Quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa

Quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Hiện nay cuộc cách mạng khoa học- công nghệ tiếp tục phát triển với những bước tiến nhảy vọt, đưa thế giới từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên công nghệ thông tin và kinh tế tri thức. Khoa học công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế – xã hội, mà nền tảng của sự phát triển này là giáo dục – đào tạo. Khi hoạch định phát triển kinh tế, nhiều nước đã đặt giáo dục vào vị trí trung tâm, coi giáo dục là điều kiện phát triển kinh tế. Chính vì thế, các nước này đã có những bước tiến dài trong phát triển kinh tế – xã hội.

Ở nước ta, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (tháng 4-2001) Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển giáo dục – đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [13, tr.108-109]. 

Định hướng cơ bản của công cuộc đổi mới giáo dục còn được chỉ rõ trong các Nghị quyết của Trung ương Đảng về vấn đề giáo dục và đào tạo là cần phải đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện dạy học vào quá trình dạy học. 

Để đạt mục tiêu chiến lược đề ra, giáo dục Việt Nam đã không ngừng đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học với nhiều mô hình, biện pháp khác nhau nhằm mở rộng quy mô, nâng cao tính tích cực trong dạy học, chống lại thói quen học tập thụ động. Muốn vậy cần phải nâng cao, cải tiến đồng bộ các thành tố liên quan, trong đó thiết bị dạy học là một thành tố quan trọng.

Hiện nay nước ta đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020 về căn bản Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp này là những con người mới năng động, sáng tạo, có khả năng tự mình tiếp thu kiến thức mới, giải quyết được mọi tình huống xảy ra. Để thực hiện nhiệm vụ này, Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, tiến hành xây dựng triết lý giáo dục, đổi mới một cách toàn diện từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp dạy học. 

Nghị quyết 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đạo tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” cũng đã nêu rõ quan điểm: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [2]. Cùng với đó là chỉ ra nhiệm vụ, giải pháp cụ thể: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” [2].

Bởi vậy, trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học trong các trường tiểu học hiện nay không thể không nghiên cứu việc quản lí, chỉ đạo sử dụng thiết bị dạy học. TBDH (thiết bị dạy học) đầy đủ là một trong những điều kiện quyết định thành công việc đổi mới phương pháp dạy học. Thiết bị dạy học là phương tiện, là một trong những điều kiện cần thiết để giáo viên thực hiện các nội dung giáo dục, giáo dưỡng và phát triển trí tuệ, khơi dậy tố chất thông minh của học sinh. Trong quá trình dạy học, TBDH vừa là công cụ giúp giáo viên chuyển tải thông tin, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, vừa là nguồn tri thức phong phú và đa dạng. 

Đặc biệt để thực hiện có hiệu quả Chương trình giáo dục phổ thông mới thì TBDH đóng vai trò quan trọng, nhất là khi trong chương trình giáo dục phổ thông mới đều đòi hỏi phải tổ chức cho học sinh thực hành, thí nghiệm và hoạt động trải nghiệm, dạy học tích hợp liên môn từ đó phát triển được năng lực học sinh.

Những năm qua bằng sự cố gắng của các nhà trường trong việc trang bị, 
sử dụng và bảo quản TBDH được tăng cường cả về số và chất lượng. Việc quản lý, sử dụng TBDH ở các trường tiểu học trong huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi đã mang lại một số hiệu quả nhất định như đã tạo ra một không khí học tập mới mẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên và học sinh tiến hành các hoạt động dạy và học một cách sinh động, hấp dẫn,… Tuy vậy thực tế trang bị, bảo quản, sử dụng TBDH ở các nhà trường tiểu học trên địa bàn huyện còn nhiều bất cập. Cụ thể: 

Do kinh phí còn hạn hẹp nên việc trang bị TBDH thiếu đồng bộ, chưa đủ chủng loại, thiếu phòng thực hành thí nghiệm, phòng học bộ môn, việc bổ sung TBDH chưa thường xuyên,… Công tác quản lý, sử dụng và bảo quản TBDH ở các trường chưa được quan tâm đúng mức, chưa đáp ứng trước yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học. Việc bảo quản TBDH phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: thời tiết, sự quan tâm của Sở Giáo dục và Đào tạo, Hiệu trưởng trường tiểu học, trình độ của cán bộ, giáo viên phụ trách TBDH, sự nhiệt tình và trách nhiệm của giáo viên các bộ môn, cùng với đó là công tác quản lý TBDH của cán bộ quản lý ở các nhà trường tiểu học. Mặt khác, nhận thức của cán bộ, giáo viên về sử dụng phương tiện dạy học còn hạn chế, tần suất sử dụng TBDH chưa cao (Đặc biệt là những TBDH hiện đại). Một bộ phận giáo viên còn có tâm lí ngại sử dụng TBDH do quan niệm mất nhiều thời gian cho công tác chuẩn bị hoặc khả năng làm thực hành thí nghiệm còn lúng túng. Thực tế hiện nay ở nhiều trường tiểu học huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi công tác quản lý TBDH còn chưa khoa học, việc sử dụng TBDH của giáo viên trong quá trình dạy học chỉ mang tính hình thức, TBDH được dùng như trực quan  minh hoạ kiến thức của bài học, giáo viên chưa chú trọng tới việc dùng  TBDH để tổ chức và điều khiển các hoạt động nhận thức của học sinh, giúp hình thành kiến thức mới cho học sinh. Vì vậy, việc sử dụng thiết bị trường học và ứng dụng vào phương pháp dạy học còn hạn chế, công tác quản lý TBDH ở các trường học cũng chưa được quan tâm, chưa chỉ đạo sát sao, chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học.

Trước yêu cầu đổi mới Chương trình giảo dục phổ thông, thực hiện định hướng nghề nghiệp cho học sinh tiểu học, đòi hỏi phải có biện pháp quản lý phù hợp đối với giáo viên và học sinh, giáo viên thiết bị và các bên liên quan để trang bị, khai thác, sử dụng TBDH nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy.

Từ những lý do về lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi”.

Quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa
Quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, luận văn đề xuất một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học của các nhà trường . 

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

Thiết bị day học ở trường tiểu học. 

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý thiết bị dạy học trường tiểu học.

4.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

4.3. Đề xuất biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

5.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

5.2. Giới hạn về chủ thể quản lý

Hiệu các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi

5.3. Giới hạn về thời gian nghiên cứu

– Thời gian 3 năm học trở lại đây ( 2021 – 2023).

5.4. Giới hạn về địa bàn, khách thể điều tra

Đề tài khảo sát các khách thể gồm: 145 CBQL, GV tại 12 trường tiểu học huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

6. Giả thuyết khoa học

Thiết bị dạy học là một trong những yếu tố quyết định đến hiệu quả dạy và học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, việc trang bị đồng bộ thiết bị dạy học là vấn đề cần được ưu tiên trong mỗi nhà trường. Công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi trong những năm qua đã đạt được một số kết quả nhất định. Tuy vậy, trong hoạt động quản lý cũng còn một số hạn chế, bất cập. Vì thế, việc khảo sát đúng được thực trạng, lựa chọn, đề xuất và áp dụng được một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học phù hợp thực tiễn ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi sẽ , góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

7. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp, hệ thống những vấn đề lý luận và các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài qua sách, báo và tài liệu tham khảo có liên quan đến công tác quản lý TBDH bao gồm:

+ Tìm hiểu các khái niệm có liên quan đến đề tài.

+ Các tài liệu văn kiện của Đảng, chính sách của nhà nước về phát triển GD &ĐT, các quy định về quản lý nhà trường nói chung, quản lý thiết bị dạy học nói riêng.

+ Các kết quả nghiên cứu, tài liệu trong nước và ngoài nước về phát triển giáo dục, về quản lý thiết bị dạy học trong giai đoạn hiện nay.

7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:

Tìm hiểu thực trạng về một số vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu bằng hệ thống câu hỏi có liên quan đến nội dung quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học.

7.2.2 Phương pháp quan sát;

Tiến hành quan sát hoạt động quản lý TBDH của hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi để thu thập thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu.

7.2.3 Phương pháp chuyên gia;

Thông qua bảng hỏi ý kiến chuyên gia, các cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên có kinh nghiệm để khảo sát thực trạng trang bị, bảo quản, sử dụng TBDH và biện pháp quản lý TBDH ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi

7.2.4. Phương pháp toán thống kê

Xử lí kết quả điều tra bằng phương pháp tính phần trăm (%) và tính giá trị trung bình nhằm phân tích, đánh giá thực trạng để làm cơ sở đề ra biện pháp thích hợp.

8. Những đóng góp mới của luận văn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về quản lý việc trang bị, bảo quản và sử dụng TBDH ở các trường tiểu học; mô tả, phân tích thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

9. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thiết bị dạy học trường tiểu học

Chương 2: Thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

Chương 3: biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ

THIẾT BỊ DẠY HỌC TRƯỜNG TIỂU HỌC

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

      1. 1.1.1. Nghiên cứu về nước ngoài

Thiết bị dạy học (TBDH) là một trong những thành tố cơ bản hỗ trợ tối đa cho hoạt động dạy học. Thực hiện chương trình GDPT (Giáo dục phổ thông) 2018 một trong những yêu cầu đặt ra là đổi mới nội dung và phương pháp dạy học. Do vậy, tất yếu kéo theo việc đổi mới cơ sở vật chất nói chung và thiết bị dạy học nói riêng, đặc biệt là hoạt động quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học, quá trình có tác động trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động dạy và học, thể hiện cụ thể nội dung dạy học và hỗ trợ thực hiện các phương pháp dạy học tích cực… Chính vì lý do đó, việc tìm hiểu về thiết bị dạy học cũng được nhiều nhà nghiên cứu khoa học, nhà quản lý giáo dục trong và ngoài nước quan tâm đến trong quá trình xây dựng và đổi mới dạy học cũng như giáo dục. Trong phạm vi cho phép có thể đề cập đến một số nghiên cứu sau:

Hội nghị chuyên đề các nước Châu Á – Thái Bình Dương ở New Delhi năm 1972 về TBDH khoa học cho nhà trường đã bàn về yêu cầu sư phạm và tính kinh tế, sự cần thiết của TBDH cho hoạt động dạy và học.

Chủ đề hội nghị “Phát triển các phương tiện thích hợp để dạy và học” được đưa ra thảo luận giữa các nước Châu Á – Thái Bình Dương tổ chức tại Tokyo năm 1979 đề cập đến những yêu cầu khi trang bị và sử dụng TBDH.

Tổ chức lao động quốc tế ADB/ILO (Evaluation Rating criteria for the VTE Institution, ADB/ILO – Bangkok 1997) đưa ra 9 tiêu chuẩn và điểm đánh giá cơ sở giáo dục – đào tạo để kiểm định các nước thuộc tiểu vùng sông Mêkông. Trong đó các điều kiện cơ sở hạ tầng của nhà trường: Khuôn viên, cơ sở vật chất – kỹ thuật và thư viện chiếm 125/500 tổng điểm chung [Dẫn theo 41].

Country Report on Quality Assurrance in Higher Education, Bangkok – Thailand, 1998, đưa ra tỉ lệ đánh giá các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục của Malaysia với 6 chỉ số trong đó các điều kiện đảm bảo cơ sở vật chất – kỹ thuật cho công tác đào tạo chiếm 20% tổng điểm đánh giá chung.

Nghiên cứu về “Phương tiện kỹ thuật dạy học và ứng dụng” – Nhà xuất bản Đại học Minxcơ – 1985 [Dẫn theo 29]. Trong tài liệu này, các tác giả đã đề cập nhiều đến vị trí, vai trò, chức năng và các loại phương tiện kỹ thuật dạy học. Tài liệu cũng nêu ra được những ứng dụng cụ thể, chi tiết của phương tiện kỹ thuật dạy học trong quá trình dạy học. Tuy nhiên tài liệu này mang tính tổng quát, khó vận dụng vào điều kiện kinh tế của Việt Nam.

      1. 1.1.2. Nghiên cứu trong nước

Tác giả Lê Thanh Huy – Trần xuân Bách với tài liệu “ [23] Những vấn đề cơ bản về công tác thiết bị dạy học ở trường phổ thông” đã đưa nhiều phương pháp quản lý hiệu quả trang thiết bị daỵ học cho sinh viên sư phạm và viên chức làm công tác thiết bị dạy học ở cơ sở gíao dục phổ thông đã phân loại được các phương tiện dạy học những yêu cầu đối với phương tiện dạy học , tổ chức thực hiện hiệu quả

Tác giả Tô Xuân Giáp với tài liệu “Phương tiện dạy học” [18] của ông đã đưa ra minh chứng cho sự phát triển của công nghệ dạy học dựa vào phương tiện dạy học, nêu lên các đặc trưng chủ yếu của phương tiện dạy học, nhiều cách phân loại và những nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học hiệu quả.

Cũng nghiên cứu về cơ sở vật chất, tác giả còn nghiên cứu về “Phương tiện dạy học hướng dẫn chế tạo và sử dụng”. Tác giả đã đưa ra những cơ sở phân loại và phân loại phương tiện dạy học, cách thức lựa chọn, thiết kế chế tạo, sử dụng phương tiện dạy học và một số điều kiện để đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả phương tiện dạy học. Như vậy theo tác giả đã cho rằng “Phương tiện dạy học được sử dụng đúng, có tác dụng làm tăng hiệu quả sư phạm của nội dung và phương tiện dạy học lên rất nhiều” [19].

Trong tài liệu: “Một số vấn đề lí luận và thực tiễn của việc xây dựng sử dụng cơ sở vật chất và TBDH ở trường phổ thông Việt Nam” tác giả Trần Quốc Đắc đã đưa ra các quan điểm làm cơ sở cho việc sử dụng TBDH, xác định vị trí, vai trò của cơ sở vật chất TBDH ở trường phổ thông. Các tác giả trong công trình nghiên cứu trên đã nhận định: “TBDH phải được sử dụng, hiệu quả sử dụng là mục tiêu cơ bản nhất và là mục tiêu duy nhất của toàn bộ công tác thiết bị trường học. Sử dụng có hiệu quả TBDH là một nhiệm vụ nặng nề, khó khăn của người thầy giáo. Điều này đòi hỏi người thầy giáo phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao với yêu cầu sử dụng TBDH. Người GV không những cần hiểu biết về TBDH, về kỹ thuật sử dụng chúng mà còn hiểu sâu về phương pháp dạy học với yêu cầu sử dụng TBDH: sử dụng TBDH với mục đích gì, lúc nào, liều lượng bao nhiêu, đặc điểm tâm lí HS (Học sinh) ra sao; HS cần tham gia hoạt động như thế nào khi dạy học có sử dụng TBDH, sử dụng TBDH như thế nào để khơi dậy lòng say mê học tập, phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo và bồi dưỡng nhân cách cho HS” [14].

Trong cuốn: Sư phạm kỹ thuật được xuất bản vào năm 2002 do tác giả Trần Khánh Đức đã đưa ra “Trong bất cứ một loại hình lao động nào trong đời sống xã hội, lao động sư phạm của người giáo viên cần có những dụng cụ, thiết bị dạy học phải phù hợp tính chất và nội dung, môi trường lao động ở từng cấp học, loại hình trường và ngành nghề đào tạo. Phương tiện dạy học không chỉ là công cụ hổ trợ hoạt động lao động sư phạm của người giáo viên mà còn có vai trò thay thế cho các sự vật, hiện tượng và một số quá trình xảy ra trong đời sống, lao động nghề nghiệp mà phương tiện dạy học tạo điều kiện để phát huy hết các chức năng tư duy của não con người” [15, tr.6].

Tại hội thảo vào tháng 11/2003 “Phương pháp, phương tiện phục vụ đổi mới dạy và học kỹ thuật” do trường Đại học sư phạm kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức khoa học về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, một số phương tiện hổ trợ trong hoạt động dạy-học và một vài phương pháp cũng như các thuận lợi, khó khăn khi đưa thiết bị dạy học ứng dụng trong nhà trường [41].

Trong giáo trình: “Lý luận dạy học ở trường TH (tiểu học)” [8] do Nguyễn Ngọc Bảo và Trần Kiểm viết đã dành một chương (chương 5) để viết về phương tiện dạy học. Theo tác giả, phương tiện dạy học có ý nghĩa quan trọng trong việc vận dụng phương pháp dạy học. Bên cạnh việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, hiện nay các trường TH đã được trang bị nhiều phương tiện dạy học. Vì vậy GV cần phải nắm được khái niệm phương tiện dạy học, các loại phương tiện dạy học, cách sử dụng, bảo quản từng loại phương tiện dạy học, đặc biệt là phương tiện dạy học cho HS lứa tuổi tiểu học.

Nguyễn Văn Tùng với nghiên cứu: “Sử dụng đa phương tiện trong dạy học môn Giáo dục học cho sinh viên Cao đẳng sư phạm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long” đã khái quát cơ sở lý luận của việc sử dụng đa phương tiện trong dạy học và xây dựng quy trình sử dụng đa phương tiện trong dạy học môn Giáo dục học cho sinh viên cao đẳng sư phạm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long 37].

Tác giả Kiều Thị Thùy Trang với đề tài “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận 11, thành phố Hồ Chí Minh” [38]. Kết quả nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thiết bị dạy học trên cơ sở phân tích, nghiên cứu những lý luận cơ bản và đánh giá việc quản lý TBDH ở các trường TH trong quận 11, TPHCM. Mặc dù kết quả nghiên cứu đã mô tả thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận 11, thành phố Hồ Chí Minh tuy nhiên các giải pháp đề xuất mới được thực hiện trước thời điểm thực hiện Chương trình GDPT mới.

Trần Quốc Bảo với đề tài “Các biện pháp của hiệu trưởng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất kĩ thuật (CSVC-KT) phục vụ cho việc dạy và học ở trường THPT công lập TP Hồ Chí Minh” [9]. Từ khảo sát và phân tích thực trạng quản lý CSVC-KT ở một số trường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh, đề tài đã đề xuất các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng CSVC-KT phục vụ cho việc dạy-học ở trường THPT công lập Thành phố Hồ Chí Minh. Thực hiện đề tài, tác giả đã có sự phân biệt giữa cơ sở dạy học, thiết bị dạy học và các kỹ thuật sử dụng các thiết bị, cơ sở đó vào quá trình giáo dục, dạy học trong các trường THPT công lập thành phố Hồ Chí Minh.

Lê Thanh Giang với đề tài: “Thực trạng và giải pháp quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên trường trung học phổ thông tỉnh Cà Mau” [17], qua đề tài tác giả đã khảo sát và phân tích thực trạng quản lý và sử dụng TBDH ở một số trường THPT tỉnh Cà Mau, từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý việc sử dụng TBDH của giáo viên nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở các trường THPT tỉnh Cà Mau.

Đặng Phúc Tịnh với đề tài: “Thực trạng và một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường TH huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ” [36]. Kết quả nghiên cứu đề tài tác giả đã khảo sát và phân tích thực trạng quản lý TBDH ở các trường TH huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Từ trên kết quả nghiên cứu lý luận và hạn chế thực trạng, tác giả đề xuất một số biện pháp quản lý TBDH nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của các trường TH tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

Trần Duy Hân (2013) với đề tài: “Biện pháp quản lý phương tiện dạy học của Hiệu trưởng các trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Huế đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay” [21]. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và nghiên cứu đã đánh giá thực trạng việc quản lý phương tiện dạy học của Hiệu trưởng, xác lập các biện pháp quản lý phương tiện dạy học có hiệu quả của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Huế, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay. Kết quả nghiên cứu đề tài trên cùng đối tượng nghiên cứu của tác giả đề tài là cấp TH. Tuy nhiên, thời điểm nghiên cứu của đề tài vẫn thực hiện theo Chương trình giáo dục phổ thông nên việc bố trí, sử dụng các yêu cầu sử dụng, mua sắm, cải tạo chưa được thể hiện như trong Chương trình GDPT mới.

Khái quát các công trình nghiên cứu thiết bị dạy học và quản lý thiết bị dạy học ở trường học đã nêu cho thấy:

Các nghiên cứu đã làm rõ vai trò, nội dung cơ bản để nâng cao cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục trên nhiều góc độ khác nhau, để thấy được tầm quan trọng của thiết bị giáo dục

Các tác giả đã nghiên cứu và đánh giá thiết bị dạy học theo đặc thù môn học khác nhau và đưa ra các nội dung trong quản lý thiết bị dạy học ở trường học thuộc một cấp học, ở một địa bàn cụ thể, trong đó tập trung vào các nội dung như lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá.

Mặc dù thiết bị dạy học và đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên đã đạt được một số thành tựu nhất định về lí luận và thực tiễn triển khai, song các công trình đó chủ yếu tập trung nghiên cứu về các chức năng của thiết bị dạy học, nguyên tắt sử dụng mà chưa đi sâu nghiên cứu về cách thức, biện pháp của người quản lý trường học đối với các khâu mua sắm, sử dụng TBDH và cải tạo, tu bổ, và bảo quản TBDH.

Đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi là một trong những huyện có tiềm năng phát triển của tỉnh Quảng Ngãi. Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội được cải thiện tất yếu dẫn đến sự đầu tư cho giáo dục nhằm phát triển hơn nữa giáo dục địa phương, mang đến cho thế hệ trẻ một điều kiện học tập tốt hơn. Trong đó, việc đầu tư kinh phí cho cơ sở vật chất nói chung và thiết bị dạy học nói riêng đã được chú trọng song vẫn còn rất hạn chế trong vấn đề tìm hiểu và đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hoạt động quản lý thiết bị dạy học mà quan trọng hơn hết là hoạt động quản lý sử dụng thiết bị dạy học. Mặt khác, khi triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới, quản lý TBDH vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu.

1.2. Các khái niệm cơ bản

      1. 1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

1.2.1.1. Quản lý

Quản lý là một hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý. Trong mỗi chu trình quản lý chủ thể tiến hành những hoạt động theo các chức năng quản lý như xác định mục tiêu, các chủ trương, chính sách, hoạch định kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, điều hoà, phối hợp, kiểm tra và huy động, sử dụng các nguồn lực cơ bản như tài lực vật lực, nhân lực v.v… để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định

H.Koontz đã khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [22]. Trong khái niệm trên cho rằng, quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đông người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất.

Theo Bùi Minh Hiền (chủ biên) (2006), Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo để đạt hiệu quả cần phải tổ chức, điều khiển (Cách thức tác động) của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu chung của tổ chức đã đề ra. Mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý rất đa dạng và phong phú, nhưng trong các mối quan hệ đó thì cần quan tâm nhất là mối quan hệ giữa con người với con người và coi đó là cốt lõi của hoạt động quản lý. Đó là mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ với nhau tạo thành một hệ gọi là hệ quản lý [24]. Trong quan điểm của tác giả Nguyễn Ngọc Quang (1989) cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [34, tr.8].

Các nghiên cứu về quản lý có thể được khái quát theo những khuynh hướng như sau: Thứ nhất, nghiên cứu theo quan điểm của điều khiển học và lí thuyết hệ thống. Theo đó, quản lí là một quá trình điều khiển, là chức năng của những hệ có tổ chức với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật…) nó bảo toàn cấu trúc, duy trì chế độ hoạt động của các hệ đó. Quản lí là tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển. Thứ hai, nghiên cứu với tư cách là một hoạt động, một lao động tất yếu trong các tổ chức của con người. Thứ ba, nghiên cứu với tư cách là một quá trình trong đó các chức năng được thực hiện trong sự tương tác lẫn nhau. Theo hướng này, quản lí là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích xác định.

Như vậy, quá trình quản lí diễn ra các hoạt động cụ thể của chủ thể quản lí với sự tham gia tích cực của các thành viên trong tổ chức như dự báo, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo lãnh đạo, giám sát, kiểm tra đánh giá, trong đó các hoạt động trên đan xen nhau, tác động, bổ sung lẫn nhau để hoàn thiện cả quá trình quản lí.

Từ quan niệm của các học giả đã nêu, trong luận văn này quản lý được hiểu là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức, huy động và sử dụng mọi nguồn lực của tổ chức một cách hiệu quả để đạt những mục tiêu của tổ chức.

1.2.1.2. Quản lý giáo dục

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo dục thực chất là tác động đến nhà trường, làm cho tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất nhà trường nhà trường XHCN Việt Nam bằng cách đó tiễn tới mục tiêu dự kiến, tiễn lên trạng thái chất lượng mới” [34].

Hà Sĩ Hồ, Lê Tuấn: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hoá tài chính, … nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng, cũng như về chất lượng” [27]. Những định nghĩa nêu trêu về quản lý giáo dục tuy có những cách diễn đạt khác nhau nhưng đều thể hiện một quan điểm chung, đó là:

+ Quản lý giáo dục là một hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý.

+ Quản lý giáo dục là sự tác động lên tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối hợp, tác động tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường để mục tiêu đã đề ra.

Từ những vấn đề trên, luận văn sử dụng khái niệm sau:

Quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học có kế hoạch quá trình dạy theo mục tiêu đào tạo.

1.2.1.3. Quản lý nhà trường

Trường học là cơ sở giáo dục mang tính nhà nước, trực tiếp giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, trực tiếp tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Sau đây là một số khái niệm về quản lý trường học:

– Quản lý trường học là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, nhân viên, tập thể học sinh, phụ huynh học sinh, các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường. [27]

– Quản lý trường học là quản lý vi mô, nó là một hệ thống con của quản lý giáo dục. Quản lý trường học là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, tự giác, hệ thống và có kế hoạch) mang tính tổ chức – sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để huy động họ cùng phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường. Nhằm làm cho quá trình giáo dục vận hành tối ưu để hoàn thành những mục tiêu đã dự kiến [30].

Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh [7].

Trường học là cơ quan hành chính sự nghiệp của nhà nước, đồng thời là một tổ chức mang tính xã hội. Hoạt động trung tâm của nhà trường là dạy – học và giáo dục. Quản lý trường học thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạm của thầy và lao động học tập của trò diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy-học và giáo dục.

Như vậy, Quản lý trường học là sự quản lý của Hiệu trưởng đối với toàn bộ những con người, những hoạt động những tổ chức và những phương tiện kỹ thuật, tài chính của trường để đạt cho được mục tiêu của sự giáo dục ở loại trường đó.

      1. 1.2.2. Thiết bị dạy học

Thiết bị dạy học có nhiều tên gọi khác nhau như: phương tiện dạy học, thiết bị giáo dục, đồ dùng dạy học… Mặc dù có sự khác nhau trong cách dùng từ để gọi tên nhưng nhìn chung đều cùng đề cập đến một đối tượng có vị trí, vai trò nhất định và vô cùng quan trọng trong hoạt động dạy học và giáo dục của nhà trường. Như vậy, với nhiều tên gọi khác nhau thì “thiết bị dạy học” được định nghĩa như thế nào? Có thể hiểu TBDH đó là:

– Đó là tất cả các phương tiện rất cần thiết cho giáo viên và học sinh tổ chức và tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá trình giáo dục và dạy học ở các môn học cấp học.

– Đó là một vật thể hoặc một tập hợp các đối tượng vật chất mà người giáo viên sử dụng với tư cách là phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức; là phương tiện giúp học sinh lĩnh hội khái niệm,định luật, thuyết khoa học….nhằm hình thành ở họ các kĩ năng, kĩ xảo, đảm bảo việc giáo dục, phục vụ mục đích dạy học và giáo dục. [10, tr 25-28]

– Thiết bị dạy học là điều kiện đảm bảo cho hoạt động dạy học, là thành tố chủ yếu và quan trọng nhất trong cấu trúc hệ thống CSVC trường học.

Thiết bị giáo dục bao gồm thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập ở tại lớp, thiết bị phòng thí nghiệm, thiết bị thể dục thể thao, thiết bị nhạc – họa và các thiết bị khác trong xưởng trường, vườn trường, phòng truyền thống, nhằm đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng dạy và học,góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. [12]

Tác giả Bùi Minh Hiền đề cập đến khái niệm về thiết bị dạy học như sau: “Trong công tác dạy học, thầy và trò ngoài chương trình sách giáo khoa, trường lớp…thường phải sử dụng đến phương tiện được gọi là học cụ, đồ dùng dạy học, thiết bị giáo dục, thiết bị dạy học. Thiết bị dạy học có thể coi như thuật ngữ đại diện cho các cách gọi khác nhau nêu ra trên đây. Nó là một bộ phận cơ sở vật chất trường học trực tiếp có mặt trong các giờ học được thầy và trò cùng sử dụng. Thuật ngữ này có tên tiếng Anh tương ứng: Equypment for Teaching”. [24]

Tác giả Lê thanh Huy – Trần xuân Bách phân loại PTDH gồm hai phần : phần cứng. (hardware), phần mềm (software) , chia PTDH thành 2 nhóm : phương tiện dùng trực tiếp để dạy học và phương tiện hổ trợ và điều khiển QTDH [23, tr.12]

Từ các quan điểm trên, trong luận văn này sử dụng định nghĩa về TBDH như sau: Thiết bị dạy học là một bộ phận của cơ sở vật chất trường học, bao gồm những đối tượng vật chất được thiết kế sư phạm mà giáo viên sử dụng để điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh; đồng thời là nguồn thi thức, là phương tiện giúp học sinh lĩnh hội tri thứ, hình thành kĩ năng đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu dạy học.

      1. 1.2.3. Quản lý thiết bị dạy học

Khái niệm thiết bị dạy học đã thể hiện một phần vai trò của nó đối với quá trình dạy học và giáo dục học sinh. Vì vậy, sử dụng TBDH đòi hỏi có sự quản lý để hoạt động này diễn ra đúng mục đích, tạo điều kiện cho TBDH phát huy vai trò quan trọng vốn có của nó nhằm đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy và học.

Từ các khái niệm đã tìm hiểu ở trên, có thể phát biểu khái niệm như sau: Quản lý thiết bị dạy học là tác động có mục đích của chủ thể quản lý thông qua thực hiện các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra nhằm xây dựng, phát triển và sử dụng có hiệu quả hệ thống thiết bị dạy học phục vụ đắc lực cho công tác giáo dục và đào tạo.

1.3. Cơ sở lý luận về thiết bị dạy học trong quá trình dạy học ở trường tiểu học

      1. 1.3.1. Vai trò, vị trí của giáo dục tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân

Căn cứ Điều 2 Điều lệ Trường tiểu học ban hành kem theo Thông tư 28/2020/TT-BGDĐT quy định về vị trí của trường tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân như sau [6]:

“Trường tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng.”

Căn cứ Điều 3 Điều lệ Trường tiểu học ban hành kem theo Thông tư 28/2020/TT-BGDĐT quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của trường tiểu học như sau:

– Công khai mục tiêu, chương trình, kế hoạch giáo dục, điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, kết quả đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục; tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng đáp ứng mục tiêu, yêu cầu cần đạt theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

– Thực hiện giáo dục bắt buộc, phổ cập giáo dục và xóa mù chữ tại địa bàn. Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động và tạo điều kiện cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đến trường. Nhận bảo trợ và quản lý các hoạt động giáo dục của cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học theo sự phân công của cấp có thẩm quyền.

– Xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, gắn với điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương; xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục đáp ứng mục tiêu, yêu cầu cần đạt theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học.

– Triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; thực hiện lựa chọn sách giáo khoa theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; triển khai thực hiện sách giáo khoa và nội dung giáo dục của địa phương theo quyết định của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh); thực hiện tự chủ chuyên môn trong tổ chức các hoạt động giáo dục tại trường tiểu học.

– Thực hiện tự kiểm định chất lượng và đảm bảo chất lượng giáo dục theo quy định.

– Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh.

– Quản lý và sử dụng đất, tài chính và tài sản của nhà trường theo quy định của pháp luật.

– Phối hợp chặt chẽ với cha mẹ hoặc người giám hộ học sinh, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện các hoạt động giáo dục. Tổ chức cho giáo viên, người lao động và học sinh tham gia các hoạt động xã hội tại địa phương.

– Xây dựng môi trường văn hoá – giáo dục trong nhà trường, tham gia xây dựng môi trường văn hoá – giáo dục ở địa phương.

– Được tiếp nhận các khoản tài trợ, viện trợ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với nhà trường theo quy định của pháp luật.

– Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

      1. 1.3.2. Phân loại thiết bị dạy học

Tiêu chuẩn Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học tại trường tiểu học được quy định tại Điều 7 Quy định tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên ban hành kèm theo Thông tư 42/2012/TT-BGDĐT như sau:

1. Khuôn viên, cổng trường, biển trường, tường hoặc hàng rào bảo vệ, sân chơi, bãi tập theo quy định của Điều lệ trường trung học.

a) Diện tích khuôn viên và các yêu cầu về xanh, sạch, đẹp, thoáng mát đảm bảo quy định;

b) Có cổng, biển tên trường, tường hoặc hàng rào bao quanh theo quy định;

c) Có sân chơi, bãi tập theo quy định.

2. Phòng học, bảng, bàn ghế cho giáo viên, học sinh.

a) Số lượng, quy cách, chất lượng và thiết bị của phòng học, bảng trong lớp học đảm bảo quy định của Điều lệ trường tiểu học (nếu trường có cấp tiểu học), Điều lệ trường trung học và quy định về vệ sinh trường học của Bộ Y tế;

b) Kích thước, vật liệu, kết cấu, kiểu dáng, màu sắc của bàn ghế học sinh đảm bảo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế;

c) Phòng học bộ môn đạt tiêu chuẩn theo quy định.

3. Khối phòng, trang thiết bị văn phòng phục vụ công tác quản lý, dạy và học theo quy định của Điều lệ trường trung học.

a) Khối phòng phục vụ học tập, khối phòng hành chính – quản trị, khu nhà ăn, nhà nghỉ (nếu có) đảm bảo quy định;

b) Có trang thiết bị y tế tối thiểu và tủ thuốc với các loại thuốc thiết yếu theo quy định;

c) Có các loại máy văn phòng (máy tính, máy in) phục vụ công tác quản lý và giảng dạy, máy tính nối mạng internet phục vụ các hoạt động giáo dục đáp ứng yêu cầu.

4. Công trình vệ sinh, nhà để xe, hệ thống nước sạch, hệ thống thoát nước, thu gom rác đáp ứng yêu cầu của hoạt động giáo dục.

a) Có công trình vệ sinh riêng cho cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh, riêng cho nam và nữ, thuận lợi cho học sinh khuyết tật (nếu có), vị trí phù hợp với cảnh quan trường học, an toàn, thuận tiện, sạch sẽ;

b) Có nhà để xe cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh;

c) Có nguồn nước sạch đáp ứng nhu cầu sử dụng của cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh, hệ thống cung cấp nước uống đạt tiêu chuẩn, hệ thống thoát nước, thu gom rác đảm bảo yêu cầu.

5. Thư viện đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, học tập của cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh.

a) Thư viện đạt tiêu chuẩn thư viện trường phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; được bổ sung sách, báo và tài liệu tham khảo hằng năm;

b) Hoạt động của thư viện đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, dạy học của cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh;

c) Hệ thống công nghệ thông tin kết nối internet và website của nhà trường đáp ứng yêu cầu dạy, học và quản lý nhà trường.

6. Thiết bị dạy học, đồ dùng dạy học và hiệu quả sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học.

a) Cơ sở vật chất tối thiểu phục vụ giảng dạy và học tập đảm bảo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

b) Việc sử dụng thiết bị dạy học trong các giờ lên lớp và tự làm một số đồ dùng dạy học của giáo viên đảm bảo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

c) Kiểm kê, sửa chữa, nâng cấp, bổ sung đồ dùng và cơ sở vật chất hằng năm.

Dựa trên quy định, phân loại TBDH được phân loại như sau:

Thiết bị dạy học được phân loại nhằm mục đích thuận tiện cho công tác quản lý và sử dụng. Việc phân loại thiết bị dạy học dựa trên nhiều căn cứ như: theo cách sử dụng, vai trò…

Một số cách phân loại thiết bị dạy học:

a. Căn cứ vào thời gian xuất hiện:

Thiết bị dạy và học truyền thống, là những phương tiện đã được dùng từ xưa tới nay trong dạy học; ví dụ bảng viết, tranh vẽ, mô hình…

Thiết bị dạy và học hiện đại, là những thiết bị dạy và học mới được đưa vào nhà trường; ví dụ các sản phẩm công nghệ điện tử viễn thông như camera số, máy chiếu đa phương tiện…

b. Căn cứ theo cách sử dụng:

Theo tác giả Lê thanh Huy – Trần xuân Bách về công tác phục vụ sử dụng thiết bị [23, trang 60]:

  • Thực hiện nghiêm túc và chu đáo kế hoạch hàng tuần về công tác thiết bị phục vụ cho dạy học sinh các môn học trong toàn trường
  • Hướng dẫn sử dụng thiết bị cho học sinh, thay thế giáo viên bộ môn khi cần thiết
  • Đảm bảo kỷ luật nội qui phòng thí nghiệm/ phòng thực hành/ phòng học bộ môn
  • Đảm bảo các qui định về an toàn cho gíao viên, học sinh trong quá trình tiến hành sử dụng thiết bị. Giải quyết kịp thời và có hiệu quả khi có sự cố mất an toàn xảy ra.
  • Đảm bảo đầy đủ các thiết bị, máy móc dụng cụ, hóa chất theo yêu cầu của chương trình dạy học

Theo tác giả Tô Xuân Giáp, căn cứ theo cách sử dụng mà TBDH được chia làm 2 nhóm [18]: Phương tiện dùng trực tiếp để dạy học và phương tiện dùng để chuẩn bị và điều khiển lớp học.

– Phương tiện dùng trực tiếp để dạy học được chia thành hai nhóm nhỏ:

+ Các phương tiện truyền thống là các phương tiện đã được sử dụng từ lâu đời và ngày nay từng lúc, từng nơi vẫn còn được sử dụng;

+ Các phương tiện nghe nhìn được hình thành do sự phát triển của các ngành khoa học kỹ thuật đặc biệt là ngành điện tử. Do có hiệu quả cao trong truyền thông dạy học nên phương tiện nghe nhìn được sử dụng ngày càng nhiều trong quá trình dạy học.

– Phương tiện dùng để chuẩn bị và điều khiển lớp học:

+ Nhóm này gồm có các phương tiện hỗ trợ, phương tiện ghi chép và các phương tiện khác.

+ Phương tiện hỗ trợ: các loại bảng viết, các giá cố định và lưu động để đặt các phương tiện trình diễn, thiết bị thay đổi cường độ ánh sáng trong lớp… nhằm giúp cho giáo viên sử dụng các phương tiện dạy học được dễ dàng, có hiệu quả cao và không làm gián đoạn quá trình giảng dạy của giáo viên.

+ Phương tiện ghi chép: các phương tiện giúp cho việc chuẩn bị bài giảng, lưu trữ số liệu và kiểm tra kết quả học tập của học sinh được nhanh chóng và dễ dàng.

Ngày nay, máy vi tính đã được sử dụng nhiều trong các trường học và được coi như một phương tiện có thể dùng để trực tiếp dạy học, vừa có thể được dùng cho việc kiểm tra, lưu trữ tài liệu và chuẩn bị bài giảng.

Ngoài ra, TBDH còn được phân chia theo một số cách thường gặp như sau:

– Theo đặc tính tác động đến các giác quan

+ Các phương tiện nghe;

+ Các phương tiện nhìn;

+ Các phương tiện nghe – nhìn.

– Theo thành phần người học

+ Các phương tiện dành cho cá nhân;

+ Các phương tiện dành cho nhóm học tập;

+ Các phương tiện dành cho tập thể lớp.

– Về phía giáo viên thì phân loại theo dạng sản phẩm là phổ biến nhất:

+ Tranh, ảnh, bản đồ: loại hình được sử dụng nhiều nhất dùng để minh họa một sự vật, một hiện tượng ở nhiều môn học;

+ Băng ghi âm, băng ghi hình: có tính năng tái hiện hiện thực thông qua âm thanh, hình ảnh và có tác động mạnh đến xúc cảm và nhận thức của học sinh;

+ Tấm nhựa trong, phim miếng: giúp nghiên cứu sự vật, hiện tượng dưới dạng tính trong một thời gian trình bày tùy ý;

+ Mẫu vật (vật thật): là phương tiện giúp nghiên cứu nguồn gốc tự nhiên, loại này hết sức đa dạng và phong phú;

+ Mô hình: mô phỏng lại sự vật, một quy trình, cho phép nghiên cứu cấu tạo, hoạt động của những đối tượng dựa trên phương pháp tương tự;

+ Phần mềm vi tính: là công nghệ thông tin đa phương tiện có tính năng lưu trữ, hiển thị được kết hợp bởi các văn bản truyền thống, các hình ảnh, các âm thanh hoặc các đoạn phim minh họa;

+ Máy móc, hóa chất và dụng cụ thí nghiệm: là phương tiện đặc trưng cho các môn khoa học thực nghiệm như vật lý, hóa học, sinh học, kỹ thuật công nghiệp.

      1. 1.3.3. Vai trò của trang thiết bị dạy học đối với giáo dục tiểu học trong giai đoạn hiện nay

Thiết bị dạy học là một trong những điều kiện vật chất của nhà trường, là một thành tố không thể thiếu trong hoạt động dạy học và giáo dục.

Quá trình giáo dục cấu thành bởi nhiều yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Các yếu tố đó là: Mục tiêu, Nội dung, Phương pháp, Thiết bị dạy học (Phương tiện), Giáo viên, Học sinh. Trong mối quan hệ giữa các yếu tố cơ bản trên, yếu tố thiết bị dạy học không thể tách rời. Các cặp thành tố có quan hệ tương hỗ hai chiều. Việc điều khiển tối ưu các mối quan hệ của các thành tố có thể coi là một nghệ thuật về mặt sư phạm. TBDH có trong quá trình giáo dục với vai trò như các thành tố khác không thể thiếu một thành tố nào.

Thiết bị dạy học có vai trò quan trọng trong quá trình dạy học, là một bộ phận của nội dung và phương pháp dạy học. Đảm bảo tính trực quan trong dạy học, đảm bảo chất lượng kiến thức, thể hiện tường minh phương pháp làm việc, giúp học sinh rèn luyện các kĩ năng. Thiết bị dạy học có khả năng sư phạm to lớn: tăng tốc độ truyền tải mà không làm giảm số lượng thông tin, tạo điều kiện đi sâu vào bản chất sự vật hiện tượng, tiết kiệm thời gian, tạo hứng thú và lôi cuốn người học, cho phép cải tiến các hình thức lao động sư phạm, tạo điều kiện cho học sình thực hành rèn luyện và phát triển năng lực [29].

Thiết bị dạy học có vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy học và giáo dục, là một trong những điều kiện quyết định thành công của việc đổi mới phương pháp dạy học, tạo tiền đề để thực hiện tốt nội dung và phương pháp dạy học, hỗ trợ tích cực trong việc xác định nội dung và lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp.

Các TBDH được lựa chọn thích hợp và sử dụng có hiệu quả là công vụ hỗ trợ đắc lực trong tiết dạy, tránh được tình trạng truyền thụ kiến thức một chiều, giúp tiết dạy trở nên sinh động, dễ hiểu; giúp người giáo viên nâng cao năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy; tăng hiệu quả hoạt động nhận thức của học sinh, lý thuyết được kết hợp với thực hành, minh họa giúp cho HS nhớ kiến thức lâu và sâu sắc hơn, tạo cho HS những tình cảm tốt đẹp với môn học.

Không ít nội dung học tập phức tạp cần đến sự hỗ trợ tích cực của phương tiện trực quan mới giải quyết được những vấn đề trừu tượng. Theo nguyên lý “Học đi đôi với hành”, người học rất cần được trực tiếp thực hành dựa trên những kiến thức lý thuyết đã học bằng các dụng cụ, thiết bị cụ thể.

Dạy học tích cực yêu cầu người học tham gia có ý thức vào các hoạt động tự khám phá, học hỏi để chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng cần thiết. Như vậy, TBDH là điều kiện và phương tiện tất yếu để có thể tiến hành phương pháp dạy học tích cực.

Thiết bị dạy học là cầu nối để giáo viên, học sinh cùng hành động tương hợp với nhau chiếm lĩnh được nội dung dạy học, thực hiện mục tiêu dạy học, sử dụng phương pháp dạy học.

Chính vì những lý do trên, có thể thấy rằng TBDH có vai trò vô cùng quan trọng và không thể thiếu trong hoạt động dạy học, giáo dục của nhà trường, thậm chí là ở bất cứ nơi nào có diễn ra hoạt động dạy học nếu muốn đạt được chất lượng và hiệu quả cao thì cần phải sử dụng TBDH.

1.4. Quản lý thiết bị dạy học trong trường tiểu học

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\Quản lý thiết bị dạy học ở các trường tiểu học huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *