Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường Trung học cơ sở quận Cẩm Lệ

Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường Trung học cơ sở quận Cẩm Lệ

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong độ tuổi học sinh, học sinh cấp Trung học cơ sở (THCS) có trạng thái tâm lý, tình cảm diễn biến phức tạp và thiếu ổn định nhất. Điều này đến từ đặc tính sinh học về phát triển tâm sinh lý của độ tuổi từ 11 đến 15. Đây là khoảng thời gian con người bắt đầu biết nhận thức rõ ràng về xã hội xung quanh để định hình tâm lý, tính cách và cũng là khoảng thời con người bắt đầu khao khát chứng tỏ cái tôi của bản thân trước bạn bèn cùng trang lứa và trước xã hội. Trong khi đó, do kinh nghiệm sống còn hạn chế, trải nghiệm sống chưa nhiều nên kích thích tính tò mò, tâm lý muốn thử, muốn trải nghiệm đã khiến cho độ tuổi học sinh THCS vừa có khả năng thực hiện các hành vi tệ nạn xã hội, vừa có khả năng dễ bị lôi kéo, cám dỗ nhất trong lứa tuổi học sinh bởi tệ nạn xã hội. Chính vì thế, giáo dục nhận thức và kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS là một trong những đòi hỏi cấp thiết và quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông ở Việt Nam hiện nay.

Thấu hiểu được nguy cơ và sứ mệnh giáo dục đó, các nhà quản lý giáo dục đã có những giải pháp, cách thức triển khai giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS nói riêng và học sinh phổ thông nói chung cả ở trong và ngoài giờ lên lớp. Kết quả ban đầu đạt được đáng ghi nhận khi đã cơ bản trang bị cho học sinh những kiến thức và kỹ năng quan trọng để tự mình phòng, chống tệ nạn xã hội. Tuy nhiên, xét về mục tiêu tổng thể, hoạt động giáo dục này vẫn chưa đạt được sự kỳ vọng của xã hội và của chính các học sinh khi chưa thực sự được chú trọng về chương trình, nội dung, phương pháp… nên chỉ mới dừng lại ở việc giáo dục các nội dung cơ bản, thậm chí nhiều trường, nhiều địa phương còn chưa xem trọng nội dung giáo dục này nên thực hiện mang tính đối phó, qua loa, hình thức. Học sinh vì thế cũng dần nảy sinh tâm lý tham gia theo nghĩa vụ và không trang bị được cho mình những kỹ năng chuyên sâu để phòng, chống tệ nạn xã hội. Điều này đặt ra một yêu cầu cấp thiết trong việc nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội để tìm ra các nguyên nhân của những hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp thực hiện hiệu quả hoạt động giáo dục rất ý nghĩa này.

Quận Cẩm Lệ là một quận nội thành của Thành phố Đà Nẵng, có nền kinh tế sôi động và phát triển hàng đầu của Thành phố. Song song với đó, vấn đề tệ nạn xã hội cũng diễn biến hết sức phức tạp và trở thành một trong những nguy cơ lớn nhất đối với học sinh trên địa bàn Quận. Hiện nay, trên địa bàn quận Cẩm Lê có 06 trường THCS và đều thuộc hệ công lập với tổng số học sinh THCS là 7.640 học sinh. Trong đó, học sinh khối lớp 6 có 1.604 học sinh; khối lớp 7 có 2147 học sinh; khối lớp 8 có 2.063 học sinh và khối lớp 9 có 1826 học sinh [29]. Dưới sự lãnh đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng; Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Cẩm Lệ; Ban giám hiệu các trường THCS đã tiến hành nhiều hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh cả ở trong và ngoài giờ lên lớp. Hoạt động này đã nhận được sự hưởng ứng của cả học sinh và phụ huynh và mang lại nhiều tác động tích cực đến nhận thức và hành vi của học sinh THCS trên địa bàn Quận. Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn nhận kết quả hoạt động giáo dục này còn nhiều hạn chế từ cả chương trình, nội dung, phương pháp, lực lượng tham gia và điều kiện hỗ trợ hoạt động giáo dục. Những hạn chế này đã và đang tác động lên hiệu quả của hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS trên địa bàn quận Cẩm Lệ, đặt ra nhu cầu về việc xây dựng các giải pháp khắc phục và nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục này đạt được các mục tiêu đã đề ra.

Từ đòi hỏi này của thực tế quản lý và các “khoảng trống nghiên cứu” trong nghiên cứu khoa học khi chưa có nghiên cứu nào được triển khai trên phạm vi không gian quận Cẩm Lệ, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường Trung học cơ sở quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay” làm vấn đề nghiên cứu của luận văn thạc sĩ ngành Quản lý Giáo dục.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Đề tài luận văn nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng từ đó đề xuất các giải pháp.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định bao gồm:

Thứ nhất, xác lập các vấn đề lý luận liên quan đến quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở.

Thứ hai, thống kê, phân tích và đánh giá thực tiễn quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2019-2021 nhằm chỉ ra được những mặt tích cực, những vấn đề còn hạn chế, tồn động và nguyên nhân của các hạn chế, tồn đọng đó.

Thứ ba, xây dựng hệ thống quản lý, đề xuất các biện pháp quản lý theo cách hệ thống hơn, nâng cao cách quản lý và chuyên nghiệp hơn đối với hoạt động quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là hoạt động quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

4.2.1. Phạm vi nội dung

Đề tài luận văn nghiên cứu hoạt động quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng dưới góc độ nội dung lĩnh vực quản lý giáo dục.

4.2.2. Phạm vi không gian

Đề tài luận văn nghiên cứu quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

4.2.3. Phạm vi thời gian

Đề tài luận văn nghiên cứu định hướng cách quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2019-2021. Các giải pháp được đề xuất trong luận văn hướng tới áp dụng trong khoảng thời gian 2022-2025 và định hướng tới năm 2030.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở lý luận

Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng giáo dục và quản lý giáo dục của Hồ Chí Minh; quan điểm , chủ trương về công tác giáo dục của Đảng. Vận dụng các quan điểm logic – lịch sử và thực tiễn để phân tích, đánh giá, xem xét các vấn đề liên quan đến luận văn.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau. Về cơ bản có thể phân chia phương pháp nghiên cứu đã sử dụng trong luận văn thành hai nhóm: các phương pháp nghiên cứu lý luận và các phương pháp nghiên cứu thực tiễn. Cụ thể:

a. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

– Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp. Thông qua việc sưu tập, nghiên cứu các tài liệu như: báo cáo tổng kết khoa học; các ấn phẩm khoa học; văn bản pháp luật; các tài liệu liên quan đến tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng, chống tệ nạn xã hội… ở phạm vi trong và ngoài nước, tác giả xây dựng được hệ thống các kiến thức lý luận liên quan đến đề tài luận văn. Đây là phương pháp ban đầu và có ý nghĩa quyết định đến quy mô nhận thức của tác giả đối với những vấn đề lý luận về đề tài nghiên cứu của luận văn.

– Phương pháp phân tích, tổng hợp. Trên cơ sở các kết quả thông tin thứ cấp thu thập được, tác giả sử dụng phương pháp phân tích nhằm làm rõ một cách sâu sắc những vấn đề lý liên quan đến đề tài luận văn. Tiếp đó, phương pháp tổng hợp được sử dụng để hệ thống hóa các vấn đề lý luận đã được phân tích đó và xây dựng khung lý luận cho đề tài luận văn.

– Phương pháp so sánh. Phương pháp so sánh được áp dụng để đối chiếu quan điểm của học giới trong và ngoài nước liên quan đến một số nội dung về lý luận liên quan đến đề tài luận văn. Phương pháp này giúp các vấn đề lý luận được tiếp cận đa diện hơn.

b. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

– Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp. Thông qua hoạt động thu thập, nghiên cứu các báo cáo thực tiễn; văn bản pháp lý; văn bản chỉ đạo điều hành quản lý nhà nước liên quan đến đề tài luận văn, tác giả thu thập các số liệu, dữ liệu thứ cấp làm nguồn thông tin quan trọng cho hoạt động thống kê thực tiễn của luận văn.

– Phương pháp thống kê. Phương pháp thống kê được sử dụng sau khi có được các số liệu, dữ liệu thứ cấp. Thông qua phương pháp thống kê, các số liệu, dữ liệu sẽ được phân nhóm, sắp xếp theo các biến có ý nghĩa để đem đến bức tranh tổng quan thực tiễn vấn đề cần nghiên cứu của luận văn.

– Phương pháp điều tra xã hội học. Thông qua điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu các khách thể như: (1) các chủ thể quản lý nhà nước về giáo dục tại quận Cẩm Lệ và thành phố Đà Nẵng; (2) những người làm công tác tuyên truyền, giáo dục về phòng chống tệ nạn xã hội trên địa bàn quận Cẩm Lệ; (3) Ban giám hiệu các trường Trung học cơ sở trên địa bàn quận Cẩm Lệ; (4) Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn đang giảng dạy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn quận Cẩm Lệ; (5) học sinh các trường Trung học cơ sở trên địa bàn quận Cẩm Lệ; (6) phụ huynh học sinh các trường Trung học cơ sở trên địa bàn quận Cẩm Lệ.

– Phương pháp phân tích, tổng hợp. Phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong nghiên cứu Chương 2 và Chương 3 của luận văn nhằm phân tích thực tiễn, phân tích các nguyên tắc và phân tích các giải pháp thể hiện quan điểm khoa học của tác giả đối với đề tài nghiên cứu của luận văn.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1. Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú thêm hệ thống cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường THCS. Qua đó giải quyết được một số khoảng trống nghiên cứu lý luận và gợi mở thêm những hướng nghiên cứu mới về những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài luận văn.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn cung cấp một bức tranh từ toàn cảnh đến chi tiết liên quan đến quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường THCS trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng cho học giới và cho các nhà quản lý thực tiễn. Những giải pháp được đề xuất trong luận văn nếu được sự đồng thuận từ các nhà hoạch định chính sách, pháp luật; các nhà quản lý thực tiễn hứa hẹn sẽ đem đến những gợi mở có ích cho công tác quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường THCS trên địa bàn quận Cẩm Lệ nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung.

Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường Trung học cơ sở quận Cẩm Lệ
Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường Trung học cơ sở quận Cẩm Lệ

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường THCS.

Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường THCS quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường THCS quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Những khái niệm cơ bản

1.1.1. Khái niệm Quản lý; quản lý giáo dục; quản lý nhà trường; học sinh trung học cơ sở

* Khái niệm Quản lý

Quản lý là thuật ngữ dùng phổ biến trong đời sống hàng ngày và trong hoạt động khoa học. Có nhiều cách quan điểm khác nhau về quản lý như:

– Theo tác giả F.W.Taylor (1856-1915), người đề xuất thuyết “Quản lý khoa học” cho rằng: Quản lý là biết được điều bạn muốn người khác làm, và sau đó thấy được họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Hoạt động quản lý ở bất kỳ tổ chức nào cũng đều có các hoạt động cơ bản liên quan đến các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra trên cơ sở thu thập và xử lý thông tin [25].

– Theo nhóm tác giả Megginson, Mosley và Pietri định nghĩa quản lý là: “làm việc với các nguồn nhân lực, tài chính và vật chất để đạt được các mục tiêu của tổ chức bằng cách thực hiện các chức năng lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát”[35].

– Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lí là quá trình gây tác động của chủ thể quản lý đến khách thể QL nhằm đạt mục tiêu chung”[3; tr.12].

– Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”[32; tr.11].

Từ những cách tiếp cận trên, tác giả xác định khái niệm quản lý trong luận văn như sua: Quản lý là hoạt động có chủ đích của các chủ thể bằng các phương pháp, cách thức tác động lên các khách thể quản lý để đạt được mục tiêu đã định.

*Khái niệm Quản lý giáo dục

Giáo dục là là hình thức học tập hay một cách tiếp thu kiến thức theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu. Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn hoặc cũng có thể thông qua tự học.

Có một số quan điểm sau về quản lý giáo dục:

– Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản l‎ý giáo dục thực chất là tác động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất trường THPT xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới” [32, tr.17].

– Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hoá tài chính, cung tiêu… nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng, cũng như về chất lượng”[38; tr.16].

Như vậy, với khái niệm quản lý và khái niệm giáo dục đã được làm, có thể khái quát khái niệm Quản lý giáo dục như sau: Quản lý giáo dục là hoạt động có chủ đích của các chủ thể có thẩm quyền quản lý, bằng các phương pháp, cách thức khác nhau tác động lên các khách thể quản lý là hoạt động giáo dục và có liên quan đến hoạt động giáo dục, nhằm đạt được mục tiêu duy trì hoạt động có trật tự và phát triển hoạt động giáo dục trong một phạm vi lãnh thổ nhất định.

* Khái niệm Quản lý nhà trường

Nhà trường là một cơ sở giáo dục có chức năng đào tạo con người về trí dục đức dục và thể dục. Nhiệm vụ nhà trường là tạo ra những sản phẩm người có học thức và có văn hoá tuy nhiên không phải tất cả những ai có học lực nghĩa là được học thì đều có văn hoá.

Hoạt động đặc trưng của trường học là hoạt động dạy học. Hoạt động dạy học là hoạt động có tổ chức, có nội dung, có phương pháp và phương tiện, có mục đích, có sự lãnh đạo của nhà GD, có sự hoạt động tích cực, tự giác của người học.

Trên cơ sở quan điểm này về nhà trường, có thể thấy Quản lý nhà trường là: quản lý nhà trường là hoạt động có chủ đích của các chủ thể có thẩm quyền quản lý nhà trường – Ban giám hiệu và cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền sử dụng các phương pháp, công cụ tác động lên khách thể quản lý là một cơ sở giáo dục nhằm đạt được các mục tiêu đã xác định trước.

d. Học sinh trung học cơ sở

Học sinh là danh từ dùng chỉ đối tượng người học từ các cấp tiểu học đến trung học phổ thông. Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định hệ thống chương trình giáo dục cơ bản gồm: mẫu giáo; tiểu học; trung học cơ sở và trung học phổ thông. Trong đó trung học cơ sở (THCS hay cấp 2) là một bậc học trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam, sau Tiểu học (cấp 1) và trước Trung học phổ thông (cấp 3). Trung học cơ sở kéo dài 4 năm (từ lớp 6 đến lớp 9). Độ tuổi học sinh ở trường trung học cơ sở là từ 11 tuổi đến 15 tuổi. Sau khi học hết bậc Trung học cơ sở, học sinh sẽ được xét công nhận tốt nghiệp Trung học cơ sở.

Như vậy, học sinh THCS là những người học trong chương trình trung học cơ sở, từ lớp 6 đến lớp 9 và có độ tuổi phổ biến từ 11 đến 15 tuổi trong hệ thống các trường công lập và dân lập ở Việt Nam hiện nay.

1.1.2. Khái niệm kỹ năng sống; tệ nạn xã hội; kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội

*Khái niệm kỹ năng sống

Kỹ năng sống theo cách hiểu chung là tập hợp các hành vi tích cực và khả năng thích nghi cho phép mỗi cá nhân đối phó hiệu quả với các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày. Đây là tập hợp các kỹ năng mà con người tiếp thu qua giáo dục hoặc trải nghiệm trực tiếp, dùng để xử lý các vấn đề và trả lời các câu hỏi thường gặp trong đời sống. Kỹ năng sống bao gồm cả kỷ năng duy trì sự sống, kỹ năng giao tiếp xã hội, kỹ năng quan hệ với môi trường tự nhiên. Các kỹ năng này đều có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống một con người và các kỹ năng này có mối quan hệ qua lại, tương hỗ lẫn nhau.

Như vậy, có thể tổng kết rằng: kỹ năng sống là kỹ năng tự quản lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong học tập, làm việc và trong cuộc sống một cách hiệu quả. Hay nói cách khác, kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác, với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống của mỗi người.

*Khái niệm tệ nạn xã hội

Tệ nạn xã hội là một hiện tượng xã hội tiêu cực, do con người làm ra và có tác động tiêu cực đến cá nhân và cộng đồng. Tệ nạn xã hội hình thành trong chính đời sống xã hội loại người, do một bộ phận người duy trì và phát triển, tác động tiêu cực đến đời sống loài người và bị chính đời sống loài người phòng, chống.

Có thể hiểu, tệ nạn xã hội có tính tiêu cực; làm tha hóa giá trị tốt đẹp của phong tục, tập quán truyền thông; phá vỡ tình cảm, hạnh phúc gia đình, thậm chí phá hoại nhân cách, phẩm giá con người… Tệ nạn xã hội có thể được biểu hiện qua:

– Các hành vi sai trái là thói hư tật xấu như: cờ bạc, nghiện hút, mại dâm…

– Các phong tục tập quán cổ hủ, lạc hậu

– Mê tín dị đoan, bói toán

– Lối sống trụy lạc, sa đọa, suy đồi đạo đức…

*Khái niệm kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội

Kỹ năng như đã phân tích ở trên là những khả năng thích nghi tích cực của một cá nhân đối với những hoàn cảnh, điều kiện của cuộc sống. Kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội vì thế có thể hiểu là khả năng sử dụng những hiểu biết, kiến thức và thói quen hành vi để đề phòng và chống lại sự cám dỗ của các tệ nạn xã hội. Qua đó giữ được cho mình một trạng thái sống an toàn, lành mạnh.

1.1.3. Khái niệm giáo dục; giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội

* Khái niệm giáo dục

Giáo dục là một hoạt động sống của con người. Bản chất của giáo dục là sự truyền đạt các giá trị tốt đẹp từ thế hệ này qua thế hệ khác. Nội dung giáo dục có thể là tri thức hoặc kỹ năng. Mục tiêu của giáo dục là nhằm di sản và phát duy những tri thức và kỹ năng từ người này qua người khác và từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học.

Như vậy, có thể khẳng định: Giáo dục là một quá trình mà trong đó kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của một người hoặc một nhóm người này được truyền tải một cách tự nhiên mà không hề áp đặt sang một người hoặc một nhóm người khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu để từ đó tìm ra, khuyến khích, định hướng và hỗ trợ mỗi cá nhân phát huy tối đa được ưu điểm và sở thích của bản thân khiến họ trở thành chính mình, qua đó đóng góp được tối đa năng lực cho xã hội trong khi vẫn thoả mãn được quan điểm, sở thích, thế mạnh của bản thân.

* Khái niệm giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội

Giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội là một quá trình trao truyền kiến thức về tệ nạn xã hôin và cách thức thực hiện hành vi phòng, chống tệ nạn xã hội của người giáo dục cho người được giáo dục thông qua hoạt động giảng dạy, đào tạo hoặc nghiên cứu trong phạm vi trong và ngoài nhà trường. Giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội theo khái niệm này có những vấn đề nội hàm quan trọng sau:

– Là quá trình trao truyền giữa người này và người khác như hoạt động giáo dục nói chung. Việc trao truyền này có thể được thực hiện trực tiếp thông qua hoạt động giảng dạy (người dạy trực tiếp truyền đạt cho người học) hoặc gián tiếp thông qua việc tự học của người học (người học tự nghiên cứu tài liệu do người dạy biên soạn).

– Nội dung giáo dục bao gồm cả nhận thức lẫn kỹ năng. Nhận thức là những hiểu biết về tệ nạn xã hội, tác hại của tệ nạn xã hội, các loại tệ nạn xã hội… Kỹ năng là những phản xạ và cách thức thực hiện hành vi phòng ngừa và đấu tranh chống lại tệ nạn xã hội, nhằm đảm bảo sự an toàn cho bản thân và cộng đồng.

– Có thể được diễn ra trong hoặc ngoài phạm vi nhà trường. Việc giáo dục kỹ năng có thể được thực hiện ở bất kỳ nơi đâu. Nhưng cơ bản sẽ có giáo dục chính thức trong phạm vi nhà trường và giáo dục không chính thức ngoài phạm vi nhà trường.

1.1.4. Quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội

Từ những khái niệm liên quan đã được làm rõ ở trên, có thể thấy để làm rõ khái niệm quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội, cần thống nhất những vấn đề sau:

Thứ nhất, quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội do các chủ thể có thẩm quyền quản lý giáo dục thực hiện. Theo đó, các chủ thể bao gồm: chủ thể quản lý nhà nước về giáo dục – những cơ quan thẩm quyền riêng có chức năng quản lý hành chính về giáo dục như: Bộ Giáo dục và Đào tạo; Sở Giáo dục và Đào tạo của các tỉnh và Phòng Giáo dục và Đào tạo của các huyện. Bên cạnh đó, chủ thể còn là những người có thẩm quyền quản lý đơn vị giáo dục như: hiệu trưởng; hiệu phó của các trường học.

Thứ hai, quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội có đối tượng là hoạt động giáo dục không nằm trong các môn học bắt buộc. Theo đó, chương trình giáo dục các cấp đều có quy định thống nhất chung trên phạm vi cả nước về số môn học bắt buộc. Trong đó, giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội không nằm trong số các môn học này của các cấp. Chính vì thế, đối tượng của hoạt động quản lý này là hoạt động giáo dục ngoài môn học bắt buộc.

Thứ ba, hoạt động quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội gắn liền với yêu cầu và đặc điểm của từng địa phương. Điều này xuất phát từ nội dung chương trình giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội được xây dựng trên cơ sở đòi hỏi của thực tiễn địa phương. Do đó, việc quản lý hoạt động này cũng có những tính đặc thù như vậy về nội dung và phương pháp.

Trên có sở thống nhất những vấn đề nội hàm như vậy, có thể khái niệm quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội như sau: là hoạt động có chủ đích của các chủ thể có thẩm quyền quản lý bằng các cách thức, phương pháp khác nhau tác động lên tập thể giáo viên, học sinh, các lực lượng tham gia giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội nhằm huy động trí tuệ, sự sáng tạo, sức lực và các điều kiện khác phục vụ hiệu quả hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh, giúp học sinh phát triển được tư duy và kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội theo mục tiêu của chương trình giáo dục.

1.2. Giáo dục phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở

1.2.1. Đặc điểm; vai trò của giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở

a. Đặc điểm

Thứ nhất, giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội có đối tượng là học sinh trung học cơ sở. Học sinh trung học cơ sở theo quy định của pháp luật về giáo dục hiện hành có độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi. Đây là độ tuổi đang hình thành nhân cách và có sự diễn biến phức tạp trong nhận thức, tính cách và hành vi, do đó có nhận định cho rằng lứa tuổi này là “tuổi khủng hoảng dậy thì”. Cụ thể, nhận thức của lứa tuổi trung học cơ sở chưa đầy đủ, dễ bị tác động bởi các yếu tố ngoại cảnh, đặc biệt là các cám dỗ của xã hội. Trong khi xét về thể chất, độ tuổi này có thể thực hiện được các hành vi một cách chủ động. Do đó, các cám dỗ xã hội rất dễ tiếp cận, chi phối và có thể dễ dàng được thực hiện bởi các hành vi chủ động của học sinh trung học cơ sở. Tệ nạn xã hội vì thế là một mối nguy cơ lớn và thường trực đối với học sinh trung học cơ sở. Nếu so sánh với các cấp học khác, học sinh trung học cơ sở có nguy cơ bị lôi cuốn bởi tệ nạn xã hội nhiều hơn. Chính vì thế, đòi hỏi phải có kỹ năng phòng, chồng tệ nạn xã hội cũng phải được giáo dục cấp thiết hơn.

Thứ hai, giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS được thực hiện cả trong giờ lên lớp và ngoài giờ lên lớp. Theo đó, trong giờ lên lớp, hoạt động giáo dục này được lồng ghép vào các môn học bắt buộc như: Giáo dục công dân, Văn học, Giáo dục thể chất, Nghệ thuật… Việc lồng ghép này sẽ được các giáo viên bộ môn chủ động thực hiện. Hoạt động gíao dục ngoài giờ lên lớp được thực hiện bằng các hoạt động ngoài giờ lên lớp khác các môn học bắt buộc. Đó là loạt hoạt động độc lập, được tổ chức mang tính ngoại khoá và chỉ phục vụ mục đích và nội dung giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS.

Thứ ba, giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS do nhiều lực lượng cùng thực hiện. Ngoài giáo viên bộ môn tiến hành hoạt động giáo dục trực tiếp và trọng tâm kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS, thì còn có các lực lượng khác tham gia vào hoạt động này như: giáo viên chủ nhiệm; cán bộ đoàn, đội; các chuyên gia thực tiễn, lý luận, tâm lý… ngoài nhà trường cũng tham gia vào hỗ trợ, tư vấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ… gián tiếp tham gia vào hoạt động giáo dục phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS.

b. Vai trò

Thứ nhất, giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội giúp trang bị kiến thức học sinh trung học cơ sở. Đây là vai trò và cũng là ý nghĩa trực tiếp của hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh trung học cơ sở. Thông qua nội dung được giáo dục, học sinh trung học cơ sở sẽ có được các nhận thức đúng đắn và rõ nét về: tệ nạn xã hội; các loại tệ nạn xã hội và các tác hại của tệ nạn xã hội. Các nhận thức ban đầu này sẽ cung cấp cho học sinh THCS một bức tranh toàn cảnh về vấn đề tệ nạn xã hội, hiểu biết được rõ bản chất, cơ chế tác động, tác hại của tệ nạn xã hội để có được tâm lý dè chừng, đề phòng sự lôi kéo, cám dỗ của tệ nạn xã hội.

Thứ hai, giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội giúp trang bị kỹ năng học sinh trung học cơ sở. Bên cạnh ý nghĩa, vai trò trang bị kiến thức, nhận thức về tệ nạn xã hội cho học sinh, chương trình giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cũng đóng vai trò hướng dẫn, trang bị cho học sinh THCS các cách thức hành xử, kỹ năng hành động trước sự cám dỗ của tệ nạn xã hội. Từ đó giúp học sinh trong trạng tháng sẵn sàng cả tâm lỹ và hành vi phòng ngừa sự tác động, lôi kéo, cám dỗ của tệ nạn xã hội đối với bản thân ở cả trong môi trường nhà trường lẫn môi trường xã hội.

Thứ ba, giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội giúp học sinh trung học cơ sở trở thành một học sinh tốt, một công dân tích cực trong công tác đấu tranh chống lại tệ nạn xã hội trong trường học và ngoài cộng đồng. Khi học sinh đã đạt được các yêu cầu về nhận thức và kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội, các học sinh sẽ không chỉ phòng ngừa cho bản thân, để giúp bản thân tránh xa các tệ nạn, có cuộc sống tích cực, lành mạnh, mà còn là điều kiện để kiến tạo nên những học sinh, những công dân tốt, tích cực và dũng cảm cùng nhà trường, cộng đồng chống lại những tác động tiêu cực, những cám dỗ của tệ nạn xã hội bằng cách tham gia hoặc tự mình tổ chức các hoạt động xã hội hướng tới phòng, chống, đẩy lùi và bài trừ tệ nạn xã hội ra khỏi trường học và môi trường sống của học sinh.

1.2.2. Mục tiêu, nội dung giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở

1.2.2.1. Mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở

– Trang bị cho học sinh THCS những hiểu biết về tệ nạn xã hội, mức độ nguy hại của tệ nạn xã hội gây ra với đời sống con người hiện nay.

– Tạo lập thói quen, phản xạ, hành vi, nề nếp, tác phong sống, học tập lành mạnh, chủ động thực hiện các hành vi bảo vệ cho bản thân tránh xa các tác động tiêu cực, các dám dỗ của tệ nạn xã hội cho học sinh THCS.

– Liên tục nâng cao nhận thức và kỹ năng hành vi về phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS để luôn luôn tự giác phòng ngừa tệ nạn xã hội và tiến tới đấu tranh, lên án, góp phần bài trừ tệ nạn xã hội ra khỏi học đường nói riêng và xã hội nói chung.

– Xây dựng môi trường giáo dục học đường lành mạnh, góp phần tạo ra những công dân tốt, tích cực trong công tác xã hội, cùng gia đình, nhà trường và cộng đồng phòng ngừa tệ nạn xã hội, tạo dựng một môi trường sống lành mạnh, nhân văn.

1.2.2.2. Nội dung giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở

Thứ nhất, giáo dục nhận thức về tệ nạn xã hội. Tất cả các kỷ năng đều phải được phát triển từ nhận thức. Do đó, nội dung đầu tiên và quan trọng nhất của giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS là nhận thức về vấn đề tệ nạn xã hội. Nội dung này có những nội dung cấu thành cơ bản sau:

– Nhận diện về tệ nạn xã hội. Nội dung này giúp học sinh THCS xác định được đâu là tệ nạn xã hội để có được những kiến thức cơ bản ban đầu về khoanh vùng đối tượng cần phòng, chống.

– Nhận thức về tác hại của tệ nạn xã hội. Nội dung này giúp học sinh THCS có được những hiểu biết đầy đủ về quy mô và mức độ ảnh hưởng tiêu cực của tệ nạn xã hội đối với cá nhân, gia đình và xã hội, từ đó xây dựng được tâm lý, phản xạ đề phòng.

– Trang bị kiến thức về phòng, chống tệ nạn xã hội. Trên cơ sở những hiểu biết về tệ nạn xã hội và tác hại của tệ nạn xã hội, nội dung này cung cấp cho học sinh THCS những kiến thức lý thuyết về cách thức phòng, chống tệ nạn xã hội trong và ngoài trường học từ đó cung cấp những hiểu biết và nguyên tắc căn bản trong tư duy phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS.

Thứ hai, giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội. Sau khi đã triển khai nội dung nhận thức về phòng, chống tệ nạn xã hội, nội dung giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội là nội dung thứ hai mang tính trọng tâm và đưa những nội dung về nhận thức vào thực tiễn hành vi. Nội dung này có những cấu thành nội dung cơ bản sau:

– Kỹ năng phòng tránh sự cám dỗ của các tệ nạn xã hội. Nội dung này cung cấp cho học sinh THCS những kỹ năng từ cơ bản đến nâng cao về phòng tránh sự lôi kéo, mời gọi của các tệ nạn xã hội diễn ra trong và ngoài nhà trường để đảm bảo giữ gìn bản thân không bị cám dỗ bởi tệ nạn xã hội.

– Kỹ năng đấu tranh, đẩy lùi, tiến tới bài trừ tệ nạn xã hội. Nội dung này cung cấp cho học sinh THCS các kỹ năng từ cơ bản đến nâng cao về đấu tranh, đẩy lùi, tiến tới bài trừ tệ nạn xã hội trong trường học, tại cộng đồng và rộng ra là toàn xã hội. Từ đó định hướng vai trò dẫn dắt cho các học sinh THCS đối với hoạt động này ở những môi trường sống và làm việc trong tương lai.

Thứ ba, giáo dục việc cập nhật kiến thức và duy trì tinh thần phòng, chống tệ nạn xã hội. Đây là nội dung nhằm giúp học sinh THCS tiếp tục tự trau dồi kiến thức và kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội trong tương lai. Giúp học sinh biết được rằng, phòng, chống tệ nạn xã hội là cả một quá trình gắn bọ mật thiết với hoạt động sống của con người, không có điểm dừng và không có khoảnh khắc tổng kết. Nó phải được duy trì và cập nhật liên tục, đảm bảo luôn thường trực trong đời sống cá nhân mỗi học sinh.

1.2.3. Phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở

1.2.3.1. Phương pháp giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở

Thứ nhất, phương pháp thuyết minh bằng các ví dụ minh hoạ. Phương pháp này hay còn có tên gọi khác là phương pháp nghiên cứu, phân tích trường hợp điển hình. Theo đó, người đóng vai trò giáo dục sẽ chủ động thuyết minh, phân tích, nhấn mạnh các kỹ năng thông qua việc trình diễn một hoặc nhiều tình huống điển hình trong đời sống gắn liền hoặc gần gũi với người được giáo dục là học sinh THCS. Ví dụ, người giáo dục có thể trình chiếu ví dụ bạn A bị bàn B rủ rê uống rượu và hút thuốc lá. Bạn A có nhiều cách thức từ chối bạn B và còn phân tích cho bạn B về tác hại của rượu bia và thuốc lá. Người giáo dục sẽ phân tích cho người được giáo dục những cách thức trên được thực hiện ra sao, lời nói, hành vi như thế nào… Phương pháp này sẽ giúp cho học sinh THCS trang bị các kỹ năng để ứng phó kịp thời với các tình huống tương tự trong các ví dụ minh hoạ khi gặp phải trên thực tế.

Thứ hai, phương pháp thảo luận nhóm. Phương pháp thảo luận nhóm được triển khai trên cơ sở thành lập các nhóm học sinh THCS và phân chia các chủ đề thảo luận. Việc thảo luận giúp cho học sinh có tư duy phản biện, đồng thời cũng sẽ kích thích sự sáng tạo trong nhận thức và hành vi phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS. Ví dụ, với trường hợp A bị B rủ rê uống rượu và hút thuốc như trên, người giáo dục không trình bày các giải pháp mà sẽ giao nhiệm vụ cho các nhóm thảo luận đề xuất giải pháp, phân tích giải pháp và tranh biện về tính khả thi của các giải pháp.

Thứ ba, phương pháp nhập vai. Phương pháp nhập vai hoặc có thể được gọi là phương pháp sân khấu hoá sẽ được thực hiện dựa trên một vở kịch được phân vai. Trong đó, các học sinh THCS sẽ hoá thân thành các nhân vật để giải quyết tình huống liên quan đến phòng, chống tệ nạn xã hội. Tình huống có thể được ra như một đề bài, hoặc có thể được sáng tạo bởi học sinh. Phương pháp này giúp học sinh THCS thực hành trực tiếp các kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội thay vì quan sát và bình phẩm về nó.

Thứ tư, phương pháp giải quyết tình huống. Phương pháp này được trao cho từng cá nhân học sinh THCS cơ hội nghiên cứu và đề xuất các giải pháp giải quyết những tình huống liên quan đến tệ nạn xã hội và phòng, chống tệ nạn xã hội. Phương pháp này có một số tính chất tương đồng với phương pháp thảo luận nhóm, song điểm khác cơ bản là tính độc lập của từng cá nhân học sinh và chủ yếu đưa ra các hướng ứng xử, giải quyết được cho là phù hợp nhất. Phương pháp này giúp học sinh có tư duy độc lập và chuẩn bị tâm lý ứng phó độc lập với cám dỗ từ tệ nạn xã hội trong cuộc sống.

Thứ năm, phương pháp trò chơi. Phương pháp này sẽ được người giáo dục chuyển thể thành một trò chơi, có thể được thực hiện bởi nhóm hoặc các cá nhân độc lập. Thông qua trò chơi, học sinh THCS có thể vừa được vận động thể chất, vừa có tư duy về kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội. Ví dụ, người giáo dục tổ chức trò chơi ghép hình vào các ô chữ tương ứng với các loại tệ nạn xã hội trong một khoảng thời gian nhất định cho các đội chơi là những nhóm có số lượng thành viền bằng nhau. Phương pháp này có điểm mạnh chính là tính hoạt náo của nó sẽ giúp học sinh THCS thích thú hơn là việc bị động ngồi nghe thuyết minh hoặc chỉ tư duy một chỗ.

Thứ sáu, phương pháp cuộc thi. Tương tự như phương pháp trò chơi, phương pháp cuộc thi thực ra là sự nâng cao hơn của phương pháp trò chơi. Nói chính xác hơn, phương pháp cuộc thi chính là phương pháp trò chơi được thiết kế nhằm mục đích chấm điểm và có thể lệ về khen thưởng. Phương pháp này đặt tính cạnh trên lên cao nhất, do đó kích thích được sự nỗ lực, khẳng định năng lực bản thân, năng lực nhóm của học sinh THCS.

1.2.3.2. Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở

Thứ nhất, hình thức tích hợp qua hoạt động dạy học. Hình thức này tích hợp các phương pháp giáo dục phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS trong chương trình chính khoá, bằng việc thiết kế các nội dung trong một số một học. Điều này cũng đồng nghĩa với việc, phòng, chống tệ nạn xã hội là một nội dung giáo dục chính khoá và cũng sẽ xuất hiện trong các nội dung kiểm tra, thi hết môn học. Ví dụ: đưa nội dung tác hại của các chất kích thích vào môn học giáo dục sức khoẻ, giới tính.

Thứ hai, hình thức thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Hình thức này sẽ tổ chức các phương pháp giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội bằng các hoạt động ngoại khoá. Ví dụ: buổi tuyên truyền về phòng, chống ma tuý được tổ chức vào ngày nghỉ học chính khoá. Trái ngược với hình thức tích hợp qua hoạt động dạy học, các nội dung giáo dục kỹ năng ngoài giờ lên lớp này không chính khoá, do đó không phải là nội dung trong kiểm tra, thi kết thúc môn học.

Thứ ba, hình thức thông qua các hoạt động phong trào. Thông qua hoạt động của đoàn, đội… các phương pháp giáo dục phòng, chống tệ nạn xã hội sẽ được triển khai trong các hoạt động phong trào. Ví dụ, tổ chức cuộc thi tìm hiểu về tác hại và các kỹ năng phòng ngừa ma tuý, cờ bạc, chất kích thích… trong tháng Thanh niên.

Thứ tư, hình thức thông qua chuyên gia tư vấn, huấn luyện. Đây là hình thức kết hợp giữa nhà trường và các cơ quan chuyên môn, các chuyên gia về các lĩnh vực tệ nạn xã hội. Các phương pháp giáo dục được triển khai bởi những chuyên gia này sẽ đảm bảo có tính chuyên sâu, cập nhật và thực tiễn hơn. Ví dụ, cảnh sát hình sự hướng dẫn cách thức trình báo thông tin tội phạm liên quan đến tệ nạn xã hội cho học sinh THCS.

Thứ năm, hình thức thông qua kết hợp gia đình – nhà trường – xã hội. Đây là hình thức kết hợp vai trò của các thực thể kiến tạo nên môi trường sống, học tập của học sinh THCS để đảm bảo có sự đồng bộ trong giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS. Ví dụ, các hội nghị có sự tham gia của cả học sinh, nhà trường, phụ huynh và chính quyền sở tại về vấn đề các tệ nạn xã hội đang phát sinh và cách thức phòng ngừa trên địa bàn trường học đang đóng.

1.2.4. Đánh giá kỹ năng quản lý hoạt động giáo dục phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở

Kỹ năng quản lý hoạt động giáo dục phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS cụ thể bao gồm những vấn đề của nội dung sau:

– Quản lý chương trình giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS. Đây là nội dung quản lý trọng tâm vì hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS ngoài giờ lên lớp được các trường THCS chủ động xây dựng dựa trên quan điểm giáo dục của từng trường, từng địa phương. Khác với chương trình của 12 môn học bắt buộc được thống nhất ban hành bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo dành cho học sinh THCS, chương trình giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS được biên soạn dựa trên sự chủ động và sáng tạo của từng trường gắn liền với đặc điểm tình hình tệ nạn xã hội và các nguy cơ tệ nạn đối với học sinh THCS trên địa bàn.

– Quản lý phương pháp tổ chức giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS. Phương pháp tổ chức giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS là tổng thể những cách thức người dạy sử dụng để giáo dục kỹ năng. Việc lựa chọn và áp dụng phương pháp tuỳ thuộc vào tâm lý và sở thích của người dạy trên cơ sở hoàn cảnh và những yếu tố yêu cầu từ học sinh. Tuy nhiên, các phương pháp được lựa chọn dù có đa dạng hay sáng tạo đến đâu cũng phải nằm trong khuôn khổ cho phép của hoạt động giáo dục. Quản lý phương pháp giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS chính là đảm bảo cho các phương pháp áp dụng sáng tạo trong khuôn khổ.

– Quản lý hiệu quả của giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS. Nội dung quản lý này hướng tới kiểm soát kết quả đầu ra của hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS. Các vấn đề quản lý gồm: nhận thức, hiểu biết, thái độ và kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội của học sinh THCS sau khi tham gia các hoạt động giáo dục.

1.3. Quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở

1.3.1. Chủ thể quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở

Thứ nhất, người có thẩm quyền quản lý tại các trường THCS. Chủ thể này bao gồm hiệu trưởng, hiệu phó (và tương đương) trong các trường THCS. Đây là chủ thể trực tiếp quản lý hoạt động giáo dục nói chung và các hoạt động hành chính khác tại một trường THCS cụ thể. Chính vì thế, quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội là một nội dung trong thẩm quyền quản lý của những người thuộc ban giám hiệu các trường THCS.

Thứ hai, cá nhân, tổ chức có thẩm quyền quản lý nhà nước về giáo dục. Khác với chủ thể là người quản lý tại các trường học, nhóm chủ thể thứ hai này là cơ quan, cá nhân của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước, nhân danh quyền lực nhà nước để quản lý hoạt động giáo dục, trong đó có cả giáo dục phòng, chống tệ nạn xã hội tại các trường THCS. Theo đó, các chủ thể này bao gồm:

– Các Phòng Giáo dục và Đào tạo và các cá nhân có thẩm quyền của Phòng Giáo dục và Đào tạo cấp huyện. Phòng Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn của UBND cấp huyện có thẩm quyền trực tiếp quản lý nhà nước về hoạt động giáo dục của các trường THCS. Trong đó, bao gồm cả hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội.

– Sở Giáo dục và đào tạo và các cá nhân có thẩm quyền của Sở Giáo dục và Đào tạo cấp tỉnh. Sở Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh có thẩm quyền là cơ quan quản lý lĩnh vực giáo dục, đào tạo cao nhất của một tỉnh và đóng vai trò là cơ quan cấp trên về chuyên môn, nghiệp vụ đối với hoạt động quản lý nhà nước của các Phòng Giáo dục và Đào tạo cấp huyện. Sở Giáo dục và Đào tạo cơ bản quản lý về mặt kế hoạch, định hướng thay vì trực tiếp quản lý các nội dung giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội tại các trường THCS.

1.3.2. Nội dung quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở

1.3.2.1. Quản lý chương trình giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh ở trên lớp thông qua các môn học

Quản lý chương trình giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh ở trên lớp thông qua các môn học cho học sinh THCS chính là việc quản lý hoạt động này thông qua việc giảng dạy các môn học trong chương trình chính khoá. Hiện nay không có môn học giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS độc lập, do đó những nội dung liên quan đến vấn đề này sẽ được giáo viên tích hợp vào trong các môn học khác. Sự lòng ghép này phụ thuộc nhiều vào khả năng linh hoạt và khéo léo của người dạy.

Các môn học có thể tích hợp được nội dung trong chương trình giáo dục THCS bao gồm: Giáo dục công dân; Văn học; Nghệ thuật; Giáo dục thể chất; Lịch sử và địa lý. Mỗi tiết học có 45 phút, được diễn ra theo trình tự và yêu cầu nội dung chín của môn học. Do đó, việc kết hợp lồng ghép nội dung kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội vào những môn học này vừa đòi hỏi đảm bảo không xáo trộn, cắt bớt nội dung chính thức của môn học, vừa phải đáp ứng đầy đủ và sinh động của thông tin bổ sung. Chính vì thế, nội dung quản lý này đòi hỏi phải chú trọng các nội dung như:

– Quản lý sự đảm bảo yêu cầu về lưu lượng nội dung của môn học tích hợp.

– Quản lý sự đảm bảo về nội dung của nội dung được tích hợp.

– Quản lý sự liên kết, logic của nội dung được tích hợp với nội dung tích hợp. Đó là sự liên kết giữa nội dung môn học chính với nội dung giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội.

– Quản lý phương pháp truyền đạt nội dung giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội.

– Quản lý hiệu quả tiếp thu về kiến thức, kỹ năng và thái độ phòng, chống tệ nạn xã hội của học sinh THCS.

1.3.2.2. Quản lý các lực lượng tham gia vào giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh trung học cơ sở

Các lực lượng tham gia giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS bao gồm:

– Giáo viên bộ môn. Giáo viên bộ môn chịu sự quản lý về yêu cầu trình độ chuyên môn; công tác học tập, trau dồi kiến thức; xây dựng kế hoạch giảng dạy và tham gia các hoạt động khác như dự giờ, xây dựng chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn… về giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS.

– Giáo viên chủ nhiệm. Giáo viên chủ nhiệm chịu sự quản lý về việc xây dựng kế hoạch; xây dựng các biện pháp; thời khoá biểu sinh hoạt với lớp; thời khoá biểu trao đổi với phụ huynh học sinh và những vấn đề khác liên quan đến việc giữ liên lạc với học sinh, gia đình trong và ngoài thời gian sinh hoạt tại trường học về những vấn đề liên quan đến giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS.

– Các cán bộ đoàn, đội. Các cán bộ đoàn, đội chịu sự quản lý về việc xây dựng kế hoạch; nội dung tham mưu; phương pháp thực hiện phối hợp và những vấn đề khác liên quan đến giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS. Đặc biệt sự tham gia của các cán bộ đoàn, đội trong tổ chức giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS ngoài giờ lên lớp có ý nghĩa và vai trò rất quan trọng.

1.3.2.3. Quản lý các điều kiện thực hiện giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh trung học cơ sở

Quản lý các điều kiện thực hiện giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS là nội dung hướng tới quản lý hệ thống cơ sở vật chất; phương tiện, thiết bị hỗ trợ; chế độ khen thưởng, xử phạt; các chế độ ưu đãi, tập huấn nâng cao kiến thức… và những vấn đề góp phần thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS. Quản lý nội dung này hướng tới đảm bảo các điều kiện để thực hiện giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS. Các điều kiện này phụ thuộc vào cơ chế quản lý của chủ thể quản lý và nguồn lực của trường học, của địa phương.

1.3.3. Phương thức quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở

Thứ nhất, phương thức tổ chức – hành chính. Phương thức này được chủ thể quản lý sử dụng để sắp xếp tổ chức bộ máy quản lý cũng như các giao thức hành chính trong quá trình vận hành của bộ máy hành chính đó. Thông qua phương thức này, nhà quản lý sẽ tiến hành hoạt động quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS một cách thường xuyên, đúng theo quy trình đã định sẵn.

Thứ hai, phương thức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức. Phương thức này được các chủ thể quản lý áp dụng nhằm tác động đến tâm lý và nhận thức của các đối tượng quản lý – là những lực lượng giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS. Qua đó, đảm bảo quá trình thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS được thực hiện một cách đồng bộ, liên tục, hiệu quả.

Thứ ba, phương thức thống kê. Nhà quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS sử dụng phương thức thống kê để thu thập số liệu hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS trên địa bàn quản lý nhằm có sự đối sánh về số lượng và chất lượng hoạt động này trong các khoảng thời gian, từ đó có được những nhận định về tình hình giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS qua các thời kỳ để có những định hướng giải pháp trong tương lai.

Thứ tư, phương thức thanh tra, kiểm tra, giám sát. Nhà quản lý sẽ sử dụng các phương thức này nhằm thường xuyên và đột xuất công tác giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS. Thông qua phương thức quản lý này, các chủ thể sẽ kịp thời phát hiện những hạn chế, sai sót của các đối tượng quản lý trong giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS, từ đó kịp thời điều chỉnh và xử lý những sai sót để hướng tới những mục tiêu đã định trong công tác quản lý.

1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học cơ sở

      1. 1.4.1. Các yếu tố khách quan

Thứ nhất, điều kiện tự nhiên của địa bàn quản lý. Điều kiện tự nhiên luôn là yếu tố tác động lớn đến hoạt động quản lý nhà nước nói chung. Dưới phương diện của quản lý nhà nước về giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường THCS, yếu tố tự nhiên cũng ảnh hưởng không nhỏ. Cụ thể, các yếu tố thuộc về tự nhiên như phạm vi lãnh thổ; địa hình; thiên tai… luôn có những tác động đến hoạt động quản lý. Ví dụ, phạm vi lãnh thổ rộng sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng quản lý với nguồn nhân lực hạn chế. Trong khi đó, tại các địa phương biên giới, vùng sâu, vùng xa, việc địa hình phân mảnh, các trường và điểm trường nằm xa trung tâm, khó tiếp cận sẽ ảnh hưởng đến công tác quản lý trên thực tế.

Thứ hai, điều kiện xã hội. Điều kiện xã hội là những vấn đề thuộc về xã hội như quan điểm, thói quen xã hội; dân số; sự cởi mở của nhận thức xã hội… Các yếu tố này đều ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý nhà nước về giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường THCS. Ví dụ đơn cử, dân số lớn tất yếu dẫn đến số lượng học sinh THCS lớn và số trường THCS cũng lớn. Đối tượng quản lý lớn đồng nghĩa với việc các chủ thể quản lý sẽ phải thực hiện khối lượng nhiệm vụ quản lý lớn hơn. Ngược lại, ở những địa phương có dân số ít, hoạt động quản lý sẽ ít hơn về khối lượng nhiệm vụ.

Thứ ba, điều kiện kinh tế. Điều kiện kinh tế điển hình là trình độ phát triển kinh tế. Quy luật thông thường là các địa phương có trình độ phát triểnn kinh tế cao càng đi liền với tình trạng tệ nạn xã hội càng lớn và càng phức tạp. Chính vì thế, hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội ở các địa bàn này càng đa dạng và chuyên sâu về nội dung, phương pháp và hình thức. Điều này cũng kéo theo nhiệm vụ quản lý nhà nước về giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường THCS cũng đòi hỏi có quy mô nhiệm vụ lớn hơn và phức tạp hơn.

Thứ tư, các chính sách, pháp luật của nhà nước. Đây là yếu tố khách quan chi phối trực tiếp và quan trọng nhất đến thẩm quyền, phương pháp, nội dung… quản lý của các chủ thể về giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS. Điều này xuất phát từ thực tế hoạt động quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng được thống nhất trên phạm vi toàn quốc trên cơ sở quan điểm và các quy định của chính sách, pháp luật của quốc gia. Chính vì thế, hệ thống này chi phối hoạt động quản lý giáo dục về giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS một cách toàn diện và lớn nhất.

      1. 1.4.2. Các yếu tố chủ quan

Thứ nhất, năng lực thực thi của các chủ thể. Đây là yếu tố quan trọng, chi phối hiệu quả hoạt động quản lý. Năng lực của chủ thể quyết định khả năng ứng dụng các phương pháp, công cụ quản lý… một cách hiệu quả. Chính vì thế, hai địa phương cùng một điều kiện trang thiết bị và quy mô đối tượng quản lý như nhau, năng lực chuyên môn của chủ thể thực thi sẽ quyết định sự khác nhau trong hiệu quả quản lý của hai địa phương. Năng lực thực thi của các chủ thể bao gồm cả năng lực chuyên sâu về chuyên môn và đạo đức công vụ. Hai vấn đề này phải song hành cùng nhau trong quá trình thực thi hoạt động quản lý để đảm bảo năng lực đó của người thực thi được vận dụng hiệu quả vào quá trình quản lý.

Thứ hai, yếu tố nội tại của các trường THCS. Các yếu tố nội tại của trường THCS như chất lượng hệ thống quản lý giáo dục; cơ chế báo cáo; sự thống nhất trong hệ thống… sẽ quyết định đến chương trình giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS. Vấn đề này sẽ quyết định tính phức tạp hay giản đơn của hoạt động quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS. Trên thực tế, việc quản lý hoạt động giáo dục nói chung và giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho các trường THCS có sự khác nhau về mức độ quy mô và tính phức tạp của nhiệm vụ phụ thuộc vào các điều kiện nội tại hỗ trợ hoạt động giáo dục của các trường THCS. Nếu năng lực này tốt, khoa học và hiệu quả, công tác quản lý sẽ có được sự suôn sẻ và ngược lại.

Thứ ba, hệ thống chương trình giáo dục THCS. Hệ thống này được xây dựng bởi các cơ quan quản lý giáo dục, do đó được xác định là yếu tố chủ quan. Hệ thống chương trình giáo dục THCS sẽ quy định về khung chương trình và các cấu thành cụ thể của chương trình giáo dục THCS. Chính vì thế, vấn đề giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS phụ thuộc vào nội dung của hệ thống chương trình này. Nếu chương trình có quy định đóng khung về các nội dung và lưu lượng giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội thì tất yếu sẽ dẫn tới cố định hoạt động giáo dục này trong khuôn khổ, điều này là tích cực đối với nhà quản lý vì lúc này hoạt động quản lý đơn giản chỉ là đối chiếu giữa quy định và hoạt động thực tế. Tuy nhiên, nếu nội dung hệ thống chương trình linh hoạt, trao cho nhà giáo dục nhiều quyền tuỳ nghi trong lựa chọn nội dung và lưu lượng… thì sẽ dẫn tới sự linh động, sáng tạo của các trường THCS song lại làm phức tạp hoá nội dung quản lý của các chủ thể có thẩm quyền.

Thứ tư, tâm sinh lý của học sinh THCS. Tâm sinh lý của học sinh THCS quyết định sự đón nhận cũng như tinh thần, thái độ của học sinh đối với chương trình giáo dục. Chính vì thế, việc xây dựng chương trình, phương pháp giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS được các chủ thể xây dựng dựa trên tâm sinh lý của học sinh nhằm đáp ứng hiệu quả tốt nhất cho hoạt động giáo dục. Việc quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội chịu sự tác động gián tiếp bởi yếu tố mang tính nội sinh này. Vì tâm sinh lý người được giáo dục càng phức tạp đòi hỏi chương trình giáo dục cũng có tính phức tạp theo, điều này đương nhiên tác động lên nội dung và các yêu cầu của công tác quản lý.

Kết luận Chương 1

Thông qua nghiên cứu Chương 1, luận văn đã làm rõ các khái niệm liên quan đến quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh nói chung và học sinh trung học cơ sở nói riêng. Bên cạnh đó, các vấn đề lý luận liên quan đến quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS như vai trò, đặc điểm, mục tiêu, nội dung và phương thức và những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội. Theo đó, có hai nhóm yếu tố tác động đến hoạt động quản lý này, gồm: yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan. Yếu tố khách quan bao gồm: Thứ nhất, điều kiện tự nhiên của địa bàn quản lý; Thứ hai, điều kiện xã hội; Thứ ba, điều kiện kinh tế; Thứ tư, các chính sách, pháp luật của nhà nước. Trong khi đó yếu tố chủ quan bao gồm: Thứ nhất, năng lực thực thi của các chủ thể; Thứ hai, yếu tố nội tại của các trường THCS; Thứ ba, hệ thống chương trình giáo dục THCS; Thứ tư, tâm sinh lý của học sinh THCS.

Những vấn đề lý luận tại Chương 1 của luận văn tuy chưa thể đảm bảo bao quát toàn bộ những khía cạnh lý luận của quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh THCS, song cũng cơ bản đã phản ánh những vấn đề lý luận quan trọng nhất của vấn đề nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu của Chương 1 là cơ sở để xem xét, đánh giá thực trạng của vấn đề nghiên cứu tại Chương 2 của luận văn.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\Quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường Trung học cơ sở quận Cẩm Lệ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *