyền lãnh thổ của dân tộc Việt Nam bởi biển, đảo là một bộ phận quan trọng, không thể tách rời của lãnh thổ dân tộc. Song song với việc thực hiện nhiệm vụ này, công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo cũng cần phải hoàn thành tốt nhiệm vụ đối ngoại của mình, góp phần xây dựng, gìn giữ, phát huy uy tín, hình ảnh, quan hệ ngoại giao, hợp tác quốc tế của Việt Nam với các quốc gia, vùng lãnh thổ, các tổ chức trong khu vực và trên thế giới đối với các sự kiện, vấn đề, các mối quan hệ liên quan đến Biển Đông, biển, đảo, bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Thứ ba, đảm bảo thông tin chính xác, kịp thời theo đúng định hướng thông tin đối ngoại về bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia trong từng giai đoạn nhất định.
Trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, gắn liền với các nhiệm vụ cụ thể trên từng mặt công tác nhất định, định hướng về công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo cũng được Đảng, Nhà nước Việt Nam quan tâm chỉ đạo sâu sát. Việc vạch ra các định hướng, trọng tâm thực hiện nhiệm vụ thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia ở mỗi giai đoạn không chỉ dựa trên tình hình thực tiễn của đất nước; mà còn phụ thuộc vào những biến động của tình hình thế giới, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến Biển Đông. Vì vậy, việc bảo đảm thông tin một cách chính xác, kịp thời, phù hợp với định hướng thông tin đối ngoại đã vạch ra sẽ giúp cho công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam được thực hiện một cách có hiệu quả.
Thứ tư, chủ động phòng ngừa, ứng phó, đấu tranh hiệu quả với các thông tin sai trái, xuyên tạc về công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Trên thực tế, các thế lực thù địch thường xuyên ấp ủ các âm mưu, tiến hành các thủ đoạn, hành vi xuyên tạc, chống phá đối với công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam; trong đó có sự đẩy mạnh, lan truyền các thông tin bịa đặt, xuyên tạc, kích động trên không gian mạng. Chính vì vậy, bên cạnh việc kịp thời ứng phó, đấu tranh hiệu quả với các thông tin sai trái này, cần chủ động phòng ngừa ngay từ đầu bằng các biện pháp phù hợp. Có như vậy, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch liên quan đến công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam mới được thực hiện một cách hiệu quả nhất.
Thứ năm, đảm bảo phương châm “chủ động, đồng bộ, kịp thời, sáng tạo, hiệu quả” trong triển khai thực hiện công tác thông tin đối ngoại liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Trong đó, cần “chủ động” trong thực hiện các nhiệm vụ, dự báo những biến động của tình hình thế giới và Biển Đông, giành ưu thế trên mặt trận dư luận. “Đồng bộ” trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai phối hợp, trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt, từ Trung ương đến địa phương, ở trong nước và ngoài nước, giữa các lực lượng thực hiện. “Kịp thời”, đảm bảo đúng tiến độ, đúng thời điểm; tránh sự chậm trễ, bị động trong mọi tình huống, nhất là đối với những nhiệm vụ cần sự ưu tiên thực hiện. “Sáng tạo” và “hiệu quả” từ trong tư duy đến cách làm, nội dung, phương thức và việc vận dụng các nguồn lực khác nhau.
1.3. VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TRONG BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
Vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam được thể hiện ở các nội dung cụ thể sau:
Thứ nhất, công tác thông tin đối ngoại thực hiện nhiệm vụ truyền thông rộng rãi tới các đối tượng cần thiết thông điệp của Đảng, Nhà nước Việt Nam, góp phần nâng cao nhận thức, thái độ, niềm tin, quyết tâm, sự đoàn kết, đồng tình, ủng hộ của nhân dân, bao gồm cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
Vai trò này được thể hiện ở 04 nhiệm vụ cụ thể sau:
Một là, tạo ra nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
Đây được xem là sứ mệnh cơ bản nhất của nhiệm vụ thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia. Tạo ra nhận thức đầy đủ, đúng đắn là bước đệm vững chắc cho việc thực hiện những hành động “đúng”, “đẹp” trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đối tượng của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo không chỉ gồm toàn thể nhân dân Việt Nam mà còn hướng đến bạn bè quốc tế. Vì vậy, việc tạo ra nhận thức đầy đủ, đúng đắn về chủ quyền biển, đảo Việt Nam phải dựa trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Luật Biển Việt Nam nhấn mạnh: “Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và thực hiện các biện pháp cần thiết bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo” [36].
Hai là, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ đối với công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
Trên cơ sở thực hiện tốt vai trò tạo ra nhận thức đầy đủ, đúng đắn, công tác thông tin đối ngoại góp phần tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân và bạn bè quốc tế đối với công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Trong đó, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài được xem là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác đối với các vấn đề liên quan đến Biển Đông, bảo vệ chủ quyền biển, đảo giữa Việt Nam với các nước. Những đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế không chỉ thể hiện sự đoàn kết quốc tế vì một khu vực Biển Đông hòa bình; mà đó còn là sự ghi nhận rõ ràng nhất cho chủ quyền biển, đảo Việt Nam, trong đó có chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Ba là, truyền tải thông điệp mang tính chất chính thống của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia bằng biện pháp hòa bình, dựa trên luật pháp quốc tế.
Trong tình hình mới, tiếp nối truyền thống yêu chuộng hòa bình, không mong muốn xảy ra chiến tranh, xung đột, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định:
Chủ động nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền và các lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia trên biển, đồng thời chủ động, tích cực giải quyết, xử lý các tranh chấp, bất đồng trên Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển” [21, tr. 104-105].
Bám sát quan điểm nêu trên, cùng với việc đa dạng hóa các phương thức truyền tải thông điệp liên quan, công tác thông tin đối ngoại cần chú trọng định hướng báo chí trong nước và tạo điều kiện thuận lợi cho báo chí nước ngoài truyền tải, chia sẻ thông điệp hòa bình, dựa trên luật pháp quốc tế trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Bốn là, tăng cường đoàn kết với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới trong việc cùng nhau thúc đẩy hòa bình, hợp tác trên Biển Đông.
Trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ làm rõ lẽ phải, nêu cao chính nghĩa của Việt Nam, công tác thông tin đối ngoại đóng vai trò quan trọng cho sự kết nối ngày càng chặt chẽ, hiệu quả giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, các tổ chức quốc tế, các diễn đàn hợp tác đa phương vì mục tiêu thúc đẩy hòa bình, hợp tác trên Biển Đông. Trên thực tế, nhiệm vụ thúc đẩy hòa bình, hợp tác trên Biển Đông không phải của riêng quốc gia nào và cũng không thể được thực hiện bởi một quốc gia riêng lẻ nào. Chính vì vậy, đoàn kết cùng nhau giải quyết những bất đồng, khác biệt; cùng phối hợp tổ chức các hoạt động, chương trình; cùng hỗ trợ, giúp đỡ về mặt vật chất, tinh thần… góp phần tạo nên sức mạnh to lớn. Đây cũng là mục tiêu then chốt mà công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam hướng đến. Bên cạnh việc thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác giữa các bên liên quan, cần chú trọng phối hợp tổ chức các hội thảo, đối thoại…; đồng thời khai thác hiệu quả hoạt động của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài nhằm tận dụng sức mạnh đoàn kết giữa các cá nhân, tổ chức có liên quan trong việc cùng nhau thúc đẩy hòa bình, hợp tác trên Biển Đông.
Thứ hai, công tác thông tin đối ngoại là một trong những mặt trận quan trọng thực hiện nhiệm vụ đấu tranh có hiệu quả bằng thông tin đầy đủ, kịp thời, phê phán, bác bỏ các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, người thiếu hiểu biết về công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
Đây là vai trò quan trọng thứ hai của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Trong tình hình mới, với vỏ bọc “yêu nước”, “nêu cao ý thức dân tộc”, lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là các phương thức truyền thông hiện đại, các thế lực thù địch, lực lượng phản động thường xuyên tận dụng các chiêu thức khác nhau nhằm bịa đặt, xuyên tạc, chống phá về chủ quyền biển, đảo và công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Mấu chốt ở đây chính là việc đăng tải, phát tán, lan truyền mạnh mẽ những thông tin, quan điểm chống đối, bịa đặt, kích động nhằm làm lệch lạc nhận thức, tư tưởng, dẫn dắt, lôi kéo, dụ dỗ một bộ phận cán bộ, đảng viên, người dân, nhất là tầng lớp thanh niên chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của dân tộc. Vì vậy, “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước” [21, tr. 163] là nội dung trọng tâm mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề cập.
Trên cơ sở cung cấp và lan tỏa các thông tin chính thống một cách chủ động, kịp thời, minh bạch về công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam ở trong nước, từ trong nước ra quốc tế và từ bên ngoài vào trong nước, công tác thông tin đối ngoại đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng thông tin; đồng thời nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân về chủ quyền biển, đảo và công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới.
1.4. MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TRONG BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
Việc thực hiện vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam chịu sự tác động của một số yếu tố nhất định:
Thứ nhất, một số yếu tố khách quan, bao gồm:
Một là, nhận thức của người dân.
Cùng với tiến trình phát triển đất nước, nhận thức của người dân về việc nghiêm túc chấp hành các chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước; về việc tích cực, chủ động tham gia các nhiệm vụ, hoạt động liên quan đến công tác thông tin đối ngoại trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam ngày càng nâng cao. Điều này góp phần quan trọng vào sự thành công của công tác thông tin đối ngoại phục vụ nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Bởi trong bất kỳ một công việc hệ trọng nào của đất nước, người dân có ủng hộ, có đồng thuận thì nhiệm vụ đó mới hoàn thành thành tốt được sứ mệnh, vai trò của mình và công tác thông tin đối ngoại phục vụ nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam cũng không ngoại lệ.
Ngược lại, nếu người dân thờ ơ, không quan tâm, không đồng tình, không ủng hộ, không chịu chấp hành, thậm chí thực hiện trái ngược lại với các quan điểm, chủ trương, đường lối, định hướng, chính sách, pháp luật… của Đảng, Nhà nước, các cơ quan, đơn vị liên quan thì chắc chắn công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam sẽ gặp nhiều thách thức, trở ngại và không thể nào hoàn thành tốt vai trò của mình.
Hai là, sự phát triển của khoa học – công nghệ.
Khoa học – công nghệ ngày càng phát triển với quy mô sâu rộng, tốc độ nhanh chóng, trong đó cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là một thành tựu nổi bật. Trên cơ sở “bộ khung” là trí tuệ nhân tạo, kết nối vạn vật và dữ liệu lớn, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã, đang và sẽ tiếp tục làm thay đổi diện mạo của tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội, mở ra cơ hội, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, trong đó có việc thực hiện nhiệm vụ thông tin đối ngoại phục vụ công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
Tại Việt Nam, chủ động tham gia, thích ứng và tận dụng hiệu quả các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là một định hướng chiến lược được Đảng, Nhà nước, các cơ quan chuyên trách ở Trung ương và địa phương quan tâm chỉ đạo sâu sát, nhất là trong bối cảnh thực hiện chương trình chuyển đổi số quốc gia. Trong bối cảnh hiện nay, nếu không biết cách tận dụng hoặc tận dụng không hiệu quả yếu tố khoa học – công nghệ sẽ đồng nghĩa với việc bỏ qua, đánh mất nhiều cơ hội, tiềm năng cho việc thực hiện các nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại trong hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Ba là, khả năng tiếp cận thông tin đối ngoại.
Tiếp cận thông tin, trong đó có thông tin đối ngoại không chỉ là nhu cầu chính đáng mà còn là quyền của mọi công dân. Theo đó, khả năng tiếp cận thông tin đối ngoại là việc tổ chức, cá nhân đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép và chụp các thông tin đối ngoại. Việc tiếp nhận một cách chính xác, kịp thời nguồn thông tin mang tính chất chính thống sẽ giúp cho mỗi người dân nắm bắt được các định hướng, quy định, nội dung thông tin đối ngoại mà Đảng, Nhà nước muốn truyền tải. Trên cơ sở hiểu đúng, chấp hành đúng, thực hiện đúng, ý thức, trách nhiệm của mỗi người dân đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, trong đó có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia cũng sẽ được nâng cao.
Tuy nhiên, việc tiếp cận các luồng thông tin đối ngoại, nhất là các luồng thông tin từ bên ngoài đi vào trong nước, các luồng thông tin bằng tiếng nước ngoài cần được xem xét, cân nhắc thận trọng. Đặc biệt, trước sự tác động và lan truyền mạnh mẽ thông tin trên các nền tảng mạng xã hội, các phương thức truyền thông hiện đại, nguy cơ tiếp cận và bị dẫn dắt theo các nguồn thông tin không chính thống, bịa đặt, sai trái, xuyên tạc về công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo rất cao. Tiếp cận các luồng thông tin như vậy không chỉ ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện các nhiệm vụ thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia; mà còn có nguy cơ làm thay đổi, lệch lạc nhận thức, ý thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của dân tộc.
Thứ hai, một số yếu tố chủ quan, bao gồm:
Một là, vai trò của các cơ quan chỉ đạo, quản lý công tác thông tin đối ngoại.
Các cơ quan chỉ đạo, quản lý công tác thông tin đối ngoại, trong đó có công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo, như: Ban Tuyên giáo Trung ương (hiện nay là Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương), Bộ Ngoại giao…, trên cơ sở tuân thủ các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam, cần chủ động, kịp thời xây dựng, ban hành, triển khai thực hiện các mảng công việc liên quan. Đối với những nhiệm vụ mang tính nhạy cảm, khẩn cấp, việc triển khai thực hiện kịp thời, đúng thời điểm, quyết liệt nhiệm vụ thông tin đối ngoại giữ vai trò quan trọng. Ngược lại, nếu triển khai thực hiện một cách chậm trễ, không hiệu quả, có thể dẫn đến những kết quả không tốt, thậm chí có thể gây trở ngại cho hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Bên cạnh tổ chức thực hiện tốt chức trách của từng cơ quan, tổ chức riêng lẻ, cần chú trọng phát huy hiệu quả cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức với nhau. Sự phối hợp, cộng tác ở đây không chỉ được thực hiện giữa các cơ quan, đơn vị chức năng về công tác thông tin đối ngoại mà còn mở rộng ra các cơ quan, tổ chức liên quan, như: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an… Làm tốt yêu cầu này sẽ giúp đẩy nhanh tiến, nâng cao chất lượng giải quyết các vấn đề đặt ra đối với hoạt động thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Hai là, chất lượng lực lượng cán bộ chuyên trách thực hiện công tác thông tin đối ngoại.
Đội ngũ cán bộ chuyên trách thực hiện công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo trước hết phải là những người có kiên định về tư tưởng, vững vàng về bản lĩnh. Bởi vì bất kỳ sự mơ hồ, lệch lạc nào về tư tưởng chính trị, đạo đức đều có nguy cơ gây ra những tác động tiêu cực đối với việc thực hiện nhiệm vụ thông tin đối ngoại; đồng thời có thể dẫn dắt họ từ những cán bộ chuyên trách trở thành những thành phần, đối tượng xuyên tạc, chống phá công tác thông tin đối ngoại. Mặt khác, các yêu cầu về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, đặc biệt là năng lực ngoại ngữ, khả năng sử dụng công nghệ là những điều kiện bắt buộc đối với mỗi cán bộ chuyên trách thực hiện công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới. Ngoài ra, sự am hiểu, tường tận những thông tin, kiến thức liên quan đến biển, đảo là nền tảng căn bản để mỗi cán bộ trên lĩnh vực thông tin đối ngoại làm đúng và làm tốt chức trách của mình.
Trong lực lượng cán bộ chuyên trách làm công tác thông tin đối ngoại, những người đứng đầu, những cán bộ chủ chốt nắm giữ vai trò vô cùng quan trọng. Sự sáng suốt, quyết đoán của người đứng đầu giúp cho việc triển khai thực hiện các chức năng, nhiệm vụ thông tin đối ngoại diễn ra một cách kịp thời, hiệu quả. Ngược lại, sự thiếu quyết đoán, chậm trễ trong hành động đưa ra quyết định, triển khai các kế hoạch, hoạt động sẽ làm chậm tiến độ, giảm chất lượng, dẫn đến những hậu quả không đáng có. Vì vậy, người đứng đầu, qua quá trình tôi luyện với sự dày dặn về kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm công tác, khả năng ứng phó với các vấn đề nóng, nhạy cảm, sự cố bất ngờ, khẩn cấp… đóng vai trò quyết định đối với sự thành bại của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Ba là, vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông đối ngoại.
Hiện nay, Việt Nam có 05 cơ quan báo chí chính trị chủ lực, gồm: Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam. Đây được xem là lực lượng đóng vai trò chủ lực trong việc định hướng dư luận trong nước và quốc tế, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, trong đó có công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại về công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Theo đó, báo chí, truyền thông đối ngoại phải bảo đảm được ba yêu cầu: Một là, yêu cầu về tính chính thống, khách quan, trung thực của thông tin được đăng tải. Hai là, yêu cầu về sự chất lượng và giá trị hàm lượng tri thức của những nội dung, tin, bài, nhất là đối với các đánh giá, bình luận về các vấn đề, sự kiện quốc tế liên quan. Ba là, yêu cầu về tính chính nghĩa, thượng tôn pháp luật trên cơ sở đạo đức nghề nghiệp, tuân thủ các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, phù hợp với luật pháp quốc tế.
Trong thời đại số, việc tạo dựng một môi trường báo chí, môi trường truyền thông lành mạnh trên không gian mạng là nhiệm vụ đầy thách thức. Một nguồn thông tin không chính xác có thể là nguyên nhân dẫn đến những thiếu sót, sai lệch trong nhận thức của người tiếp cận thông tin, đặc biệt là các thông tin liên quan đến công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Ngược lại, với những tiện ích, thế mạnh, sức lan tỏa của báo chí, truyền thông đối ngoại trên nền tảng số, nếu được khai thác hiệu quả sẽ mang lại những đóng góp tích cực cho nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền đối ngoại. Với nguồn thông tin đa dạng được thể hiện dưới nhiều hình thức truyền tải khác nhau, như: tin, bài viết, tranh ảnh, phim phóng sự, phim tài liệu…, báo chí, truyền thông đối ngoại ngày càng có điều kiện chạm đến gần hơn đối với các độc giả, giúp họ thêm hiểu, thêm tin yêu vào công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của dân tộc.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Như vậy, nội dung chương 1 đã hoàn thành nhiệm vụ làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Trong đó, chương 1 tập trung vào phân tích 04 nội dung chính: Một là, làm rõ công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trên cơ sở nêu lên các khái niệm liên quan, khái quát về biển, đảo Việt Nam và phân tích quan điểm của Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Hai là, làm rõ công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trên cơ sở nêu lên các khái niệm liên quan, xác định các yếu tố cấu thành, các nguyên tắc thực hiện. Ba là, xác định hai vai trò chủ yếu của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Bốn là, phân tích một số yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến việc thực hiện các vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Nền tảng lý luận và thực tiễn này là cơ sở để chương 2 đi vào phân tích tình hình thực hiện hai vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam với những thành tựu đạt được, những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân, gồm: vai trò truyền thông rộng rãi góp phần nâng cao nhận thức, thái độ, niềm tin, quyết tâm, sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân và bạn bè quốc tế đối với công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo và vai trò đấu tranh, phản bác các thông tin sai trái, xuyên tạc về công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
CHƯƠNG 2
VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TRONG BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM TỪ NĂM 2014 ĐẾN NAY –
THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN
2.1. TÌNH HÌNH BIỂN ĐÔNG LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TRONG BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM TỪ NĂM 2014 ĐẾN NAY
Từ năm 2014 đến nay, công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo chịu sự tác động của các nhân tố liên quan đến tình hình Biển Đông. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhận định: “Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước những thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột” [21, tr. 107].
2.1.1. Nhân tố thuận lợi
Thứ nhất, cùng với việc đề cao nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, Hiến chương Liên hợp quốc nhấn mạnh các giá trị cốt lõi về việc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng thương lượng hòa bình. UNCLOS cũng khẳng định: “Với lòng mong muốn giải quyết, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác với nhau, mọi vấn đề liên quan đến luật biển, và ý thức được tầm vóc lịch sử của Công ước là một cống hiến quan trọng vào việc giữ gìn hòa bình, công lý và tiến bộ cho tất cả các dân tộc trên thế giới” [33]. Các nguyên tắc mà Hiến chương Liên hợp quốc, UNCLOS đề ra là cơ sở pháp lý quan trọng, tạo nền tảng để Việt Nam quản lý, triển khai thực hiện hiệu quả công tác thông tin đối ngoại phục vụ nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.
Thứ hai, mặc dù tình hình thế giới và khu vực có nhiều thay đổi nhanh chóng, phức tạp, khó dự đoán nhưng hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn được xem là xu thế chủ đạo. Điều này mở ra nhiều cơ hội lớn cho sự hợp tác, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các quốc gia hướng đến mục tiêu chung là thiết lập một môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển. Sự gia tăng cạnh tranh chiến lược cùng với sự quan tâm, hiện diện của nhiều nước lớn trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Đông Nam Á tạo ra thế cân bằng chiến lược có lợi cho Việt Nam trong đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các nước. Thông qua quá trình hợp tác, Việt Nam có điều kiện thuận lợi trong việc học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm, tranh thủ các nguồn lực hỗ trợ về mặt vật chất, kỹ thuật, chuyên môn… từ nhiều quốc gia. Xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển và những cơ hội mở ra từ xu thế này tác động sâu sắc đến việc thực hiện các vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Thứ ba, giải quyết các tranh chấp, khác biệt bằng biện pháp hòa bình, tuân theo các nguyên tắc của luật pháp quốc tế là mong muốn chính đáng của các quốc gia trên thế giới. Là một quốc gia tham gia tích cực và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, Việt Nam luôn tuân thủ thực hiện một cách đầy đủ, minh bạch, nghiêm túc trong giải quyết các tranh chấp, khác biệt bằng biện pháp hòa bình, tuân theo các nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế và dư luận các nước trên thế giới tiếp thêm động lực to lớn cho Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam trong công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đây cũng là nền tảng quan trọng cho việc triển khai thực hiện các vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam diễn ra một cách thuận lợi và gặt hái nhiều kết quả nổi bật.
Thứ tư, sự đoàn kết, thống nhất, đồng thuận trong toàn thể xã hội và niềm tin của nhân dân vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là nhân tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh toàn diện của dân tộc trong quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Trước những diễn biến phức tạp, khó dự đoán trên Biển Đông, trước những hành vi xâm phạm chủ quyền biển, đảo, trước sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, các tầng lớp nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vẫn luôn “một lòng” tin tưởng vào sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời của Đảng, vào các chính sách của Nhà nước trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Với sự tin tưởng và ủng hộ của nhân dân, việc triển khai thực hiện các vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam, vì lẽ đó, cũng được tiến hành một cách hiệu quả hơn.
2.1.2. Nhân tố khó khăn
Thứ nhất, Biển Đông vẫn được đánh giá là điểm thu hút sự quan tâm, chú ý của cộng đồng quốc tế bởi sự tiếp diễn của các tranh chấp, bất đồng, khác biệt. Sự tác động của vấn đề Biển Đông và những tranh chấp, bất đồng, khác biệt trên Biển Đông là một vấn đề mang tính chất toàn cầu bởi vai trò quan trọng về địa – chính trị, địa – kinh tế, địa – chiến lược và Việt Nam cũng không nằm ngoại lệ bởi sự tác động đó. Cùng với việc lan tỏa thông điệp chính thống của Đảng, Nhà nước Việt Nam ra thế giới, đồng thời truyền tải thông tin về tình hình Biển Đông đến với nhân dân trong nước, công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo phải thật sự tỉnh táo, linh hoạt, nhạy bén. Nếu không, việc thực hiện các nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại có thể không mang lại hiệu quả như mong muốn, thậm chí là đi ngược lại mục đích ban đầu đặt ra.
Thứ hai, sự điều chỉnh chiến lược về vấn đề Biển Đông của một số cường quốc có tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện các nhiệm vụ thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Trong đó, Mỹ chủ trương chuyển trọng tâm chiến lược sang châu Á – Thái Bình Dương; vận động nhiều nước Đông Nam Á cho Mỹ sử dụng các căn cứ quân sự khi cần thiết; tăng cường viện trợ quân sự cho các nước đồng minh có liên quan đến tranh chấp ở Biển Đông. Trung Quốc tiến hành các biện pháp hành chính, dân sự, pháp lý nhằm đòi hỏi chủ quyền “phi lý” các vùng biển, đảo trên khu vực Biển Đông; không ngừng đẩy mạnh và đa dạng hóa các hoạt động trên thực địa nhằm thực hiện tham vọng độc chiếm Biển Đông. Nhật Bản liên tục thể hiện quan điểm kiên quyết, nhất quán về vấn đề Biển Đông là duy trì hòa bình, đảm bảo an ninh và tự do hàng hải quốc tế, trên nguyên tắc mọi bất đồng, tranh chấp phải được giải quyết dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, bằng các biện pháp hòa bình. ASEAN muốn giữ nguyên trạng, tìm các giải pháp dung hòa để không làm ảnh hưởng đến lợi ích dân tộc, tránh đối đầu; chú trọng tăng cường tiềm lực quân sự, sẵn sàng đối phó với các tình huống tranh chấp trên biển.
Thứ ba, cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc về vấn đề Biển Đông là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho tình hình Biển Đông trở thành một điểm nóng của khu vực châu Á – Thái Bình Dương và thế giới. Mỗi quốc gia đều có những toan tính riêng phục vụ cho lợi ích chiến lược trên Biển Đông và những toan tính này luôn thay đổi phụ thuộc vào những biến động nhanh chóng, khó dự đoán của tình hình khu vực, thế giới và những điều chỉnh trong chiến lược phát triển của mỗi nước. Vì vậy, cạnh tranh địa – chính trị, địa – kinh tế, địa – chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc là nhân tố tác động theo chiều hướng bất lợi đến tình hình Biển Đông đối với công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên Biển Đông của Việt Nam. Vì lẽ đó, việc triển khai thực hiện các vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam cũng gặp phải những trở ngại, thách thức không hề nhỏ.
Thứ tư, hoạt động xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam được thể hiện trên nhiều phương diện khác nhau. Đó là sự xuyên tạc đối với đường lối, chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo; chủ trương giải quyết hòa bình các tranh chấp, khác biệt trên biển; quan hệ đối ngoại, quan hệ quốc phòng giữa Việt Nam và các nước. Đó là sự chống phá đối với các hoạt động quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, đấu tranh trên thực địa; hoạt động xây dựng lực lượng chấp pháp trên biển, thực thi pháp luật trên biển… Đặc biệt, hoạt động xuyên tạc, chống phá công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo trên không gian mạng ngày càng tinh vi, khó dự đoán bởi mức độ lan truyền mạnh mẽ, nhanh chóng các thông tin sai trái, bịa đặt. Mục tiêu chung của các hoạt động xuyên tạc, chống phá này là nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tác động tiêu cực tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm, gây tâm lý hoài nghi, làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào chủ trương, định hướng, chính sách của Đảng, Nhà nước trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
2.2. CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI GÓP PHẦN BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM TỪ NĂM 2014 ĐẾN NAY
Từ năm 2014 đến nay, công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam được triển khai thực hiện trên thực tế một cách chủ động, kịp thời, hiệu quả, góp phần hoàn thành tốt các vai trò đặt ra. Lý do cho việc luận văn lựa chọn mốc thời gian từ năm 2014 là vì từ ngày 02 tháng 5 năm 2014, Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn khoan Hải Dương HD-981 vào hoạt động thăm dò, khai thác ở sâu trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam và hoạt động ở đây trong suốt hơn hai tháng. Kể từ sự kiện này, cùng với các mảng công việc khác, công tác thông tin đối ngoại đã hoàn thành tốt nhiệm vụ phục vụ công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia, thể hiện ở hai vai trò chủ yếu sau:
2.2.1. Vai trò truyền thông rộng rãi góp phần nâng cao nhận thức, thái độ, niềm tin, quyết tâm, sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân và bạn bè quốc tế đối với công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam
KHO TÀI LIỆU.rar\TÀI LIỆU 2025 – RAR archive, unpacked size 90,727,135 bytes/ Vai trò của công tác thông tin đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam hiện nay

