PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ra đời ở châu Âu từ nửa sau thế kỷ XIX, đến nay, Bảo hiểm xã hội (BHXH) đã có một lịch sửtồntại, phát triển gần haithếkỷ, trởthành trụcột chính của hệthống an sinh xã hội (ASXH) của các quốc gia trên thếgiới. Đểđảm bảo ASXH, bên cạnh BHXH bắt buộc, nhiều quốc gia áp dụng hình thức BHXH tự nguyện, xemđó như một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển ASXH của quốc gia.

Ở Việt Nam, đảm bảo quyền ASXH, trong đó bao gồm quyền được tham gia BHXH cho công dân là một trong những vấn đề được Đảng và Chính phủ quan tâm hàng đầu trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Hiến pháp 2013 khẳng định:“Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xãhội”(Điều 34). Đểhiện thực hóa quy định của Hiến pháp cần phải có một hệthống pháp luật ASXHđồng bộ, trongđóLuật BHXHgiữvai trò đặc biệt quan trọng. Năm 2006, Luật BHXH rađời, chính thức quy định hai hình thức BHXH được triển khai ở Việt Nam là BHXH bắtbuộc và BHXH tự nguyện, qua đó đánhdấumột bước phát triển của pháp luật Việt Nam trên con đường hội nhập, phù hợp với thông lệ quốc tế. Sau 7 năm đi vào cuộc sống, Luật BHXH 2006 đã được thay thế bằng Luật BHXH 2014. Trong đó, những quy định pháp luậtvề BHXHtự nguyệnđượcthểhiệnởChương IV (10điều)và một số điều khoản liên quan, có hiệu lực từ ngày 01/ 01/ 2016. Cùng vớiđó,là hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật về BHXH tự nguyện như:

Nghị định số 134/2015/NĐ-CP của Chính phủ Quy định chi tiếtvề mộtsố điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện, Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao

động – Thương binh và Xã hội Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành mộtsố điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện, Nghị quyết số 93/2015/QH13 về Thực hiện

chính sách hưởng bảo hiểm xã hộimộtlần đốivớingườilao động,… Đólà những cơ sởpháp lý để áp dụng BHXH tự nguyện trên phạm vicả nước thờigian qua.

Sau thời gian đi vào thực tiễn, Luật BHXH 2014 nói chung, pháp luật vềBHXH tựnguyện nói riêng,đã bộc lộnhiều tồn tại, bất cập, trước sựphát triển

1

nhanh chóng, đa dạng của kinh tế thị trường. Việt Nam là một đất nước có tỷ lệ laođộng phi chính thức (đối tượng tham gia BHXH tự nguyện) lớn (33,6 triệu người – chiếm 68,5% trên tổng số lao động có việc làm), nhưng tính đến hết năm 2022,tỷ lệNLĐ tham gia BHXH tựnguyện mới đạt xấp xỉ1,46 triệu người, chiếm khoảng 2,5% trên tổng số NLĐ trong độ tuổi trên cả nước [105]. Điều đó cho thấy, khoảng trống mà BHXH tự nguyện chưa bao phủ tới trong thực tế còn rất lớn, việc thực thi chính sách BHXH tự nguyện chưa mang lại hiệu quả, chưa tương xứng với sự phát triển của kinh tế – xã hội đất nước. Do vậy, mục tiêu bảo đảm quyền được hưởng an sinh cho tất cả người dân theo tinh thần của Hiến pháp 2013 còn gặp nhiều trở ngại.

Ngày 23/5/2018, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khoá XII đã thông qua Nghị quyết số 28-NQ/TW về Cải cách chính sách BHXH. Nghị quyết xác định rõ mục tiêu tổng quát “Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội để bảo hiểm xã hội thực sự là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, từng bước mởrộng vững chắc diện bao phủbảo hiểm xã hội, hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân. Phát triển hệthống bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tếtheo nguyên tắc đóng – hưởng, công bằng, bình đẳng,chia sẻvà bền vững. Nâng cao năng lực, hiệu quảquản lý nhà nước và phát triển hệ thống thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tinh gọn, chuyên

nghiệp, hiện đại, tin cậy và minh bạch….”. Vềmục tiêu cụthể, đến năm 2030 “Phấn đấu đạt khoảng 60% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xãhội, trongđónông dân và laođộng khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xãhội tựnguyện chiếm khoảng 5% lực lượng lao động trong độtuổi”. Đểđạt được những mục tiêu đó, cần phải có những giải pháp phù hợp,đồng bộ, màtrước hết làbổ sung, sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng. Đâylà vấn đềcần phải được nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc, cảởkhía cạnh lý luận và thực tiễn.

Xuất pháttừnhững lý do trên, nghiên cứu sinh (NCS)đã lựa chọn đềtài “Pháp luật về Bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam” làm đề tài thực hiện Luận án Tiến sĩ của mình. Kết quả nghiên cứu của Luận án không chỉ có ý nghĩa lý luận mà

2

còn có ý nghĩa thực tiễn, góp phần hoàn thiện pháp luật vềBHXH tựnguyện, hướng tới đảm bảo ASXH cho mọi người dân trong thời kỳ mới.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của đềtài là nghiên cứu một cáchhệthống, toàn diện những vấn đềlý luận vềBHXH tựnguyện và pháp luật vềBHXH tựnguyện. Trên cơ sởđó, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về BHXH tự nguyện Việt Nam và thực tiễn thực hiện; đề xuất một số giải pháp chủ yếu, nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về BHXH tự nguyện Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa ngày nay.

Với mục đích đó, đề tài đặt ra các nhiệm vụ chủ yếu sau:

Thứ nhất, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu BHXH tự nguyện trên thếgiới, và tình hình nghiên cứu pháp luật vềBHXH tựnguyện Việt Nam. Theo đó, cần phải thu thập, phân loại các tài liệu, công trình khoa học liên quan đến BHXH

tự nguyện nói chung, và pháp luật về BHXH tự nguyện Việt Nam nói riêng. Từ đókhái quát những kết quảnổi bật, chủyếu, của các công trình nghiên cứu đã có và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu mở rộng, đào sâu.

Thứhai, nghiên cứu một cáchhệthống, toàn diện những vấn đềlý luận vềBHXH tựnguyện và pháp luật vềBHXH tựnguyện. Trên cơ sởđó,đềxuất cách hiểu thống nhất một sốvấnđềvềBHXH tựnguyện và pháp luật vềBHXH tựnguyện mà hiện nay còn tồn tại những quan điểm khác nhau.

Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về BHXH tự nguyện ở Việt Nam, và nguyên nhân của nó.

Thứtư, luận giải yêu cầu khách quan và định hướngcủa việc hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về BHXH tự nguyện ở Việt Nam; kiến nghị, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quảthực hiện pháp luật về BHXH tự nguyện Việt Nam trong giai đoạn mới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án, bao gồm:

3

i) Những vấn đề lý luận về BHXH tự nguyện; ii) Pháp luật về BHXH tự nguyện ở Việt Nam;

iii) Thực tiễn thực hiện pháp luật về BHXH tự nguyện ở Việt Nam.

Ngoài ra, Luận án còn nghiên cứu quy định pháp luật về BHXH tự nguyện của một số quốc gia trên thế giới, các công ước quốc tế của ILO có liên quan, để qua đó có những đánh giá về tính tương thích, mức độ phù hợp và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật về BHXH tự nguyện.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn như sau:

–Vềnội dung: Luận án tậptrung nghiên cứu những vấn đềlý luận vềbảo hiểm xã hội tự nguyện và pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện; Thực trạng pháp luật vềbảo hiểm xã hội tựnguyện và thực tiễn thực hiện ởViệt Nam. Luận án không nghiên cứu các nội dungvềtranh chấp và giải quyết tranh chấp BHXHtựnguyện, Khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực BHXH tự nguyện.

– Về không gian: Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực trạng quy định và thực tiễn thực thi pháp luật về BHXH tự nguyện ở Việt Nam. Những vấn đềlý luận và quy định pháp luật quốc tế, pháp luật củamột sốnước trên thếgiới vềBHXH tựnguyện được đặt trong tương quan so sánh, nhằm làm rõ hơnđặcđiểm của pháp luật về BHXH tự nguyện Việt Nam trong quá trình hội nhập.

– Về thời gian: Trọng tâm nghiên cứu của luận án là thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về BHXH tự nguyện hiện hành, qua các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Bảo hiểm xãhội2014;Bộluật Laođộng 2019, và các

văn bản hướng dẫn thihành…Cácsốliệu vềthực tiễn thực hiện pháp luật vềBHXH tự nguyện được thống kê, thu thập, đánh giá chủ yếu từ năm 2016 đến nay.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp luận

Đềtài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của triết học Mác – Lênin, (duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phản ánh luận). Theo đó, pháp luật vềBHXH tự nguyện Việt Nam được nghiên cứu trong quá trình vận động, biến đổi, và

4

đặt trong mối quan hệ tương tác với nhiều yếu tố, đặc biệt là chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội. Việc nghiên cứu pháp luật về BHXH tự nguyện Việt Nam bám sát các quan điểm,định hướng của Đảng,Nhà nước về ASXH qua phương pháp tiếp cận hệthống, phương pháp tiếp cận đa ngành, liên ngành.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Đểhoàn thành tốt nhiệm vụnghiên cứu, tác giảsửdụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu, như: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp phân loại; phương pháp chứng minh, phương pháp khái quát hóa; phương pháp so sánh pháp luật.

Phương pháp phân tích được sử dụng trong quá trình nghiên cứu nhằm làm rõ các vấn đề, như: tình hình nghiên cứu BHXH tự nguyện ở Việt Nam và trên thếgiới; thực trạng pháp luật về BHXH tự nguyện Việt Nam; thực tiễn thực hiện pháp luật vềBHXH tựnguyện hiện nay ởViệt Nam; yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật vềBHXH tựnguyện; cơ sởlý luận, thực tiễn cho những đềxuất sửa đổi, bổsung một số quy định pháp luật và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về BHXH tự nguyện Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.

Phương pháp tổng hợpđược sửdụng trong quá trình nghiên cứu nhằm tập hợp, chọn lọc các thông tin trên cơsởnhững tài liệu, công trình nghiên cứu khoa

học, báo cáo tổng kết, số liệu thống kê… có ý nghĩa đối với đề tài. Từ đó, sắp xếp, khái quát hóa thông tin theo từng nội dung cụ thể cần luận giải.

Phương pháp phân loại pháp lýđược sửdụng nhằm phân loại nội dung nghiên cứu; phân loại mô hình lý luận; phân loại các trường hợp thực tiễn để xem xét việc thi hành và áp dụng pháp luật, xây dựng hệ thống các định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về BHXH tự nguyện.

Phương pháp chứng minh được sử dụng trong việc đưa ra các dẫn chứng (số

liệu, tài liệu…) nhằm làm rõ cho các luận điểm khoa học được đặt ra trong Luận án.

Phương pháp khái quát hóa được sử dụng nhằm làm rõcác vấn đề lýthuyết ở chương 2 và giải thích nguyên nhân của những tồn tại, bất cập trong các quy định pháp luật vềBHXH tựnguyện hiện hànhởchương 3. Trong chương 4, phương pháp này được sử dụng để tìm kiếm các giải pháp hoàn thiện pháp luật về BHXH tựnguyện ở Việt Nam.

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM

Phương pháp so sánh pháp luậtđược sửdụng nhằm tìm ra những điểm tương đồng, khác biệt giữa pháp luật về BHXH tự nguyện ở Việt Nam với pháp luật về BHXH tự nguyện của một số quốc gia trên thế giới; giữa pháp luật Việt Nam với khuyến nghị trong các Côngước của ILO. Từđó,rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện và thực thi pháp luật vềBHXH tựnguyện. Phương pháp so sánh pháp luật được sử dụng linh hoạt, kết hợp, lồng ghép với một số phương pháp đã nêu, nhằm làm cụ thể, sâu sắc hơn những phân tích, kiến giải vềcác vấn đề được đề cập.

5. Những đóng góp mới của luận án

Luận án có những đóng góp mới về khoa học sau đây:

Thứnhất, luận án làm sâu sắcthêm những vấn đềlý luận vềBHXH tựnguyện và pháp luật vềBHXH tựnguyện, góp phần hoàn thiện cơ sởlý luận của pháp luật vềBHXH tựnguyện ởViệt Nam. Những vấn đềcơ bản, như khái niệm BHXH tự nguyện;đặc điểm,vai trò; ý nghĩa của pháp luật về BHXH tự nguyện và các nhân tốảnh hưởng đến pháp luật vềBHXH tựnguyện… được trình bày một cách hệ thống, logic, chặt chẽ. Từ nhiều góc độ, luận án phân tích, luận giải tính cấp thiết của việc điều chỉnh, bổ sung pháp luật về BHXH tự nguyện và các nguyên tắc/ yêu cầu cần tuân thủtrong quá trìnhđiều chỉnh,bổsung pháp luật vềBHXH tựnguyện Việt Nam hiện nay.

Thứhai, luận án phân tích, đánh giá một cách tươngđối đầy đủ, hệthống, toàn diện, thực trạng pháp luật vềBHXH tựnguyện ởViệt Nam. Trên cơ sởđó, luận án chỉra những khoảng trống pháp lý, những bất cập, hạn chếcủa pháp luật ảnh hưởng đến việc phát triển BHXH tự nguyện, tiến tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân, trong chiến lược ASXH quốc gia thời kỳ mới.

Thứ ba, dựa trên khung lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu đã được xây dựng, luận án phân tích, luận giải, kiến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật vềBHXH tự nguyện; và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về BHXH tự nguyện ởViệt Nam trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa.

6

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án hệ thống hóa những kiến thức về lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật vềBHXH tựnguyện ởViệt Nam và một sốnước trên thếgiới, góp phần bổsung nhiều vấn đề lý luận mới, hiện đại về BHXH tự nguyện nói chung, pháp luật vềBHXH tựnguyện nói riêng. Bên cạnh đó,luận án phân tích làm rõ thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về BHXH tự nguyện ở Việt Nam và nguyên nhân của nó. Trên cơ sởđó,luận án đưa ra một sốkiến nghị, giải pháp, nhằm bổsung, điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật về BHXH tự nguyện, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về BHXH tự nguyện ở Việt Nam.

Những kếtquảnghiên cứu được trình bày trong luận án gợi mởnhiều vấn đềcần được trao đổi, thống nhất trong quá trình sửa đổi Luật BHXH hiện nay. Trong chiến lược mở rộng diện bao phủ BHXH, thực hiện mục tiêu bảo hiểm toàn dân ở Việt Nam trong giai đoạn mới, những kiến nghị, đề xuất trong luận án có ý nghĩa thực tiễn.

Với những ý nghĩa đã nêu, luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập tại các cơ sở đào tạo luật học, xã hội học, công tác xã hội, kinh tế… và cho các tổchức, cá nhân quan tâmđếnBHXH nói chung, pháp luật về BHXH tự nguyện ở Việt Nam nói riêng.

7. Cấu trúc luận án

NgoàiMởđầu,Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo,Phụlục, Danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả liên quan đến luận án đã công bố, luận án gồm 4 chương:

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 2. Những vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội tự nguyện và pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện

Chương 3. Thực trạng pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam

Chương 4. Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật vềbảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam.

7

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Tình hình nghiên cứu lý luận bảo hiểm xã hội tựnguyện và pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện

1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận bảo hiểm xã hội tự nguyện Hiệp hội ASXH Quốc tế(ISSA), văn phòng khu vực châu ÁThái Bình

Dương trụ sở ở New Delhi, Ấn Độ, đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Hệ thống bảo hiểm xã hội nông dân trong cácnước đang phát triển”(1993) [45]. Đối tượng nghiên cứu là BHXH tự nguyện cho nông dân ở các nước đang phát triển, như ThổNhĩ Kỳ, Indonesia, Malaysia… Các nghiên cứu tập trung vào một số vấn đề chủ yếu, như: chăm sóc y tế và các dịch vụ thuốc men; kế hoạch hóa gia đình, phúc lợi giađình và chăm sóc bà mẹ, trẻsơ sinh; những khó khăn của các quốc gia đang phát triển khi triển khai BHXH tự nguyện cho nông dân. Dựa trên kết quả khảo sát, phân tích các nhà nghiên cứu cho rằng, có hai khó khăn, thách thức chủ yếu mà các nước đang phát triển phải đối mặt, khi thực hiện BHXHtựnguyện cho nông dân:Thứnhất, đối tượng tham gia BHXH (nông dân) là nhóm người có công việc thiếu ổn định,thậm chí không có công việc, thu nhập thấp, không ổn định. Do vậy, khả năng tham gia BHXH của họlà rất hạnchế. Thứhai, ởcác nước đang thiếu những cơ quan có chức năng quản lý về đăng ký và thu các khoản đóng góp BHXH. Trên cơsở đó,nhóm nghiên cứu khuyến nghị một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quảBHXH nông dân. Thành công của Indonesia, Malaysia, Thổ Nhĩ Kỳ trong việc thực hiện BHXH cho người laođộng(NLĐ)ởnông thôn là kinh nghiệm cho các nước có những đặc điểm tương đồng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

Viện nghiên cứu Lao động (ILS) phối hợp với Tổchức Lao độngQuốc tế(ILO) đã côngbốbáo cáo “Social insurance in cooperatives” (Bảo hiểm xã hội trong hợp tác xã) (1995).Báo cáo nghiên cứu khảo sát, phân tích các dịch vụ bảo trợ

xã hội, các khoản trợcấp được áp dụng trong cáchợptác xã. Từđó,các nhà nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị thiết kế và thực hiện các chương trình bảo

8

trợxã hội. Bó hẹp phạm vi nghiên cứu là NLĐ trong hợp tác xã, khu vực phi chính thức, do vậy những vấn đề được đề cập trong báo cáo về chế độ, chính sách, điều khoản thực hiện bảo hiểm hưu trí, còn chưa bao quát hết các đối tượng tham gia BHXH tự nguyện [157].

Nghiên cứu hệ thống ASXH ở các quốc gia Đông Nam Á, năm 2000, Mukul G. Asher côngbốbáo cáo “Social Security Reform Imperatives: The Southeast Asian Case” (Các yêu cầu cải cách an sinh xã hội: Trường hợp Đông NamÁ). Trong công trình này, Mukul G. Asher tiến hành khảo sát, phân tích, đánh giá chính sách ASXH của các nước Đông Nam Á trong sự so sánh với một số nước Châu Âu. Theo ông, ở Đông Nam Á, ASXH là một chính sách lớn, chịu tác động của kinh tế, chính trị, xã hội ở mỗi quốc gia. Bởi vậy, không có một mô hình ASXH chung cho

tất cả các nước trong khu vực. Cải cách chính sách ASXH là quá trình phức tạp, đòi hỏi một cam kết chính trị bền vững. Một chính sách ASXH với những điều khoản pháp lý chi tiết, cụ thể, cần phải đặt trong quan hệ tương tác với cải cách thị trường

tài chính, vốn… phụ thuộc vào đặc điểm cơ cấu kinh tế, xã hội, cam kết chính trị ởmỗi quốc gia. Phạm vi nghiên cứu của Mukul G. Asher là những cải cách ASXH nói chung trong đó bao gồm BHXH, tuy nhiên những đóng góp lý luận về BHXH tựnguyện là không nhiều [174]

Trong cuốn sách States in the Global Economy (Các quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu) xuất bản năm 2003, ở chương 3, Duane Swank có bài viết “Giảm phúc

lợi, toàn cầu hóa, các thể chế kinh tế chính trị, và hệ thống Nhà nước phúc lợi hiện đại”. Trong bài viết, Duane Swank phân tích những tác động của toàn cầu hóa đối với việc cắt giảm phúc lợi xã hội quốc gia. Mặt khác, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các thểchếkinh tếkhác nhau sẽcó những chếđộphúc lợi xã hội khác nhau; môhình Nhà nước phúc lợi khác nhau. Ở chương IV của cuốn sách, M. Ramesh có bài viết “Toàncầu hóa và mởrộng ASXHởĐôngÁ”. Theo M. Ramesh, trong quá trình toàn cầu hóa, các quốc gia ởĐông Á cóthểgặp nhiều khó khăn, thách thức trong việc mở rộng ASXH. Tuy nhiên, ở những nước, vùng lãnh thổ phát triển, như Hàn Quốc, Singapore và ĐàiLoan, không có bằng chứng cho thấy quá trình hội

9

nhập cản trở sự phát triển của chương trình ASXH. Các chính sách ASXH của Hàn Quốc và Đài Loan góp phần phát triển nền chính trị dân chủ còn non trẻ. Trong khi đó,với sự ổn định chính trị, kinh tế phát triển, Singapore không cần thay đổi chính sách ASXH. Nhữngvấn đề lýluận về phát triển ASXH trong thời hội nhập được đềcập trong cuốn sách gợi mở nhiều vấn đề để Việt Nam xây dựng chiến lược ASXHổn định,bền vững, trong đó BHXH là trụ cột [162].

John Pitzer (2003) đã nghiên cứu haivấn đề lýluận cơ bản của BHXH: định nghĩa BHXH và phân loại BHXH. Trong báo cáo nghiên cứu với tên gọi “The Definition of a Social Insurance Scheme and its Classification as Defined Benefit or Defined Contribution” (Định nghĩa vềBHXH và cách phân loại BHXH theo mức hưởng xác định hoặc theo đóng góp), John Pitzer cho rằng, BHXH là một giải pháp an toàn để chống lại những rủi ro cho NLĐ. Để lý giải cho quan điểm đó, ông đi sâu phân tích một số vấn đề chủ yếu của BHXH, như: phương thức đóng góp hình thành quỹBHXH; xácđịnh các loại rủi rođểchitrảtiền BHXH; phân chia hai loại hình BHXH là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyên, mà theo ông là “do ý chí tự do của cá nhân”. Những phân tích, lý giải của ông có ý nghĩa lý luận cho nghiên cứu BHXH nói chung, BHXH tự nguyện nói riêng [173].

Nghiên cứu Quỹ hưu trí, quỹ tiết kiệm và hệ thống ASXH ở Thái Lan (Pension Fund, Provident Fund and Social Security System in Thailand) Niwat Kanjanaphoomin (2004) cho rằng, Thái Lan đang phải đối mặt với một trong những thách thức lớn là lão hóa dân số do tỷ lệ sinh giảm và tuổi thọ tăng. Điều này buộc chính phủ phải xem xét việc cải cách hệ thống hưu trí. Từ thực tế đó, theo tác giả, chính phủ Thái Lan cần phải lựa chọn chính sách cho tương lai là thay thế quỹ hưu trí bằng các khoản đóng góp nhằm tăng tiết kiệm hưu trí, cải cách hệthống hành chính đểgiảm chi phí quản lý vàsửdụng quỹđầu tư vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội, làm tăngquỹhưu trí. Những phân tích, diễn giải trong bài viết cóýnghĩa lýluận khi nghiên cứu chế độ bảo hiểm hưu trí tự nguyện trước áp lực già hóa dân sốđang diễn ra ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam [166].

Nghiên cứu mối quan hệ giữa ASXH, kinh tế và sự phát triển ở một số quốc

10

gia châu Á, James Midgley (2008) trong cuốn sách Social Securiy, the Economy and development (An sinh xã hội, kinh tếvà phát triển), đã nghiên cứu khá toàn diện các chương trình bảo hiểm vi mô của các hiệp hội ở Châu Á. Cuốn sách đề cập đến một số vấn đề liên quan đến các hiệp hội có quan hệ tương tác ở một số nước, như: Sri Lanka, Thailand, Mông Cổ, Indonesia và Philippines. Kết quả nghiên cứu cung cấp những thông tin về dịch vụ bảo vệ thu nhập hiệu quả, gợi mở một số vấn đềvềhoạt động của các hiệp hội, và vai trò của các hiệp hội trong việc xây dựng chiến lược ASXH toàn diện, góp phần xoá đói, giảm nghèo và cải thiện mức sống cho NLĐ. Nhiều vấn đềlý luận vềvai trò, tầm quan trọng của ASXH trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia, đã được tác giảđềcập. Theo ông, không thể có một ASXH ổn định, bền vững, khi kinh tế chậm phát triển. Mặt khác, không thể có một nền kinh tế phát triển khi ASXH quốc gia thiếu sự ổn định, bền vững. [158].

Peter Lloyd-Sherlock và Elisabeth Schröder-Butterfill (2008) trong công trình “Social security pension “reforms” in Thailand and Indonesia: Unsustainable and unjust” (“Cải cách hưu trí an sinh xã hội ở Thái Lan và Indonesia: Không bền vững và bất công”) cho rằng, rất khó để chỉ ra những khía cạnh tích cực trong cải cách lương hưu ở Thái Lan và Indonesia. Theo các tác giả, cải cách của Thái Lan và Indonesia thay vì thúc đẩy phúc lợi chung và kinh tế tăng trưởng, chúng đã dẫn đến việc hình thành các nền kinh tế không bền vững và rất bất bình đẳng về cơ cấu tài chính. Điều này đe dọa sự ổn định kinh tế trong trung hạn và đặt ra câu hỏi về giá trịcủa các chế độ lương hưu đóng góp trong vai trò là một tác nhân bảo trợ xã hội cho những hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn nhất. Những kinh nghiệm của haiđất nước này đã được đưa ra trong những cuộc thảo luận rộng hơn về các vấn đề xã hội, an ninh ở các nước đang phát triển. [167].

Nghiên cứu BHXH tự nguyện Việt Nam, song ở một phạm vi hẹp là chế độhưu trí, Castel. P (2008) có bài viết “Voluntary Defined Benefit Pension System Willingness to Participate: the Case of Vietnam” (Hệ thống hưu trítự nguyện được xác định quyền lợi ở Việt Nam). Trong bài viết, tác giả đã phân tích, chỉ ra các yếu tố quyết định đến việc tham gia vào hệ thống hưu trí tự nguyện của NLĐ tại một số

11

địa phương ở Việt Nam. Theo tác giả, ở Việt Nam, các yếu tố chủ yếu chiphối đến việc NLĐ tham gia BHXH là thu nhập, trình độ học vấn, khả năng tiết kiệm, nơi cưtrú, kiến thức về BHXH, mức hưởng BHXH. Bên cạnh đó, cơ chế chính sách cũng là yếu tốảnh hưởng không nhỏđến sựsẵn sàng tham gia BHXH của NLĐ, như:

thời gian đóng, mức đóng, quyền lợi được hưởng. Trong khuôn khổ một bài nghiên cứu, tác giả chưa có điều kiện khảo sát, phân tích cụ thể nhómđối tượng NLĐở các lĩnh vực sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp. Nhiều khía cạnh pháp lý về BHXH tựnguyện và việc tổchức triển khai BHXHtựnguyện ởViệt Nam sau khi Luật BHXH 2006 có hiệu lực cũng chưa được tác giả đi sâu nghiên cứu [172].

Nghiên cứu hệ thống hưu trí ở châu Á, Landis MacKellar (2009) có bài viết “Pension Systems for the Informal Sector in Asia” (Hệthống hưu trí khu vực phi chính thức ở châu Á). Bài viết khảo sát, phân tích hệ thống hưu trí ở các quốc gia như Ấn độ, Thái Lan, Sri Lanka, Trung Quốc, Việt Nam, Philippin. Trong đó, tác giả tập trung vào mấy vấn đề chủ yếu, nổi bật, như: đặc điểm châu Á; việc mở rộng phạm vi hệ thống hưu trí; chính sách tiền lương hưu; khó khăn, thách thức đối với NLĐ phi chính thức. Nhiều vấn đề về BHXH tự nguyện và pháp luật về BHXH tựnguyện đã được gợi mở khi vận dụng vào thực tiễn Việt Nam [160].

Nicholas Barr và Peter Diamond (2010) xuất bản cuốn sách Pension Reform in China: Issues, Options and Recommendations (Cải cách lương hưu ởTrung Quốc: Các vấn đề, lựa chọn và khuyến nghị). Cuốn sách tập trung phân tích các chính sách cải cách lương hưu ở Trung Quốc. Trên cơ sở tham chiếu hệ thống lương hưu của một số quốc gia có trình độ phát triển kinh tế tương đồng với Trung Quốc (Canada, Chilê, Thụy Điển..), các tác giảcho rằng, mục đích lương hưu là nhằm đảm bảo tiêu dùng, tái phân phối thu nhập, bảo hiểm.Từ đó,đề xuất bộ tiêu chí đểthiết kếhệthốngchếđộlương hưu phù hợp, như:thịtrường lao động,nhân khẩu

học, giới tính, tài chính… hướng tới mục tiêu cải cách chế độ lương hưu cho NLĐ, bao gồm lao động chính thức và lao động phi chính thức ở Trung Quốc [164].

Nghiên cứu hệ thống ASXH châu Á, James Midgley (2011) trong cuốn sách “Grassroots Social Security in Asia: Mutual Aid, Microinsurance and Social

12

Welfare” (Cơ sở của ASXH ở châu Á: Trợ giúp xã hội, bảo hiểm vi mô và phúc lợi xã hội) đề cao vai trò của các hiệp hội tư nhân. Theo ông, ở các khu vực lao động khác nhau, hiệp hội tư nhân sẽ có chính sách BHXH phù hợp. Từ quan điểm đó, tác giả cho rằng, để đảm bảo ASXH, với các nước châu Á, Nhà nước thực hiện chính sách ởtầm vĩ mô, cònởtầm vi mô, hiệp hội tư nhânsẽđảm trách.Chỉnhư vậy, mạng lưới ASXH mới được mở rộng, bền vững, toàn diện [159]. Dựa vào đặc điểm xã hội và trình độ phát triển kinh tế ở các nước châu Á, ý tưởng của James Midgley là có tính khả thi.

Ngân hàng thế giới (WB) (2012), đã có nghiên cứu về hệ thống hưu trí ở Việt

Nam. Trong báo cáo“Vietnam: Developing a modern pension system –Current challenges and options for future reform” (Việt Nam: Xây dựng hệ thống hưu trí hiện

đại – Những thách thức hiện tại và các lựa chọn cải cách trong tương lai), các nhà nghiên cứu đã phân tích, đánh giá những khó khăn, thách thức mà hệthống hưu tríViệt Nam đang phải đối mặt, như: số người tham gia thấp (cả hai khu vực lao động chính thức và phi chính thức); tài chính không ổn định, thiếu bền vững; năng lực điều hành, quản lý hệ thống tài chính của BHXH còn nhiều hạn chế… Tình trạng dân sốđang già hóa,sốlượng người tham gia bảo hiểm hưu trí chưa cao, tạo áp lực cho NLĐtrẻhiện tại và tương lai. Vì vậy,tỷlệđóng góp có thểphải tăng lên, độtuổi nghỉ hưu cần kéo dài,… tránh nguy cơ vỡ quỹ BHXH [175]. Từ góc độ kinh tế, đó lànhững phân tích, đánh giá có cơ sở. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, các quy định về

mức đóng, thời gian đóng – hưởng BHXH (trong đó có BHXH tự nguyện)cần được xem xét, đánh giá kỹ hơn trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Nghiên cứu khu vực kinh tếphi chính thức, Jean Pierre Cling (2013) (chủbiên) xuất bản cuốn sách Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển. Cuốn sách tập hợp nhiều bài nghiên cứu về NLĐ và BHXH ở khu vực kinh tế phi chính thức ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Trong đó có những bài viết đề cập đến thực trạng NLĐở các nước tham gia BHXH tự nguyện còn ít, và bước đầu chỉ ra một số nguyên nhân về chính sách, điều khoản liên quan đến chế độ bảo hiểm ngắn hạn (thai sản, tai nạn rủi ro) [59].Đâylà những gợi mởđểnghiên cứu

13

thực trạng pháp luật về BHXH tự nguyện Việt Nam hiện nay.Từ đó,có những giải pháp phù hợp đểmởrộng diện bao phủBHXH tựnguyệnởViệt Nam trong thời gian tới.

Robert Holzmann (2014) trong bài viết “Old-Age Financial Protection in Malaysia: Challenges and Options” (“Bảo vệtài chính cho người giàởMalaysia:

Thách thức và Lựa chọn”)đã đi sâu phân tích vấn đềtài chính trong chính sách ASXH của Malaysia. Từ đó, tác giả đề xuất chính sách bảo vệ người cao tuổi phải đảm bảo an ninh tài chính của quốc gia. Thay vì mở rộng các chương trình ASXH, Malaysia có thể thực hiện một số chính sách trở thành quốc gia có thu nhập cao một cách bền vững. Những đề xuất của Robert Holzmann dựa trên chủ trương hỗ trợ thu nhập cho người cao tuổi và khắc phục những yếu kém trong điều hành quản lý, như:

ASXH phân tán trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chưa tạo điều kiện đầy đủ cho các đảng phái chính trị, mức đóng góp vào quỹ ASXH thấp, giải ngân không đủ trước xu thếgià hóa dân sốvà biến động kinh tế. Đểgiải quyết những tồn tại đóvà bảo vệtài chính cho người cao tuổi, tác giả đã khuyến nghị hai lựa chọn cho Quỹ tiết kiệm màtrụ cột là lương hưu: (i) di chuyển từ một quỹ đầu tư tiết kiệm hưu trí thành quỹ hưu trí chính thức, và cung cấp một số trợ cấp hàng năm tối thiểu; hoặc (ii) triệt để hơn, di chuyển các lợi ích hướng tới một chương trình đóng góp phi tài chính với nguồn lực của quỹ được sử dụng chính [168].

Trong báo cáo nghiên cứu đề tài khoa học: “Social Security Programs Throughout the World: The Americas, 2019” (Các chương trình an sinh xã hội trên khắp thế giới: Châu Mỹ, 2019), Cơ quan An sinh Xã hội (SSA) đã tổng hợp những thông tin nổi bật vềASXH dựa trên khung khổpháp lý của hệthống pháp luật các nước châu Mỹ, trong đó có pháp luật về chế độ hưu trí [171]. Nhiều thông tin trong các báo cáo có ý nghĩa tham khảo trong quá trình hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Bên cạnh những cuốn sách, những bài nghiên cứu đã được phân tích dẫn giải trên đây, còn có một sốbáo cáo khoa học liên quan đến những vấn đềlý luận vềBHXH tựnguyện và pháp luật vềBHXH tựnguyện, như: Social Insurance and

14

Social Protection (Bảo hiểm xã hội và bảo trợ xã hội) tại Hội nghị lao động quốc tếnăm 1993; Báo cáo Social security systems around the Globe (Hệ thống an sinh xã hội trên toàncầu) (2014) của PWC. Ngoài ra, còn có một sốcuốn sách viết vềBHXH như: The emergence of Social Security in Canada: Third Edition (Sựxuất hiện của An sinh xã hội ởCanada: Phiên bản thứba) của Dennis T. Guest; Social insurance in Europe (Bảo hiểm xã hội ởChâu Âu) (1997) của Jochen Clasen; The future of Social Insurance: Incremental action or Fundamental Reform (Tương lai của Bảo hiểm xã hội: Hànhđộng tăng dần hay cải cách cơbản) của nhóm tác giảPeter Edelman, Dallas L.Salisbury, Pamela J.Larson (2002); China’s social insurance in the twentieth century: a global historical perspective (Bảo hiểm xã hội của Trung Quốc trong thế kỷ XX: một viễn cảnh lịch sử toàn cầu) của Aiqun Hu (2015).

Ở Việt Nam, trong luận án tiến sĩ kinh tế “Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tưtừQuỹbảo hiểm xã hội ởViệt Nam”Nguyễn Trọng Thản (2004)đãtập trung nghiên cứu vấn đề đầu tư quỹ BHXH, trong đó có quỹ hưu trí. Những vấn đề, như: đặc điểm;vai tròcủaquỹ; sựhình thành nguồn vốn đầu tư; vấn đềthu, chi; các nhân tố tác động đến hiệu quả đầu tư từ quỹ… đã được tác giả phân tích làm rõ.Từkinh nghiệm đầu tư quỹ của một số quốc gia ASEAN (Malaysia, Singapore, Philippin), tác giả định hướng, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư quỹBHXH, trong đó có quỹ hưu trí. Những vấn đề liên quan đến lý luận về BHXH tựnguyện trong luận án nhìn chung không nhiều, chủyếu được xem xét, luận giải dưới góc độ kinh tế, tài chính. [109].

NghiêncứuĐềtài:“An sinh Xã hộikhu vựcphi chính thức: Cần xácđịnh

bảo hiểm xã hộilà lướiquan trọng”nhóm tác giả BùiSỹ Tuấn –ĐỗMinh Hải, Viện Khoa học Lao động và Xã hội (2012) đã phân tích vai trò,tầmquan trọng của BHXH tự nguyện trong ASXH khu vực phi chính thức. Dựa trên những số liệu khảo sát, thống kê của BHXH và Tổng cục Thống kê, các tác giả đã nhận diện, phân tích đặc điểm của NLĐ thuộc khu vực lao động phi chính thức. Đó là khu vực, theo các tác giả, không chịu sự điều chỉnh của các bộ luật có liên quan đến tổ chức và lao động.NLĐ phi chính thức có nhu cầu tham gia BHXH tự nguyện rất lớn, nhưng số

15

ngườitham gia không nhiều. Đi tìm nguyên nhân của thực trạng đó, các tác giảđãphân tích, lý giảitừ nhiều góc độ, từ đó,đềxuấtmộtsốgiải pháp nhằm thu hút NLĐ ở khu vực phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện [106]. Phạm vi bao quát của đề tàilà ASXH nói chung. Vì vậy, những vấn đề lý luận liên quan đến BHXH

tựnguyện được đề cập trong báo cáo là không nhiều. Tác giả về cơ bản mới dừng lại ở những phân tích, diễn giải các hiện tượng cụ thể về BHXH ở khu vực kinh tếphi chính thức.

Sách chuyên khảo Quyền an sinh xãhộivàbảođảm thực hiện trong pháp luật Việt Nam do PGS.TS LêThịHoài Thu chủ biên (2014), đã tiếp cận BHXH Việt Nam trong vai trò là trụ cột chínhbảo đảmquyền ASXH của người dân. Dựa trên quy định của Luật BHXH 2014, tác giả đã phân tích, làm rõmột số vấnđề lýluận về quyền được hưởng thu nhập của ngườidân, thông qua BHXHbắtbuộc và BHXH tự nguyện; nguyên tắc, giải pháp xây dựng quỹ tài chính ASXH để đảm bảo quyền lợi cho các đốitượng được bảo vệ khitham gia các loại hình BHXH [115].Đólà những vấn đề không chỉ có ý nghĩa lý luận, mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật BHXH, trong đó có BHXH tự nguyện,ở Việt Nam trong giai đoạn mới.

Điểm lại một số công trình nghiên cứu có liên quan, có thể thấy, BHXH nói chung, BHXHtựnguyện nói riêng,đã thu hútsựquan tâm của giới nghiên cứu ởnhiều nước trên thếgiới.ỞViệt Nam, nghiên cứu lý luận vềBHXH nói chung, BHXH tựnguyện nói riêng chưa có nhiều thành tựu. Các nghiên cứu vềBHXH tựnguyện được tiếp cận chủ yếu từ hai góc độ: khoa học pháp lý và khoa học kinh tế. Những kết quảnghiên cứu này có ý nghĩa gợi mở, tham khảo, khi vận dụng vào nghiên cứu BHXH tự nguyện ở Việt Nam. Nghiên cứu BHXH nói chung, BHXH tựnguyện nói riêng, phải theo nguyên tắc lịch sử-cụthể. Nghĩa là phải có“cái nhìnđộng”,đặt trong một bối cảnh, tình hình cụ thể, gắn với trình độ phát triển kinh tế, thể

chế chính trị, đặc điểm văn hóa – xã hội của quốc gia ở mỗi giai đoạn phát triển.Điều này giúp người nghiên cứu tránh được quan điểm cực đoan trong phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về BHXH tự nguyện ở Việt Nam.

16

1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận pháp luật về bảo hiểm xãhội tự nguyện

Bruno Palier và Louis – Charles Viossat (2003) trong cuốn sách Chính sách xã hội và quá trình toàn cầu hóa đã tập trung phân tích, luận giải vai trò, tầm quan trọng của chếđộhưu trí trong BHXH, bao gồm BHXH bắt buộc và BHXHtựnguyện, góp phần bảo đảm ASXH cho một quốc gia. Trong đó, chế độ hưu trí được xem là thành tố quan trọng. Theo các tác giả, về bản chất, chế độ hưu trí là một khếước(hợp đồng)giữa các thếhệvới nhau. Việc xây dựng chính sách,điều khoản pháp lý về chế độ hưu trí phải đặc biệt chú ý đến tính ổn đỉnh, bền vững, khả năng phát triển của quỹ. Chỉ có như vây, quyền lợi của các đối tượng tham gia, không chỉhiện tại mà cả tương lai mới được bảo đảm [16].

Trên cơ sởtiếp cận pháp luật BHXH, ASXH của một sốquốc gia trên thếgiới, cuốn sách Hệthống an sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam của Đinh Công Tuấn (2008) giới thiệu pháp luật về bảo hiểm hưu trí của các nước Pháp, Đức, Thụy Điển,Anh và Hoa Kỳtrong mô hình cấu trúc ASXH quốc gia [107]. Những thông tin khoa học cuốn sách mang lại có ý nghĩa tham khảo,cảtrong nghiên cứu và xây dựng chính sách về chế độ hưu trí ở hai loại hình BHXH ởViệt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Quan tâm đến các chế tài trong pháp luật BHXH, Hu Jiye – nhà nghiên cứu người Trung Quốc (2009), có báo cáo nghiên cứu với tên gọi “An approach on social security anti-fraud Law in China” (Một cách tiếp cận Luật chống gian lận bảo hiểm xã hội ở Trung Quốc). Đây là nghiên cứu thuộc Dự án hợp tác về cải cách BHXH,được thực hiện bởi một sốnhà nghiên cứu châu Âu và Trung Quốc. Nội dung nghiên cứu chủyếu tập trung vào giải pháp ngăn chặn các hành vi gian lận BHXH. Bước đầu các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số giải pháp, được xem là cơ bản, như: hoàn thiện pháp luật hành chính, pháp luật thuế, pháp luật dân sự và pháp luật hình sự, tạo ra hệ thống các chế tài từ thấp đến cao, nhằm hạn chế sự gia tăng các hành vi vi phạm trong lĩnh vực BHXH ở Trung Quốc. Trên cơ sở phân tích các khía cạnh pháp lý của Luật BHXH hiện hành khi đi vào thực tiễn,tác giả đề xuất bổ

17

sung vào luật hìnhsựcủa Trung Quốc các điều khoản liên quan đến tội gian lận BHXH [154]. Báo cáo gợi mởnhiều vấn đềlý luận cho nghiên cứu BHXH nói chung, BHXH tự nguyện nói riêng. Chẳng hạn, ở loại hình BHXH bắt buộc, chế tài đểxửlý hành vi vi phạm là cần thiết, có tínhkhảthi. Tuy nhiên, với loại hình BHXH tự nguyện, việc quy định chế tài xử lý các hành vi vi phạm của người tham gia liệu có phù hợp và có khả thi không?. Đó là những gợi mở cho quá trình nghiên cứu pháp luật về BHXH tự nguyện ở Việt Nam.

Trong luận án tiến sĩ“Social Security Policymaking: An Examination of Select Policies in the U.S. Social Security System” (Xây dựng chính sách ASXH – thực tiễn tại hệthống ASXHởHoaKỳ), Larry W. DeWitt (2014) đã trình bày một cáchhệthống những thay đổi trong chính sách ASXH qua các giai đoạn hình thành phát triển BHXH ở Hoa Kỳ. Từ góc độ pháp lý, tác giả đã phân tích vai trò của Nhà nước trong

tổ chức, quản lý quỹ; tỷ lệ đóng – hưởng của các chủ thể tham gia phù hợp với tình hình phát triển của kinh tế xã hội ở các giai đoạn khác nhau. Theo tác giả, sự linh hoạt trong chính sách và điều khoản pháp lý, có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm sựổn định,phát triển của BHXH, trong đó có BHXH tự nguyện [161].

Trong bàiviết “Xây dựng luật bảo hiểm xã hội”, LêThị Hoài Thu (2002) đã phân tích, kiến giải tính cấp thiết và những nội dung cần có của luật BHXH Việt Nam, với hai loại hình cơ bản là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Nhiều vấn đề lýluận về BHXH, như đối tượng tham gia, cơ cấu tổ chức, quỹ BHXH, các chếđộ chính sách BHXH, đã được tác giả đề cập. Kiến nghị về BHXH tự nguyện, tác giảviết: “Mỗi NLĐ cóthểtựlựa chọn các chếđộBHXH tựnguyện tương tựvới các chế độ của loại hình BHXH bắt buộc, ví như chế độ hưu trí, tử tuất… Tuy nhiên trong luật cần phải đặc biệt lưu ý thế nào là “tự nguyện” để khi họ tự nguyện tham gia rồi thì phải tham gia liên tục. Có thểtrước khihọtham gia thì không nên ép buộc họ mà chủ yếu để họ nhận thức rõ lợi ích của BHXH để tự nguyện tham gia. Còn khi họ đã quyết định tham gia thì phải thông qua một hình thức cam kết bằng văn bản (chẳng hạn Hợp đồng BHXHtựnguyện)đểràng buộc trách nhiệm vàquyền lợi đôi bên giữa cơ quan BHXH và người tham gia BHXH tự nguyện” [113,

18

tr.58]. Những phân tích của tác giảchỉrõ tính cần thiết phải cósựchặt chẽ, phùhợp, tránh phát sinh tình huống tranh chấp khi luật BHXH đi vào cuộc sống. Vấn đề trước hết, theo tác giả, phải làm rõ“thế nào là tự nguyện”.Cách hiểu khái niệm “tự nguyện” trong BHXH tự nguyện là cơ sở để xây dựng khung khổ pháp lý của pháp luật về BHXH tự nguyện.

Trong bài viết “Bàn về bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam”, Lê Thị Hoài Thu (2007)đãtập trung làm rõ một sốvấn đềlý luận chủyếu của pháp luật vềBHXH tựnguyện, như:đối tượng tham gia BHXHtựnguyện;chếđộBHXH tựnguyện; mức đóng và phương thức đóng BHXHtựnguyện;điều kiện và mức hưởng BHXHtựnguyện;tổchức thực hiện.Vềmặt lý luận, nóiđến BHXHtựnguyện, trước hết phải xác định đối tượng tham gia của loại hình bảo hiểm này cónhững đặc điểm gì nổi bật, khác với đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Theo tác giả, cần xác định thật rõđối tượng tham gia BHXHtựnguyện đểtránhđến mức thấp nhất việc các doanh nghiệp không đóng BHXH bắt buộc cho NLĐ, mà hướng NLĐ tham gia BHXH tự nguyện, bởi nếu đóng BHXH bắt buộc thì chủ sử dụng lao động phải có trách nhiệm đóng, và mức đóng phải tuân thủ các quy định của pháp luật [114, tr.66]. Những phân tích, lý giải trong bài viếtđã làm sáng rõ những nội dung cơ bản, chủ yếu của pháp luật về BHXH tự nguyện, sự khác biệt cơ bản giữa hai loại hình BHXH tự nguyện và BHXH bắt buộc. Đó là những vấn đề có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.

Sách chuyên khảo Quyền an sinh xãhộivàbảođảm thực hiện trong pháp luật Việt Nam do PGS.TS LêThịHoài Thu chủ biên (2014), đã tiếpcậnBHXH Việt Nam trong vai trò là trụ cột chính bảo đảm quyền ASXH của người dân. Dựa trên quy định của Luật BHXH 2014, tác giả đã phân tích, làm rõmột số vấn đề lýluận về quyền được hưởngthu nhậpcủangười dân, thông qua BHXH bắt buộc vàBHXH tự nguyện; nguyên tắc, giải pháp xây dựng quỹ tài chính ASXH để đảm bảo quyền lợi cho các đốitượng được bảo vệ khitham gia các loại hình BHXH [115].Đólà những vấn đề không chỉ có ý nghĩa lý luận, mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật BHXH ở Việt Nam trong giaiđoạn mới.

19

Nghiên cứu ASXH cho NLĐ di cư tự do, năm 2019, Nguyễn Thị Hồng Cẩm chủ biên cuốn sách chuyên khảo An sinh xã hội đối với lao động di cư tự do trong nước. Cuốn sách đã phân tích xu hướng, đặc điểm lao động di cư tự do và vấn đềbảo đảm ASXH qua một số chính sách, quy định pháp luật cụ thể. Trong đó, tác giảđã dành một phần viết về lao động di cư tự do ở khu vực phi chính thức. Từ đó,đặt vấn đềvềsựcần thiết phải có chính sách BHXH phù hợp,đảm bảo ASXH cho nhóm đối tượng này. Theo tác giả, di cư tự do là một hiện tượng có xu hướng ngày càng tăng, do quá trình lao động ởnông thôn đổvềthànhphốtìm việc làm, và chuyển dịch cơ cấu kinh tếgiữa các vùng miền. Do đó,mởrộng diện bao phủBHXH tựnguyện ởkhu vực lao động phi chính thức có ý nghĩa quan trọng trong chính sách ASXH của quốc gia [17]. Nhiều vấn đề được đề cập trong cuốn sách có ý nghĩa gợi mở để nghiên cứu pháp luật về BHXH tự nguyện ở Việt Nam.

Báo cáo tổng quan Kinh nghiệm quốctế về Bảo hiểm xã hộicủa mộtsố nước

trên thế giới của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2023) gồm hai phần: Phần thứ nhất, tổng quan kinh nghiệm các nước được nghiên cứu dựa trên các nhóm nội dung: (i) Vấn đề xây dựng BHXH đa tầng; (ii) Vấn đề mở rộng đối tượng tham gia BHXH; (iii) Vấn đềquy định các chếtài nhằm giảm tình trạng chậm đóng, trốn

đóng BHXH; (iv) Vấn đềquy định việc nhận BHXH một lần…Những nhận xét,đánh giá trong báo cáo dựa trên tổng hợp kinh nghiệm về BHXH của khoảng 30 quốc gia, như: Thái Lan, Philippin, Singapore, Malaysia, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn

Quốc, Pháp,Đức,Hà Lan, Séc, Ý, Anh, Mỹ, Canada, Braxin,… Theo đó, “Không có quốc gia đang phát triển nào thành công trong việc mởrộng diện bao phủBHXH nếu chỉ trông chờ vào việc quy định người lao động tham gia BHXH bắt buộc. Tất cảcác nước thành công trong việc mởrộng diện bao phủBHXH đều kết hợp hài hòa giữa quy định việc tham gia BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện có sự hỗ trợcủa nhà nước”.ĐốivớiBHXH tựnguyện, theo báo cáo, kinh nghiệm củanhiều quốc gia cho thấy, “mở rộng diện bao phủ bằng tăng số lượng đối tượng tham gia tựnguyện thường không mang lại những kết quảnổi bật… Cácnước đã có kinh nghiệm thành công là những nước đã dần dần mởrộng góichếđộnày (hưu trí)

20

bằng cách đưa vào các chế độ y tế, các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản,trợcấp cho trẻ em và chế độ tai nạn lao động theo diện BHXH tự nguyện”. Phần thứhai, Báo cáođã tổng quan vềquy định,nội dung của chính sách BHXH ởmột sốquốc gia trên thếgiới. Trong đó, có những nội dungchủyếu, như: xây dựng hệthống BHXH đa tầng; vấn đềmởrộng đối tượng tham gia BHXH; vấn đềchếtài nhằm giảm tình trạng chậm đóng, trốn đóng BHXH; quy định về việc nhận BHXH một lần; quy định về mô hình tổ chức cơ quan thực hiện BHXH. Để mở rộng diện bao phủ của BHXH, kinh nghiệm của các nước là: (i) Tiến hành cải cách pháp lý vàchính sách; (ii) Chính thức hóa việc làm phi chính thức [11]. Với những nội dung cơ bản trên đây, Báo cáo tổng quan Kinh nghiệm quốctếvềBảo hiểm xã hộicủa

một số nước trên thế giớicủa BộLao động – Thương binh và Xã hội là một tài liệu tham khảo có giá trị trong việc bổsung, hoàn thiện chính sách và nghiên cứu BHXH nói chung, pháp luật về BHXH tự nguyện ở Việt Nam nói riêng.

1.2. Tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật vềbảo hiểm xã hội tựnguyện và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam

Những nghiên cứu vềpháp luật BHXH tựnguyện ởViệt Namchủyếu tập trung vào hai nhóm vấn đề: thực trạng pháp luật về BHXH tự nguyện và thực tiễn thực hiện pháp luật về BHXH. Tuy nhiên, việc chia tách hai nhómvấn đề chỉ có ý nghĩa tương đối. Trên thực tế, các công trình nghiên cứu, từ bài báo khoa học, sách chuyên khảo, báo cáo tổng kết đề tài, đến luận án, văn văn, đều lồng ghép, kết hợp hai nhóm vấn đề nêu trên. Bởi vậy, khi tổng quan tình hình nghiên cứu thực trạng về BHXH tự nguyện và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam, NCS chia nhóm theo theo nội dung được đề cập trong các công trình nghiên cứu. Một công trình nghiên cứu, vì vậy có thể được dẫn ở các nội dung khác nhau.

1.2.1. Nhóm các công trình nghiên cứu thực trạng pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam

Giang Thanh Long (2004) trong bài viết “Hệthống hưu trí Việt Nam: Hiện trạng và những thách thức trong điều kiện dân số già hóa” đã tập trung bàn về tính bền vững tài chính của hệthống hưu trí và khảnăng đảm bảo quyền lợi chođối

21

tượng hưu trí trong điều kiện dân sốViệt Nam đang ngày một già hóa. Dựa vào những dự báo của Liên hợp quốc về tốc độ già hóa dân số và xu hướng tuổi thọ gia tăng của người Việt Nam đến năm 2050, kết hợp với phương pháp dự báo thống kê của ILO, tác giả đã phân tích, đánh giá khả năng tài chính của hệ thống hưu trí Việt Nam.Từđó,đềxuất một sốkiến nghị cải cách hệthống hưu tríởViệt Nam, bao gồm: (i) cắt giảm mức hưởng lương hưu, bảo đảm sự công bằng cho các đối tượng tham gia; (ii) chuyển từhệthống hưu trí PAYG với mức hưởng được xác định trước, sang hệ thống tài khoản cá nhân để chuyển hóa khoản nợ lương hưu tiềm ẩn của hệ thống hưu trí PAYG thành các khoản nợ hiện hữu. Bên cạnh đó là những đềxuất xây dựng khung pháp lý, phù hợp với xu hướng cải cách hệ thống hưu trí, như:

việc quản lý hệthống hưu trí nên chuyển từthẩm quyền của Chính phủsang tư nhân, dưới hình thức quỹ tiết kiệm; công khai, phổ biến thông tin về hoạt động của hệthống hưu trí [64]. Những phân tích, kiến giải, đềxuất của Giang Thanh Long được nhìn từ góc độ kinh tế học. Tuy nhiên, những đề xuất của tác giả lại liên quanđến khung khổ pháp lý của Luật BHXH, vì vậy có giá trị tham khảo đối với luận án trong quá trình nghiên cứu đề xuất giải pháp sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật vềchế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện.

Chuyên khảo Bảo hiểm hưu trí do Nguyễn Tiệp chủ biên (2009) đã trình bày nhiều vấn đề về lýluận và thực trạng hệ thống Bảo hiểm hưu trí ở Việt Nam, giaiđoạn 2001-2007. Cuốn sách bước đầu đề cập đến phương pháp xác định tuổi hưu trícủa NLĐ. Theo đó, có hai căn cứ để xác định tuổi nghỉ hưu, là cơ sở sinh học và cơ sởkinh tế- xã hội. Với quanđiểm này, việc xác định tuổi hưu trí khôngchỉphải phù hợp với xu hướng gia tăng tuổi thọ của NLĐ, mà còn phải phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội ở mỗi quốc gia. Điều này góp phần đảm bảo cân đối thu – chi của quỹhưu trí [89].Đâylà những vấn đềcó ý nghĩa lý luận đểnghiên cứu thực

trạng pháp luật BHXHtựnguyện ởViệt Nam, như mức đóng –hưởng; thời gianđóng, chế độ hưu trí của NLĐ tham gia BHXH tự nguyện.

Không bàn trực tiếp về chế độ hưu trí ở Việt Nam, nhưng cuốn chuyên khảo Pháp luật an sinh xã hội – kinh nghiệm của một số nước đối với Việt Nam của Trần

22

Hoàng Hải và Lê Thị Thúy Hương (2011) cũng đề cập đến một số vấn đề liên quanđến chếđộhưu tríởViệt Nam và cácnước Hoa Kỳ, Đức, Liên Bang Nga trong pháp luật ASXH. Ở chương 3 “Pháp luật về an sinh xã hội của Việt Nam”, các tác giả giới thiệu khái quát hệ thống ASXH Việt Nam, trong đó chế độ hưu trí là một thành tố. Từ những kinh nghiệm thực hiện pháp luật về ASXHcủa một số nước,các tác giả rút ra nhiều vấn đề có thể vận dụng vào quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật về ASXH ở Việt Nam, như: xây dựng mô hình BHXH tự nguyện ở Việt Nam, cần có chế độ bảo hiểm cho nông dân; cần phải xây dựng mô hình quỹ hưu trí mới phù hợp với thực tiễn, khắc phục những khó khăn về tài chính của quỹ hưu trí [43].Đólà những gợi mởcho việc nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật vềBHXH tựnguyện trong giai đoạn hiện nay.

Trong báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp Bộ “Cơ sở khoa học hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam”, LêThịQuế(2012) (chủ nhiệm) đã phân tích đánh giá thực trạng chính sách BHXH tự nguyện Việt Nam sau 4 nămáp dụng. Trên cơ sở tham chiếu chính sách BHXH tự nguyện của một số nước, nhưPháp, cácnướcĐông Âu, Trung Quốc, Indonesia, tácgiảchỉra những bấtcập về chính sách BHXHtựnguyện ở Việt Nam. Từđó, đề xuấtmộtsố giải pháp, kiến

nghị hoàn thiện chính sách BHXHtự nguyện giaiđoạn 2010 –2020 [75]. Những phân tích, đánh giá của tác giả đều dựa trên số liệu thứ cấp.

Bàiviết “Bảo hiểm hưu trí ở Việt Nam: thực trạng và thách thức” của Điều Bá Được (2013) đã phân tích, đánh giá thực trạng bảo hiểm hưu trí ở Việt Nam dựa trên số liệu thống kê tỷ lệ NLĐ tham gia BHXH, độ tuổi nghỉ hưu, mức hưởng, tuổi thọ trung bình. Theo tác giả, từ năm 1995 – 2012, hàng nămsốthu vào Quỹ Hưu trí, tửtuất đều lớn hơn số chi. Tuy nhiên, trong tương lai, số người nghỉ hưu hưởng từQuỹBHXH càng nhiều.Dựbáođếnnăm 2023,QuỹHưu trí,tửtuấtsẽcósốthu bằng số chi. Từ năm 2024trởđi, ngoài số thu trong năm, phải trích sử dụng thêm tiền cân đối của các nămtrước mớiđảmbảo đủ chi. Đến năm 2037, số thu BHXH trong năm và số tồn tích bắt đầu không đảm bảo khả năng chi trả. Các năm sau đó, số chi sẽ lớn hơn nhiều so với số thu trong năm. Do đó, Quỹ Hưu trí, tử tuất tiềm ẩn

23

nguy cơ mấtcânđốitrong dài hạn. Nguyên nhândẫnđếnthực trạngđó,theo tác giả, là do: Quy định về tuổi nghỉ hưu hiện hành còn thấp; Quy định trần tuổiđược nghỉ hưu sớmquá thấp; mức đóng góp theo quy định hiện hành chưa tương xứng vớimức hưởng,đặc biệtlà phần đóng góp từ phía người lao động; cách tính lương hưu còn chưa phù hợp, việc trừ tỷ lệ % hưởng đốivớingườinghỉ hưu sớm, cũng như việc bù bằng mức lương tối thiểu chung đốivớicác trường hợp có mức lương hưu thấp còn chưa hợp lý; quy định về hưởng BHXH một lần quá rộng, không đảm bảo mục đích ASXH; đầu tư tăng trưởng Quỹ BHXH, trong đó có Quỹ Hưu trí, tửtuất, tuy đảm bảo chặt chẽ, an toàn nhưng hiệu quả đầu tư chưa cao. Từ đó, tác giảđề xuất, kiếnnghịmộtsố giảipháp để bảo đảmASXH một cách bền vững: (i) Tăng cườnglãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách, chếđộ về BHXH, hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật BHXH. (ii) Hiện đạihóa quản lý BHXH, nâng cao năng lực quản lý, chất lượng dịch vụ,thực hiện minh bạch, công khai các thủ tục thực hiện BHXH, giảm phiền hà cho người tham gia và thụ hưởng. (iii) Tăng cường quản lý nhà nước về BHXH, thực hiện tốt hơn sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước và BHXH các cấp; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật BHXH. Mặt khác, cần điều chỉnh một số chính sách, như: “áp dụng nâng trần tuổi nghỉ hưu sớm(ít nhất 50 tuổiđốivớinữ,55 tuổiđốivớinam); nâng điều kiện về thời gian đóng BHXH lên từ đủ 25 năm (hiện là 20 năm) trở lên mới được nghỉ hưu trước tuổi; nâng tỷlệ% trừ cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi lên ít nhất là 2% (hiện là 1%); bỏquyđịnhbù lương hưu bằngmứclương tối thiểu chungđối với những trường hợp lương hưu thấp; nâng tuổi nghỉ hưu đối với cả lao động nam – nữ, theo nhómđốitượng và lộ trình phù hợp, nghiên cứu bổ sung chế độ hưu xã hội trên cơ sở hoàn thiện chế độ trợ cấp người cao tuổi như quy định hiện hành” [138].

Một sốđềtài nghiên cứu khoa học cấp Bộ,như:“Thực trạng và giải pháp phòng chống lạm dụng quỹbảo hiểm xãhội”của Điều Bá Được (2012),“Chếđộhưu trí, tử tuất theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội – Thực trạng và kiến nghịhoàn thiện”của Hoàng ThịKim Dung (2014)đã phân tích làm rõ đặc điểm,đối

24

tượng được hưởng chế độ hưu trí, tử tuất theo quy định của pháp luật BHXH Việt Nam. Bên cạnh đó,các tácgiảđã nghiên cứu, phân tích, đánh giá một sốvấn đề, như: quyền được bảo vệ của NLĐ về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội khiđến tuổi nghỉ hưu, hay khi qua đời; thực trạng của chế độ hưu trí, tử tuất theo quy định pháp luật trong thực tiễn đời sống; các giải pháp hoàn thiện chế độ BHXH và quỹ BHXH phù hợp với bối cảnh kinh tế xã hội Việt Nam [41], [32]. Những nghiên cứu về thực trạng pháp luật vềBHXH tựnguyện ởcác công trình nêu trên đều dựa trên Luật BHXH 2006 và các văn bản pháp lý có liên quan.

Bài viết “Điều chỉnh tuổi nghỉ hưu dưới góc nhìnlợi ích”của Nguyễn Hữu Chí (2017) đã phân tích tác động của việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu đối với kinh tế- xã hội Việt Nam. Theo tác giả, tăng tuổi nghỉ hưu là xu hướng chung của nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, tuổi nghỉ hưu đangđược quy địnhtương đối thấp. Tăng tuổi nghỉ hưu trong bối cảnh tuổi thọ trung bình của người Việt Nam ngày càng cao, tốc độ già hóa dân số ngày càng nhanh, là cần thiết, góp phần giảm

bớt áplựccho quỹBHXH nói chung, quỹhưu trí–tửtuất, nói riêng [19]. Tuy nhiên, tăng tuổi nghỉ hưu của NLĐ không đơn thuần chỉ là vấn đề kinh tế, xã hội. Nó còn liên quan đến nhiều khía cạnh pháp lý trong Luật Lao động, Luật BHXH. Vì vậy, nhiều vấn đềtácgiảđềcập trong bài viết cần phải được phân tích, kiến giải một cách sâu sắc, toàn diện hơn.

Đềtài nghiên cứu khoa học cấp Bộ“Hoàn thiện chính sách và đềxuất quy trình thực hiện bảohiểm xãhộitựnguyện đối với laođộng phi chính thức ởViệt Nam”của Hoàng Văn Cương và các cộng sự(2018) đềcập đến nhiều vấn đềlýluận, cơ chế chính sách trong pháp luật về BHXH tự nguyện. Trong báo cáo kết quảnghiên cứu, ở phần đánh giá thực trạng, các tác giả đã dựa trên 7 tiêu chí cụ thể: (i) Mức độ bao phủ của hệ thống BHXH tự nguyện; (ii) Mức độ tác động của hệ thống BHXH tựnguyện; (iii) Mức độbền vững vềtài chính của hệthống BHXHtựnguyện; (iv) Tốc độphát triển và tỷlệhoàn thành kếhoạch sốlượng tham gia BHXH tự nguyện; (vi) Tốc độ phát triển và tỷ lệ hoàn thành kế hoạch số thu BHXH

tự nguyện; (vi) Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch số thu BHXH tự nguyện; (vii) Đối tượng

25

được hưởng BHXH tự nguyện. Đây là hệ thống tiêu chí tương đối đầy đủ, khoa họcđể đánh giá thực trạng BHXH tự nguyện đối với lao động phi chính thức [28].

Trong nghiêncứu “Các giải pháp thúc đẩy bảo hiểm xã hội tự nguyện nhằm thực hiện an sinh xã hội bền vững ở Việt Nam” của Hoàng Văn Cương (2019), tác giả cho rằng chế độ hưởng của người tham gia BHXH tự nguyện (quy định ở Điều 4 Luật BHXH năm 2006 và Luật BHXH năm 2014)“thểhiện sựkhông công bằng trong chế độ hưởng đối với người tham gia BHXH tự nguyện”. Về thủ tục đóng và mức đóng, theo tác giả, “Nhà nước đã có những quy định mở rộng và linh hoạt hơn vềmức đóng và chếđộđóng BHXHtựnguyện theo Thông tưsố01/2016/TT- BLĐTBXH” [29, tr.20]. Tuy nhiên, “theo quy định trên thì vấn đề hộ khẩu và nơi cư trú dài hạn là một điều kiện tiên quyết trong việc làmthủtục đóng BHXHtựnguyện, mà điều kiện này, nếu áp dụng vào đối tượng là lao động tựdo, lao động phi chính thức với bản chất khôngổn định trong cảcông việc và nơi làm việc, di chuyển liên tục thì rất khó cóthểtạo ra sựhấp dẫn đối với đối tượng này tham gia được” [29, tr.21]. Theo quyđịnh của Nghịđịnh số134/2015/NĐ-CP có hiệu lực từngày 01/01/2016, việc hỗ trợ tiền đóng BHXH của Nhà nước đối với người tham gia BHXH tựnguyện được thực hiện từngày 01/01/2018. Tuy nhiên, “đối với đối tượng lao động phi chính thức lại không có chính sách cụ thể, riêng biệt nào. Do đókhó có thểkhuyến khích hoặc thu hútđối tượng này tham gia loại hình BHXHtựnguyện. Mà chính đối tượng này lại chiếm khá cao trong lực lượng lao động” [29, tr.22]. Trong khi đó, “mức đóng còn khá cao so với đại bộphận người dânởkhu vực nông thôn và lao động ở khu vực phi chính thức, các quy định về phương thức đóng còn chưa thật sự linh hoạt” [29, tr.23].

BùiSỹ Lợi(2019) trong Báo cáo kết quảđềtài khoahọccấpBộ: “Nghiên cứu giải pháp mở rộng diện bao phủ BHXH đốivớilao động khu vực phi chính thức tại Việt Nam” đãphân tích, đánh giá mức độ bao phủ của chế độ hưu trí và chế độ tửtuất trong BHXH tự nguyện. Trong các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng diện bao phủ BHXH tự nguyện, theo các tác giả, chính sách pháp luật “là nhân tố có tác động rất tổng hợp”.Bởi lẽ, “chính sách BHXH tự nguyện là một chính sách xã hội

26

nhưng lại có mối quan hệ rất chặt chẽ với các chính sách kinh tế – xã hội khác của quốc gia như: chính sách lao động việc làm, chính sách trợ giúp xã hội… Mục tiêu của chính sách này là nhằm bảo vệ, che chắn cho người lao động thuộc khu vực kinh tế phi chính thức, lao động nông nghiệp nông thôn (hay nói khác đi là những laođộng không có quan hệlaođộng)”. Chính sách pháp luật triển khai BHXH tựnguyện ở Việt Nam, theo đánh giá của các tác giả, nhìn chung là tương đồng với các nước trên thế giới, chỉ khác ở chỗ, Việt Nam thực hiện hai chế độ gắn liền với nhau làhưu trí và tử tuất, không có bảo hiểm mất sức lao động [65, tr.33]. Việc bỏ quy định vềtuổi trần tham gia BHXHtựnguyện, tạo điều kiện cho những đối tượng đã hết tuổi lao động (Nam từ đủ 60 tuổi trở lên và Nữ từ đủ 55 tuổi trở lên) nhưng có nhu cầu và đủ điều kiện được thamgia BHXH tự nguyện “là điểm mới nổi bật và mang tính ưu việt của Luật BHXH năm 2014, góp phần mở rộng đối tượng tham gia BHXH

tự nguyện” [65, tr.60]; “Phương thức đóng góp đối với những người tham gia BHXH

tự nguyện cũng rất linh hoạt” [65, tr.62]. Đó là những nhận xét có cơ sở. Do mục tiêu nghiên cứu là “giải pháp mở rộng diện bao phủ BHXH đốivớilao động khu vực phi chính thức”, vì vậy, các tác giả không đi sâu phân tích, lý giải các khía cạnh pháp lý của những quy định pháp luật về BHXH tự nguyện ở Việt Nam hiện nay.

Trong luận án tiến sĩ“Vai trò của Nhà nướctrongbảođảmASXHởViệt Nam”, ngành Kinh tế, NguyễnThịNhung (2021)đãphân tích khung lý thuyết và

mô tả chính sách về BHXH của Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2020, thể hiện qua 3 nhóm: (i) Nhóm chính sách ASXH hướng tới phòng ngừa rủi ro; (ii) Nhóm chính sách ASXH khắc phục rủi ro; (iii) Nhóm chính sách ASXH nhằm giảm thiểu rủi ro (BHXH, BHYT, BHTN). Dựa vàotỷlệ baophủtiềm năngvề BHXH và mức độbao phủ thực tế về BHXH, tác giả cho rằng,độ bao phủ của BHXH còn hạn chế, nhất là ở BHXHtự nguyện.Dựatrên những phân tích số liệu thống kê, tácgiảlý

giải nguyên nhân dẫn tớitỷ lệ bao phủ thấp là do các chính sách của BHXHtự nguyện chưa hấp dẫn đốivớiNLĐ; NLĐ chưa đủ khả năng tài chính để đóng BHXH tự nguyện/ hoặc chưa nhận thứcđượclợiíchcủaviệc tham gia BHXH tự nguyện.Từ đó,tác giả đề xuấtmộtsố giảipháp mở rộng diện bao phủ BHXH, bao

27

gồmhai loại hình BHXHbắtbuộc và BHXHtự nguyện [70] Những phân tích lýgiải là không mới, chưa thể hiện được những tồn tại,bấtcập của pháp luật hiện hành về BHXH tự nguyện.

Trong luận án tiến sĩ Luật họccủa Phạm ThịThi (2021)vớiđềtài “Hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam”, ở hai chương 3 và 4, tác giả đã làm rõ một số vấn đề pháp lý về chế độ hưu trí trong BHXH, như:đặc điểm,vai trò của chế độ hưu trí; nguyên tắc của pháp luật về chế độ hưu trí. Những điểm tương đồng, khác biệt giữa chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện được tác giả phân tích, lý giải cụ thể ở nhiều phương diện (đối tượng, mức hưởng, thời gian hưởng…). Bên cạnh đó,tác giảđã làm rõ một sốvấn đềlý luận vềChương trình Hưu trí bổ sung tự nguyện. Trên cơ sở đó, tác giả định hướng,đề xuất một số giải pháp, nhằm hoàn thiện pháp luật vềchếđộhưu tríởViệt Nam [110]. Tuy nhiên, những phân tích, lý giải thực trạng pháp luật về BHXH tự nguyện trong luận án là không nhiều,chỉ gợi mở một số vấn đề.

Trong bài viết “Bảo hiểm hưu trí một lần trên thế giới và một số kinh nghiệm của Việt Nam” (2022) Nguyễn Thị Lệ Huyền đã khái lược về bảy chương trình bắt buộc bảo vệ thu nhập khi tuổi già của các nước Cộng hòa Séc, Hà Lan, Thụy Điển,Úc, Indonesia. Đó là các chương trình: Trợ cấp hưu đóng góp mức hưởng đồng đều

(Contributory flat-rate pension); Trợ cấp hưu đóng góp mức hưởng theo tiền lương (Contributory earnings-related pension); Trợ cấphưu không đóng góp thẩmđịnh thu nhập (Non-contributory means-tested pension); Trợcấphưu không đóng góp phổ cập (Non-contributory universal pension); Chương trình Quỹ dự phòng” (Provident Funds); Chương trình Trợ cấp hưu nghề nghiệp (Occupational pensions); Chương trình Tài khoản cá nhân” (Individual accounts). Theo tác giả, thực hiện chi trảBHXH hưu trí một lần, NLĐ có thể sử dụng tiền một cách linh hoạt, nhưng cuộc sống của NLĐ và gia đình trong thời gian tuổi già có thể không được đảm bảo. Bởi vậy, đa số các chương trình đều chi trả trợ cấp hưu tríđịnh kỳ,và chitrảBHXH hưu tríđịnh kỳ nhằmđảmbảo dòng thu nhập ổn định cho NLĐ trong suốt quãng đờicòn lại sau nghỉ hưu. Nói cách khác, còn sống là NLĐ còn được hưởng BHXH

28

hưu trí định kỳ. Số dư quỹ được cơ quan BHXH đầu tư nên nguy cơ rủi ro thấp hơn. Số tiền trả định kỳ cũng thường được điều chỉnh nhằm bù đắp lạm phát, do đó đảm bảo ASXH. Từ đó, tác giả cho rằng, đối chiếu với các quy định hiện hành về BHXH một lần ở Việt Nam, có thể thấy rằng Việt Nam đã quy định khá đầy đủ và phù hợp về BHXH mộtlần. Nhằm đảm bảoASXH, cơ quan BHXH cầntiếptụctruyền thông để NLĐ hiểu rõ ý nghĩa của việc tham giaBHXH để được hưởng bảohiểm hưu trí dài hạn, hạn chế việc hưởng BHXH mộtlần[140]. Thực tế diễn ra thời gian qua cho thấy, những đánh giá, kiến nghị, đề xuất trong bài viết của tác giả, cần phải được xem xét một cách toàn diện,cảvềkhía cạnh pháp lý và sựtácđộng của nó đến hệ thống ASXH của đất nước.

Trong báo cáo “Đánh giá thực trạng và thực tiễn thi hành pháp luật bảo hiểm xãhộinăm 2014”tại Hội thảo Khoa học “Góp ý Dựthảo Luật Bảo hiểm xãhội”(2023), Lê Thị Hoài Thu đã đưa ra một cái nhìn bao quát về thực trạng, thực tiễn thi hành pháp luật BHXH hiện hành. Nhận xét, đánh giá thực trạng, thực tiễn pháp luật về BHXH tự nguyện hiện hành, tác giả nêu lên một số thành tựu nổi bật như mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện; có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH tựnguyện cho người tham gia; quản lý quỹthống nhất, đồng bộ; ghi nhận

cụ thể rõràng về chủ thể…,đồng thời chỉ ra những tồn tại, hạn chế cần điều chỉnh, bổ sung.Từ đó,tác giả kiến nghị “Thực hiện lộ trình để dẫn tới sự cân bằng về lợi ích giữa người tham gia BHXH bắt buộc và người tham gia BHXH tự nguyện. Cần đơn giản hóa các quy định về mức đóng và phương thức đóng BHXH tự nguyện để

tạo điều kiện thuận lợi nhất cho NLĐ có nhu cầu tham gia” [116].

Trong báo cáo “Một vài ý kiến bình luậnvềchếđộbảo hiểm hưu trí trong Dự thảo luật BHXH năm 2023”, khi bàn về chính sách hưu trí được quy định trong Luật BHXH 2014, Đào Mộng Điệp (2023) cho rằng, “Chính sách BHXH tự nguyện chưa thật sựhấp dẫn người tham gia” [38], và xemđónhư một nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ NLĐ tham gia BHXH tự nguyện còn thấp.

Trong bàiviết “Pháp luật Việt Nam về BHXH tự nguyện và một số kiến nghị

sửa đổi” in trongKỷyếu Hội thảo khoa học Quốc tế: Pháp luật vềBHXH–kinh

29

nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức và Việt Nam, Phạm Thị Thuý Nga (2023) đã có những phân tích, đánh giá cụ thể, sâu sắc, về thực trạng, thực tiễn pháp luật vềBHXH tự nguyện Việt Nam hiện hành. Theo tác giả, bên cạnh những thành tựu đã đạt được,pháp luật vềBHXH tựnguyện hiện hànhởViệt Nam còn nhiều tồn tại, hạn chế. Đơncử, một sốquy định,chính sách vềBHXH tựnguyện trong luật BHXH hiện hành còn bất cập, không phù hợp với thực tiễn, như: quy định tuổi hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng đối với người cao tuổi (80 tuổi) là cao, so với chếđộ tuổi nghỉ hưu được điều chỉnh tăng theo lộ trình của Luật Lao động 2019; chưa đảm bảo sự công bằng, khi chế độ thai sản, ốm đau không được áp dụng cho BHXH

tự nguyện. Bên cạnh đó, mặc dù đánh giá cao hiệu quả của chính sách hỗ trợ NLĐ tham gia BHXHtựnguyện từngân sách Nhà nước sau khi Nghị quyết số28- NQTW rađời, song tácgiảcho rằng “vẫn còn bất cập”.Theo tác giả, “Bất cập ởchỗ, gần 90% kinh phíhỗ trợ được chicho nhóm đối tượng “những người tham gia khác” mang tính “cào bằng” đối với nhómđối tượng tham gia khác, mọi người tham gia đều được hưởng một mức hỗ trợ như nhau đã khiến cho nguồn lực hỗ trợbị phân tán, chưa tập trung vào nhóm đối tượng thực sự cần hỗ trợ từ ngân sách Nhànước”[67]. Những phân tích, kiến giải của tác giảvềthực trạng pháp luật vềBHXH tự nguyện hiện hành là có cơ sở. Song, do khuôn khổ một báo cáo khoa học, nhiều vấn đề chưa được xem xét, đánh giá một cách toàn diện, sâu sắc.

Ngoài những bài báo khoa học, sách chuyên khảo, báo cáođềtài, luận án, những năm gần đây, ở các cơ sở đào tạo Sau đại học trong nước, còn có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu BHXH tự nguyện Việt Nam. Nhìn chung, các luận văn đều đi theo mô hình cấu trúc: khảo sát, phân tích thực trạng pháp luật BHXH/ thực trạng pháp luật về BHXH tự nguyện,đề xuấtgiải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật. Có thể kể đến một số luận văn, như: “Thực trạng pháp luậtvề bảo hiểmxã hội

tựnguyện ở Việt Nam” của Võ Lan Anh (2015), Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; “Chế độ hưu trí trong quy định Luật bảo hiểm xã hội, thực trạng tại thành phố

HàNội”củaNguyễn ThếMừng (2015) [66]; “Bảo hiểm hưu trí–Thực trạng và kiến nghị” của Nguyễn Lê Huyền (2015) [47]; “Chế độ tử tuất trong Luật Bảo hiểm

30

xã hội ởViệt Nam”củaNguyễn ThịHải Yến(2015) [127]; “Pháp luật vềchếđộhưu trí trong Bảo hiểm xã hội tự nguyện”, của Dương Thị Thùy Trang (2016) [118], “Pháp luậtvề bảo hiểm hưu trítựnguyện ở Việt Nam” của Âu Xuân Ánh (2020)

[1],… Trong các luận văn, một số vấn đề lý luận về BHXH tự nguyện, pháp luậtvề BHXH tự nguyện, đã được các tác giả hệ thống, làm cơ sở lý luận để phân tích đánh giá thực trạng BHXHtự nguyện ở mộtđịa phương trong nước.Những phân tích thực trạng pháp luật về BHXH tự nguyện trong các luận văn, nhìn chung chưa bao quátđược các vấn đề,thiếu điểm nhấn.

1.2.2. Nhóm các công trình nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật vềbảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam

Đồng Quốc Đạt (2008) trong bài viết “Bảo hiểm xã hội khu vực phi chính thức ở Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị” đã tập trung phân tích, lý giải, vì sao ởkhu vực phi chính thức, NLĐ ít tham gia bảo hiểm. Theo tác giả, có các nguyên nhân chủyếu, như: thu nhập thấp, không ổn định;việc làm bấp bênh; thiếu hiểu biết và không có thông tinvềchính sách, chếđộBHXH.Từđó,tác giảđềxuất cần hình thành quỹ BHXH tự nguyện có sự bảo hộ của Nhà nước; cải cách thủ tục thanh toán nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia; phối hợp Chương trình BHXH với Chương trình mục tiêu khác (Chương trình việc làm, giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội); đẩy mạnh thông tin tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người laođộng ởkhu vực phi chính thức [36]. Tuy nhiên, bài viết chưađềxuất được những giải pháp căn cơđểgiải quyết thực trạng NLĐởkhu vực phi chính thức ít tham gia BHXH.

NghiêncứuĐềtài:“An sinh Xã hộikhu vựcphi chính thức: Cần xácđịnh

bảo hiểm xã hộilà lướiquan trọng”nhóm tác giả BùiSỹ Tuấn –ĐỗMinh Hải, Viện Khoa học Lao động và Xã hội (2012) đã phân tích vai trò,tầmquan trọng của BHXH tự nguyện trong ASXH khuvựcphi chính thức.Dựatrên nhữngsốliệu khảo sát, thống kê của BHXH và Tổng cục Thống kê, các tác giả đã nhận diện, phân tích đặc điểm của NLĐ thuộc khu vực lao động phi chính thức. Đó là khu vực, theo các tác giả, không chịu sự điều chỉnh của các Bộ Luật có liên quan đến tổ chức và

31

lao động. NLĐ phi chính thức có nhu cầu tham gia BHXH tự nguyện rất lớn, nhưng sốngườitham gia không nhiều. Đi tìm nguyên nhân của thực trạng đó, các tác giảđã phân tích, lý giảitừ nhiều góc độ, từ đó,đềxuất một số giải pháp thu hút NLĐở khu vực phi chính thức tham gia BHXH tựnguyện [106]. Tuy nhiên, do phạm vi bao quátcủa đề tàilà ASXH nói chung, những vấn đề lý luận liên quan đến BHXH

tựnguyện và pháp luật vềBHXHtựnguyệnđượcđềcậptrong báo cáo là không nhiều. Hầu hết, mới dừng lại ở những phân tích, diễn giải các hiện tượng cụ thể về BHXH ở khu vực kinh tế phi chính thức.

Đề tàinghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu giải pháp mở rộng an sinh xã hộiđồng bộ vớichiến lược phát triển kinh tế – xã hộiđến năm 2020”do Viện KhoahọcLaođộngvà Xãhội(2013) triển khai. Trong đó,nhánh 2 của đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến pháp luật về BHXH tự nguyện với đối tượng NLĐ yếu thế: “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chính sách khuyến khích tham gia bảo hiểm xã hộitự nguyện đốivớilao động nghèo, lao động là người dân tộc thiểu số, nông dân có mức thu nhập từ trung bình trở xuống”. Hướng tiếp cận của đề tàichủ yếu là xã hội học và kinh tế học. Báo cáo tổng kếtđề tàiđã nêu lên một số vấn đề làmcơ sở cho việc hoàn thiện chính sách BHXH tự nguyện. Trong đó, có một số đánh giá chủ yếu, như: NLĐ nghèo và NLĐ dân tộc thiểu số không đủ khảnăng tài chính để tham gia BHXH tự nguyện. Nguồn thu nhập từ làm công ăn lương đóng vai trò quan trọng trong việc tham gia BHXHtựnguyệncủahộgia đình. Ngườinghèo,ngườithu nhập thấp, không tiếpcậnđượcchính sách này.Hộgiađình có NLĐ trên 45 tuổi, có tiềm lực tài chính tốt hơn, do vậy có khả năng tham gia BHXH tự nguyện. Ở vào thờiđiểmluật BHXH 2006 đã bộc lộ nhiều bất cập, trong đó có những vấn đề liên quan đến pháp luật về BHXH tự nguyện, các số liệu điều tra khảo sát, những phân tích, nhận xét trong báo cáo đề tài có ý nghĩa tham khảo để xây dựng, sửa đổichính sách BHXHtựnguyện trong luật BHXH 2014 [124]. Một số vấn đề pháp lý đã được gợi mở, như: mức thu nhập của hộ gia đình

một năm là bao nhiêu được xem là thu nhập trung bình; mức đóng – hưởng, ảnh hưởng thế nào đến khả năng tham gia BHXH tựnguyệncủacácđốitượngđược

32

khảo sát; ngoài yếu tố tài chính/ thu nhập, có những yếu tố nào ảnh hưởng đến khả năng tham gia BHXH tự nguyện của NLĐ nghèo, NLĐ là người dân tộc thiểu số, nông dân có thu nhập từ trung bình trở xuống?… Những vấn đề đó cần được tiếp tụcnghiêncứumột cách toàn diện, sâusắcdựatrênsốliệu khảo sát, thống kê, phân loạicụ thể,ở vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn, như các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền Tây Nam Bộ…

Luận án tiến sĩ“Tổ chứctriển khai Bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam”, ngành Kinh tế, của Hà Văn Sỹ (2016) đã bám sátmộtsố vấn đề chủ yếu của BHXH

tựnguyên, như: phân biệt BHXH tự nguyện và BHXH bắt buộc; cơ chế hoạt động của BHXH tự nguyện;đặc điểmcủa đốitượng tham gia BHXH tự nguyện; hai chếđộ bảo hiểmhưu trí và tử tuất trong BHXH tự nguyện; vai trò của Nhà nước trong BHXH tự nguyệndướigóc nhìn của kinh tế học.Từ đó,tác giả phân tích thực tiễn thực hiện BHXHtựnguyện Việt Nam, trên hai phương diện thành tựu và hạn chế, kể

từkhi pháp luật về BHXH tự nguyện có hiệu lực. Đánh giá thực trạng diện bao phủBHXH tự nguyện còn thấp, tác giả cho rằng, có những nguyên nhân nằmở bấtcập, hạn chế của quy định pháp luật như: mức đóng BHXHtự nguyện còn cao; phương thức đóng bảo hiểm chưa linh hoạt, đa dạng đểngười laođộng lựa chọn; do khống chế tuổi “trần” khitham gia BHXH tự nguyện; quy định về điều kiện hưởng các chếđộ chưa đảm bảo sự bình đẳng giữa hai loại hình BHXH bắt buộc và tự nguyện.[88].

Chọn vấn đềđổi mới hệthống hưu trí trước yêu cầu cải cách ASXH trong thời kỳmới, Nguyễn Duy Cường (2019) nghiên cứu đềtài khoa học cấp Bộ“Đổi

mới hệ thống hưu trí theo định hướng cải cách chính sách BHXH giai đoạn 2020 –2030”.[31] Trên cơ sởtham khảo chếđộhưu tríởcác nước Trung Quốc, Pháp, Thụy Sĩ, Hà Lan và tiêu chí đánh giá hệ thống hưu trí (độ bao phủ; tính linh hoạt vàđa dạng; nguyên tắc vận hành; khả năng cân đối quỹ), nhóm nghiên cứu đã đưa ra những đánh giá thực trạng quy định chính sách vềchếđộhưu trí Việt Nam và dựbáo khả năng cân đối quỹ hưu trí, tử tuất theo Luật BHXH hiện hành. Theo các tác giả, với những nội dung được điều chỉnh trong Luật BHXH năm 2014, tình hình tài chính quỹ hưu trí và tử tuất đã được cải thiện nhiều so với kết quả dự báo năm 2009

33

dựa trên quyđịnh của Luật BHXH 2006. Qua so sánh các công thức điều chỉnh lương hưu, và dự báo những thách thức đối với việc đổi mới, phát triển BHXH Việt

Nam giai đoạn 2020 – 2030, tầm nhìn 2050, các tác giả cho rằng, việc tuân thủ thực hiện đúng quy định của Luật BHXH về điều chỉnh lương hưu sẽ góp phần đáng kểviệc cải thiện khảnăng cân đối quỹhưu trí vàtửtuất. Báo cáo tổng hợp chưa có những phân tích, đánh giá cụthể, riêng biệt, vềchếđộhưu trí trong BHXHtựnguyện. Tuy nhiên, nhiều kết quảnghiên cứu trong báo cáo,đặc biệt là các phương pháp nghiên cứu mà nhóm tác giảsửdụng, gợi mởnhiều vấn đềcó ý nghĩa trong nghiên cứu chế độ hưu trí thuộc BHXH tự nguyện ở Việt Nam.

Nghiên cứu BHXHtựnguyện ởViệt Namtừgóc nhìn kinh tếhọc, ĐỗThịThu (2021) trong luận án tiến sĩ“Phân tích các nhân tố quyết định sự tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam” đã có những phân tích chi tiết, cụ thể thực trạng khung pháp lý, quản lý BHXH tự nguyện giai đoạn 2006-2018, đối tượng tham gia BHXH tự nguyện. Theo tác giả, đối tượng tham gia BHXH tự nguyện theo luật hiện hành đã “bị thu hẹp” so với Luật BHXH 2006. Nguyên nhân là do “có sự mở rộng đối tượng quy định tham gia BHXH bắt buộc” [112, tr.71]. Bàn về mức thu BHXH

tự nguyện theo Nghị định 134/2015/NĐ-CP về BHXH tự nguyện, tác giả cho rằng, “Thực chất, NLĐ phi chính thức khi tham gia BHXHtựnguyện phải chịu mức đóng góp cao hơn tương đối so với NLĐ tham gia BHXH bắt buộc”[112, tr.74]. Và: “Quy định về mức thu nhập tối thiểu được làm căn cứ đóng BHXH tự nguyện là mức chuẩn nghèo khu vực nông thôn làm hạn chế một bộ phận lớn người nghèo khu vực nông thôn (với mức thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo) vì họ không có đủ khả năng đóng góp đểtham gia BHXH bên cạnh các chương trình giảm nghèo” [112, tr.74]. Những nhận xét, đánh giá thực tiễn thực hiện BHXH tự nguyện hiện hành của tác giả, đều dựa trên việc phân tích sốliệu thống kê hàng năm của BHXH Việt Nam. Tác giả cho rằng, “Mặc dù ghi nhận sự tăng lên đáng kể số người tham gia BHXH

tự nguyện qua các năm, nhưng tỷ lệ tham gia thực tế còn thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ bao phủ theo luật định” [112, tr.90]. Theo tác giả, việc mở rộng diện bao phủBHXH tựnguyện đang đối mặt với các thách thức, như: khó khăn vềkhảnăng

34

đóng góp của NLĐ phi chính thức; các rào cản vềquyền lợi, chếđộvà thủtục đăng ký, đóng, hưởng BHXH tự nguyện; các rào cản về thông tin; hạn chế trong việc mở rộng bao phủ BHXH tự nguyện đối với đồng bào dân tộc ít người. Từ góc nhìn kinh tế, đólà những phân tích, kiến giải có cơ sởlý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, để có giải pháp tối ưu mở rộng diện bao phủ BHXH tự nguyện, nhiều vấn đề cần phải được xem xét một cách toàn diện trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Đề tài nghiên cứu “Chiếnlượcphát triển ngành BHXH Việt Nam đếnnăm 2030,tầmnhìn đến năm 2045” do Phạm Lương Sơn (2022) làm chủ nhiệm, đã phân tích, đánh giá kết quảthực hiện Chiếnlượcphát triển BHXH Việt Namđến năm 2020, trongđócó loại hình BHXHtựnguyện. Từđó, tác giả đề xuất những nội dung cơ bản trong Chiến lược phát triển BHXH Việt Namđến năm2030,tầmnhìn đến năm 2045, mà trọng tâm là bổ sung, hoàn thiện pháp luật BHXH, triển khai BHXH đa tầng [87].

Luận án tiến sĩ“Thực hiện pháp luậtvềBảo hiểm xã hộiđốivớiphụ nữ ởnông thôn các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam” của Đỗ Phương Anh (2023) đã nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về BHXH ở cả hai loại hình BHXH bắt buộc và BHXH

tựnguyện, đối với phụ nữ ở nông thôn các tỉnh Bắc Trung Bộ. Tác giả đã có những khảo sát, phân tích, đánh giá khá toàn diện các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng pháp luật và thực tiễn pháp luật về BHXH đốivớiphụ nữ ở nông thôn. Theo tác giả, các tỉnh Bắc Trung Bộ là nơi phụ nữ nông thôn chiếm tỷ lệ cao; lao động sản xuất chịu nhiều ảnh hưởng bởithiên tai, bão lũ. Thu nhập trung bình của phụ nữnông thôn khu vực Bắc Trung Bộ thấp hơn thu nhập của phụ nữ ở các vùng khác. Trong khu vực phi chính thức, NLĐ ở các lĩnh vực sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp không đăng ký kinh doanh, không có quan hệ lao động. Bởivậy, phụ nữnông thôn ít được tiếp cận với chính sách BHXH tự nguyện. Trong bối cảnh đó, mở rộng diện bao phủBHXH tự nguyện cho lao động nữ ở khu vực phi chính thức trên địa bàn nông thôn là hết sứccầnthiết. Áp dụng quy định vềđối tượng đóng trong pháp luật BHXH hiện hành, tác giả cho rằng, “Với các quy định mở rộng hơn về đối tượng áp dụng của pháp luật về chế độ BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và các quy định về biện

35

pháp bảo đảm thực hiện nói trên là cơ sở pháp lý quan trọng mở rộng cơ hội tham gia của phụ nữ ở nông thôn, từng bước góp phần mở rộng diện bao phủ BHXH toàn dân” [2, tr.82]. Đó là đánh giá có cơ sở pháp lý, song cần phải được phân tích, luận giải một cáchcụthể, toàn diện hơn.Đặc biệt làởkhía cạnh bình đẳng giới trong pháp luật Việt Nam.

1.3. Tình hình nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam

1.3.1. Nhóm các công trình nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật vềbảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam

Bài viết“Bàn vềBHXHtựnguyện”của LêThịHoài Thu (2007) đã phân tích những nội dung chủ yếu của luật BHXH, chỉ ra một số tồn tại, bất hợp lý, từ đó,đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về BHXH tự nguyện. Phân tích mức hưởng hưu trí tự nguyện được quy định trong Luật BHXH 2006 (khoản 1, Điều 71), tác giảcho rằng, “trong mức tính hưởng có haiyếu tố màNLĐ rất quan tâm, đó làđầu tư của quỹvà chi phí quản lý, vì hai yếu tốnày có ảnh hưởng đến mức hưởng hàng tháng của NLĐ” [114, tr.68]. Từ đó, tác giả đề xuất “Chính phủ thực hiện cam kết của mình đối với NLĐ là ưu tiênđầu tư vào các dựán có nhu cầu lớn vềvốn do Thủtướng Chính phủquyết định.Hơn nữa cũng cần phải quyđịnh rõvềlãi suất đầu tư khi tính hưởng cho NLĐ thấp nhất cũng phải bằng lãi suất gửi tiết kiệm cókỳhạn một năm, vì đây là khoản tiền gửi dài hạn, phải 20 năm hoặc 30 năm sau NLĐ mới hưởng, tiền sinh lời từ các hoạt động đầu tư quỹ không phải đóng thuế” [114, tr.68]. Về chế độ trợ cấp một lần (Điều 73), theo tác giả, cần phải quy định cụthể trường hợp NLĐ chấm dứt quá trình đóng giữa chừng. Bởi lẽ, “Nếu không có sựcụ thể hóa quy định này thì rất giống với hình thức tiết kiệm cá nhân và mục đích của bảo hiểm tựnguyện khó đạt được, hơn nữa sẽảnh hưởng đến cân đối quỹ” [114, tr.69]. Vềtổchức thực hiện BHXHtựnguyện, tác giảcho rằng,“loại hình BHXH tựnguyện giao cho BHXH Việt Nam là phù hợp với chức năng nhiệm vụcủa tổ chức này. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, việc tổ chức thực hiện BHXH tựnguyện có những phức tạp riêng so với BHXH bắt buộc… Chính vì lý do đó, cần

36

phải có cơ chế giám sát, kiểm tra chặt chẽ trong việc thu, chi, quản lý quỹ BHXH tựnguyện, hạn chế đến mức thấp nhất mọi rủi ro xẩy ra” [114, tr.69]. Ý kiến của tác giả dựa trên những phân tích, lập luận từ khoa học pháp lý và “dự báo” những tình huống pháp lý phát sinh trong thực tiễn,đặc biệt làquy định chế độ trợ cấp một lần. Trong Luật BHXH 2014, sửa đổi thay thế cho Luật BHXH 2006, quy định này vẫn được giữ nguyên (Điều 77). Hiện tượng NLĐ rút BHXH thời gian qua đã cho thấy, những phân tích kiến giải của Lê Thị Hoài Thu trong bài viết là có cơ sở lý luận và thực tiễn, cần được nghiên cứu sâu, toàn diện hơn trong quá trình dựthảo Luật BHXH sửa đổi, để thay thế Luật BHXH 2014.

Trong chuyênđềCác giải pháp thúcđẩy BHXHtựnguyện nhằm thực hiện ASXH bền vững ở Việt Nam, Hoàng Văn Cương (2019) đề xuất giải pháp, quy trình thực hiện BHXH tự nguyện. Theo tác giả, “Sớm sửa đổi, bổ sung một số điều còn bất cập trong Luật BHXH năm 2014, nhằm tạo sựbình đẳng giữa 2 loại hình BHXH bắt buộc và tự nguyện”. Cụ thể: “Tại Điểm a Khoản 1 Điều 80 về điều kiện hưởng trợ cấp mai táng cho thân nhân: “Người lao động có thời gian đóng BHXH

từ đủ 60 tháng trở lên”, nên sửa lại là: “Người lao động có thời gian đóng BHXH từđủ 12 tháng trở lên”. Về mức lương hưu hằng tháng, trong Điều 74 về mức lương hưu hằng tháng cho người lao động tham gia BHXH tự nguyện, không có quy định mức lương hưu tối thiểu hàng tháng. Vì vậy, nên bổsung quy định:“Mức lương hưu hàng tháng thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn”. Mặt khác, trong chế độ tử tuất của BHXH bắt buộc, có quy định cả về trợ cấp tuất một lần và hàng tháng, nhưng trong BHXHtựnguyện chỉcó quy định vềtrợcấp tuất một lần mà không có quy định về trợ cấp tuất hàng tháng. Do đó, cần bổ sung quy định trợ cấp tuất hàng tháng cho BHXH tự nguyện để đảm bảo quyền lợi cho người tham gia và tạo sự bình đẳng giữa 2 loại hình. Ngoài ra, đối với BHXH bắt buộc áp dụng 5 chếđộ, nhưng BHXHtựnguyện mới triển khai có 2chếđộhưu trí và tửtuất, còn 3chếđộốm đau, thai sản, tai nạn lao động chưa được áp dụng, trong tương lai nên nghiên cứu và bổsung thêm 3 chếđộcòn lại giống như BHXH bắt buộc để đảm bảo quyền lợi và tạo sự hấp dẫn cho người tham gia [29, tr.30-31]. Có

37

thể thấy, đây là những đề xuất có cơ sở pháp lý. Tuy nhiên, cần phải được phân tích, lýgiải đầy đủ, sâusắc hơn, đặc biệt là tính khả thi của cácquy định được đề xuất trong điều kiện kinh tế, xã hội Việt Nam hiện nay.

Báo cáo “Tóm lược các phương án xây dựng hệ thống hưu trí đa tầng ở Việt Nam” của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) (2019) đã trình bày, lý giải các phươngán cải cách có tínhkhảthi trong việc thiết kếmột hệthống hưu trí đa tầng ởViệt Nam, nhằm hoàn thành mục tiêu đặt ra trong Đề án đổi mới và phát triển trợ giúp xã hội và Nghị quyết 28/NQ-TWcủa Đảng.Theo báo cáo, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đóng góp của hệthống BHXH đa tầng, kết hợp các nguồn tài chính từthuếcông, góp phần mở rộng an sinh cho người nghỉ hưu. Trong khiđó,tài chính của hệthống vẫn duy trì bền vững.Từ đó,báo cáo khuyến nghị cần thiết lập hệ thống bảo hiểm hưu trí đa tầng ở Việt Nam [57]. Quan điểm này còn được thể hiện trong báo cáo “Xây dựng hệthống hưu trí toàn diện cho Việt Nam: Triển khai Nghị quyết 28/NQ-TW”của ILO (2019). Theo đó,người dânđược hưởng trợcấp hưu trí, là quyền lợi tối thiểu mà Nhà nước có thể đảm bảo cho công dân của mình [58].

Trong bàiviết “Mở rộng bao phủ BHXH tự nguyện: thực tiễn quốc tế và bài

học cho Việt Nam”, Giang Thanh Long –ĐỗThịThu (2020), trêncơ sởkhảo sát, phân tích các mô hình quản lý hệthống BHXH nói chung, BHXHtựnguyện nói riêng ở một số quốc gia trên thế giới, đã đề xuất một số giải pháp đổi mới quản lý hệ thống BHXH tự nguyện Việt Nam để khuyến khích sự tham gia của NLĐ. Theo các tác giả, Việt Nam cần một số điều chỉnh chính sách về BHXH tự nguyện, như:

mức đóng tối thiểu, thời gian đóng, cách tính mức hưởng… Bên cạnh đó, mô hình BHXH tự nguyện cần được mở rộng đối tượng bao phủ theo luật định cho NLĐ phi chính thức, như: laođộng tựdo, lao động gia đình; lao động trực tuyến… như các nước Philippin; Malaixia, Indonessiađãthực hiện. Mặt khác, cần điều chỉnh quy định về thủ tục hành chính và triển khai chương trình mở rộng diện bao phủ BHXH tự nguyện theo hướng tạo thuận lợi và đơn giản hóa thủ tục tham gia, chi trả và thu nộp BHXH. Trong bối cảnh thị trường lao động được mở rộng theo hướng toàn cầu hóa, cần có chế độ BHXH cho lao động nhập cư, thu hút sự tự nguyện tham gia của

38

đối tượng này. Mở rộng diện bao phủ BHXH tự nguyện, cần mở rộng quy mô bằng cách bổsung thêm các chương trình BHXH mới hoặc các chếđộBHXH mới; áp dụng các biện pháp ưu đãi tài chính, thông qua chính sách hỗ trợ mức đóng, hoặc hỗtrợ mức hưởng; ứng dụng truyền thông trong quản lý hệ thống BHXH [63]. Bài viết có những phân tích sâu sắc, ý tưởng mới, nhằm mở rộng diện bao phủ của BHXH tựnguyện, trước hết làở môhình, cách thức tổ chức, vận hành các chính sách BHXH, phù hợp với giai đoạn phát triển mới của kinh tế – xã hội Việt Nam.

Trong báo cáođề tài khoa học cấp bộ Nghiêncứugiải phápmởrộng diện bao phủ BHXHđốivớikhu vực phi chính thức ở Việt Nam, Bùi Sỹ Lợi (2019) cho rằng, cần“Nghiêncứusửa đổi, bổsung pháp luật BHXHtựnguyện tăng tính hấp dẫn đốivớingườitham gia bằng việc bổ sung các quyền lợi thiết yếu, thay đổi mức đóng, mức hưởng cho phù hợp với NLĐ khu vực phi chính thức, tăng mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và khuyến khích sự tương trợ của cộng đồng xã hội, tập trung tạo điều kiện mở rộng đối tượng tham gia nhằm mục tiêu BHXH toàn dân, không đểmột ai rớt lại phía sau; xem xét miễn phí thẻ BHYT cho NLĐ trong thời gian tham gia BHXHtự nguyện, sửa đổiđiều kiện hưởng các chế độ nhằm khuyến khích họ tham gia lâu dài” [65, tr.136]. Đó là những kiến nghị có cơsở.Tuy nhiên,một số đềxuất, giải pháp mà tácgiảđưa ra cần cân nhắc và đánh giá lại trên nhiều phương diện, chẳng hạn như giải pháp “cấp miễn phí thẻ BHYT cho người tham gia BHXH

tự nguyện”.

Trongđề tài khoa họccấp Bộ“Thực trạng và giải pháp nhằm giảm tình trạnghưởngBHXH một lầnở Việt Nam”do Lê ThịQuế (2020) làmchủnhiệm, qua khảo sát, phân tích, nhóm nghiên cứu cho rằng, hiện tượng NLĐồ ạtrút BHXH một lần, có nhiều nguyên nhân. Chẳng hạn, do dịch bệnh Covid, do thiếu việc làm, không có thu nhập; tâm lý đámđông; quan niệm sống phụ thuộc con cháu. Bên cạnhđó,về phía chính sách, pháp luật, quy định điều kiện hưởng dễ dàng, chưa phù hợp, mức hưởng cao; thời gian đóng tối thiểu để hưởng lương hưu dài; tuổi nghỉ hưu cao; chính sách BHXH tự nguyện chưađủhấpdẫn. Từđó, nhóm nghiên cứu đề xuất, kiến nghịmộtsố giảipháp cụ thể, như: cần quy định cụ

39

thểvềđối tượngđượchưởngBHXH một lần;chỉcho phép hưởng BHXH một lần bằng mức đóng góp thực tế của NLĐ; giảm thời gian tham gia BHXH tối thiểuđểđược hưởng lương hưu hàng tháng; hoàn thiện chính sách lao động, việc làm,

BHXH tự nguyện…[76]. Những phân tích, lý giải, kiến nghị,đềxuấtcủanhóm nghiên cứu có ý nghĩa tham khảo trong quá trình bổ sung, hoàn thiện pháp luậtvề BHXH tự nguyện trong giai đoạn mới.

Trong bàiviết “Pháp luật Việt Nam về BHXH tự nguyện và một số kiến nghị

sửa đổi” in trongKỷyếu Hội thảo khoa học Quốc tế: Pháp luật vềBHXH–kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức và Việt Nam, Phạm Thị Thúy Nga (2023) sau khi phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về BHXH tự nguyện, đã có những kiến nghị, nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về BHXH tự nguyện trong thời gian tới. Tác giả kiến nghị: i) Hoàn thiện một số nội dung chính sách BHXH tự nguyện nhằm tăng tính hấp dẫn của BHXH tự nguyện,

tạo động lực cho NLĐ tham gia BHXHtựnguyện. Trong đó,cần bổsung một sốchính sách, như:chếđộtrợcấp thai sản,ốm đau;bổsung trường hợp NLĐ đang tạm hoãn hợp đồng lao động được tham gia đóng BHXHtựnguyệnđểbảo đảm quyền lợi; nghiên cứu, đánh giá tác động việc giảm thời gian đóng BHXH tối thiểu để hưởng lương hưu theo hướng giảm còn 15 năm; ii) Sửa đổi chính sách hỗ trợ tiền đóng cho người tham gia BHXHtựnguyện theo hướng phân nhómđối tượng cần hỗtrợ, hướng tới nhómđối tượng thu nhập thấp; iii) Nghiên cứu sửa đổi mức trợcấp BHXH một lần; iv) Tăng cường công tác thông tin truyền thông về chính sách BHXH tự nguyện, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp truyền thông[67]. Cóthể thấy, đây là những kiến nghị giải pháp có tính đồng bộ. Tuy nhiên, trong khuôn khổ một báo cáo khoa học, tác giả chưa có điều kiện phân tích, luận giải một cáchđầy đủ, hệ thống,toàn diện, cơ sở khoa học của những kiến nghị đó. Những đề xuất, kiến nghị của tác giả, vì vậy cần được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện trong đặc điểm kinhtếxã hội vàhệthống pháp luật Việt Nam và phù hợp với thônglệquốc tế.

40

1.3.2. Nhóm các công trình nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam

Đểcó cái nhìn chính xác vềBHXH tựnguyện, trong chuyên đềCác giải pháp thúc đẩy BHXHtựnguyện nhằm thực hiện ASXH bền vững ởViệt Nam, Hoàng Văn Cương (2019), cho rằng, cần phải “phân tách được số liệu về BHXH tựnguyện ởcác tiêu chí phân loại như: loại chuyển đổi từBHXH chính thức sang BHXH tự nguyện, tỷ lệ gia nhập mới của lao động phi chính thức” [29, tr.16]. Bởi

lẽ, “Các số liệu hiện nay của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Vụ Bảo hiểm xã hội – BộLao động, Thương binh và Xã hội và Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư vẫn chỉ là phân loại theo 2 dạng: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện” [29, tr.16].Đểnâng cao hiệu quảhoạt động,theo tác giả, ngành BHXH cần phải tiến hành nhiều giải phápđồng bộ, như: xây dựng chỉtiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của từng vùng,

từng địa phương;chủđộng xây dựng kếhoạch tuyên truyền theo từng giai đoạn, phối hợp với các bộ, ban ngành, đoànthểchính trị- xã hội, UBND các cấp đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền; đa dạng hóa nội dung và hình thức tuyên truyền, phù hợp với từng đối tượng,địa bàn cụthể; đơngiản hóa quy trình,thủtục đăng ký tham gia, giải quyết chế độ; công khai, minh bạch thông tin đảm bảo sự công bằng, khách quan trong việc đăng ký tham gia và giải quyết chế độ, chính sách cho NLĐ; xây dựng hệ thống đại lý thu BHXH tự nguyện ở cấp xã, phường phù hợp với quy mô và đặc điểm lao động… Tuy nhiên, cơ sở của những giải pháp chưa được tác giảphân tích, lý giải một cách đầy đủ.

Năm 2019,HồPhương thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành BHXH,“Giải pháp phát triểnđốitượngtham giabảohiểm xãhộitự nguyện khu vực phi chính thức trên địa bàn Tỉnh Phú Yên”. Dựa trên kết quả khảo sát thống kê, phân loại, tác giả đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHXH tự nguyện của NLĐ trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Theo tác giả, việc lao động khu vực phi chính thức ở Phú Yên tham gia hoặc không tham gia BHXH tự nguyện, phụ thuộc nhiều yếu tố. Trong đó “truyền thống”,“thu nhập”,“Nhận thức” là các yếu tố quan

41

trọng. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp đổi mới công tác quản lý, điều hành hoạt động của BHXH tự nguyện, như: đẩy mạnh công tác truyền thông; kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạtđộng của mạng lướiđạilý thu BHXH tự nguyện theo hướng tinh gọn, hiệu quả; ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ công tác phát triển đối tượngtham gia BHXHtựnguyện. Mặcdù, tác giả chỉkhảo sát nghiên cứu trên phạm vi một tỉnh, song những giải pháp mà tácgiảđềxuất cóýnghĩa tham khảo cho việc xây dựng chính sách, thực hiện pháp luật về BHXH tự nguyện ở nhiều địa

phương có những đặc điểm kinh tế, văn hóa – xã hội, tương đồng với Phú Yên [73].

Luận án tiến sĩ “Quản lý thubảohiểm xã hộiở Việt Nam”, ngành Kinh tế, của Phạm Minh Việt (2019), đã nghiên cứu khá toàn diện về quản lý thu BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng. Theo tác giả,nộidung quản lý thu bao gồm:

quản lý đốitượng tham gia, quản lý căn cứ đảm bảo đóng BHXH, quản lý rủi ro thu BHXH, thanh tra kiểm tra chuyên ngànhvềđóng BHXH. Trên cơsởđó,tácgiảdành chương 4 của luận án để phân tích, lý giải 5 nhóm giải pháp tăng cường quản lý thu BHXH ở Việt Nam. Bao gồm: mở rộng phát triển đối tượng tham gia; hoàn thiện căn cứ đảm bảo đóng BHXH; quản lýtổchức thu BHXH; hạn chế rủi ro thu BHXH; tăngcườnghiệuquảthanh tra, kiểm tra thu BHXH. Cóthểthấy,đâylànhững nhóm giải pháp quản lý thu BHXH nói chung. Tuy có đề cập, song luận án chưa có nhiều phân tích, so sánh để làmnổibậtsựtương đồng, khác biệt trong việc quản lý thu BHXH ở hai loại hình BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Thực tiễn cho thấy, việc quản lý thu BHXHtựnguyện nhiều khó khăn, phức tạp. Luận án không có giải pháp nào dành riêng cho thu BHXH tự nguyện [126].

Trongđề tài Nghiêncứugiải phápmởrộng diện baophủbảohiểm xã hộiđốivớikhu vực phi chính thức ở Việt Nam, Bùi SỹLợi (2019) và các cộngsựđã đưa ra nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật về BHXH tự nguyện, như: Nâng cao mức hỗ trợ đóng của Nhà nước để thu hút người lao động tham gia; Huy động sự tương hỗ của cộng đồng xã hội; Xóa bỏ quan niệm chỉ những người “thoát ly”mới có BHXH; Nâng cao thu nhập cho người laođộng tạo khảnăng tham gia BHXH tựnguyện”; và tổchức thực thực hiện hiệu quảpháp luật vềBHXH tự

42

nguyện trên phạm vi cả nước [65]. Cho đến nay, đây là công trình nghiên cứu toàn diện, hệ thống về các giải pháp mở rộng diện bao phủ BHXH tự nguyện ở Việt Nam kể từ khi Luật BHXH 2014 có hiệu lực.

Trong luận án tiến sĩ“Phân tích các nhân tốquyết định sựtham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam” của Đỗ Thị Thu (2021), ở chương 5, trên cơ sởphân tích thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH tự nguyện, tácgiảđềxuất ba giải phápmởrộng diện bao phủcủa BHXHtựnguyện ởViệt Nam: (i) Thiết kếhệthống theo đặc điểm của lao động phi chính thức; (ii) Thông tin tuyên truyền, phổ biến chính sách; (iii) Tăng cường sự tham gia của các bên liên quan trong mở rộng bao phủ BHXH tự nguyện [112]. Những giải pháp mà tác giảđề xuất cótính khả thi, phù hợp với thực tiễn.

1.4. Kế thừa và phát triển trong khuônkhổ đềtài luận án

1.4.1. Những thành tựu đã đạt được của các công trình nghiên cứu

Cho đến nay, BHXH ra đời, phát triển đã gần haithế kỷ,và được xem là trụ cộtchính trong hệ thống ASXH của hầu hết quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Đồng hành với lịch sử tồn tại, phát triển của BHXH là lịch sử nghiên cứu về BHXH, trong đó có pháp luật về BHXH tự nguyện. Dựa trên nguồn tư liệu bao quátđược,và trong phạm vi quan tâm của đề tài, NCS đã phân tích, khái quátmộtsố vấn đề nổibậtđược đề cập trong các công trình nghiên trên thế giới và Việt Nam. Các nghiên cứu đã từng bước hoàn thiện nhữngvấnđềlý luận cơbảnvềBHXH tựnguyện và pháp luậtvề BHXHtự nguyện.Đó là những vấn đề vừa mang ý nghĩa phổ quát,vừamang tính đặcthù, gắn vớihệthống BHXHtự nguyện ở mỗiquốc gia. Xu hướng nghiên cứu chủ yếu là kết hợp nghiên cứu lý luận và thực tiễn. Trong đó,hướng nghiên cứu liên ngànhđã được mộtsố tác giả quan tâm, nhất là ở những nghiên cứu gần đây. Nhiều vấn đề về BHXH tự nguyện đã được xem xét trong quan hệ tương tác giữa nhiều lĩnh vực, như luật pháp, kinh tế, văn hóa, xã hội. Vềcơbản, các công trình nghiên cứu đạtđược mộtsố thành tựu nổibậtsau:

Thứnhất, các công trình nghiên cứu đã cung cấp một sốkiến thức lý luận chung về BHXH tự nguyện và pháp luật về BHXH tự nguyện. Khái niệm BHXH tự

43

nguyện đã được xem xét, định nghĩa từ nhiều góc độ, như: kinh tế, xã hội, pháp lý. Các đặc điểm của BHXH tự nguyện với những nội dung về đối tượng tham gia,chủthể quản lý và tổ chức thực hiện, mục đích thực hiện,đã được luận giải ở mức độkhái quát. Nội dung điều chỉnh của pháp luật BHXH tự nguyện được khái quát một cách cơ bản. Những kết quảnày sẽđược NCSkếthừa, phát triển, nhằm cóđược một cái nhìn đầy đủ, hiện đại hơn đối với các khái niệm BHXH tự nguyện và pháp luật vềBHXH tựnguyện; bổsung hoàn thiện cách hiểu vềđặc điểm,vai trò của BHXH tựnguyện và nguyên tắc, nội dungđiều chỉnh pháp luật vềBHXH tựnguyện toàn diện, sâu sắc hơn, phù hợp với đặc điểm, trình độ phát triển của kinh

tế, văn hóa – xã hội Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa.

Thứ hai, ở những mức độ khác nhau, các công trình nghiên cứu đều bám sát nội dung pháp luật về BHXH tự nguyện trên thế giới và Việt Nam. Các vấn đề cốt lõi của pháp luật vềBHXH tựnguyện được xem xétởnhiều khía cạnh, như: đối tượng và phạm vi áp dụng BHXHtựnguyện; mức đóng, mức hưởng; các chếđộBHXH tự nguyện (hưu trí, tử tuất), quỹ BHXH; thực trạng pháp luật về BHXH tựnguyện và việc áp dụng trong thực tiễn đời sống;xử lývi phạm pháp luật BHXH; mở rộng diện bao phủ BHXH tự nguyện ở các địa phương; công tác truyền thông… Nhiều vấn đềđã có sựthống nhất, đồng thuận của các nhà nghiên cứu, như: Nhànước cần hỗtrợtài chính cho người tham gia BHXH tựnguyện; giảm thời gianđóng BHXH tối thiểu đểhưởng lương hưu và nâng tuổi nghỉ hưu của NLĐ nhằm giảm áp lực cho Quỹhưu trí. Những kết quảtrênđâylà nguồn tư liệu tham khảo hữu ích để NCS hoàn thành tốt các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án.

Thứ ba, một số nghiên cứu, bên cạnh phần lý luận, đã có những kiến nghị, đềxuất cụ thể, nhằm hoàn thiện pháp luật về BHXH tự nguyện ở Việt Nam. Cách diễn đạt, tiếp cận vấn đềcó khác nhau, song hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng, cần phải điều chỉnh,bổsung, hoàn thiện pháp luật vềBHXH tựnguyện, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và thônglệquốc tế. Trong đó, nổi lên một sốvấn đềchủyếu, như: cần mởrộng diện bao phủBHXH tựnguyện trên nhiều phương diện; BHXH tựnguyện cần có sựtươngđồng với BHXH bắt buộc; tài chính thực hiện

44

BHXH tự nguyện phải ổn định, bền vững; Nhà nước phải hỗ trợ cho NLĐ khó khăn ởkhu vực phi chính thức tham gia BHXHtựnguyện; quản lý thu – chi BHXHtựnguyện cần hiệu quả, khoa học, hiện đại… Đó là những gợi mở cần được xem xét từnhiều góc độ, đặc biệt là khoa học pháp lý, để có được những giải pháp tối ưu, phùhợp. Nhiều kiến nghị dựa trên việc tiếp cận pháp luật về BHXH tự nguyện của một số quốc gia trên thế giới. Đây là hướng nghiên cứu hiện đại, có tính khả thi. Hướng đi này sẽ được NCS kế thừa, phát triển trong quá trình nghiên cứu.

1.4.2.Những vấn đề tồn tạivà định hướng nghiên cứu của luận án

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, qua tổng quan tình hình nghiên cứu pháp luật vềBHXH tựnguyện trên thếgiới vàởViệt Nam thời gian qua, cóthểthấy nhiều vấn đề còn mở ngỏ, cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn chỉnh. Trong phạm đề tài, NCS sẽ nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện,một số vấn đềchủ yếu sau:

Thứ nhất, về hướng nghiên cứu pháp luật về BHXH tự nguyện ở Việt Nam, NCS tiếp cận vấn đề từ khoa học pháp lý, đồng thời kết hợp nghiên cứu liên ngành

(pháp luật –kinh tế; pháp luật –tài chính; pháp luật –xã hội). Với hướng nghiên cứu này, pháp luật về BHXH tự nguyện ở Việt Nam không chỉ được nhìn nhận từkhung khổ pháp lý mà còn ở tính hiệu quả trong thực tiễn.

Thứ hai, trên cơ sở tiếp cận pháp luật về BHXH tự nguyện của các nước phát triển trên thế giới, tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện các vấn đề lýluận về BHXH tự nguyện ở Việt Nam. Từ đó, đưa ra cách hiểu khái quát, đầy đủ, phù hợp với thực tiễn của một số khái niệm then chốt trong pháp luật về BHXH tựnguyện, phù hợp với xu hướng phát triển của pháp luật BHXHtựnguyện tiến bộtrên thế giới.

Thứ ba, tiếp tục nghiên cứu một số vấn đề còn chưa được các nhà nghiên cứu thời gian qua thống nhất, đồng thuận, như: (i) Giải pháp nâng cao tỷlệtham gia BHXH tự nguyện; (ii) Giải pháp khắc phục những bất cập trong quy địnhvề hưởng BHXH một lần; (iii)Bổsung chếđộngắn hạn trong BHXHtựnguyện; (iv) Điều chỉnh quy định vềmức đóng tối thiểu, cách tính mức hưởng, (v) Giải pháp triển

45

khai BHXH tự nguyện đến người dân.

Thứ tư, tiếp tục nghiên cứu phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực tiễn thực hiện pháp luật vềBHXH tựnguyện Việt Nam hiện nay. Những vấn đềtrọng tâm là đánh giá thành tựu và hạn chế về: i) Kết quả đạt được trong việc nâng cao tỷ

lệngười tham gia BHXH tựnguyện, ii) Chitrảquyền lợi BHXH tựnguyện; iii) Thực trạng hưởng BHXH một lần; iv) Công tác tuyên truyền, vận động và tổ chức

thực hiện BHXH tự nguyện… Trên cơ sở phân tích nguyên nhân dẫn đến hạn chếtrong quá trình thực hiện pháp luật vềBHXH tựnguyện,đềxuất các kiến nghịnhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật.

1.5. Khung lý thuyết của luận án 1.5.1. Lý thuyết nghiên cứu

Luận án được thực hiện dựa trên một số lý thuyết sau:

– Lý thuyết về quyền con người

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại,họcthuyết vềquyền con người(human rights) là một trong những học thuyết cơ bản, bao trùm nhiều lĩnh vực. Phạm vi quan tâm và cách diễn có giải khác nhau, song các nhà tư tưởng thờicổ đại, nhưĐứcPhật (563-483), Khổng Tử (551-479), Sokrate (470-399)…đều nóitớiquyền con người. Đến Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ (1776), quyền con ngườiđược đề cập mộtcách cụ thể, toàn diện:“mọi người sinh rađều bình đẳng,tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tựdo và mưu cầu hạnh phúc”.Tư tưởng đóđược nhắc lại trong Tuyên ngôn nhân quyền, dân quyền của cách mạng Tư sản Pháp (1789) và Tuyên ngôn của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945). Năm 1948, Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc

về quyền con người(Office of High Commissioner for Human Rights –OHCHR)đã có mộtđịnh nghĩa về quyền con người được thừa nhận rộng rãi trên phạm vi toàn thếgiới. Theo đó, quyền con người là nhữngbảođảmpháp lý toàncầu(universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người.

46

Ở Việt Nam, quyền con người đãđượcHiến pháp khẳngđịnhlà quyền cơbản của mọi thành viên trong xã hội. Theo đó, quyền công dân thuộc về quyền con người, thống nhất nhưng không đồng nhấtvớiquyền con người. Quyền con người mang tính nhân loại,gắnvớinhững nhu cầu,lợiíchtựnhiên,vốncócủacon người, được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Quyền công dân là quyền conngười, đượcNhà nước thừa nhận, áp dụng cho công dân của mình, làtập hợpnhững quyềnđượcHiến pháp và pháp luật của mỗiNhànướcquyđịnhvàđảmbảothực hiện. Là thành viên xã hội, mỗi con người đều được hưởng quyền bình đẳng,tựnhiên, trên cơ sở pháp luật của quốc gia và các thỏa thuận quốc tế mà các quốc gia là thành viên hay tham gia ký kết. Trong nghiêncứuvềBHXH tựnguyện và pháp luật vềBHXH tựnguyện, lýthuyết về Quyền con người làcơ sở để đánh giá mức độ đáp ứng của pháp luật vềBHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng trong mục tiêu thực hiện BHXH toàn dân, nghĩa là đảm bảo cho tất cả người lao động trong độ tuổi đều được tham gia BHXH, từđó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật vềBHXH tựnguyện.

– Lý thuyết lựa chọn hợp lý

Lý thuyết lựa chọn hợp lý (còn gọi là Thuyết lựa chọn duy lý) trong xã hội học có nguồn gốc từtriết học, kinh tếhọc thếkỷXIX, và từng bước hoàn thiện, phát triển trong thế kỷ XX, với đóng góp của các nhà xã hội học nổi tiếng như G. Homans, J. Coleman, P. Blau… Tiền đề của Lý thuyết lựa chọn hợp lý là quan niệm mỗi hành động của con người luôn có chủ đích, có suy nghĩ, lựa chọn và sử dụng các nguồn lực với những tính toán hợp lý nhằm đạt kết quả tối đa với nguồn lực tối thiểu. Điểm nổi bật của lý thuyết này là khẳng định, đề cao lý tính của cá nhân trong mọi lựa chọn. Thuật ngữ“lựa chọn” được dùng với hàm nghĩa nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán hợp lý mọi quyết định hành động. Mỗi cá nhân sẽ lựa chọn hành động mà kết quả và khả năng đạt được kết quả là cao nhất. Kết quả của hành động càng có ý nghĩa với chủ thể, thì chủ thể càng có ý định thực hiện hành vi lựa chọn đó. Mặt khác, chủ thể sẽ quyết định lựa một hành động nào đó ngaycả

47

khi giá trị của nó thấp, nhưng bù lại, tính khả thi của nó rất cao. Nếu sự mong đợi của việc lựa chọn được đáp ứng thì chủ thể lựa chọn sẽ hài lòng, với nhu cầu tối đa hóa lợi ích cá nhân.

Trong nghiên cứu BHXHtựnguyện và pháp luật vềBHXH tựnguyện, Lý thuyết lựa chọn hợp lý góp phần lý giải các hành vi của NLĐ trong việc tham gia/ không tham gia bảo hiểm. Nghĩa là, nó phụ thuộc rất nhiều vào NLĐ. Họ tự nguyện lựa chọn một cách hợp lý nhất theo tư duy của họ. Nói cách khác, ý chí của NLĐ lànhân tốđầu tiên, trước hết, ảnh hưởng quyết định đến việc tham gia hay không tham gia BHXH tự nguyện. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, các cá nhân không phải lúc nào cũng đưa ra quyết định hợp lý bởi sự chi phối của các yếu tố bên ngoài, chẳng hạn như cảm xúc, tâm lý đám đông, thói quen… Mặt khác, các cá nhân không phải lúc nào cũng được tiếpcậnđầy đủ, chính xác thông tin đểđưa ra quyết định kịp thời, hợp lý nhất. Vì vậy, vận dụng Lý thuyết lựa chọn hợp lý trong nghiên cứu thực trạng, thực tiễn pháp luật vềBHXH tựnguyện ởViệt Nam là cần thiết, đồngthời phải linh hoạt, sáng tạo, và kết hợp với nhiều lý thuyết khác.

– Lý thuyết của O. Bismarck và Lý thuyết của W. Beveridge

Từnửasauthế kỷXIX, cùngvớisựphát triển củasảnxuất công nghiệp, việc mởrộng phạm vi, đối tượng và chức năngcủaASXHđượccác quốc gia quan tâm,đặcbiệt là ở Châu Âu. Nhiều mô hình ASXHđãra đời, trong đó có hai mô hình nổi bật, là mô hình Nhà nước xãhộitheo lý thuyết O. Bismarck và mô hình Nhà nước phúc lợi theo lý thuyết W. Beveridge.Đây đượcxem là những lý thuyết ảnh hưởng, chi phốiđếnquanđiểm,chính sách ASXHcủanhiều quốc gia trênthếgiới, trongđóBHXH làtrụcộtchính.

Lý thuyếtvềNhànướcxãhộiđượcOtto Von Bismarck (1815-1898)đềxướngvào năm 1881,vớiviệc áp dụngchếđộBHXHbắtbuộcdựatrên cơsởnhững hoạtđộngtươngtrợmang tính tự phátcủangườilao động.Đức làquốc gia đầu tiên thực hiện chính sách ASXH theo lý thuyết Bismarck. LuậtBảohiểm Ytế(1883), Luật Bảo hiểm Tai nạn Lao động (1884), Luật Bảo hiểm hưu trí (1889) là những văn bảnpháp lýđầutiên áp dụng cơchếbắtbuộc, khôngchỉngườilao động màcảgiới

48

chủ, Nhà nướcđềuphải tham gia đóng góp vàoquỹbảohiểm. Nguyên tắc chủđạolà“pháthuy công bằng xãhội”,nghĩa làquỹbảohiểmđượcphát triểndựatrên đóng góp và cũngchỉcó những thành viên tham gia đóng gópmới đượchưởnglợi.

Khác với Bismark, William Henry Beveridge (1879-1963) chủ trương ASXH phải baophủtoàn diện,vớimức chitrảnhư nhau vàđượcquản lý tập trung, thống nhất. Trong báo cáovềcảicách và táicấutrúchệthống ASXHnướcAnh (1942), ôngđưara quanđiểmvề“xãhộithống nhất”. Theo Beveridge, các nguyên tắc đểcảicáchhệthống ASXH là thống nhất, phổ cập, toàn diện.Sựrađờicủahệthống ASXHphổcậpcông cộng,đã tạo cơchếhỗtrợNLĐ trong việcđốiphó với những thiếu hụt, giánđoạnvềthu nhập domấtviệc làm, bệnhtậthoặcvềgià. Beveridge chủ trương không giớihạnthời gian NLĐ hưởngtrợcấp, mức thụ hưởng khôngphụthuộc vàomứcđóng. Trên thựctế,hệthống ASXH theo lý thuyết của W. Beveridge hoạtđộngchủyếudựavàosựtài trợcủaNhà nước.

ỞViệt Nam, trongnềnkinhtếthịtrườngđịnhhướngxãhộichủnghĩa,hệthống ASXH cần phát triển theo hướngdựatrên sựkếthợphai mô hình Nhà nước xã hội (theo lý thuyết Bismarck) và Nhà nước phúc lợi (theo lý thuyết W. Beveridge).Sựkếthợpnàysẽđảmbảocác nguyêntắccănbảncủaASXH nói chung, BHXH nói riêng là nguyêntắcđóng -hưởngvà nguyêntắcchiasẻ.Vận dụng lý thuyết của Bismarck và Beveridge là cơsởđểđánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật,đềxuất các giải phápsửađổi,hoàn thiện pháp luật BHXH nói chung, phápluật vềBHXHtựnguyện nói riêng ở Việt Nam.

1.5.2. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, luận án xác định câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu tập trung vào ba vấn đề chủ yếu: i) Lý luận về BHXH tựnguyện và pháp luật vềBHXH tựnguyện; ii) Thực trạng pháp luật vềBHXH tựnguyện và thực tiễn thực hiện ởViệt Nam; iii) Giải pháp hoàn thiện pháp luật vềBHXH tự nguyện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về BHXHtự nguyện ởViệt Nam.

– Câu hỏi nghiên cứu 1: Hệ thống lý luận BHXH tự nguyện và pháp luật về

49

BHXH tựnguyệnởViệt Namđãhoàn thiện chưa, còn những vấn đềlý luận nào cần phải làm rõ?

Giả thuyết nghiên cứu 1: Ở Việt Nam lý luận về BHXH tự nguyện và lý luận pháp luật vềBHXH tựnguyện đã được hình thành, song chưa hoàn thiện. Nhiều vấn đề như khái niệm BHXH tự nguyện, đặc điểm BHXH tự nguyện, những nhân tố

ảnh hưởng đến pháp luật BHXH tự nguyện, các chế độ BHXH tự nguyện… còn tồn tại những quan niệm, cách hiểu khác nhau. Do đó,đểthực hiện các nhiệm vụnghiên cứu, dự kiến luận án sẽ tập trung phân tích, luận giải để làm rõ, làm sâu sắc thêm các vấn đềlý luận như: khái niệm, bản chất, ýnghĩa củaBHXH tựnguyện; khái niệm pháp luật về BHXH tự nguyện, nguyên tắc và nội dung của pháp luật vềBHXH tự nguyện.

– Câu hỏi nghiên cứu 2: Các quyđịnh của pháp luật vềBHXH tựnguyện hiện hành ởViệt Nam có phù hợp với tình hình phát triển kinh tế-xã hộicủa đất nước vàthông lệ quốc tế không? Thực tiễn thực hiện pháp luật về BHXH tự nguyện có gặp phải khó khăn, vướng mắc nào không?

Giả thuyết nghiên cứu 2: Pháp luật về BHXH tự nguyện hiện hành vẫn còn nhiều vấn đềchưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Một sốquy định vềđốitượng tham gia, chế độ BHXH tự nguyện chưa đầy đủ, chưa đảm bảo tính công bằng, hợp lý cho các người tham gia BHXH tự nguyện. Do đó, dự kiến kết quả nghiên cứu là hệ thống hoá quy định pháp luật hiện hành về BHXH tự nguyện; phân tích đánh giá ưu điểm,hạn chếcủa quy định pháp luật theo từng nhóm vấn đề, như: đối tượng tham gia, các chế độ bảo hiểm, nguồn tài chính, thủ tục thực hiện và xử lý vi phạm pháp luật về BHXH tự nguyện; chỉ ra những khó khăn vướng mắc khi áp dụng quy định vào cuộc sống. Những tồn tại, bất cập của pháp luật vềBHXH tựnguyện làmột trong những nguyên nhân chủyếuảnh hưởng đến hiệu quảthực thi pháp luật thời gian qua, cụ thể là diện bao phủ của BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng còn rất thấp.

– Câu hỏi nghiên cứu 3: Pháp luật về BHXH tự nguyện cần phải sửa đổi, bổsung, hoàn thiện như thếnào nhằm góp phần đảm bảo các mục tiêu phát triển ASXH của quốc gia?

50

Giảthuyết nghiên cứu 3: Pháp luật vềBHXH tựnguyện hiện nay ởViệt Nam đã bộc lộ nhiều tồn tại, bất cập. Thực tiễn đòi hỏi phải có giải pháp hoàn thiện pháp luật về BHXH tự nguyện để mở rộng diện bao phủ BHXH tự nguyện, tiến tới mục tiêu BHXH toàn dân, đảm bảo sự ổn định, bền vững của ASXH đất nước trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa. Trên cơ sởxác định các yêu cầu đặt ra vàđịnh hướng hoàn thiện pháp luật BHXH tự nguyện, luận án dự kiến đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm khắc phục những điểm còn bất cập, hạn chế của các quy định pháp luật, và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về BHXH tự nguyện.

51

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Bao quát một khối lượng công trình nghiên cứu pháp luật vềBHXH tựnguyện trong hàng chục năm là điều không dễ. Bên cạnh sự phong phú về đề tài làsựđa dạng của các công trình (sách chuyên khảo, bài báo khoa học; báo cáo tổng kết đềtài; luận văn, luận án). Phạm vi,đối tượng nghiên cứu,hướngtiếp cận của các công trình cũng rất khác nhau. Đểthấy được tính kếthừa, phát triển của các công trình, tác giả luận án đã tổng quan tình hình nghiên cứu theo thời gian.

Qua tổng quan tình hình nghiên cứu BHXHtựnguyện và pháp luật vềBHXH tựnguyện Việt Nam, cóthểthấy, các công trình nghiên cứu đã bao quátđược vấn đề trên diện rộng,cả về lýluận và thực thực tiễn. Một số nghiên cứu đã tiếp cận được hệ thống pháp luật BHXH nói chung, BHXH tự nguyện nói riêng của nhiều nước trên thế giới. Các công trình nghiên cứu đã phân tích, diễn giải một sốvấn đềlý luận vềBHXH tựnguyện và pháp luật vềBHXH tựnguyện Việt Nam. Tuy nhiên, do mục tiêu nghiên cứu khác nhau, việc trình bày quan điểm, diễn giải nội dung, các công trình đi theo những hướng khác nhau. Nhiều vấn đề cốt lõi của pháp luật vềBHXH tựnguyện chưa được làm rõ, và chưa có sựthống nhất trong quan điểm của các nhà nghiên cứu.

Trong thời gian qua nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến BHXH tựnguyệnđược ban hành, thêm vào đó tình hình kinh tế- xã hội Việt Namđãcó

nhiều thay đổi. Vì vậy, một số ý kiến phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về BHXH tự nguyện đã không còn phù hợp.Nhiều vấn đề cần được nhận thức lại.

Mở rộng diện bao phủ BHXH tự nguyện là mục tiêu quan trọng trong chiến lược đảm bảo ASXH của quốc gia trong tình hình mới. Tuy nhiên làmthếnào đểmởrộng diện bao phủ; Pháp luật vềBHXH tựnguyện hiện hành có những ưu, nhược gì trong việc thực hiện mục tiêu đó? Đây là những vấn đề có ý nghĩa, được gợi mởqua tổng quan tình hình nghiên cứu BHXHtựnguyện và pháp luật vềBHXH tự nguyện Việt Nam thời gian qua.

52

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝLUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

2.1. Lý luận về bảo hiểm xã hội tự nguyện 2.1.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội tự nguyện

BHXH là một trong những trụ cột của hệ thống an sinh xã hội quốc gia, đã ra đời và phát triển hàng trăm năm nay. Ởmỗi quốc gia, BHXH mặc dù được triển khai theo mô hình và cách thức thực hiện khác nhau, nhưng đều có sự gặp gỡ ở các khía cạnh nhất định.Theo đó,BHXH là một chính sách xã hội được luật hoá, tuỳtheođiều kiện cụthểcủa từng đất nước, nhằm đảm bảo thu nhập và đời sống cho các đối tượng thụ hưởng. Người lao động tham gia BHXH và gia đình họ là những đối tượng trực tiếp được hưởng lợi từ chínhsách BHXH. Điều kiện để được hưởng quyền lợi bảo hiểm là bị giảm hoặc mất thu nhập, gây ra bởi những rủi ro, khó khăn trong cuộc sống như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, chết. Kinh phí để thực hiện BHXH được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của NLĐ, người sử dụng lao động và sự bảo trợ của ngân sách Nhà nước.

Có thể hiểu, BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị gián đoạn hoặc chấm dứt lao động, gây ra bởi những nguyên nhân như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, chết, thông qua việc hình thành một quỹ tài chính do người lao động, người sử dụng lao động đóng góp, và có sự bảo trợ của nhà nước. Dựa vào tính chất của quan hệ bảo hiểm, BHXH được phân loại theo hai hình thức là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều triển khai BHXH bắt buộc. Trong khiđó,BHXH tự nguyện là chính sách riêng của một sốquốc gia, có thực hiện hay không thực hiện và thực hiện như thếnào do chính mỗi quốc gia đó quy định trong các văn bản pháp luật của quốc gia mình.

2.1.1.1. Quan niệm về bảo hiểm xã hội tự nguyện

BHXHtựnguyện là một loại hình BHXH bên cạnh BHXH bắt buộc, được

53

thực hiện ởnhiều quốc gia trên thếgiới. Tuỳthuộc theo các điều kiện vềkinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, mỗi quốc gia cóthểlựa chọn triển khai chương trình BHXH tựnguyện một cách phù hợp nhất. Cùng với BHXH bắt buộc, BHXH tựnguyện góp phần xác lập vịtrí, vai trò quan trọng bậc nhất của BHXH trong hệthống ASXH của một quốc gia.

Lịch sử hình thành phát triển củaBHXH tựnguyệngắnvớilịchsửcủa BHXH.Từ sau cuộc Cách mạng Công nghiệp lầnthứnhất, đội ngũ những người làm công ăn lương ngày càng đông đảo. Cuộc sống của họ gắn với nguồn thu nhập do bán sức lao động đemlại[115, tr.21]. Sự giảm sút tiền lương khibịốmđau, tai

nạn,rủiro,mấtviệc hoặc về già…là nguy cơ tiềm ẩn, đe doạ cuộc sống hàng ngày của những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương. Thực tế đó buộc những ngườilàm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hoạtđộng

tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn…) trên tinh thần tự nguyện đóng góp để giúp đỡ, chia sẻ khó khăn. Bên cạnh đó, những NLĐ đã tích cựcđấu tranh buộc giới chủ và Nhà nước phải có sự trợ giúp, bảo đảmcuộc sống cho họ.Đóng góp tự nguyện để chia sẻ rủi ro giữa những NLĐ có thể xem là hình thức sơ khai của BHXH. Từ năm 1850, nhiều bang ở nước Đức, đã thành lập quỹ ốm đau vàyêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khibịgiảm thu nhập vì bệnh tật. Lúc đầu,chỉcó giới thợ tham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật. Năm 1881, ở Đức đã ra đời chính sách BHXH bắt buộc, trên cơ sở các tổchức tựphát của NLĐ hoạt động tương trợ

lẫn nhau. Văn bản pháp lý đầu tiên là Luật Bảo hiểm y tế (1883), tiếp theo là Luật Bảo hiểm tai nạn lao động (1884) và Luật Bảo hiểm hưu trí (1889) [123, tr.26]. Chỉmột thời gian sau, mô hình này đã lan rộng ra khắp châu Âu và nhiều nước trên thếgiới, như các nước Mỹ La tinh, Hoa Kỳ, Canada, và nhiều quốc gia ở châu Á. Dưới góc độ chính sách và pháp luật, có thể thấy BHXH bắt buộc là loại hình bảo hiểmđượctriển khai đầu tiên ở trên thế giới. Tuy nhiên, xuất phátđiểmcủa BHXH thực chất là hình thức BHXH tự nguyện, tự phát hình thành trong cộng đồng những NLĐcó nguy cơ gặp rủi ro và có nhu cầu chia sẻ các rủi ro. Việc Nhà nước đứng ra tổ

54

chức quản lý BHXH chứng tỏ đây là một hình thức quản trị rủi ro hiệu quả. BHXH bắtbuộc là loại hình bảo hiểm được các nước lựa chọn điều chỉnh đầu tiên,bởinếu BHXH thuần túy chỉlà sựtự nguyện của NLĐ thì hoặc là không bền vững, hoặc là khôngđápứng nhu cầu, vì rủi rochỉ được quảnlý, chia sẻ trong những cộng đồng nhỏ hẹp, ít chuyên nghiệp. Do đó, BHXH tự nguyện được các Nhà nước triển khai sau khi đã có BHXH bắt buộc.

Nội hàm khái niệm BHXH tự nguyện được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào góc nhìn, hướng tiếp cận. Có thể thấy điều này qua những khái niệm về BHXH tự nguyện, như: “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một loại hình BHXH do Nhà nước ban hành và quản lý để vận động, khuyến khích NLĐ và người sử dụng lao động tự nguyện tham gia, nhằmđảmbảo bù đắp mộtphần thu nhập cho chính bản thân NLĐ và gia đình họ khibịgiảm hoặc mấtnguồn thu nhập do gặp phải

những rủi ro xã hội như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổigià…đồng thờigóp phần đảmbảo công bằng và ASXH” [71], hay “BHXH tự nguyện là một hình thức BHXH do Nhànướctổchức và quản lý hoặc do cộngđồngNLĐ tổchứcvớisựtham giatựnguyện của các thành viên nhằm đảm bảo thu nhập để thoả mãn nhu cầu sinh sống thiết yếu của NLĐ và gia đình họ khi gặp phải những rủiro làm giảm hoặc mất thu nhập, góp phần đảmbảoan toàn xã hội” [49, tr.14]; “Bảo hiểm xã hội tựnguyện là loại hình BHXH do Nhànướctổchức mà NLĐtựnguyện tham gia, được lựa chọn mứcđóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhànước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH nhằm góp phần ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình khi NLĐ bị giảm hoặc bị mất thu nhập do gặp phải những rủi ro hoặc sự kiện bảo hiểm, đồng thời góp phần đảm bảo công bằng, tiến bộ, văn minh và ASXH” [88, tr.27]; “BHXH tự nguyện là một loại hình BHXH được tổ chức bởi Chính phủ, cho phép những người làm việc trong khu vực phi chính thức với công việc và thu nhập không ổn định được tham gia và tự lựa chọn mức phí và phương

thức đóng phù hợp với nhu cầu và khả năng của mình” [163] …

Qua những dẫn chứng nêu trên, không khó đểnhận ra sựkhác nhau trong cách diễn giải khái niệm BHXH tự nguyện. Tuy nhiên, có thể nhận thấy sự gặp gỡ,

55

thống nhất và đồng thuận về một số nội dung chủ yếu, như: i) BHXH tự nguyện là một hình thức BHXH do Nhà nước tổ chức và quản lý; ii) Việc tham gia BHXH tựnguyện do NLĐ hoàn toàn tựquyết định theo điều kiện,khảnăng tài chính và nguyện vọng của mình. Từ nhận thức đó, theo NCS, có thể hiểu BHXH tự nguyện là loại hình BHXH do Nhànước tổchức và quản lý, theo đó NLĐ được quyền quyết định việc tham gia cũng như được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với khả năng tài chính của mình, trên cơ sở quy định của pháp luật, để được hưởng các chế độ BHXH khi bị giảm hoặc mất thu nhập do gặp phải những rủi ro, biến cốtrong cuộc sống.

2.1.1.2. Đặc điểm của bảo hiểm xã hội tự nguyện

BHXH tự nguyện là một bộ phận của chính sách BHXH. Bởi vậy, BHXH tựnguyện về cơ bản mang đầy đủ đặc điểm của BHXH nói chung, như: hoạt động dựa

trên nguyên tắc đóng – hưởng,đòihỏi tất cả mọi người tham gia phải đóng góp tạo nên một quỹ chung; có sự chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia; các thành viênđược hưởng chế độ khihọ gặp các rủi ro (xảy ra sự kiện bảo hiểm)và đủ điều kiện để hưởng;chi phí cho các chế độ được chi trả bởi quỹ BHXH; nguồn quỹ được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của những người tham gia; các chế độ được bảo đảm trên cơsởcác đóng góp BHXH, không liên quan đến tài sản của người hưởng BHXH; cácmứcđóng góp và mức hưởng tỷlệvới thu nhập trước khi hưởng

BHXH… Bên cạnh đó,vớitư cách là một loại hình BHXH có tínhđộc lập tương đối, BHXH tự nguyện còn có những đặc điểm riêng, khác biệt với BHXH bắt buộc. Trong đó,tính tựnguyện là đặc điểm nổi bật, xuyên suốt, bao trùm. Nóđược thểhiện một cách cụ thể ở những phương diện sau:

i) Việc tham gia hay không tham gia BHXH là hoàn toàntựnguyện,tuỳthuộc vào ý chí, nguyện vọng của chủthể. Không một cơ quan, cá nhân, haytổchức nào có thể ép buộc NLĐ phải tham gia BHXH tự nguyện khi họ không đồng thuận. Mặt khác, tính tựnguyện còn thểhiệnởchỗ, người tham gia BHXH được lựa chọn cách thức đóng, mức đóng, phương thức đóng, phù hợp với nhu cầu và khảnăng tài chính của mình, trên cơ sơ quy định của pháp luật. Về điều này có thể lý

56

giải theo “lý thuyết lựa chọn hợp lý” và “nguyên tắc cùng có lợi trong tương tác xã hội của con người”[169]. Lý thuyết lựa chọn hợp lý nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toánđểquyết định giải pháp tối ưu, nhằm đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực. Chủ thể của hành động cần phải quan tâm tới hai vấn đề: Một là, tối đa hoá lợi ích mà họ đạt được trong điều kiện các nguồn lực khan hiếm. Hai là, tác động của thể chế xã hội lên hành động. Nghĩa là hành động cá nhân còn bịchi phối bởi các yếu tốnhư văn hoá gia đình, trường học, luật lệxã hội, tôn

giáo…Do đó, theo lý thuyết này, NLĐ muốn tham gia BHXH tự nguyện phải có sựxem xét, cân nhắc, tính toán để đạt được các mục tiêu mong muốn trong điều kiện hạn hẹp vềtài chính của mình. Nguyên tắc cùng có lợi trong tương tác xã hội có nghĩa là tất cả các tương tác của con người trong xã hội đều dựa trên cơ chế “cho – nhận”, nghĩa là trao đổi các vật phẩm có giá trị ngang nhau. Nguyên tắc này có thểđược sử dụng để giải thích các lựa chọn và quyết định khi tham gia BHXH tự nguyện của NLĐ. Ví dụ, NLĐ quyết định tham gia BHXH tựnguyện đểđược hưởng các quyền lợi bảo hiểm, bảo vệ cuộc sống của mình và gia đình trước nguy cơ phải đối mặt với những bấttrắc, rủi ro trongđờisống. Mức phí đóng bảo hiểm màhọchấp nhận càng cao, quyền lợi bảo hiểm họ nhận được càng lớn. Thực tế cho thấy, nhiều NLĐ có thu nhập tốt thường tham gia BHXHtựnguyện với mức đóng cao, với hy vọng sau này sẽ được hưởng lương hưu cao và các chế độ phù hợp [163].

ii) Đối tượng tham gia BHXHtựnguyện thường không phải là người có quan hệlaođộng (không làm việc trong khu vực chính thức), mà là những NLĐ

thuộc khối phi chính thức, nông dân… (gọi chung là lao động phi chính thức). Theo

báo cáo “Việc làm và triển vọng trên thế giới – Xu hướng 2023” của ILO, trên thếgiới hiện có khoảng 2 tỷ người làm việc trong khu vực phi chính thức. Đây là nhóm người lao động chiếm số lượng lớn trong lực lượng lao động xã hội, đặc biệt làđối với những quốc gia mới nổi và đang phát triển, như Việt Nam, Thái Lan, Philippines… Đặc điểm bao trùm, phổ biến của nhóm lao động này là trình độ học vấn và năng lực chuyên môn thấp; quá trình lao động thường không được bao phủvà bảo vệ bởi hệ thống pháp luật lao động; không có hợp đồng lao động bằng văn

57

bản; quy mô hoạt động nhỏ; việc làm bấp bênh, không ổn định;tiền lương bình quân thấp hơn những người laođộng chính thức ởtất cảcác vịtrí việc làm; thiếu bảo trợ xã hội, quyền lợi tại nơi làm việc cũng như điều kiện làm việc nhìn chung còn kém [156, p.1-2]. Thực tế cho thấy, thu hút đối tượng này tham gia BHXH tựnguyện là hết sức khó khăn. Vì vậy, Nhà nước phải có hệ thống chính sách hỗ trợphù hợp với nhómđối tượng lao độngnày. Mặt khác, so với BHXH bắt buộc, cơ chế hoạt động của BHXH tự nguyện, cần phải đa dạng, linh hoạt và mềm dẻo hơn.

iii) Nguồn tài chính để thực hiện BHXH tự nguyện, chủ yếu là do NLĐ đóng góp. Trong khi đó, ở BHXH bắt buộc, quy định trách nhiệm này thuộc về cả người sửdụng lao động và NLĐ. Mặt khác, như đã đềcập ởtrên, NLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXHtựnguyện phần lớn có thu nhập thấp, mức đóng của người tham gia thường ở mức tối thiểu. Vì vậy, nguồn tài chính để thực hiện BHXH tự nguyện thường hạn hẹp. Để duy trì, đáp ứng yêu cầu hoạt động của BHXH tự nguyện, cần phải có các biện pháp mở rộng, thu hút sự tham gia của NLĐ, tìm kiếm các nguồn hỗ trợ khác từ ngân sách Nhà nước và từ xã hội.

iv) Rủi ro hoặc sự kiện được bảo hiểm trong BHXH nói chung, thườngđược thể hiện ở các chế độ BHXH, như: ốm đau, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp,

hưu trí hoặc tử tuất… Tuy nhiên, ở hình thức BHXH tự nguyện, khi ban hành và tổchức triển khai chính sách bảo hiểm, các nước chỉ lựa chọn một số chế độ bảo hiểm nhấtđịnh,dựa trên cơsởkhảo sát,điều tra nhu cầu thực tếvà khảnăng tài chính của các đối tượng tham gia và tùy theođiều kiện cụthể. Ởnhững quốc gia có hệthống BHXH phát triển sớm, ổn định, các chế độ của BHXH tự nguyện thường bao phủ một cách đa dạng các loại rủi ro, chẳng hạn như ở Đức, Pháp, Ba Lan. Ngược lại, với những quốc gia BHXH đang phát triển, loại hình BHXH tự nguyện chủ yếu triển khai một hoặc hai chế độ bảo hiểm, được NLĐ quan tâm nhiều nhất.

So với bảo hiểm thương mại, BHXH tự nguyện có nhiều điểm tương đồng. Hoạt động của hai loại bảo hiểm nàyđều hướng tới việc bù đắp tài chính cho các đối tượng tham gia khi gặp rủi ro, gây ra những thiệt hại được xác định trong chương trình bảo hiểm màhọtựnguyện tham gia. Chỉkhi đóng góp vào quỹbảo

58

hiểm, người tham gia mới được hưởng quyền lợi bảo hiểm (nguyên tắc “đóng – hưởng”). Việc đóng góp và chi trả quyền lợi được thực hiện theo nguyên tắc lấy sốđông bù số ít. Nghĩa là dùng số tiền đóng góp của số đông người tham gia bảo hiểmđểbù đắp,chia sẻcho một sốít người gặp phải biến cố, rủi ro trong cuộc sống. Cũng như bảo hiểm thương mại, ở BHXH tự nguyện, việc tham gia hay không tham gia chương trình bảo hiểm, hoàn toàn phụthuộc vào quyết định của NLĐ, người tham gia có quyền lựa chọn mức đóng và phương thức đóng sao cho phù hợp. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự nhầm lẫn ít nhiều trong nhận thức của người dân về hai loại hình bảo hiểm này [141].

Bên cạnh những điểm tươngđồng đã nêu, BHXH tựnguyện và bảo hiểm thương mại có nhiều điểm khác biệt vềmục đích, phạm vi hoạt động,đối tượng tham gia, quyền lợi bảo hiểm, cũng như mức độ an toàn của bảo hiểm. Làm rõ sựkhác biệt này, khôngchỉcó ý nghĩa lý luận, mà còn có ý nghĩa thực tiễn. Theo NCS, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thương mại, có những khác biệt cụ thể sau:

Thứ nhất, mục đích hoạt động của BHXH tự nguyện là thực hiện chính sách xã hội của Đảng,Nhà nước,nhằm góp phần ổn định và đảm bảo sựan toàn, phát triển ASXH. Các chính sách, chế độ BHXH tự nguyện không chỉ tác động trực tiếp đến NLĐ, mà còn tácđộng đến những thành viên trong gia đình họ. Các cơ quan quản lý nhà nước về BHXH, các tổ chức khác có liên quan theo quy định của pháp luật và tổ chức BHXH có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của NLĐ tham gia BHXH tự nguyện. Mục tiêu hoạt động của BHXH tự nguyện nói riêng, BHXH nói chung, là phi lợi nhuận, nhằm đảm bảo ASXH. Trong khi đó, mục tiêu hoạt động của bảo hiểm thương mại là lợi nhuận, mà khoản lợi nhuận này thuđược từ chính tiền đóng của người tham gia.

Thứhai, phạm vi hoạt động của BHXHtựnguyện chỉdiễn ra trong từng quốc gia, chính sách BHXH trực tiếp liên quan đến NLĐ tham gia và các thành viên trong gia đình của họ. Ngược lại, phạm vi hoạt động của bảo hiểm thương mại không chỉdiễn ra trong mỗi quốc gia, mà cònmởrộng sang nhiều quốc gia khác. Các công ty bảo hiểm có thể hoạt động ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ và trên toàn

59

thế giới. Sản phẩm của bảo hiểm thương mại có mặt ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội.

Thứ ba, đối tượng tham gia BHXH tự nguyện chủ yếu là NLĐ không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc (khu vựcphi chính thức) với mức đóng xác định trước vàoquỹhưu trí,tửtuất. Còn với bảo hiểm thương mại, đối tượng tham gia thường không bị giới hạn, mức đóng linh hoạt, tương ứng với các gói quyền lợi màhọlựa chọn. Bất cứđối tượng nào, không phân biệt già trẻ, tầng lớp xã hội, nghềnghiệp, mức thu nhập, khi có nhu cầu và đủ khả năng tài chính, đều có thể tham gia bảo hiểm thương mại. Người tham gia có trách nhiệm đóng các khoản tiền gọi làphí bảo hiểm, để duy trì hợp đồng và được công ty bảo hiểm bồi thường khi xảy ra sự kiện như trong hợp đồng bảo hiểm.

Thứ tư, thoạt nhìn, các quyền lợi của bảo hiểm thương mại thường được mô tảđa dạng, hấp dẫn hơn so với BHXHtựnguyện. Tuy nhiên, mức độvà phạm vi bảo vệcủa bảo hiểm thương mại dành cho cácđối tượng tham gia,tuỳthuộc vào các đặc điểm, như: tuổi đời, tình trạng sức khoẻ, nghề nghiệp,khảnăng tài chính của họ… tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm. Thông thường, tuổi đời của người tham gia bảo hiểm thương mại càng cao, hoặc có sức khoẻ không tốt, thì sốtiền đóng bảo hiểm càng lớn. Nếu NLĐ mắc những bệnh hiểm nghèo, khó điều trị

như ung thư, nhồi máu cơ tim, suy thận, chấn thương sọnão nghiêmtrọng…thì không được tham gia bảo hiểm. Nếu được tham gia thì không được hưởng quyền lợi trong quá trình điều trị những bệnh lý nói trên. Ngoài ra, tùy theo từng công ty bảo hiểm, một số ngành nghề như thợ lặn, phi công, cảnh sát hình sự, phòng cháy chữa cháy… do có nguy cơ cao về tai nạn, bệnh nghề nghiệp, nên không được tham gia bảo hiểm thương mại. Mục đích của những quy định khắt khe này là để giảm thiểu rủi ro cho công ty bảo hiểm – chủ thể hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, chứ không phải nhằmđảm bảo an sinh cho người dân như BHXHtựnguyện. Trong khiđó,điều kiện được chitrảquyền lợi BHXHtựnguyện bao gồm xảy ra sựkiện bảo hiểm, nghĩa vụ đóng góp, tuổi đời (đối với chế độ hưu trí) và không có sự phân biệt giữa các nhóm đối tượng.

60

Thứnăm,đối với bảo hiểm thương mại, quyền lợi của người tham gia bảo hiểm được xác định theo hợp đồng đã ký. Trong trường hợp rủi ro, công ty bảo hiểm phá sản thì người tham gia có thể mất hết quyền lợi. Ngược lại, khi tham gia BHXH tựnguyện nói riêng, BHXH nói chung, hầu như mọi quyền lợi của người tham giađược bảo đảm an toàn tuyệt đối. Bởi lẽ, quỹBHXH ởcác quốc gia đều được Nhà nước bảo hộ, Nhà nước có chính sách bảo đảm khả năng chi trả bền vững của quỹ BHXH. Trong trường hợp bất khả kháng,Nhà nước sẽ điều tiết để bảo đảm quyền ASXH cho người dân.

2.1.1.3. Phân loại

BHXH tự nguyện được nghiên cứu từ nhiều góc độ, phương diện khác nhau, tuỳ thuộc vào cách thức tiếp cận. Do vậy, có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại BHXH tự nguyện. Chẳng hạn:

Căn cứ theo đối tượng tham gia: BHXH tự nguyện được chia thành BHXH

tựnguyện cho nông dân và BHXHtựnguyện cho laođộng phi chính thức không phải nông dân. Hình thức phân loại nàyđược áp dụng tại Trung Quốc, với hai chương trình BHXHtựnguyện riêng biệt là BHXHtựnguyện nông thôn áp dụng cho NLĐ trong độtuổi từ16 đến 60 tuổi không nằm trong diện tham gia chương trình BHXH thành thị [152]; và BHXH tự nguyện ở thành thị được áp dụng cho đối tượng là NLĐ phi chính thức khu vực thành thị từ đủ 16 tuổi và không nằm trong diện tham gia BHXH bắt buộc ở thành thị. Tương tự Trung Quốc, BHXH tự nguyện ởThổNhĩKỳcũng chia thành hai tiểu hệthống là BHXHtựnguyện đối với laođộng tự do và BHXH tự nguyện đối với nông dân tự do.

Căn cứ theo cơ chế tài chính: BHXH tự nguyện bao gồm BHXH tự nguyện thực hiện dựa trên cơ chế đóng góp và BHXH tự nguyện không dựa trên đóng góp. Ởmột sốquốc gia như Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Hàn Quốc, đểđược hưởng các quyền lợi BHXHtựnguyện, người tham gia phải thực hiện nghĩa vụđóng góp vào quỹ BHXH tự nguyện theo quy định. Mức trợ cấp được xác định trên cơ sở mức đóng góp, thời gian tham gia đóng góp và một số tiêu chí khác. Ngược lại, với BHXH tự nguyện không dựa trên đóng góp, người tham gia bảo hiểm không

61

phải đóng góp hoặc chỉđóng góp một phần nhỏ. Phần lớn quỹBHXH tựnguyện được đảm bảo bởi ngân sách Nhà nước. Việc đóng góp của người tham gia (nếu có) chỉ mang tính “trách nhiệm”. Chẳng hạn, ở Ba Lan, phần đóng góp của người tham gia bảo hiểm chỉ đảm bảo được 10% chi trả các chế độ và các hoạt động. Nguồn lực chủ yếu để thực hiện BHXH tự nguyện là do nhà nước tài trợ [75, tr.17].

Căncứtheochủthểquản lý: BHXH tựnguyện cóthểđược chia thành BHXH tựnguyện thuộc quản lý của nhà nước và BHXHtựnguyện không thuộc quản lý nhà nước. Ởmột sốquốc gia như Trung Quốc, Việt Nam, Phần Lan…, BHXH tựnguyện được tổchức, thực hiện và quản lý bởi nhànước (thông qua tổchức, cơ quan bảo hiểm). Theo đó, nguồn quỹ do các đối tượng tham gia đóng góp sẽdo Nhà nước trực tiếp quản lý,tổchức chitrảcho người tham gia khi đápứng điều kiện. Trong khiđó,tại Ba Lan, chính phủ trao quyền tổ chức thực hiện BHXH

tự nguyện cho các hiệp hội tương trợ bảo hiểm (tổ chức phi chính phủ). Do đó, hệthống BHXH tự nguyện ở Ba Lan hoàn toàn độc lập với hệ thống BHXH bắt buộc.

2.1.2. Bản chất của bảo hiểm xã hội tự nguyện

Là một loại hình BHXH, góp phần đảm bảo ASXH cho quốc gia, BHXH tựnguyện, trước hết mangđầy đủbản chất của BHXH nói chung.Đó là chia sẻ, bùđắp cho những rủi ro mà người tham gia bảo hiểm gặp phải vì những nguyên nhân khác nhau. Sự chia sẻ, bù đắp này được thực hiện thông qua việc hình thành và sửdụng quỹ tài chính do sự đóng góp của người tham gia, và sự hỗ trợ của Nhà nước, các tổ chức, cá nhân khác.

Dưới góc độkinh tế, bản chất của BHXH tự nguyện là quá trình phân phối lại thu nhập. NLĐ tham gia BHXH phải đóng một khoản phí nhất định vào quỹBHXH do Nhà nước quản lý. Quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ tập trung, được tích lũy

từ sự đóng góp của các bên liên quan. Quỹ được Nhà nước quản lý, điều tiết, nhằm đảm bảo phần thu nhập, thoả mãn nhu cầu sinh sống thiết yếu của NLĐ, khihọ gặp những biến cố làm giảm, hoặc mất thu nhập theo lao động. Sự tồn tại của rủi rođối với thu nhập của NLĐ là khó lường. Để bù đắp những khoản thu nhập bị mất khi sựcố xảy ra, nếu không tham gia BHXH thì cách tốt nhất là thực hiện tích luỹ cá nhân.

62

Tuy nhiên, tích luỹcá nhân có nhiều hạn chế. Việc tích luỹphải trải qua một quátrình. Trong khiđó,khi biến cố xảy ra, tuỳ theo mức độ tác động, NLĐ cần có ngay nguồn tài chính để bù đắp, trang trải, cho phần thu nhập bị mất. Biến cố xảy ra càng sớm, thì nguy cơ chưa kịp tích luỹ đủ khoản dự trữ càng cao. Biến cố càng nghiêm trọng, thì càng đòi hỏi phải có ngay lập tức một khoản dự trữ lớn. Đây là những yêu cầu không dễ, đặc biệt là với số đông lao động phi chính thức. Trong khiđó,nếu dựphòng rủi ro thông qua BHXH tự nguyện, NLĐ chỉ cần đóng góp hàng tháng một tỷ

lệ phần trăm thu nhập của mình, cùng sự hỗ trợ của ngân sách Nhà nước, để tạo ra một quỹ BHXH. Quỹ này là sự tập hợp của số đông NLĐ tham gia BHXH, đủ khảnăng bù đắp cho số ít người tham gia bị rủi ro. Khi gặp rủi ro, với việc lấy số đông bù số ít, những người bị rủi rosẽ được trợ giúp,vượt qua những khó khăn trong đời sống. Như vậy, BHXH tự nguyện về bản chất là dịch vụ tài chính, nhằm phân phối lại những khoản thu nhập bị mất của NLĐ khi gặp sự cố trong cuộc sống.

Dưới gócđộxã hội, BHXHtựnguyện là sựsan sẻrủi ro trong xã hội theo nguyên tắc tương trợ cộng đồng, số đông bù số ít, mang tính nhân văn sâu sắc. NLĐchỉ phải đóng một phần trong thu nhập của mình vào quỹ BHXH tự nguyện nhưng có thểđượcnhận một nguồn tài chính đủlớn,đểvượt qua những bất trắc, rủi ro trong đời sống. Nói một cách cụ thể, nhờ có BHXH, khi NLĐ rơi vào hoàn cảnh rủi ro, biến cố, dẫn đến bị mất, hoặc giảm sút thu nhập,họ sẽ được bù đắp một phần, hoặc tất cả,từquỹBHXH. Vìlẽđó, BHXH tự nguyện được xem là một hệthống

các hoạt động mang tính xã hội – nhân văn, nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ, mởrộng sản xuất, phát triển kinh tế, góp phần ổn định xã hội. Đócũng là sựthểhiện trách nhiệm xã hội của các thành viên tham gia BHXHtựnguyện và sựquan tâm ASXH của Nhà nước.

Khi nói đến bản chất của BHXH tự nguyện, cần phải thấy rằng, tính xã hội và tính kinh tế không tách rời, mà đan xen hòa quyện vào nhau. Khiđề cập đến sựbảo đảm kinh tế cho NLĐ và thân nhân của họ thông qua việc chia sẻ rủi ro, làđãnói đến ý nghĩa xã hội của BHXH. Ngược lại, khi nói tới sự đóng góp ít, nhưng có khả năng trang trải cho những rủi ro gặp phải trong đời sống, là đã nhắc đến ý nghĩa

63

kinh tế của BHXH. Nói điều này để thấy, các chính sách BHXH nói chung, BHXH tự nguyện nói riêng, nằm trong hệ thống các chính sách về kinh tế, xã hội, và là một phần quan trọng trong chiến lược xây dựng, phát triển của mỗi quốc gia.

2.1.3. Ý nghĩa của bảo hiểm xã hội tự nguyện

BHXH tự nguyện với tư cách là một hợp phần của BHXH – trụ cột chính của hệ thống ASXH quốc gia, ngày càng khẳng định ý nghĩa trên nhiều phương diện.

Thứnhất, BHXHtựnguyện góp phần ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình của họ. Như đã đề cập ở trên, BHXH nói chung, BHXH tự nguyện nói riêng, làphương thức chủ yếu mà các quốc gia trên thế giới sử dụng nhằm góp phần bảo vệcuộc sống, đảm bảo thu nhập cho NLĐ khi bị mất/giảm thu nhập do những rủi ro, khó khăn trong cuộc sống. Tham gia BHXH, NLĐ có điều kiện tiết kiệm được những khoản tiền đều đặn từ khi còn trẻ, khỏe, để có nguồn lực tài chính cần thiết khivềgià, hoặc khibịốm đau, tai nạn,từviệc chitrảcủa BHXH. Việc tham gia BHXH tự nguyện của NLĐ còn được Nhà nước hỗ trợ đóng góp và bảo đảm thực hiện. Nhờ đó, NLĐ hoàn toàn có thể an tâm và tự tin trong cuộc sống. Đây là chỗdựa tâm lý vững vàng để NLĐ hăng hái tham gia sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quảlaođộng.Mặt khác, BHXHtựnguyện trực tiếp giúp NLĐ ổn định cuộc sống khi về già, giảm nhẹ sự phụ thuộc vào con cái, hoặc phúc lợi xã hội, nếu họ tham gia. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh tốc độ già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng như ngày nay.

Thứhai, BHXHtựnguyện góp phần đảm bảo sựcông bằng và bình đẳng giữa những NLĐ thuộc các khu vực kinh tếkhác nhau.Được sống an toàn là nhu cầu và là quyền của mọi người trong xã hội. Nói cách khác, mọi NLĐ trong xã hội đều có quyền được đảm bảo ổn định cuộc sống, dù người đótham gia vàothịtrường lao động chính thức hay là lao động tựdo,tựtạo việc làm. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố tác động như điều kiện kinh tế, chính sách pháp luật, những NLĐ có quan hệlaođộng thường được tham gia BHXH trước theo hình thức bắt buộc. Trong khiđó,những người nông dân, những lao động thuộc khu vực phi chính thức luôn có nhu cầu được bảo vệ bởi hệ thống BHXH, nhưng không phải bao giờ cũng

64

được đáp ứng.Bởi lẽ, đâyphần lớn là nhóm đối tượng có thu nhập thấp, không ổn định,cuộc sống luôn đối mặt với nhiều khó khăn, trắc trở. Do đó, sự ra đời của loại hình BHXHtựnguyện, một mặt đápứng nhu cầu thực sựcấp thiết của NLĐởnhững mức độ,phạm vi khác nhau, mặt khác, thểhiện nỗlực đảm bảo tính công bằng, bình đẳng trong việc thực thi quyền con người đã được luật pháp khẳng định.

Thứ ba, BHXH tự nguyện góp phần đảm bảo ASXH. Sự ra đời của BHXH tựnguyện đã lấp đầy khoảng trống mà BHXH bắt buộc bỏ ngỏ. Nói cách khác, BHXH

tựnguyện và BHXH bắt buộc đã bao phủ cơ bản mọi tầng lớp NLĐ trong xã hội, trở thành trụ cột chính trong hệ thống ASXH quốc gia. Số người tham gia BHXH tựnguyện càng lớn, diện bao phủ của BHXH càng rộng. Từ đó,góp phần ổn định đời sống của người dân, ổn định xã hội, giảm thiểu các đối tượng được bảo trợ xã hội, giảm áp lực cho ngân sách Nhà nước. Ở những quốc gia đang phát triển, nơi mà lực lượng lao động phi chính thức chiếm mộttỷlệlớn (có thểlêntớigần70%) trong lực lượng lao động của đất nước [156], những lợi ích nói trên của BHXH tự nguyện càng đặc biệt có ý nghĩa..

Thứ tư, BHXH tự nguyện tạo ra cơ chế chia sẻ rủi ro, nâng cao tính cộng đồng xã hội, quađócủng cốtruyền thống đoàn kết, gắn bó giữa các thành viên trong xãhội. Bên cạnh đó, BHXH tự nguyện còn là công cụ phân phối, sử dụng nguồn quỹ dựphòng hiệu quả trong việc giảm hậu quả rủi ro, tạo động lực phát triển kinh tế, xã hội. Có thể nói, thông qua việc tham gia BHXH tự nguyện, những rủi ro trongđời sống của NLĐ được giải quyết kịp thời, hiệu quả, với chi phí thấp nhất.

2.2. Lý luận pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện

2.2.1. Khái niệm pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

KHO TÀI LIỆU.rar\TÀI LIỆU 2026 – RAR archive, unpacked size 47,105,959 bytes/ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆNỞ VIỆT NAM

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *