Đề xuất một số biện pháp rèn luyệnkỹ năng nghe hiểu tiếng Anh cho học viên trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần Công an nhân dân
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1. Những nghiên cứu trên thế giới liên quan đến chuyên đề
1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam liên quan đến chuyên đề
2. Tính cấp thiết của chuyên đề
Nghe hiểu là mộtphần thiếtyếucủa giao tiếp hàng ngày vàởbấtkỳngôn ngữ nào. Nghe hiểu chiếm một nửa trong hoạt động ngôn ngữ bằng lời và đóng vai trò quan trọng trong giáo dục, nghề nghiệp, xãhộivà tình huống cá nhân. Nghe hiểu cũng là mộthoạtđộngcực kỳphức tạp,đòihỏinhiều loại kiến thức và quá trình khác nhau tương tác với nhau. Khi được hỏi điều gì khó hơn giữa nói và nghe hiểu của ngôn ngữ nước ngoài, nhiều người sẽ chọn nghe hiểu. Nhiều giáo viên cho rằng việc dạy nghe hiểu là một thách thức bởi vì nghe hiểu không có các kỹ năng cụthểnàođượcquy định, không có hoạtđộngnào cóthểdẫnđếnviệc cải thiện nghe hiểu và không có điều gì cấu thành nên sự hiểu. Học viên cũng cảm thấy bối rốivì không có quy tắc nào mà ngườita cóthểghinhớđểtrởthànhngườinghe hiểu giỏi. Việc phát triển kỹ năng nghe hiểu cần có thời gian và thực hành, nhưng kỹ năng nghe hiểu vẫn phần nào bị bỏ qua trong tài liệu và giảng dạy trên lớp.
TrườngĐạihọc Kỹthuật -HậucầnCAND trong nhiều nămgầnđâyđã khẳng định vị thế trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về công nghệ thông tin, an toàn thông tin và kỹ thuật điện tử viễn thông, đóng góp quan trọng vào công tác phòng chốngtộiphạm công nghệ cao của lực lượngCAND. Để bắtkịpđược những xu thế hội nhập quốc tế, công việc của người cán bộ chiến sỹ CAND, hay cụthể là học viên Nhà trường, phải có khả năng giao tiếp ngoạingữ tốt, đặc biệt là kỹnăng nghe hiểu. Hơn nữa, vớiđặc thù ngành học, học viên Nhà trường thường xuyên tiếp xúc vớimáy tính, thiết bị kỹ thuật và các môn học, tài liệu khoa học – công nghệ tiếng Anh, các bài báo, tư liệu học tập, bài nghiên cứu nước ngoài, các hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế, cấp quốc gia, cấp hội đồng. Bên cạnh đó, việc
3
áp dụngđược tiếng Anh, nghe hiểu tiếng Anh cho thực tiễn công tác chiếnđấu cũngrấtquan trọng. Tương laimỗihọc viên trườngĐạihọc Kỹthuật -Hậucần CAND sau khi tốt nghiệp nhận công tác ở các đơnvị đềulà nguồn nhân lực “giỏi kỹ thuật nhất trong lực lượng nghiệp vụ và giỏi nghiệp vụ nhất trong lực lượng kỹthuật”, đòi hỏi học viênvừanhạy bén trong tìm tòi, học hỏi, vừa làmtốtcông tác chuyên môn và phải tiếp xúc nhiều với các loại văn bản, báo cáo, bài viết quốc tế,đốimặtvớicác trườnghợpxửlý công dân là ngườinước ngoài hoặctộiphạm người nước ngoài. Vì vậy, ngay từ khi còn trên ghế Nhà trường, học viên đều cầnđược trau dồi, rèn luyện tiếng Anh, đặc biệt là kỹ năng nghe hiểu. Nhận thức rõ vai trò then chốt của tiếng Anh trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhậpquốc tế, Đảngủyvà Ban giám hiệu Nhà trường luôn quan tâm, chú trọngtớicông tác đàotạo tiếng Anh, coiđâylà chìa khóa giúp học viên phát huy năng lực và đápứngyêu cầucông tác sau khi ra trường. Có như vậy, học viênmớicó thể nắmvững tiếng Anh, dễ dàng tiếp cận kiến thức chuyên ngành tiên tiến, trao đổi chuyên môn hiệu quả, đồngthời tự tin tham gia nghiên cứu khoahọcvà giải quyếtcác vấn đềthực tiễn công tác trong tương lai.
Tuy vậy, vớithực trạng hiện nay, kỹnăng nghe hiểu tiếng Anh đangtrởthành ràocảnlớnđốivớinhiều học viên trườngĐạihọc Kỹthuật -Hậucần CAND. Những hạn chế này xuất phát từ nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, ảnh hưởng đến chất lượng học tập. Nhiều học viên gặp khó khăn trong việc nghe hiểu tiếng Anh do thiếu phương pháp học tập hiệu quả, môi trường luyệntậphạnchế vàthiếu nguồn tài liệu nghe. Việc rèn luyệnkỹnăng nghe hiểu chưa được chútrọngđầyđủ trong chương trình đào tạo hiện tại của nhà trường, dẫn đến chất lượng đào tạochưa cao.
Kỹ năng nghe hiểu chưa tốt khiến học viên bỏ sót kiến thức quan trọng, ảnh hưởng đếnkết quả học tậpvà khả năng tiếp thu kiến thức chuyên ngành, khiến học viên gặp khó khăn trong giao tiếp vớingườibản ngữ, ảnh hưởngđến sựtựtin và
4
khả năng hòa nhập trong môi trường quốc tế. Bên cạnh đó, tâm lý lo lắng và tự ti do nghe hiểu kém khiến học viên ngại tham gia các hoạtđộngthảo luận, thuyết trình, và các hoạtđộng học tậpkhác đòi hỏi giao tiếp bằng tiếng Anh. Vì vậy, đểgiúp học viên rèn luyện và cảithiệnkỹnăng nghe hiểu tiếng Anh, nhóm nghiên cứu lựa chọn thực hiện chuyên đề nghiên cứu khoa học: “Đề xuất một số biện pháp rèn luyệnkỹ năng nghe hiểu tiếng Anh cho học viên trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần Công an nhân dân” nhằm đưa ra những khó khăn, nguyên nhân của những khókhăn và đề xuấtmộtsốgiải phápđể nâng cao hiệu quả của hoạtđộngnày, từđógóp phần cải thiện kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh nói riêng, năng lực tiếng Anh nói chung cho học viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu nghiên cứu về cơ sở lý luận liên quan đến kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh, những khó khăn trong việc rèn luyệnkỹnăng nghe hiểu tiếng Anh; đánh giá thực trạng việc rèn luyệnkỹnăng nghe hiểu vàđềxuấtmộtsốbiện pháp rèn luyện kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh hiệu quả cho học viên trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND.
4. Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu a. Cách tiếp cận
Cách tiếpcậnvềmặtlý thuyết: Nhóm nghiêncứutiến hành khảo sát, phân tích và tóm tắt các nguồn tài liệu, bài báo khoa học, văn bản và quy định liên quanđến phương pháp giảng dạy, học tập kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh.
Cách tiếp cận thực tiễn: Nhóm nghiên cứu phân tích kết quả nghiên cứu của chuyênđềdựa trên những khảo sát thực tế. Nhóm nghiêncứutiến hành khảo sát thông qua phiếu khảo sát trênứngdụng “Google Forms” đốivớihọc viên trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND.
b. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng. Để đạt được những kết quả đáng tin cậy nhất, các dữ liệu định lượng sẽ được thu thập thông qua phiếu khảo
5
sát trên ứng dụng “Google Forms”. Phiếu khảo sát sẽ được đăng trên Google Forms và chia sẻ tới các trung đội thông qua nhóm lớp để học viên tham gia khảo sát.
Phương pháp phân tích, tổnghợpsốliệu:Từcác sốliệu thu thậpđược từviệc khảo sát và phỏng vấn, nhóm nghiên cứu tiến hành so sánh, phân tích để tìm ra những khó khăn, nguyên nhâncủanhững khó khăn vàđềxuất giải phápđểkhắc phục những khó khăn này. Bên cạnh đó, việc phân tíchdữliệutừcác phiếu khảo sát nhằm tìm ra điểmmạnh và điểmyếucủa các học viên, từđócóthểđưa ra nhữngkếtluậnvềphương pháp, giúp nâng cao hiệuquảtrong việc rèn luyệnkỹnăng nghe hiểu tiếng Anh cho học viên.
Phương pháp đánh giá: Đánh giá khảnăng nghe hiểu tiếng Anh thông qua các bài tập nghe hiểu trong chương trình học, các tiêu chí đánh giá có thể bao gồm khảnăngnắmbắtnộidung, khảnăng phân tích và đánh giá, khảnăng phản hồi, khả năng vận dụng, khả năng tập trung, khả năng sử dụng các chiến lược nghe. Các chỉ số hoặc phương pháp định lượng có thể được sử dụng để đánh giá và ghi nhận kết quảtheo tiêuchí đã đềra, đánh giá hiệu quảcủaviệc rèn luyệnkỹnăng nghe hiểu tiếng Anh và mức độ cải thiện kỹ năng nghe hiểu của học viên.
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu a. Đối tượng nghiên cứu
Lý luận chung về kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh, thực trạng rèn luyện kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh và một số phương pháp luyện tập kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh của học viên trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND.
b. Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND. Về thời gian: từ tháng 01/2024 đến tháng 6/2024.
6. Ý nghĩa của nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của chuyên đề cung cấp thông tin hữu ích cho Ban giám hiệu nhà trường, lãnh đạo các đơn vị tại trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND trong việc lập kế hoạch và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy – học
6
kỹnăng nghe hiểu tiếng Anh. Đồngthời,đâycũng là tài liệu tham khảo quý giácho học viên Nhà trường, giúp học viên nắm được biện pháp rèn luyện và cải thiện kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh, từ đó đạt kết quả tốt hơn trong nghe hiểu tiếng Anh.
7. Nội dung nghiên cứu
Nhóm nghiêncứutìm hiểuvềcơsởlý luận liên quan đếnkỹnăng nghe hiểu tiếng Anh, những khó khăn trong việc học kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh; đánh giá thực trạng luyện tập kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh và đề xuất một số biện pháp rèn luyện kỹnăng nghe hiểu tiếng Anh cho học viên trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND.
Nội dung chính được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng việchọckỹnăng nghe tiếng Anhcủahọcviên trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND
Chương 3: Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh cho học viên trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND
7
PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm kỹ năng nghe hiểu 1.1.1. Khái niệm kỹ năng nghe
Theo trang từ điển Cambridge dictionary trực tuyến, “nghe” là một quá trình tiếp nhận âm thanh truyền đến[46]. Thêm vào đó, trang thông tin trực tuyến English Clubđềcậptới “nghe” như là quá trình tiếp nhận ngônngữthông qua chuyển đổi mã hoá thông tin thành dạng thông tin vô hình và chuyển lên não. Khi thực hiện nghe, ngườinghe sửdụng tai (thính giác) đểnhận biết (âm, chữ, dấu nhấn trọng âm, giọngđiệuvà cách ngắt nhịp) và dùng nãođểchuyển hoá những phần thông tin này thành dạng ngôn ngữ mà người nghe dùng để truyền đạt thông tin. Ngoài ra, Rost (2002) cũng bổ sung thêm việc lắng nghe là quá trình tiếp nhận điều mà người nói thực sự đang truyền tải, hình thành và tái tạo lại những thông tinđưa vào (input) theo dạng ngôn ngữ ở trong não [28].
Bên cạnh đó, theo Pourhossein Gilakjani và Ahmadi (2011) thì ngoài việc tiếp nhận và mã hoá thông tin như trên, nghe còn liên quanđếnvấn đề lắng nghe cảmnghĩ, cảmxúc, lắng nghe cảmgiác và tâm tư tình cảm, đồngthời còn phánđoánýcủa ngườinói, mà việc nàyđòihỏisựtậptrungnỗlực và luyệntậpcủa ngườinghe [24]. Theo Hasan (2000), “nghe” và“hiểu” là hai quá trình tách biệt, trongđó“nghe” là một quá trình mà ngườinghe tiếp nhận thông tin, và quá trình này diễn ra một chiều, hoàn toàn không đòi hỏi bất kỳ sự giải thích hay tương tác nào với văn bản nghe [16].
Các nhà nghiên cứu phân biệt giữa “nghe” (Listening) và “nghe thấy” (Hearing), rằng“nghe” là mộtquá trìnhchủđộng, baogồmviệc phân tích âm thanh, khác hẳn với “nghe thấy” chỉ thu nhận âm thanh một cách bị động.
Từ các định nghĩa trên, nhóm nghiên cứu đưa ra định nghĩa về kỹ năng nghe như sau: Nghe là một quá trình chủ động và có mục đích trong đó người nghe tiếp nhận các âm thanh mà người nói tạo ra, liên hệ với kiến thức họ hiện có (bao gồm
8
cảkiến thức vềngônngữvà kiến thức vềvăn hóa – xã hội) vàngữcảnhcủabài nghe đểhiểuđược ýnghĩacủathôngđiệpnghe ởngônngữthứnhất hoặc ngôn ngữ thứ hai.

1.1.2. Khái niệm kỹ năng nghe hiểu
Trong cuốn sách Listeningđượcphát hành vào năm 1988, Anderson vàLynch (1988) đã chỉ ra rằng: “Để nghe hiểu thành công, người nghe đóng vaitrò rất quan trọng bởi vì người nghe phải biết vận dụng kiến thức sẵn có của chính mìnhđể có thể nghe và hiểu người nói.” [1]
Richards và Schmidt (2002) cũng miêutảnghe hiểu như quá trình hiểu lời nói ở ngôn ngữ thứ nhất hoặc thứ hai, và việc nghe hiểu một ngôn ngữ thứ hai bao gồm cả hai quá trình Trên xuống (Top-down) và Dướilên (Bottom-up) [25]. Brown (2006) cũng chia sẻ quanđiểmnày và cho rằng quá trình “top-down” xảyra khi người học sử dụng kiến thức nền vàvốn từvựng cósẵn đểnắmbắtnộidung của bài nghe, còn quá trình “bottom-up” là dùng ngữ cảnh của bài nghe để đoán trước nghĩa của từmới. Nghe hiểu là quá trình hiểulờinóiở ngônngữthứnhất hoặc ngôn ngữ thứ hai. Nhiệm vụ của nghe hiểu không chỉ là tiếp nhận âm thanh mà nócòn đòi hỏi sự phân tích và xác định được thông điệp của lời nói [6].
Theo Hasan (2000), “nghe hiểu” là quá trình diễn ra hoạt động tương tác hai chiều giữa người nghe và văn bản nghe, và sự tương tác này giúp người nghe có sựhiểu biết khái quát về văn bản nghe. Quá trình “nghe” và “hiểu” này được thực hiện khi người nghe chọn lọc và giải thích được những thông tin thu nhận nhờ cơ quan thính giác cùng các dấuhiệu trực quan khác (nếu có) nhằm mục đích hiểuđược thông điệp của người nói [16].
ĐỗQuang Việt (2008) cũng đưa ranhận địnhrằng: “Trong các kĩ năng thực hành, “nghe hiểu” là một kĩ năng giao tiếp thụ dộng, là một quá trình mã hóa và giải mã, trongđó“nghe”thuộc phạm trù tiếp nhận, mã hóa các tín hiệu ngônngữdưới dạng âm thanh phát ra với tư cách là yếu tố có nghĩa, và “hiểu” thuộc phạm trù lí giải hay giải mã các tín hiệu ngôn ngữ đã được mã hóa. Có một yếu tố vô cùng quan trọng
9
gắn kết “nghe” và “hiểu” ra một chu trình khép kín, đó là ghi nhớ hay lưu trữ thông tin mã hóa.” Có thể nói “nghe” và “hiểu” là hai mặt biện chứng của một quá trình phức hợp, chế định lẫnnhau. “Nghe” là cơ sở quyếtđịnh “hiểu”, ngược lại “hiểu” có tính tương đối tác động trở lại, bổ sung cho “nghe” [37].
Từ các định nghĩa trên, nhóm nghiên cứu rút ra định nghĩa về kỹ năng nghe hiểu như sau:Kỹnăng nghe hiểu làkhảnăng tiếp nhận vàxửlý thông tinđược truyền tải qua kênh thính giác, bao gồm việc nhận biết âm thanh, phân biệt các từ, hiểu nghĩa của các câu, và nắm bắt được nội dung tổng thể của bài nghe. Kỹ năng này đóng vai trò quan trọng trong việc học ngoại ngữ, giúpngườihọc giao tiếp hiệu quả trong môi trường sử dụng ngôn ngữ đó.
1.2. Vai trò của nghe hiểu trong việc học ngoại ngữ
Kỹnăng nghe hiểu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc học ngoại ngữ, là nền tảng cho việc giao tiếp hiệu quả và là chìa khóa mở ra cánh cửa thành công trong quá trình tiếp thu ngôn ngữ mới. Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, khi Tiếng Anh là ngônngữphổbiến nhất trênthếgiới, được sửdụng trong rất nhiều lĩnh vực như giáo dục, kinh doanh, du lịch, khoa học và công nghệ, kỹ năng nghe hiểulạicàng khẳngđịnhvai trò then chốt của mình và giúpngườihọc phát triển toàn diện.
Thứ nhất, kĩ năng nghe hiểu giúp người học tiếp thu kiến thức tốt hơn. Nghe hiểu là kênh tiếp thu thông tin chính trong giao tiếp trực tiếp, giúp người học tiếp thu kiến thức vềngữpháp, từvựng, phát âm, văn hóa, v.v.mộtcáchtựnhiên vàhiệu quả. Thông qua nghe hiểu, người học có thể tiếp cận với nhiều nguồn tài liệu phong phú như bài giảng, bài báo, phim ảnh, v.v. mà không cần phụ thuộc vào khảnăng đọc viết. Việc tiếp thu kiến thức qua nghe hiểu giúp người học ghi nhớ thông tin lâu dài và hình thành phản xạ ngôn ngữ tự nhiên.
Thứ hai, kĩ năng nghe hiểu giúp người học phát triển khả năng giao tiếp.Kỹnăng nghe hiểu là nềntảng cho việc giao tiếp hiệuquảtrong môi trườngsửdụng ngôn ngữ đó. Để có thể giao tiếp trôi chảy, người học cần có khả năng hiểu được ý
10
đồ và mong muốn của ngườinói, từđóphảnhồimộtcách chính xác và phù hợp. Kỹ năng nghe hiểu tốt giúp người học tự tin tham gia vào các hoạt động giao tiếp như trò chuyện, thảo luận, thuyết trình, v.v. Nhờcókỹnăng nghe hiểu tốt, người học có thể hiểu được văn hóa và phong tục tập quán của người bản ngữ, từ đó tránhđược những hiểu lầm và mâu thuẫn trong giao tiếp.
Thứ ba, kĩ năng nghe hiểu giúp hình thành và nâng cao khả năng tư duy cho ngườihọc. Nghe hiểuđòihỏingườihọc phảitậptrung chú ý, ghinhớvà xửlý thông tinmộtcách nhanh chóng, giúp rèn luyệnkhảnăng tư duy logic và phản biện. Khi nghe, người học cần liên tục phân tích, tổng hợp và đánh giá thông tin đểhiểuđược nội dung bài nghe. Quá trình nghe hiểu cũng giúp người học rèn luyện khả năng dự đoán, suy luận và sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ.
Thứtư, kĩ năng nghe hiểutốttạođiềukiện chongườihọc mởrộng cơ hội học tập và làm việc. Kỹ năng nghe hiểu tốt giúp người học tự tin tham gia vào các hoạt động học tập và nghiên cứu quốc tế. Người học có thể nghe và hiểu được các bài giảng, tài liệu chuyên ngành bằng tiếngnướcngoài mà khôngcần phụđề.Kỹnăng nghe hiểu cũng là mộtyếutốquan trọngđểứngtuyển vào các công ty đa quốc gia và làm việc trong môi trường quốc tế.
Thứ năm, kĩ năng nghe hiểu giúp thúc đẩy niềm yêu thích học ngoại ngữ. Khi có thể nghe hiểu và giao tiếp hiệu quả bằng ngôn ngữ mới, người học sẽ cảm thấy tựtin và hứng thú hơn trong việc học tập. Việc tiếp xúc với các nền văn hóa khác nhau qua nghe hiểu cũng giúp người học mở rộng tầm nhìn và hiểu biết của bản thân.
Tóm lại, kỹ năng nghe hiểu đóng vai trò đặc biệt quan trọng bởi vì quá trình này không chỉ cho phép người học tiếp nhận thông tin dưới dạng âm thanh mà còn giúp họ tích lũy, bắt chước những nội dung đã nghe nhằm hỗ trợ hoạt động nói vàtái tạo ngôn ngữ sau này.
11
Quá trình nghe hiểu là mộtquá trình phức tạpvà đa dạng vì nó bao gồm nhiều cách tiếp cận khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều mô hình khác nhauđểmôtảquá trình này. Theo nhiều chuyên gia ngônngữthì quá trình nghe hiểu ngôn ngữ thứ hai có thể thực hiện bằng hai kỹ thuật (hay cách tiếp cận) khác nhau: nghe từ trên xuống dưới (top-down) và nghe từ dưới lên trên (bottom-up).
“Top-down” (nghe từ trên xuốngdưới)là phương pháp nghe mà người học sử dụng kiến thức nền về một vấn đề nào đó để hiểu ý nghĩa của những thông tin xuất hiện trong bài nghe. Kiến thức nềnbaogồmcontext (ngữ cảnh, hoàn cảnh hoặc chủ đề của bài nghe) hoặc co-text (những từ xuất hiện trước hoặc saumột từcụthểtrongđoạnnghe, giúpngườihọc xác địnhđược ýnghĩacủatừđó). Chẳng hạn, trong một cuộc tròchuyện với một người bạn về chủ đề “bàikiểm tra”, khi đãbiết được cuộc hội thoại xoay quanh vấn đề gì, kiến thức của người học về vấn đềđó(trong trườnghợpnày là chủđềgiáo dục, thi cử) sẽđượcsửdụngđểkhoanh vùng từ vựng liên quan cũng như dự đoán những thông tin có thể xuất hiện. Đây là mộtkỹthuật nghe rấtquan trọng trong quá trình giao tiếp tiếng Anh, bởi ngaycảnhữngngườihọc tiếng Anh lâu năm cũng khôngthểbiếtđược tấtcảcác từvựng trong ngôn ngữ này. Sử dụng cách tiếp cận “top-down” cho phép người học liênhệ
tới những kiến thức đã biết về chủ đề đang nghe để dự đoán ý nghĩa của những từvựng họ không biết và việc tiếp nhận thông tin không bị đứt quãng. Cách tiếp cận này phùhợpvớingườihọc tiếng Anhởtrìnhđộtrungcấptrởlên khiđã có một lượng từ vựng nhất định. Nguyên nhân là vì nếu năng lực nghe hiểu của người học bị giới hạn trong một vài từ cơ bản, ngay cả khi họ đã có một số hiểu biết nhất định về chủ đề được nhắc đến, những kiến nền đó cũng không thể giúp người học hiểu được nội dung của bài nghe. Để áp dụng cách tiếp cận “top-down”, trong quá trình nghe người học nên chú ý tới một số từ khóa quan trọng xuất hiện trong bài nghe mang thông tin giúp họ xác định được vấn đề được nhắc đến. Ví dụ cụ thể được lấy từ transcript của một bài nghe trích từ Cambridge IELTS 10 [49]:
12
File nghe 1.1 Hình 1.1. Ví dụ về phương pháp nghe “top-down” [49]
Những từ được gạch chân trong đoạn trên là những “key word” hay những từkhóa quan trọng mang thông tin giúp người nghe xác định được đối tượng mà bàiđang nhắc tới. Ví dụ: Purpose (mục đích); protect dolphins (bảo vệ cá heo); around the world (trênthếgiới); raise people’s awareness (nâng cao nhận thức của con người); problems (vấn đề); marine creatures are suffering (sinh vật biển đang phảiđốimặt); started ten years ago (bắtđầumườinăm trước); animal charities (trung tâm bảo hộ động vật); in education (trong lĩnh vực giáo dục); visted schools (thăm các trường học); talk to children and young peope (trò chuyện với trẻ em và những người trẻ). Như vậy, qua một vài từ khóa nêu trên người học có thể biết được chủđềmà đoạnnày nóitớilà vềbảotồnthiên nhiên, cụthểhơn là vềmộttrung tâm bảo hộ động vật có mục địch giáo dục ý thức của người dân. Điểm hay của phương pháp nghe từtrên xuống là không yêucầungườihọc phải nghe hiểu từngtừmột trong bài nghe mà vẫn nắm bắt được một phần thông điệp được nhắc tới.
Ngược lại với cách tiếp cận “top-down”, kỹ thuật “bottom-up” (nghe từ dưới lên trên) đòi hỏi người học phải “giải mã” hay nghe hiểu được những đơn vị thông tin nhỏ nhất, chẳng hạn như nhận diện các âm, phân biệt từ vựng, phát hiện những cấutrúcngữpháptừđódẫntớisảnphẩm cuối cùngcủaquá trình nghe là hiểu được ý nghĩa của thông điệp. Chẳng hạn trong câu “Tomorrow, my uncle John will come over to visit us”, quá trình nghe sẽ bắt đầu bằng việc người học tiếp nhận âm
13
thanh của mỗi từ đơn trong câu “tomorrow”, “my”, “uncle” …; sauđó họ sẽ nhận diệnýnghĩa của các âm mà mình nghe được đểphân biệttừđóvớicác từkhác,
chẳng hạn /təˈmɒrəʊ/ là trạngtừchỉthời gian, có nghĩa là ngày mai…; quá trình nghe – giải mã sẽdiễn ra liên tục nhưvậyđếnkhingườihọc hiểuđược nộidung của bài nghe. Phương pháp nghe từ dưới lên phù hợp với những người bắt đầu học nghe. Nguyên nhân là do lượng từ vựng giới hạn, chưa cho phéphọ tự động xử lýnhững gì mình đang nghe và hiểu được thông điệp của bài. Do đó, người học cần
phải dựa vào những yếu tố của ngôn ngữ như âm thanh, ngữ pháp, từ vựng, … vàrồixửlý nhữngđơnvịthông tinđóthànhmộtthôngđiệpcó nghĩa. Vídụcụthểđược lấy từ một bàinghe trích từ Cambridge IELTS 10 [50]:
File nghe 1.2 Hình 1.2. Ví dụ về phương pháp nghe “bottom-up” [50]
Thay vì nghe đểlấythông tin chung và hiểumộtcách khái quátnộidung nghe như trong cách tiếpcận“top-down”, ngườihọccầnphải chúýđếnnhững thông tin chi tiếtđểtrảlờicâu hỏi.Lầnnày, họphải giải mã những âm thanhđãnghe, xác định đó là từ nào. Khả năng “bóc tách” những đơn vị thông tin nhỏ từ bài nghe đóng vai trò rất cần thiết khi làm những dạng bài tập như trên. Trong quá trình này, khi tiếp nhận âm thanh, ngườihọc phải tư duy nhanh chóngđểnhận diện, phân biệt những từ nào đang được nhắc đến, đồng thời ghi các âm đó ra dưới dạng chữ viết. Đây là một phương pháp luyện nghe tiếng Anh hiệu quả, trong dài hạn cóthểgiúp người học ngoại ngữ rèn luyệntốc độxử lýthông tin cũng như xác định được các từ xuất hiện trong quá trình nghe.
14
Rost (2013) cũng khẳng định sự thành công của nghe hiểu cần đến sự kết hợp của các kỹ năng “bottom-up” và “top-down”. Sự kết hợp của các kỹ năng nhận thức, kỹ năng phân tích, kỹ năng tổng hợp được gọi là năng lực nghe của người học. [29]
| NĂNG LỰC NGHE | |||||||
| Phân biệt âm thanh Nhận biết từ ngữ Sửdụng kiến thức nền tảng | Khả năng phân tích Nhận biết các đơn vị ngữ pháp Nhận biết các đơn vị thực dụng | Kỹ năng tổng hợp Kếtnối ngôn ngữ và cácđầu mốikhác | |||||
Hình 1.3. Năng lực nghe của người học (Rost (2013))
Trên thực tế, quá trình nghe hiểu thường diễn ra theo cả hai cách “top-down” và “bottom-up”. Người nghe sử dụng cả kiến thức nền và thông tin được nghe thấy để hiểu nội dung bài nghe. Minh chứng cụ thể cho quá trình nghe hiểu theo phương pháp “top-down” và “bottom-up” rằng khi nghe một bài giảng, người học có thể sửdụng kiến thức nềnvềchủđềbài giảngđểdựđoánnộidung chínhcủabài giảng trước khi nghe. Khi nghe, người học sẽ tập trung vào các từ khóa và cụm từ quan trọng để xác định ý chính của bài giảng. Hay khi nghe một bài hát, người nghe cóthể sử dụng ngữ cảnh của bài hát để đoán nghĩa của các từ mới. Ví dụ, nếu người nghe nghe thấy câu “The sun is shining bright”, họ có thể đoán rằng từ “shining” cónghĩa là “sáng chói”.
Tóm lại, “top-down” và “bottom-up” là những cách tiếpcậnquan trọng mà ngườihọccần luyệntậpthành thạođểgiúphọhiểuđượcthông tindướidạng âm thanh. Tuy nhiên, tùy vàomụcđích nghe (ngheđểhiểuchủ đềchung hay ngheđể
lấy thông tin chi tiết) hoặc năng lực của người học (trình độ trung cấp, cao cấp hay người mới bắt đầu học), người học cần chọn một trong hai cách tiếp cận này sao cho phùhợpvớihoàn cảnh nghe tiếng Anhcủabảnthân.Sựkếthợpgiữa hai phương pháp nghe trên sẽ giúp người học cải thiện kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh hiệu quả.
15
1.4. Các bước của quá trình nghe hiểu
Nhìn chung, quá trình nghe hiểu cóthểđược chia thành các bước như sau. Bước đầu tiên trong quá trình nghe hiểu là nhận biết các âm thanh trong bài nghe. Người nghe cần phải phân biệt được các âm tiết, từ vựng, ngữ điệu, nhịp điệu, v.v.để hiểu được nội dung bài nghe. Khả năng nhận biết âm thanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ ngoại ngữ, vốn từ vựng, ngữ pháp, kinh nghiệm nghe, tốc độnói của ngườibảnngữ, v.v. Sau khiđã nhận biếtđược các âm thanh, ngườinghe cần phải hiểu nghĩa của các từ trong bài nghe. Việc này đòi hỏi người nghe phải cóvốn từvựng phong phú và hiểu rõ ngữ pháp của ngôn ngữ đang học. Khiđãhiểu nghĩa của các từ, người nghe cần phải kết hợp các từ lại với nhau để hiểu nghĩa của các câu. Việc này đòi hỏi người nghe phải có kiến thức về ngữ pháp và cấu trúc câu của ngôn ngữ đang học. Bước cuối cùng trong quá trình nghe hiểu là nắm bắt nội dung tổngthểcủa bài nghe. Ngườinghe cầnphải xác địnhđược chủđềchính, ýchính, thông tin chi tiết, tóm tắt lại nội dung bài nghe [40].
| Bước 3. Kết hợp từ | Bước 4. Nắm bắt nội dung tổng thể | ||
| Bước 1. Nhận biết âm thanh | Bước 2. Hiểu nghĩa của từ | ||
| Phân biệt âm tiết, Hiểu nghĩa của Kết hợp các từ lại từ vựng, ngữ các từ trong bài với nhau để hiểu điệu, nhịp điệu, nghe, đòi hỏi nghĩa của các v.v. người nghe có câu, đòi hỏi vốn từ vựng người nghe phải phong phú và có kiến thức về hiểu rõ ngữ pháp ngữ pháp và cấu củangôn ngữ trúc câu của ngôn đanghọc ngữ đanghọc | Xác định chủ đềchính, ý chính và thông tin chi tiết trong bài nghe Tóm tắt lại nội dung bài nghe | ||
Hình 1.4. Các bước của quá trình nghe hiểu [40]
16
Như vậy người học ngoại ngữ cần sử dụng các chiến lược và kỹ thuật cụ thểđể nghe hiểu được thông điệp của người nói. Việc hiểu rõ các bước trong quá trình nghe hiểu sẽ giúp người học rèn luyện kỹ năng nghe hiểu một cách hiệu quả hơn.
1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nghe hiểu
Theo nhiều cuộc nghiêncứuđã được tiến hành trong hơn hai thậpkỷvừa qua xác định các tác động mà những nguyên nhân chính có mối liênhệ với sự thất bại và thành công trong việc nghe hiểu của người học. Dựa theo sự nghiên cứu trên phạm vi rộng của Robin (1994) mà bài nghiên cứu ởtrườngĐạihọc quốc gia Singgapore (National University of Singapore) đã đăngtảithì: Rubin tiến hành nhằm nghiên cứu, đánh giá khả năng thành công và thất bại của người nghe trong quá trình nghe dựa trên sự hiểu biết về các nhân tố bên trong và bên ngoài, các yếu tố này rất quan trọng trong việc nghiên cứu kĩ năng nghe hiểu [31].
CụthểBrown (1995) đãđưara rằngsựliên quanđếnkhảnăng tiếp nhận thông tin có mối liên hệ mật thiết với nội dung của ngữ cảnh [5]. Theo đó, Hassan (2000) đã bổ sung nhân tố liên quan đến việc trau dồi thông tincụ thểlà kỹnăng nghe. Hassan đã nói sự cần thiết lắng nghe và mức độ quan tâm và sự yêu cầu phản hồi thông tin đầy đủ và chính xác đóng vai trò làm nhân tố trực tiếp hay gián tiếp gây nênsựkhó khăn trong việc nghe hiểugồm4 thànhtố:thông tin truyềnđạt,người nghe,ngườinói vàhạnchếvềđiềukiện lý tính [16]. Tiếpnốitheosựtìm kiếm những nhân tố tác động lên quá trình nghe hiểu đó, vào năm 2001, Buck đã chỉ ra những khó khăn cụ thể liên quan đến nội dung của ngữ cảnh như là từ vựng mới, chủ đề không quen thuộc, tần suất, tốc độ nói sẽ được phân tích cả về những ngữđiệu,giọngđiệulạ.Điềunày đóng vai trò tácđộngtrực tiếpđếnquá trình nghe của người nghe [7].
Từ các nhận định trên, có thể thấy rằng kỹ năng nghe hiểu đóng vai trò quan trọng trong việc học ngoại ngữ, giúpngườihọc tiếp thu kiến thức, phát triểnkhảnăng giao tiếp và nâng caokhảnăng tư duy. Tuy nhiên, việc rèn luyệnkỹnăng
17
nghe hiểu không phải lúc nào cũngdễdàng, doảnhhưởngbởinhiềuyếutố, bao gồm cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan.
1.5.1. Yếu tố chủ quan
Thứ nhất, về động cơ, thái độ của người nghe. Theo Ellis (1994), động cơ vàthái độ học tập cũng được xem là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình tiếp thu ngônngữthứhai [11]. Theo Gardner (1985),độngcơ baogồm4yếutố: mục đích cần đạt được trong hoạt động học tập, sự nỗ lực để đạt được mục đích, ước muốnđạtđượcthành công và tháiđộđốivớihoạtđộnghọctập[13]. Ellis (1994) cũng cho rằng thái độ và động cơ của người học sẽ quyết định sự kiên trì của người học khi đương đầu với những thử thách hay khó khăn trong học tập, yếu tố này cóảnhhưởngđếnmứcđộthành thạo ngônngữcủangườihọcvà luân phiêndẫnđến thành công hay thất bại trong việc phát triển ngôn ngữ [11]. Điều này cho thấy tháiđộ tích cực và hứng thú với nội dung bài nghe sẽ giúp người nghe tập trung tốt hơn,
từ đó nâng cao khả năng tiếp thu thông tin. Ngược lại, thái độ tiêu cực hoặc thờ ơ sẽkhiến người nghe mất tập trung, ảnh hưởng đến khả năng nghe hiểu.
Thứ hai, về điều kiện sức khỏe của người nghe. Nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh mối liên hệ giữa sức khỏe và khả năng nghe hiểu. Một nghiên cứu của Đại học Harvard (2008) cho thấy những người bị thiếu ngủ có khả năng nghe hiểu kém hơn so với những người ngủ đủ giấc [12]. Một nghiên cứu khác của Đại học California, San Francisco (2012) chỉra nhữngngườibịrốiloạn lo âu có xu hướng mắc chứng khó nghe hiểu [2]. Mặt khác, một nghiên cứu của Đại học Quốc gia Singapore (2008) cho thấy những người bị trầmcảmcókhảnăng xử lý thông tin âm thanh kém hơn sovớinhữngngườikhôngbịtrầmcảm[21]. Cóthểthấy rằng, sức khỏe đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng lớn đến khả năng nghe hiểu hiệu quả. Khi gặp vấn đề về sức khỏe, người học sẽ gặp khó khăn trong việc tập trung, xử lý thông tin và kiểm soát cảm xúc, từ đó dẫn đến việc nghe hiểu kém hiệu quả. Do đó, việc chăm sóc sức khỏe bản thân là vô cùng quan trọng để duy trì khả năng nghe hiểu tốt và nâng cao chất lượng cuộc sống.
18
Thứba,vềđiềukiện tâm lý của ngườinghe. Theo trang Business Degree, giống như lý tính, cảm xúc đóng vai trò quan trọng trong quá trình nghe hiểu. Cảm xúc caođộhạnh phúc cũngcảntrởquá trình nghe [8]. Khi tâm lýngườinghe ởtrạng thái tốt, họ sẽ có khả năng tập trung cao độ, xử lý thông tin nhanh chóng vàghi nhớ thông tin hiệu quả. Ngược lại, khi tâm lý người nghe bị ảnh hưởng bởi các yếutốtiêu cực như lo lắng, căng thẳng, buồn bã, v.v., họsẽgặpkhó khăn trong việc tậptrung, xửlý thông tin và ghinhớthông tin, dẫnđếnviệc nghe hiểu kém hiệu quả. Một nghiên cứu của Đại học Cambridge (1995) cho thấy những người bịcăng thẳng có khả năng nghe hiểu kém hơn so với những người bình tĩnh [18]. Do đó, ngườihọc cầngiữcho mình tâm trạng bình tĩnh và thư giãn khi rèn luyệnkỹnăng nghe hiểu.
Thứ tư, về phát âm của người học. Một nghiên cứu của Đại học Essex (1995) cho thấy những người học tiếng Anh có phát âm tốt hơn có khả năng nghe hiểu tốt hơn so với những người học tiếng Anh có phát âm kém hơn [19]. Do đó, phát âmảnhhưởngrấtlớnđếnkỹnăng nghe hiểu nhưkhảnăng nhận diện âm thanh, khảnăngkếtnốiâm thanh, khả năng dự đoán, v.v. Phát âm chính xác giúp người học nhận diện âm thanh dễ dàng hơn, kết nối âm thanh mượt mà hơn, dự đoán âm thanh tiếp theotốthơn và tựtin hơn khi giao tiếp. Nếungườihọc phát âm sai, họsẽkhôngthểnào nghe và nhận diệnđược từmàngườinói đangsửdụng. Vì vậy, người học nên đầu tư thời gian vào việc học phát âm. Nếu phát âm của người học tốt, khả năng nghe của người học sẽ được cải thiện rất nhiều.
Thứ năm, về khả năng ghi nhớ. Tuy không phải là mấu chốt của vấn đề nghe nhưng khả năng ghi nhớ thường cần thiết và là một phần không thể thiếu trong quátrình nghe hiểu. Theo Goh (1999), nếu như người nghe không nhớ được, tức là họkhông nghe được. Thêm vào đó, khả năng ghi nhớ giúp người nghe lưu giữ thông tin trong ngắn hạn, từ đó giúp họ hiểu được nội dung bài nghe một cách tổng thể. Do đó, người học cần luyện tập khả năng ghi nhớ để có thể rèn luyện kỹ năng nghe hiểu hiệu quả.
19
Thứsáu,vềtừ vựng vàngữpháp. Theo Grabe (1991) việcmởrộngtừvựng (Vocabulary development) làmộtyếutốquan trọng đóng góp cho việc phát triển ngôn ngữ trong học ngoại ngữ [15]. Việc thiếu vốn từ (lack of vocabulary) là một trởngại lớn cho học viên trong quá trình học tiếng Anh nói chung và kỹ năng nghe nói riêng.Người họcnêncảithiện bằng cách nghelạitừnhiều lần trongmộtcâu hoặc trong các câu khác nhau trong một bài. Khi nghe và hiểu nghĩa từ trong câu cụ thể, người học sẽ thuộc từ và thuộc luôn cả câu, từ đó có thể sử dụng lại cấu trúc của câuđó sau này. Cùng với đó, Leong và Ahmadi (2017) cho rằng những người học ngoại ngữ chuyên sâu có phạm vi về từ vựng và câu [20]. Họ nên lĩnh hội và nắm bắt các
từ được chia như thế nào về mặt âm thanh và trọng âm của từ vựng một cách chi tiết.Đểđạtđượctrìnhđộcao trong ngôn ngữ,ngườihọccầnmởrộngvốntừvựng vànắm vững các quy tắc ngữ pháp một cách bài bản. Từ vựng và ngữ pháp là hai yếu tốthen chốt giúp người học ngoại ngữ chuyên sâu đạt được trình độ cao. Việc trau dồi vốn từ vựng phong phú và nắm vững ngữ pháp một cách bài bản sẽ giúp người học thể hiện ý tưởng một cách chính xác, sinh động và tự tin trong giao tiếp.
1.5.2. Yếu tố khách quan
Thứ nhất, về tốc độ của người nói. Tốc độ của người nói là một trong những yếutốquan trọng nhất ảnhhưởngđếnkhảnăng nghe hiểu. Khingườinói nói quánhanh,ngườinghesẽgặpkhó khăn trong việc phân biệt các âm thanh,từvựng vàngữ điệu, dẫn đến việc không hiểu được nội dung bài nghe. Theo nghiên cứu của Gat (1988), người nghe thường gặp khó khăn trong việc hiểu nội dung bài nghe khi tốc độ nói tăng lên 20% so với tốc độ bình thường [14]. Tuy nhiên, tốc độ nói không chỉảnhhưởngđếnkhảnăng nghe hiểu mà còn tácđộngđếncảmxúc và tháiđộcủa ngườinghe. Giọng nóivộivàng,gấpgáp cóthểtạocảmgiáchốithúc, thiếu tôn trọng, khiến người nghe cảm thấy khó chịu, bực bội. Ngược lại, tốc độ nói chậm rãi, rõ ràng, truyền tải thông tin một cách nhẹ nhàng, tự tin sẽ tạo ấn tượng tốt đẹp, thu hút sự chú ý và khơi gợi sự đồng cảm của người nghe. Như vậy, tốc độ nói đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông tin hiệu quả. Để tối ưu hóa hiệu quả giao
20
tiếp, người nói cần điều chỉnh tốc độ phù hợp với ngữ cảnh, đối tượng và nội dung truyền tải. Giọng nói chậm rãi, rõ ràng, truyền tải thông tin một cách mạch lạc, sinhđộng sẽ giúp người nghe dễ dàng tiếp thu, thấu hiểu và ghi nhớ thông tin.
Thứ hai,vềchất lượng âm thanh. Âmlượngcũng là mộtyếutố quan trọng ảnhhưởngđếnkhảnăng nghe hiểu. Khi âmlượngquá nhỏ, ngườinghe sẽkhónghe rõ các âm thanh, dẫn đến việc bỏ sót thông tin. Ngược lại, khi âm lượng quá
lớn, người nghe sẽ cảm thấy khó chịu và mất tập trung, ảnh hưởng đến khả năng xửlý thông tin. Theo khuyến cáo của Hiệp hội Âm thanh Hoa Kỳ (American Speech- Language-Hearing Association), mức âm lượng lý tưởng cho việc nghe là từ 60 đến 80 decibel. Bên cạnh đó, chất lượng âm thanh cũng ảnh hưởng đến khả năng nghe hiểu. Khi âm thanhbịnhiễu hoặc méo mó, ngườinghe sẽkhó phân biệt các âm thanh, dẫnđếnviệc không hiểuđược nộidung bài nghe. Theo nghiêncứucủa Başkent & Karabacak (2014), chất lượng âm thanh kém có thể làm giảm khả năng nghe hiểu đến 30% [3].
Thứba,vềmôi trường xung quanh. Môi trường nghe cũngảnhhưởngđến khảnăng nghe hiểu. Khi môi trường xung quanhồnào, ngườinghe sẽkhó tập trung vào bài nghe, dẫnđến việc bỏsót thông tin. Theo nghiêncứucủa Hygge & Meijer (1997), mức độ ồn ào có thể làm giảm khả năng nghe hiểu đến 20% [17]. Lýdo cho điều này là vì khi môi trường xung quanh ồn ào, não bộ của chúng ta sẽ phải hoạt động nhiều hơn để lọc bỏ tiếng ồn, dẫn đến việc giảm khả năng tập trung vào bài nghe. Điều này đặc biệt đúng với những người mới bắt đầu học ngoại ngữ, vốn đã gặp nhiều khó khăn trong việc phân biệt các âm thanh và hiểu nội dung. Tiếng ồn àocàng khiến họ thêm bối rối, dẫn đến việc bỏ sót thông tin quan trọng và ảnh hưởng đến chất lượng học tập.Do đó, để nâng cao hiệu quả học tập, người học cần chú ý lựa chọn môi trường học tập phù hợp và áp dụng các biện pháp để giảm thiểu tiếng ồn xung quanh.
Thứtư,vềđộdài bài nghe.Độdài bài nghe cũngảnhhưởngđếnkhảnăng nghe hiểu. Khi bài nghe quá dài, ngườinghe cóthểcảmthấymệtmỏivà mấttập
21
trung, dẫnđếnviệc không hiểuđược nộidung bài nghe. Theo khuyến cáo của Brown (1941), độdài bài nghe nên phùhợpvớitrìnhđộcủa ngườihọc, thông thường không quá 5 phút đối với người mới bắt đầu và không quá 10 phút đối với người học trình độ trung cấp [4]. Rèn luyện kỹ năng nghe hiểu là một quá trình đòi hỏi sự kiên trì và nỗ lực. Tuy nhiên, với phương pháp học tập phù hợp và sự quyết tâm, mỗingườihọc đềucóthểnâng caokỹnăng nghe hiểu của bảnthân vàđạt được thành công trong việc học ngoại ngữ.
1.6. Những khó khăn người học thường gặp phải trong quá trình nghe hiểu 1.6.1. Kiến thức ngôn ngữ
Thứnhất, nhà ngônngữhọc nổitiếng D. A. Wilkinsđã từng nói rằng:
“Without grammar, very little can be conveyed; without vocabulary, nothing can be conveyed.” (Không có ngữ pháp, rất ít thông tin có thể được truyền đạt; Không có
từvựng, khôngmộtthông tin nào cóthểđược truyềnđạt).Khivốntừvựng hạn chế, người học sẽ gặp vô vàn khó khăn trong việc “giải mã” những từ ngữ mới mẻxuất hiện trong bài nghe. Điềunàydẫnđếnviệc họbỏsót thông tin quan trọng, hiểu sai nội dung hoặc thậm chí không thể tiếp thu được gì từ bài nghe. Bên cạnhđó,giáo sư Jeremy Harmer đã ví von rằng, vốntừvựng chính là “cầu nối” giữa người nghe và thông điệp được truyền tải. Khi người học không hiểu nghĩa của từvựng, họ sẽ gặp rào cản trong việc nắm bắt ý nghĩa của cả câu và bài nghe. Giống như khi đọc một cuốn sách với đầy những từ ngữ xa lạ, người đọc sẽ cảm thấy bối rối, khó khăn trong việc tiếp thu nội dung. Điều này đã được minh chứng qua một nghiêncứucủa Đạihọc Quốc gia Hà Nội vào năm 2019. Nghiêncứucho thấy, 70% sinh viên học tiếng Anhgặpkhó khăn trong việc nghe hiểu dovốntừvựng hạnchế. Khó khăn này khôngchỉảnhhưởngđếnkếtquảhọc tậpmà còncảntrởkhả năng giao tiếp và tự tin của sinh viên trong môi trường sử dụng tiếng Anh. Vì vậy, bồi dưỡng vốn từ vựng là nhiệm vụ vô cùng quan trọng đối với những ai muốn nâng cao kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh. Việc học từ vựng cần đi kèmvới việc luyện tập thường xuyên để ghi nhớ lâu dài và sử dụng thành thạo trong giao tiếp.
22
Thứ hai, ngữ pháp đóng vai trò nền tảng trong việc học tiếng Anh, đặc biệt làđối với kỹ năng nghe hiểu. Giống như một “kim chỉ nam” dẫn dắt người học khám phá ngôn ngữ, ngữ pháp giúp ta phân tích cấu trúc câu, từ đó hiểu được ý nghĩa của bài nghe mộtcách chính xác và hiệu quả. Tuy nhiên, nhiềungườihọc tiếng Anh hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc chinh phục kỹ năng nghe do chưa nắmvữngngữpháp. Bên cạnh đó, ngữpháp đóng vai trò như”bộkhung” giúp ngườihọc địnhhìnhcấutrúc câu, từđóhiểuđược trậttựtừngữvà mốiquanhệlogic giữa các thành phần trong câu. Giống như việc xây dựngmộtngôi nhà, nếu thiếu đi bộ khung vững chắc, ngôi nhà sẽ trở nên lỏng lẻo và dễ sụp đổ. Tương tự, khi ngữ pháp lỏng lẻo, người học sẽ gặp nhiều trở ngại trong việc phântích cấu trúc câu phứctạp, dẫn đếnhiểu sai ý nghĩa hoặc bỏsót thông tin quan trọng trong bài nghe. Hơn nữa, ngữ pháp còn giúp người học dự đoánđược những từ ngữ sắp xuất hiện tiếp theo, từđótăngkhảnăngtậptrung và tiếp thu thông tinmộtcách hiệu quả. Khi đã nắm vững ngữ pháp, người học có thể tự tin “giải mã” những cấu trúc câu phức tạp, dù xuất hiện trong ngữ cảnh giao tiếp thông thường hay trong các bài thi tiếng Anh chuyên sâu. Tuy nhiên, việc học ngữ pháp cần đi kèm với thực hành thường xuyên. Việc chỉ học lý thuyết suông mà không áp dụng vào thực tế sẽ khiến kiến thức trở nên “mài mòn dần” và khó áp dụng trong giao tiếp. Do đó, người học cần kết hợp việc học ngữ pháp với việc luyện nghe tiếng Anh thường xuyênđể rèn luyệnkhảnăngxửlý thông tin và phản ứngnhanh nhạyvớinhững thayđổingữpháp trong bài nghe.
Thứba,hệthống âm thanh làmộtyếutốnềntảngcấutạonên ngôn ngữ, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông tin và ý nghĩa. Mỗi ngôn ngữ sởhữu hệ thống âm thanh riêng biệt, khác biệt so với tiếng mẹ đẻ của người học, tạo nên những rào cản đáng kể trong quá trình tiếp thu và hiểu ngôn ngữ mới. Điều này khiến nhiều người học gặp khó khăn trong việc phân biệt các âm thanh tinh tế, dẫn đến việc bỏ sót thông tin hoặc hiểu sai nội dung bài nghe. Theo Tiến sĩ Nguyễn Tất Thành (2016), hệ thống âm thanh của mỗi ngôn ngữ được cấu thành bởi các quy tắc
23
riêng biệtvềcách phát âm, độcao, độdài và độvang của các âm tiết. Khi người học chưa quen với hệ thống âm thanh mới, họ thường gặp khó khăn trong việc phân biệt các âm thanh tinh tế, dẫn đến việc bỏ sót thông tin hoặc hiểu sai nội dung bài nghe. Điều nàyđượcminh họa rõ ràng bởimộtnghiên cứucủaĐạihọc Sư phạm TP. HồChí Minh (2017), cho thấy 72% sinh viênhọctiếng Anhgặpkhó khăn trong việc nghe hiểu do chưa quen với hệ thống âm thanh tiếng Anh [36].
Khó khăn trong việc phân biệt các âm thanh tinh tế có thể bắt nguồn từ nhiều yếu tố, bao gồm: Một là sự khác biệt về hệ thống âm thanh. Hệ thống âm thanh của tiếng Anh có nhiều âm thanh không tồn tại trong tiếng Việt, ví dụ như âm /θ/ (th trong “think”), âm /ð/ (th trong “this”), âm /ɜː/ (â trong “nurse”). Những âm thanh này thường khiến ngườihọctiếng Anhgặpkhó khăn trong việc phân biệt và phát âm chính xác [51]. Hai là thiếu luyện tập. Việc thiếu luyện tập thường xuyên trong việc nghe và phát âm các âm thanh tiếng Anh cũng là một nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong việc phân biệt các âm thanh tinh tế. Khi người học không tiếp xúc thường xuyên với ngôn ngữ, họ sẽ dần mất đi khả năng phân biệt các âm thanh một cách chính xác [51]. Ba là yếu tố tâm lý. Áp lực và lo lắng khi nghe tiếng Anh cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng phân biệt âm thanh của người học. Khi người học cảm thấy căng thẳng, họ sẽ khó tập trung và dễ bỏ sót những chi tiết quan trọng trong bài nghe [52].
1.6.2. Kỹ năng ngôn ngữ
Thứ nhất, kỹ năng nhận biết âm thanh đóng vai trò then chốt trong việc giúp người học tiếp thu hiệu quả nội dung bài nghe tiếng Anh. Khả năng phân biệt chính xác các âm thanh riêng lẻ, xác định vị trí của chúng trong từ và câu, cùng với nhận biết các yếutố ngữ điệu là nềntảngđể ngườihọc hiểu và giải mã thông tinđược truyền tải. Tuy nhiên, nhiều người học tiếng Anh, đặc biệt là những người mới bắt đầu, thường gặp khó khăn trong việc rèn luyện và phát triển kỹ năng nhận biết âm thanh hiệu quả. Điềunàydẫnđếnnhững ràocảnđángkểtrong việc tiếp thu nội dung bài nghe, nhất là khi tốc độ nói tăng nhanh. Theo chuyên gia giảng dạy tiếng Anh NguyễnThịThu Huyền (2022), kỹnăng nhận biết âm thanh baogồmkhả
24
năng phân biệt các âm thanh khác nhau, xác địnhvịtrí của âm thanh trongtừvàcâu, và nhận biết các yếu tố ngữ điệu. Việc thiếu kỹ năng nhận biết âmthanh có thểdẫnđến nhiềuhậu quả nghiêm trọng cho việc nghe hiểu tiếng Anh. Người học sẽgặpkhó khăn trongmộtsốvấnđề. Mộtlà khôngbắtkịptốcđộbài nghe. Khi không thể phân biệt rõ ràng các âm thanh, người học sẽ dễ bị “bỏ lỡ” thông tin khi
tốc độ nói tăng nhanh. Hai là không hiểu nội dung bài nghe. Việc không xác định được vị trí trọng âm và ngữ điệu có thể khiến người học hiểu sai ý nghĩa hoặc bỏsót thông tin quan trọng. Ba là khôngcảmnhận được cảmxúc và ý đồcủa người nói. Thiếu hụt kỹ năng nhận biết ngữ điệu khiến người học gặp khó khăn trong việc hiểuđược cảmxúc, ýđồvà tháiđộcủa ngườinói, ảnhhưởngđếnkhảnăng giao tiếp hiệu quả. Một nghiên cứu của Đại học Ngoại thương (2021) đã chỉ ra rằng 75% sinh viên học tiếng Anhgặpkhó khăn trong việc nghe hiểu dokỹnăng nhận biết âm thanh kém [34].
Thứhai,khảnăngxửlý thông tin baogồmkhảnăng ghi nhớ, tómtắtvà phân tích thông tin. Khi nghe, người học cần ghi nhớ những thông tin quan trọng, tómtắtýchính và phân tíchnộidung bài nghe. Tuy nhiên, nhiềungườihọc gặp khó khăn trong việc xử lý thông tin do tốc độ xử lý thông tin của họ chậm hoặc do họchưa có phương pháp ghi chép và tómtắthiệu quả. Theo giáo viêndạytiếng Anh Trần Thị Thu Hằng (2020), khả năng xử lý thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc giúp người học tiếp thu và ghi nhớ thông tin từ bài nghe. Khi kỹ năng xửlý thông tin kém, ngườihọc sẽgặpkhó khăn trong việc ghinhớnhững thông tin quan trọng, dẫn đến việc hiểu sai nội dung bài nghe. Nhóm nghiên cứu nhận thấy lý do chủ yếu nằm ở hai yếu tố: tốc độ xử lý thông tin chậm và phương pháp ghi chép, tóm tắt chưa phù hợp. Tốc độ xử lý thông tin chậm khiến người học không thể theo kịp tốc độ nói của người bản ngữ, dẫn đến việc bỏ sót thông tin quan trọng và gặp khó khăn trong việc hiểu tổngthểbài nghe. Đểcảithiện tốc độxửlý thông tin, người học cần luyện tập nghe thường xuyên, đặc biệt là những bài nghe cótốc độvừa phải và tăngdầnđộkhó theo thời gian. Bên cạnh đó, việc rèn luyện tư duy
25
logic và phản xạ nhanh nhạy cũng góp phần nâng cao tốc độ xử lý thông tin. Bên cạnh đó, phương pháp ghi chép và tóm tắt chưa phù hợp là một rào cản lớn trong việc xửlý thông tin hiệu quả. Nhiềungườihọc có xuhướngghi chép “verbatim” (ghi chép nguyên văn) tất cả những gì họ nghe, dẫn đến việc ghi chép lan man, khótóm tắt ý chính và dễ bị phân tâm. Thay vì ghi chép nguyên văn, người học nên tập trung vào việc ghi chép nhữngtừkhóa, ýchính và sửdụng các ký hiệu, sơ đồtưduy để tóm tắt nội dung bài nghe một cách súc tích và dễ hiểu.
Thứ ba, trong hành trình chinh phục tri thức, khả năng tập trung đóng vai tròvô cùng quan trọng, là chìa khóa vàngmởra cánhcửatiếp thu thông tin hiệu quả. Tuy nhiên, nhiềungườihọcgặpkhó khăn trong việc duy trìsựtậptrung,dẫnđến việc tiếp thu kiến thức khôngđạthiệuquảtốiưu. Theo chuyên gia tâm lýhọcĐỗMinh Đức (2018), khả năng tập trung chính là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến hiệu quảhọctập. Khi thiếutậptrung,ngườihọcdễbịxao nhãngbởinhữngyếutốbên ngoài như tiếng ồn, hình ảnh, hay chính bởi những suy nghĩ, lo âu cá nhân. Điều này khiến họ khó tiếp thu thông tin một cách trọn vẹn, dẫn đến tình trạng “học mà nhưkhông học”. Có thể ví dụ minh họa như sau: Khi người học đang cố gắng ghi chép bài giảng trong lớp, nhưng tiếng ồnàotừbên ngoài khiếnhọmấttậptrung,họsẽkhó có thể ghi nhớ đầy đủ nội dung bài học. Hay khi người học đang ôn thi, nhưng những lo lắngvềbài thi khiến tâm tríngườihọcxao nhãng,họsẽkhó cóthểtập trung ôn luyện hiệu quả.
1.6.3. Tâm lý
Thứnhất,nỗisợhãi mắc lỗikhi nghe tiếng Anh là một”kẻthù thầm lặng” mà nhiều người học tiếng Anh phải đối mặt, đặc biệt là trong giaiđoạn đầu luyện tập. Nó nhưmộtgánh nặng vô hình, kìm hãmsựtựtin và khiếnngườihọc e dè trong việc tiếp thu thông tin, ảnh hưởngtrực tiếpđếnhiệuquảnghe hiểu. Theo chuyên gia tâm lý Nguyễn Thị Thanh Mai (2021), thiếu tự tin là một trong những yếu tố tâm lý phổ biến nhất cản trở hiệu quả học tập. Khi thiếu tự tin, người học dễnản lòng, bỏ cuộc và khó đạt được mục tiêu đề ra. Nghiên cứu của Đại học Ngoại
26
ngữ Hà Nội (2020) cho thấy con số đáng kinh ngạc: 76% sinh viên học tiếng Anh gặp khó khăn trong việc nghe hiểu do thiếu tự tin [33]. Nguyên nhân dẫn đến nỗi sợnày xuất phát từ nhiều phía. Ví dụ như môi trường học tập tiếng Anh tại Việt Nam thường chú trọng vàongữpháp và phát âm, ít quan tâmđếnkỹnăng nghe hiểu. Điều này khiến người học thiếu đi sự luyện tập thực tế, dẫn đến cảm giác bỡ ngỡ vàlo lắng khi tiếp xúc với tiếng Anh nghe. Thêm vàođó,áp lựchọc tập và kỳvọng caotừbảnthân hoặc gia đình cũng góp phần gia tăngsựlo lắng và tựti. Nỗisợmắc lỗi khi nghe tiếng Anh mang đến nhiều hệ lụy tiêu cực. Khi thiếu tự tin, người học sẽgặptrởngại như e dè, không dámtậptrung, nỗisợhãi khiếnngườihoc không dám tập trung cao độ khi nghe, dẫn đến việc bỏ sót thông tin quan trọng vàảnhhưởngđếnkhảnăng hiểu bài. Cùngvớiđó, ngườihọc cóthểgặpkhó khăn trong việc tiếp thu thông tin. Lo lắng mắc lỗi khiến người học phân tâm, không thểtiếp thu thông tin một cách hiệu quả. Hơn thế nữa, việc thiếu tự tin khiến người học dễ nản lòng và bỏ cuộc. Khi không đạt được kết quả như mong muốn, người học dễnản lòng và có xu hướng bỏ cuộc, ảnh hưởng đến tiến độ học tập.
Thứ hai, thiếu động lực học tập là một vấn đề phổ biến mà nhiều người học ngoại ngữ gặp phải. Khi thiếu động lực, người học sẽ không có hứng thú luyện tập kỹ năng nghe hiểu, dẫn đến việc tiến bộ chậm chạp và dễ nản lòng. Giáo sư tâm lýhọc Lê Minh Hải (2019) cho biết, động lực học tập là yếutố quan trọng thúcđẩy ngườihọc đạtđượcmục tiêu học tập. Khi thiếuđộnglực, ngườihọc sẽdễbịxao nhãngbởicác yếutốbên ngoài, dẫnđếnviệc học tậpkhông hiệu quả.Điềunàyđược minh chứng bởi nghiên cứu của Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (2018), cho thấy 72%họcsinh THCS gặpkhó khăn trong việc nghe hiểu tiếng Anh do thiếuđộnglựchọctập. Consốnày gióng lênhồichuông cảnh tỉnhvềtầmquan trọng của việc nuôi dưỡng và duy trì động lực trong quá trình học tập [35].
27
1.7. Các phương pháp học kỹ năng nghe hiểu 1.7.1. Phương pháp thụ động
Phương pháp thụ động là phương pháp tiếp thu thông tin qua việc nghe trực tiếp hoặc gián tiếp mà không có sự tương tác trực tiếp với người nói. Phương pháp này bao gồm:
Nghe nhạc tiếng Anh: Nghe nhạc tiếng Anh giúp người học làm quen với ngữđiệu, nhịp điệu và phát âm của ngôn ngữ một cách tự nhiên. Người học nên chọn nhạc có ngữ điệu và nhịp điệu phù hợp với trình độ, bắt đầu với những bài hát đơn giản, dễhiểu và tận dụng tài liệu nghe nhạc tiếng Anh có sẵn trên mạng, các trang web, v.v.
Xem phim tiếng Anh cóphụ đề:Hoạt động xem phim tiếng Anh cóphụ đề sẽgiúpngườihọc tiếp thu thông tin qua hìnhảnhvà âm thanhmộtcách trực quan, nâng cao khả năng nghe hiểu và phản xạ ngôn ngữ trong môi trường giao tiếp thực tế. Người học nên chọn phim có nội dung phù hợp với sở thích và trình độ, bắt đầu với phim có phụ đề tiếng Việt, sau đó chuyển sang phụ đề tiếng Anh và cuối cùng là không phụ đề.
Nghe sách nói: Người học có thể tiếp thu vốn từ vựng và ngữ pháp phong phútừ nhiều lĩnh vực khác nhau, nâng cao khả năng tập trung và ghi nhớ thông tin, tăng cườngkhảnăng nghe hiểu và phát âm tiếng Anh thông qua việc nghe sách nói thường xuyên vàđềuđặn.Ngườihọcnên chọn sách cónộidung phùhợpvớisởthích và trình độ, bắt đầu với những cuốn sách ngắn, dễ hiểu và sử dụng tài liệu nghe sách nói có sẵn trên mạng hoặc mua sách nói trên các trang web bán sách trực tuyến.
1.7.2. Phương pháp chủ động
Phương pháp chủ động là phương pháp tham gia tích cực vào quá trình nghe bằng cách thực hiện các hoạt động như trả lời câu hỏi, tóm tắt nội dung, thảo luận, v.v. Phương pháp này bao gồm:
Nghe bài giảng: Việc nghe bài giảng sẽ giúp người học tiếp thu kiến thức bài bản và có cơ hội tương tác với giáo viên, nâng cao khả năng nghe hiểu và phản xạngôn ngữ trong môi trường học tập chuyên nghiệp, cải thiện khả năng ghi chép và
28
tómtắtnộidung bài giảng. Ngườihọc nên tham gia các khóa học tiếng Anh trực tuyến hoặc trực tiếpvớigiáo viênbảnngữ, chọn giáo viên có kinh nghiệm giảng dạyvà phương pháp phù hợp, tham gia tích cực vào các hoạtđộngthảo luận, đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi trong lớp học.
Thảo luận nhóm: Thảo luận nhóm là mộttrong những cách thức luyện tập hiểuquảđểrèn luyệnkhảnăng nghe hiểu và phản ứngnhanh nhạy trong môi trường giao tiếp thực tế. Người học nên tham gia các nhóm học tiếng Anh hoặc câu
lạc bộ giao tiếp tiếng Anh, chuẩn bị kỹ nội dung thảo luận trước khi tham gia, lắng nghe cẩnthậnýkiến của các thành viên khác trong nhóm và tham gia thảo luận một cách tích cực.
Shadowing: Là phương pháp hiện đại và mới mẻ, giúp người học cải thiện khảnăng phát âm, ngữ điệu và ngữ pháp bằng cách nghe và lặp lại nội dung bài nghe một cách chính xác. Người học nên chọn bài nghe phù hợp với trình độ, nghe nhiều lần và
tập trung vào việc lặp lại chính xác ngữ điệu, nhịp điệu và ngữ pháp của người nói.
Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu như Rost (1972) tập trung vào các quy
tắc phát triển năng lực nghe trong đó đưa ra bốn cách học kỹ năng nghe như: Một là,họckỹnăng nghe thông qua giao tiếp trực tiếpmặtđốimặt(face to face interaction). Thông qua tương tác trực tiếp bằng tiếng Anh, ngườihọc có cơ hội tiếp thu ngôn ngữ và cơ hội kiểm tra năng lực nghe của bản thân. Giao tiếp trực tiếp tạo động lực phát triển năng lực nghe hiểu ý nghĩa của thông điệp nói. Hai là, học kỹ năng nghe thông qua tập trung vào nghĩa và học các nội dung mới, quan trọng trong ngôn ngữ đích. Bằng cách này, người học có thể huy động cả năng lực ngôn ngữvà phi ngônngữđểhiểu thôngđiệpnói. Ba là, học kỹnăng nghe thông qua việc thực hiện các hoạtđộngnghe hiểu. Bằng việc tậptrung vào mục đíchcụthểcủa hoạt động nghe, người học có thể đánh giá những nỗ lực và khả năng của họ. Thông qua các hoạtđộngnghe hiểu, ngườihọc có cơ hội đánh giá năng lực nghe hiểu của mình đã đạt đến đâu và củng cố. Bốn là, học kỹ năng nghe thông qua việc chú ý đến độ chính xác và phân tích mẫu. Bằng cách học nghe thông qua phát hiện
29
âm và từmộtcách chính xác giúpngườihọc đạtđược sựtiếnbộtrong năng lực nghe hiểu [26].
Tóm lại, việc lựa chọn cách học nào để đem lại hiệu quả cao nhất phụ thuộc vào sở thích, điều kiện hoàn cảnh cũng như năng lực của người học. Việc kết hợp các hình thức học tập khác nhau cũng là một phương pháp tốt. Kết hợp các phương pháp này, điều chỉnh chúng cho phù hợp với nhu cầu của từng người học, cung cấp nhiều cơ hội để thực hành và phản hồi có thể góp phần cải thiện đáng kể kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh. Điều cần thiết là tạo ra một môi trường học tập lấy người học làm trung tâm, khuyến khíchsựtham gia tích cực, thúc đẩycác tương tác cóýnghĩa và cung cấp phản hồi mang tính xây dựng. Ngoài ra, việc tích hợp công nghệcó thể nâng cao khả năng luyện kỹ năng nghe hiểu thông qua nhiều nền tảng và ứng dụng khác nhau. Bằng cáchkếthợpcác phương pháp giảngdạycủagiáo viên cóthể tạo điều kiện cho người học tiến bộ về kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh và thúc đẩy năng lực giao tiếp tổng thể của họ.
1.8. Các dạng câu hỏi nghe và chiến lược làm bài
Các bài thi nghe tiếng Anh thường sử dụng nhiều dạng câu hỏi khác nhau đểđánh giá khả năng nghe hiểu của thí sinh. Việc hiểu rõ bản chất và cách thức giải đáp từng dạng câu hỏi là chìa khóa giúp người học đạt được kết quả cao. Để chuẩn bị tốt cho các kỳ thi tiếng Anh, việc nắm rõ các dạng câu hỏi nghe phổ biến cùng chiến lược làm bài hiệu quả cho từng dạng câu hỏi là vô cùng cần thiết.
Dựa trên nội dung và yêu cầu cụ thể, nhóm nghiên cứu đã phân loại các dạng câu hỏi nghe thành các nhóm chính sau:
1.8.1. Dạng câu hỏi trắc nghiệm a. Dạng câuhỏi
Câu hỏi trắc nghiệm là dạng câu hỏi phổ biến nhất trong các bài thi nghe. Dạng câuhỏinày thường yêucầungườihọclựa chọnmộtđápán đúng duynhất từnhiều đáp án được đưa ra. Câu hỏi trắc nghiệm có thể được chia thành các loại nhỏ như:
30
Câu hỏi về thông tin chi tiết: Loại câu hỏi này thường yêu cầu người học xácđịnh các thông tin cụ thể được đề cập trong đoạn nghe, ví dụ như tên, địa điểm, sốlượng, thời gian, giá cả, v.v. Để trả lời chính xác, người học cần tập trung cao độ, ghinhớcẩnthận các thông tinđược nghe và cókhảnăng phân biệtđược chi tiết quan trọng và chi tiết phụ.
Câuhỏivềý chính: Loại câuhỏinàyđòihỏi ngườihọcnắmbắtđược nội dung chính của đoạnnghe, tómtắtđược ýtưởngchủđạo. Đểđạtđược điềunày, người học cần rèn luyện kỹ năng nghe tổng hợp, khả năng lọc thông tin và xác định những luận điểm, luận cứ quan trọng trong bài.
Câu hỏi về thái độ: Mục đích của loại câu hỏi này là đánh giá thái độ, quanđiểm của người nói đối với một vấn đề nào đó. Để trả lời chính xác, người học cần chúýđếnnhữngtừngữ, ngữđiệuđược sửdụng trong bài, cũng nhưngữcảnh chung của cuộc hội thoại hay bài thuyết trình.
Câu hỏi về mục đích: Loại câu hỏi này yêu cầu người học xác định mục đích giao tiếp của người nói, ví dụ như để thông báo, thuyết phục, giải thích, giải trí, v.v.Để trả lời hiệu quả, người học cần hiểu rõ bối cảnh giaotiếp, nắm bắt được ý đồ vàhành động tiếp theo của người nói.
Ví dụ cụ thể về dạng câuhỏi trắc nghiệm được lấy từmột bài nghe trích từtrang ieltstutor.me:
File nghe 1.3 Câu hỏi: Which of the following is mentioned as common mistakes?
A) Swimmers often roll their bodies too much when breathing. B) Many beginners don’t lift their heads high enough.
C) They look backwards when breathing. E) They need to be told when to inhale.
Đáp án: A
b. Chiến lược làm bài
Đểchinh phục các dạng câuhỏitrắc nghiệm trong các bàitậphay bài thi nghe, người học cần áp dụng một số chiến lược như: Đọc kỹ đề bài và các lựa chọn
31
trước khi nghe, việc này giúpngườihọcnắmđược trọng tâm câuhỏivà cóđịnh hướng nghe phù hợp; Tập trung cao độ trong khi nghe, người học cần cố gắng ghi nhớ càng nhiều thông tin càng tốt, đặc biệt là những chi tiết liên quan đến câu hỏi; Chúýđếncác từkhóa, vìtừkhóa là nhữngtừmang tính chấtgợiýchođápánđúng, do đó việc xác định và tập trung vào các từ khóa sẽ giúp người học thu hẹp phạm vi lựa chọn và tăng khả năng chọn đúng đáp án; Loại trừ các đáp án sai, sau khi nghe xong, người học nên phân tích từng lựa chọn và loại trừ những đáp án sai dựa trên thông tinđã nghe được;Đoán thông tin. Trong trườnghợpngườihọc không chắc chắnvềđápán,ngườihọc cầnsửdụngkhảnăng đoán thông tin dựa trên ngữ cảnh và logic để đưa ra lựa chọn hợp lý nhất.
1.8.2. Dạng câu hỏi điền từa. Dạng câuhỏi
Câuhỏiđiềntừyêucầungườihọc điềnvàochỗtrống trongmộtcâu hoặc đoạn văn bằng từ hoặc cụm từ phù hợp được nghe trong đoạn nghe. Câu hỏi điền từcó thể được chia thành hai loại chính: Thứ nhất, điền từ theo ngữ cảnh, loại câu hỏi này yêucầungườihọc điềnvàochỗtrốngmộttừphùhợpvớingữcảnh của câu hoặc đoạn văn. Để trả lời chính xác, người học cần hiểu rõ nghĩa của các từ xung quanh, cũng như cấu trúc ngữ pháp của câu. Thứ hai, điền từ theo định nghĩa, loại câu hỏi này cungcấpđịnh nghĩa của một từvà yêu cầu người họcđiền từđó vào chỗ trống trong đoạn văn. Để trả lời hiệu quả, người học cần nắm vững vốn từ vựng và khả năng nhận diện từ vựng dựa trên định nghĩa.
Ví dụ cụ thể về dạng câuhỏi điền từ được lấy từ một bàinghe trích từ trang ieltstutor.me:
32
File nghe 1.4 Câu hỏi: John Dewey was America’s (1)_____ philosopher and philosopher of education. His ideas are important to education today because he recognised that each individual brings a certain (2)_____ and (3)_____ to his or her learning. He alsounderstood the importance of learning in a group or (4)_____, learning from othersthat are (5)_____ you. The essence of a democracy is that you have different (6)_____ and you learn from each of them, and Dewey celebrated that. He would probably be (7)_____ of the current system of education because it ignores the teaching (8)_____ and what each student brings to the classroom.
Đáp án: (1) foremost (5) unlike
(2) context (6) voices
(3) history (7) critical
(4) community (8) contexts
b. Chiến lược làm bài
Để chinh phục các dạng câu hỏi điền từ, người học cần áp dụng một số chiến lược như: Nghe cẩn thận để xác định vị trí cần điền từ, người học cần chú ý đến các tín hiệungữâm như trọng âm, ngữđiệuđểxác địnhvịtrícầnđiềntừ;Phân tích ngữcảnh, việc hiểu rõ nghĩa của các từxung quanh và ngữcảnh chung của câu hoặc đoạn văn sẽ giúp người học thu hẹp phạm vi lựa chọn; Sử dụng từ khóa nếu có, người học cần chú ý đến các từ khóa trong đề bài và đoạn nghe để xác định từphùhợpđiềnvàochỗtrống: Đoán thông tin trong trườnghợpngườihọc không chắc chắn về từ cần điền, người học cần sử dụng khả năng đoán thông tin dựa trên ngữ cảnh và logic để đưa ra lựa chọn hợp lý nhất; Kiểm tra ngữ pháp, sau khi điền từvàochỗtrống, ngườihọc cầnkiểm tralạingữpháp của câu hoặc đoạnvănđểđảm bảo chính xác.
1.8.3. Dạng câu hỏi nối a. Dạng câuhỏi
Câu hỏi nối yêu cầu người học nối các đoạn văn hoặc câu được đánh số thứtự theo đúng thứ tự logic để tạo thành một đoạn văn hoàn chỉnh. Việc giải đáp câu
33
hỏi nối đòi hỏi người học phải hiểu ý nghĩa của từng đoạn văn. Người học cần nắm bắt được nội dung chính của từng đoạn văn. Bên cạnh đó, người học cần xác định mối liên hệ logic giữa các đoạn văn, tìm ra mối quan hệ về thời gian, ý nghĩa hoặc chủ đề giữa các đoạn văn để sắp xếp chúng theo thứ tự hợp lý.
Vídụcụthểvềdạng câuhỏinốiđược lấytừmộtbài nghe tríchtừtrang ieltstutor.me:
File nghe 1.5 Câu hỏi: What does the speaker say about the following items?
Write the correct letter, A, B or C next to questions 1-4.
A. They are provided in all tents.
B. They are found in central areas of the campsite. C. They are available on request.
1. barbecues 2. toys
3. cool boxes
4. mops and buckets
Đáp án: 1. C 2.A 3.C 4.B b. Chiến lược làm bài
Đểchinh phục các dạng câuhỏinối,ngườihọc cầnáp dụngmộtsốchiến lượcnhư: Nghecẩnthận và ghi chépýchính của từngđoạnvăn, việc này giúp người học nắm bắt được nội dung cốt lõi của mỗi đoạn văn và dễ dàng so sánh, đối chiếu khi sắp xếp; Chú ý đến các từ ngữ nối, vì các từ ngữ nối như “first,” “next,” “later,” “finally,”… thường là manhmốiquan trọngđểxác địnhthứtựlogic giữa các đoạn văn; Sử dụng suy luận logic. Dựa trên nội dung và ngữ cảnh của bài nghe, người học có thể sử dụng khả năng suy luận logic để dự đoán thứ tự hợp lý của cácđoạn văn; Kiểm tra lại thứ tự sau khi sắp xếp. Sau khi sắp xếp các đoạn văn, người học cần kiểm tra lại để đảm bảo thứ tự logic và mạch lạc của bài viết.
1.8.4. Dạng câu hỏi tóm tắt a. Dạng câuhỏi
Câuhỏitómtắtyêucầungườihọctómtắtnộidung chính của đoạnnghe bằngmộtvài câu ngắn gọn, súc tích. Việc giảiđápcâuhỏitómtắtđòihỏingười
34
học phải lắng nghe cẩn thận và tập trung. Người học cần tiếp thu đầy đủ thông tinđược trình bày trongđoạnnghe, đồngthờingườihọc cầnxácđịnhýchính, phân biệt được thông tin quan trọng và thông tin phụ để tập trung tóm tắt những nội dung cốt lõi. Bên cạnh đó, người học cần tóm tắt nội dung bằng ngôn ngữ đơn giản, dễhiểu, nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ thông tin.
Ví dụ cụ thể về dạng câuhỏi tóm tắt được lấy từ một bàinghe trích từ trang ieltstutor.me:
File nghe 1.6 Câu hỏi: Summarize the main points of the speaker’s presentation.
Đáp án: The lecturer talked about competitions at many universities across nations and continental borders. He firstly indicated the importance of the academic job market in the current century. In addition, he had a discussion on a more intensive competition for the search contracts from both public and private sources, as well as for government funding through the assessment of research quality. Finally, he reemphasized a competitive environment for other charity activities.
b. Chiến lược làm bài
Để chinh phục các dạng câu hỏi tóm tắt trong bài tập và bài thi nghe, người học cần áp dụng một số chiến lược như: Nghe và ghi chép những ý chính, trong khi nghe, người học nên ghi chép lại những ý chính, luận điểm quan trọng được trình bày trong đoạn nghe; Sắp xếp các ý theo thứ tự logic. Sau khi nghe xong, người học cầnsắpxếpcácý đãghi chép theo thứtựlogicđểtạothànhmộtbài tómtắtmạch
lạc; Sử dụng từ ngữ thay thế, thay vì lặp lại nguyên văn những gì đã nghe, người học nên sử dụng từ ngữ thay thế linh hoạt để bài tóm tắt súc tích và dễ hiểu hơn; Kiểm tra độ dài và nội dung bài tóm tắt. Sau khi viết xong bài tóm tắt, người học cần kiểm tra
lại độ dài và nội dung để đảm bảo bài tóm tắt ngắn gọn, súc tích và đầy đủ thông tin.
Tóm lại, việc hiểu rõ bản chất và chiến lược làm bài của từng dạng câu hỏi nghe là vô cùng quan trọng, giúp người học tiếng Anh nâng cao khả năng nghe vàhiểu thông điệp một cách hiệu quả. Việc áp dụng linh hoạt các chiến lược phù hợp
35
kếthợpvớiluyệntậpthường xuyênsẽgiúpngườihọc đạtđược mục tiêu chinh phục tiếng Anh một cách thành công.
1.9. Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, nhóm nghiêncứuđãđềcậpđếnnhững khái niệm cơbảnvàquan trọng nhất của kỹ năng nghe hiểu, một kỹ năng không thể thiếu trong việc học ngoại ngữ, đồng thời xem xét sâu về vai trò của nghe hiểu, các bước cần thiết trong quá trình nghe hiểu, cũng như nhữngyếutốvà khó khăn cóthểảnhhưởngđếnquá trình này. Ngoài ra, nhóm cũngđãphân tích các dạng bài thi nghe khác nhau và tổnghợpcác phương pháp và chiến lược học tập hiệu quả. Qua đó, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng nghe hiểu không chỉ là việc tiếp nhận thông tin, mà còn là quá trình phân tích, đánh giá vàứng dụng thông tin đó một cách linh hoạt. Những thách thức và rào cản trong quá trình nghe hiểu đòi hỏi người học phải không ngừng nỗ lực và áp dụng các phương pháp học tập phù hợp để vượt qua.
36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỌC KỸ NĂNG NGHE TIẾNG ANH CỦA
HỌC VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT – HẬU CẦN CAND
2.1. Cơ sở tiến hành khảo sát
2.1.1. Kỹ năng nghe trong các học phần tiếng Anh
Hiện nay, học phần tiếng Anh dành cho học viên các hệ đào tạo của trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND bao gồm các học phần cơ sở. Các học phần đều thuộc khối kiến thức đại cương trong chương trình đào tạo dành cho học viên của Nhà trường. Về nội dung, học phần trang bị cho học viên những kiến thức từ vựng, ngữ pháp và vận dụng các kiến thức đó để thực hành các kỹ năng ngôn ngữ: nghe, nói, đọc, viết trong các tình huống, chủđềthường gặp, tăngcườngrèn luyệnthủthuật làm bài thi thông qua các dạng bài thường gặp trong những bài thi đánh giánăng lực tiếng Anh thông dụng Bậc 3/6 theo Khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam hoặc tương đương cấp độ B1 theo CEFR (Common European Framework of Reference for Languages). Trongmỗihọc phầnđềucókỹnăng nghe, vìvậyhọc viênđềuđược học kỹnăng nghe. Dođóvềmục tiêu của họcphần, vớikỹnăng nghe,họcviêncầnnghe hiểuđược những thông tincụthể, quan trọngđược diễn đạtrõ ràng bằng giọng chuẩnvềcácchủđềliên quantớicuộc sống và công việc thường ngày, xác địnhđược ýchính trong các bài nóiđược trình bày rõ ràngvềnhững chủ đề thường gặp trong cuộc sống, công việc hay trường học, kể cả các câu chuyện khiđược diễnđạtrõ ràng bằng phươngngữchuẩnphổbiến, hiểuđược ýchính của các hội thoại mở rộng nếu lời nói được diễn đạt rõ ràng bằng ngôn ngữchuẩn mực. Vềhình thức đánh giá học phần, cả03học phần đềucó 01đầuđiểm kiểm tra thường xuyên đánh giá kỹnăng nghe vớihình thức làm bài trắc nghiệm kếthợptựluận trong thời gian 20 phút. Ngoài ra, học phần tiếng Anh (HP3) cóthêm 01 đầu điểm đánh giá kỹ năng nghe trong bài thi kết thúc học phần với hình thức làm bài trắc nghiệm kết hợp tự luận.
37
Hiện nay, tổngsốhọc viên trườngĐạihọc Kỹthuật -HậucầnCAND bao gồmcác hệđàotạo:Đạihọc, trung cấp, liên thôngđạihọc và văn bằng 2. Với chương trình đào tạo của trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND hiện nay, các chuyên ngành được Nhà trường xây dựng, đào tạobao gồm: Công nghệ thông tin và Điện tử viễn thông (đào tạo các học viên khóa D10), An toàn thông tin CAND (đàotạocác học viên khóa D11, LT06, LT07, VB2), Trinh sát CAND, Kỹthuật CAND, Hậu cần CAND (đào tạo các học viên khóa D12, D13, K39S, K40S). Trên cơ sở đó, toàn bộ học viên bậc đại học chính quy đều học các học phần tiếng Anh cơ sở. Do đó, các kiến thức cũng như kỹ năng của tiếng Anh nói chung và kỹ năng nghe nói riêng đều rất quan trọng đối với các học viên bậc đại học chính quy hiện đang được đàotạo tại Nhà trường.
2.1.3. Cơ sở vật chất phục vụ việc học kỹ năng nghe
Được sự quan tâm và đầu tư của Nhà trường, hiện nay toàn bộ các phòng học lý thuyết của khu giảngđườngD1, D2, D3, D4, D5, D6đềuđã được trangbịcơbản đầy đủ các cơ sở vật chất phục vụ cho việc học tiếng Anh nói chung và học kỹnăng nghe hiểu nói riêng, bao gồm hệ thống loa, máy chiếu và bảng tương tác. Tuy nhiên chấtlượngcơ sởvậtchất của các phòng học cũng làvấnđềcầnquan tâm. Với yêu cầu ngày càng cao về đặc thù của bộ môn tiếng Anh, cơ sở vật chất của các phòng học là chưa đáp ứng được nhu cầu dạy và học, cụ thể, một số phòng học chỉđược trang bị loa và máy chiếuđơngiản, chưa có bảng tương tác để giáoviên vàhọc viên có thêm các hoạt động dạy và học thiết thực, sáng tạo hơn. Ngoài ra, các phòng học chưa trang bị được hệ thống mạng wifi để giáo viên và học viên có thểsửdụngmộtsốhoạtđộngtương tác trực tuyến nhưtrảlờicâuhỏiqua các ứng dụng Google Forms, Quizzi, Kahoot, v.v. hoặc là việc cải thiện kỹ năng nghe thông qua các ứng dụng và trang web có các bài tập luyện nghe từ các bài thi như Vstep, IELTS, v.v. từ đó tạo sự hứng thú cho học viên và nâng cao khả năng tiếp thu kiến thức cũng như cải thiện kết quả rèn luyện kỹ năng nghe hiểu.
38
Từnhững cơ sở trên, nhómđã tiến hành khảo sát thực trạng việc rèn luyện kỹ năng nghe hiểu của học viên trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND và đưa ra một số biện pháp rèn luyện kỹ năng nghe hiểu phù hợp, hiệu quả hơn.
2.2. Kết quả khảo sát
Dựa trên những tình hình thực tế của cơ sở tiến hành khảo sát, nhóm nghiên cứuđã xây dựngbộcâuhỏitiến hành khảo sát 226 học viên của các khóa D10, D11, D12, D13, K39S, K40S, LT06, LT07, VB2K2.
2.2.1. Lý luận chung về kỹ năng nghe hiểu a. Định nghĩa kỹ năng nghe hiểu
15%
35,8%
34,1%
51,8%
Khái niệm 1 Khái niệm 2 Khái niệm 3 Khái niệm 4
Biểu đồ 1. Định nghĩa kỹ năng nghe hiểu (Đơn vị: %)
Khái niệm 1:Khảnăng tiếp nhận và diễn giải chính xác thôngđiệpđược truyền tải qua lời nói, bao gồm cả ngôn ngữ cơ thể của người khác.
Khái niệm 2: Quá trình diễn ra hoạtđộngtương tác hai chiều giữa người nghe và vănbảnnghe, và sựtương tác này giúpngườinghe cósựhiểu biết khái quát về văn bản nghe
39
Khái niệm 3:Mộtquá trình phức tạp, trongđóngườinghe cầnsửdụngcảkiến thức ngônngữcủa mình(từvựng, âm thanh vàngữpháp) và kiến thức nền tảng để hiểu nội dung bài nghe.
Khái niệm 4: Nghe và hiểu người nói.
Căn cứ vào biểu đồ 1 và kết quả từ bảng 2.1 (phụ lục 1), có thể thấy học viên lựa chọn tương đối chính xác về định nghĩa của kỹ năng nghe hiểu. Theo biểu đồ, có
117/226 (chiếm 51,8%) học viên lựa chọn khái niệm “Nghe hiểu là khả năng tiếp nhận và diễn giải chính xác thông điệp được truyền tải qua lời nói, bao gồm cả ngôn ngữ cơthểcủangườikhác”, 77/226 (chiếm 34,1%)họcviên chọn khái niệm “Nghe hiểu làquá trình diễn ra hoạt động tương tác hai chiều giữa người nghe và văn bản nghe, vàsự tương tác này giúp người nghe có sự hiểu biết khái quát về văn bản nghe”, 81/226 (chiếm 35,8%) học viên chọn khái niệm “Nghe hiểu là một quá trình phức tạp, trongđóngườinghecầnsửdụngcảkiến thức ngônngữcủamình(từvựng, âm thanh vàngữ pháp) và kiến thức nền tảng để hiểu nội dung bài nghe” và chỉ có 34/226 (chiếm 15%) học viên chọn đáp án “Nghe hiểu là nghe và hiểu người nói”. Qua đó, đa số học viên đã nhận thức đúng về định nghĩa của kỹ năng nghe hiểu.
b. Lợi ích của kỹ năng nghe hiểu
| 140 120 100 80 60 40 20 | |||||||||||
| 142 | 132 | ||||||||||
| 92 | |||||||||||
| 72 | 51 | ||||||||||
| 2 | |||||||||||
| Lợi ích 1 Lợi ích 2 Lợi ích 3 Lợi ích 4 Lợi ích 5 lợi ích khác | |||||||||||
Biểu đồ 2. Lợi ích của kỹ năng nghe hiểu (Đơn vị: học viên)
40
Lợiích 1: Giúpngườihọc tiếp nhận thông tinmộtcách trực tiếp, nhanh chóng và sinh động.
Lợi ích 2: Giúp người học hiểu rõ cách phát âm, ngữ điệu và nhịp điệu của tiếng Anh.
Lợi ích 3: Giúp người học nhận diện các từ vựng mới thông qua ngữ cảnh và âm thanh, từ đó mở rộng vốn từ vựng một cách tự nhiên.
Lợi ích 4: Giúp người học rèn luyện khả năng tập trung.
Lợi ích 5: Giúp người học đạt điểm cao trong các kỳ thi tiếng Anh.
Lợi ích khác: Giúp giao tiếp ngày càng hoàn thiện, giúp người học nâng cao kỹnăng giao tiếp và tương tác xã hộibằng ngônngữmới, nhờviệc hiểu và phản hồi chính xác trong các cuộc trò chuyện.
Dựa vào biểu đồ 2 và kết quả bảng 2.2 (phụ lục 1), lợi ích của nghe hiểu được họcviên chọn nhiều nhất làlợiích “Giúpngườihọctiếp nhận thông tinmộtcách trực tiếp, nhanh chóng và sinhđộng”vàlợiích “Giúpngườihọcnhận diện cáctừvựng mới thông qua ngữ cảnh và âm thanh, từ đó mở rộng vốn từ vựng một cách tựnhiên” với số lượng học viên lựa chọn lần lượt là 142/226 (chiếm 62,8%) và 132/226 (chiếm 58,4%). Tiếp theo là lợi ích “Giúp người học hiểu rõ cách phát âm, ngữ điệu và nhịpđiệucủatiếng Anh”với92/226 (chiếm 40,7%)họcviênlựachọn,lợiích “Giúpngườihọcrèn luyệnkhảnăngtậptrung” có 72/226 (chiếm 31,9%)họcviên
lựachọn và 51/226 (chiếm 22,6%)họcviênlựachọnlợiích “Giúpngườihọcđạt điểm cao trong các kỳ thi tiếng Anh”. Ngoài ra, có 2/226 ý kiến khác cho rằng lợi ích của nghe hiểu là giúp giao tiếp ngày càng hoàn thiện và giúp người học nâng cao kỹnăng giao tiếp và tương tác xãhộibằng ngônngữmới,nhờviệc hiểu và phản hồi chính xác trong các cuộc trò chuyện. Qua kết quả khảo sát, có thể thấy học viên đãnhận thức rất rõ ràng về những lợi ích của nghe hiểu trên những khía cạnh khác nhau củacá nhân từnghọcviên.Mỗi họcviên đều cómụcđích họctậpvà rèn luyệnkỹnăng nghe hiểu khác nhau, vìvậynhữnglợiíchhọcviên chọnlựađềudựatrêný
41
nghĩ chủ quan của cá nhân. Dù vậy, khảo sát cũng phần nào đánh giá được các tácđộng có lợi của việc rèn luyện kỹ năng nghe hiểu đến bản thân học viên.
c. Các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả nghe hiểu
| 90% 80% 70% 60% 50% 40% 30% 20% 10% | 17,3 | Rất ảnh hưởngẢnhhưởng Ít ảnhhưởng | |||||||||||||||
| 30,5 | 27,4 | 31 | 27,9 | ||||||||||||||
| 35 | 41,6 | 37,6 | |||||||||||||||
| 46,5 | |||||||||||||||||
| 52,7 | 46,9 | 53,5 | 53,5 | ||||||||||||||
| 46 | 47,3 | ||||||||||||||||
| 22,6 | |||||||||||||||||
| 18,1 | |||||||||||||||||
| 8 | 11,9 | ||||||||||||||||
| 0% 5,8 6,6 7,5 6,2 5,8 7 6,6 Chất Tốc độ Môi Ngữ Kiến Chủ đề Thái độ Chiến lượng âm của trường điệu, thức nền của bài và động lược thanh của người xung cách phát của nghe lựchọc nghe tài liệu nói quanh âm của người tập của hiểu người học người nói học | |||||||||||||||||
Biểu đồ 3. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới kết quả nghe hiểu (Đơn vị: %)
Dựa trên kết quả của biểu đồ 3 và kết quả bảng 2.3 (phụ lục 1),yếu tố “Kiến thức nền” được cho là ảnh hưởng lớn nhất đến kết quả nghe hiểu với 94/226 (chiếm 41,6%) học viên đánh giá rất ảnhhưởng, tiếpđếnlà“Yếutốtháiđộvà độnglực học tập của người học” được 85/226 (chiếm 37,6%) học viên lựa chọn. So với mức độảnhhưởng, yếutố“Ngữđiệu, cách phát âm của ngườinói” vàyếutố“Chiến lược nghe hiểu” được học viên lựa chọn nhiều nhất và cósốlượnghọc viên lựa chọn ngang bằng nhau là 121/226 (chiếm 53,5%), tiếpđếnlà “Yếutốtốcđộcủa người nói” được 119/226 (chiếm 52,6%) học viên lựa chọn, yếu tố “Chất lượng âm thanh của tài liệu” có 111/226 (chiếm 49,1%) học viên đánh giá ở mức ảnh hưởng, còn lại các yếu tố “Môi trường xung quanh”, “Kiến thức nền của người học”, “Chủđề của bàinghe và tháiđộ”, “Động lực học tập của người học” cósố liệu tương đối nhauvớisốlượnghọc viên lựa chọnlầnlượtlà 106/226 (chiếm 46,9%), 104/226
42
(chiếm 46%), 105/226 (chiếm 46,5%), 107/226 (chiếm 47,3%). Cóthểthấyrằng, các yếu tố “Ngữ điệu, cách phát âm của người nói” và “Chiến lược nghe hiểu” ảnh hưởng rất nhiều tới kết quả nghe hiểu.
2.2.2. Thực trạng việc rèn luyện kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh của học viên trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND
a. Những khó khăn học viên gặp phải khi học nghe tiếng Anh
100% 90% 80% 70% 60%
11,1
15
9,7
9,7
9,7
27,9
46,5
40,3
46,5
46
50% 40% 30% 20% 10% 0%
37,6
39,8
6,2
4,4
Luôn luôn
Thường xuyên Thi thoảng Không baogiờ
42
31
19
7,5
Không theokịp
tốc độ của
người nói
Khó nắm bắt
ngữ điệuvà cách phát âm
của người nói
Không thể nhớ đượccác thông
tin chính
42,9
7
Hạnchế vốn từ
vựng
Cảmthấy mệt mỏi, thiếutập
trung
Biểu đồ 4.Mức độ gặp phải khókhăn trong khi học tiếng Anh của học viên
(Đơn vị: %)
Kết quả khảo sát từ biểu đồ 4 và bảng 2.4 (phụ lục 1) cho thấy, khó khănvềviệc “Không theo kịp tốc độ của người nói” có 22/226 (chiếm 9,7%) học viên luôn luôngặpphải, 104/226 (chiếm 46%) họcviên thường xuyên gặp, 90/226 (chiếm 39,8%) học viên thi thoảng gặp và chỉ có 10/226 (chiếm 4,4%) học viên không bao giờgặpphải. Vớikhó khăn“Khónắmbắtngữđiệuvà cách phát âm của người nói”, đã có22/226 (chiếm 9,7%) học viên luôn luôn phải đối mặt, 105/226 (chiếm 46,4%) học viên thường xuyên gặp, 85/226 (chiếm 37,6%) học viên thi thoảng gặp và 14/226 (chiếm 6,2%) học viên không bao giờ gặp. Bên cạnh đó, các số liệu của
43
khó khăn “Không thể nhớ được các thông tin chính” có số học viên luôn luôn gặp phải là 22/226 (chiếm 9,7%), 91/226 (chiếm 40,3%) học viên thường xuyên gặp phải, 97/226 (chiếm 42,9%) học viên thi thoảnggặpvà 16/226 (chiếm 7%) học viên không bao giờ gặp phải. Về khó khăn “Hạn chế vốn từ vựng” có tới 105/226 (chiếm 46,5%) học viên thường xuyên phảiđốimặt, nhưngvớikhó khăn“Cảm thấymệtmỏi, mấttậptrung” thìchỉcó 63/226 (chiếm 27,9%) học viên phảiđối mặt. Từđócóthểthấy, tỉlệhọc viên thường xuyêngặpphải các khó khăn trong việc rèn luyệnkỹnăng nghe hiểu tiếng Anh làrấtcao. Những khó khăn này xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.
Với khó khăn “Không theo kịp tốc độ của người nói”, nhóm nghiên cứu rút ra một số nguyên nhân khách quan như: môi trường học tập và rèn luyện tại các trường CAND khiến học viên ít có cơ hội tiếp xúc với tiếng Anh thực tế, đặc biệt qua nghe; tiếng Anhbảnngữthườngđượcnóivớitốcđộnhanh hơn tiếng Việt,đặcbiệt làtrong giao tiếptựnhiên; ngườibản ngữthường sửdụng cáctừ nốivàngữphápđểliênkếtcác câulạivớinhaumộtcách logic trong tiếng Anh.Vềnguyên nhânchủquan, khả năng nghe kém khiến một số học viên trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND gặp khó khăn trong việc theo kịp tốc độ người nói; một số học viên trườngĐạihọcKỹthuật -HậucầnCAND có biểu hiện e dè, ngại giao tiếp,dẫnđến việc khó khăn trong việc theo kịp tốc độ người nói; nền tảng tiếng Anh chưa vững vàngđã cản trở học viên, đặc biệt là học viên trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND trong việc bứt phá tốc độ nghe.
Vớikhó khăn“Khónắmbắtngữđiệuvà cách phát âmcủangườinói”,các nguyên nhân khách quan có thể kể đến là vấn đề tiếng Anh có nhiều vùng miền khác nhau,mỗivùng miền có cách phát âm vàngữđiệuriêng biệt,đồng thờitiếng Anh cũngsửdụng cácngữđiệukhác nhauđểthểhiện nhiềuýnghĩa khác nhau, chẳng hạn như câu hỏi, câu cầu khiến, hay thể hiện cảm xúc. Bên cạnh đó, một số học viên gặp khó khăn trong việc hiểu nội dung bài nghe, ngaycảkhihọnghe rõ cách phát
44
âm vì không biết nghĩa của từ, hay việc học viên trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND thiếu một số kỹ năng nghe như: nghe tổng hợp, nghe chi tiết, nghe nắm bắt ýchính, v.v và việc thiếu khả năng tập trung trong khi nghe làm bỏ sót thông tin quan trọng trong khi ngheđềulà những nguyên nhânchủquan trực tiếptạonên những khó khăn trong quá trình học tập kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh.
Vớikhó khăn “Khôngthểnhớđượccác thông tin chính”, các nguyên nhân khách quan được xác định là: các bài nghe tiếng Anh trong chương trình học thường có độ dài và độ phức tạp khác nhau, từ cơ bản đến nâng cao; môi trường học tập vàluyện tập tiếng Anh có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng ghi nhớ thông tin nghe của họcviên. Hơnthếnữa, nguyên nhânchủquan cóthểkểđếnlàkhảnăng ghinhớthông tin nghe phụ thuộc rất nhiều vào vốn từ vựng và ngữ pháp của học viên và tâm lý lo lắng, căng thẳng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp thu và ghi nhớ thông tin của học viên, đặc biệt là trong việc rèn luyện kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh.
Vớikhó khăn“Hạnchếvốntừvựng”,nhóm nghiêncứuđưara các nguyên nhân khách quan như:nộidung bài nghe tiếng Anh thường bao hàm nhiềuchủđềkhác nhau, từ đời sống thường ngày đến chuyên ngành, khoa học kỹ thuật; chương trình học tiếng Anh hiện nay chưa phân chia rõ ràng các chủ đề và ngữ cảnh cụ thể, khiến học viên gặp khó khăn trong việc ghi nhớ và sử dụng từ vựng một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, các nguyên nhân chủ quan có thể kể đến như: một số học viên cókhả năng phân biệt âm thanh kém, khó nghe rõ sự khác biệt giữa các từ có âm thanh gầngiống nhau;mộtbộphậnhọcviên không nhận thứcđượctầmquan trọng của việc học tiếng Anh, thiếu động lực và sự quyết tâm trong học tập; một số học viên chưa có thói quen tra cứu từ vựng mới khi gặp trong bài nghe hoặc tài liệu học tập.
Với khó khăn “Cảm thấy mệt mỏi, thiếu tập trung”, nhóm nghiên cứu đã rút ra được các nguyên nhân khách quan như việc kỹ năng nghe hiểu đòi hỏi người học phải tập trung cao độ trong thời gian dài để tiếp nhận và xử lý thông tin nghe được, dođóviệc duy trìsựtậptrung trong thời gian dài cóthểkhiến đa phần học viên
45
cảmthấymệtmỏi, đặc biệt là khi bài nghe dài hoặc nội dung phức tạp. Bên cạnh đó, nội dung bài nghe tiếng Anh có thể phức tạp, bao gồm nhiều chủ đề và chuyên ngành khác nhau, đòi hỏi người học phải có vốn kiến thức nhất định để hiểu rõ nội dung. Việc thiếu vốn kiến thức về chủ đề nghe có thể khiến học viên cảm thấy bối rối, nản lòng và dẫn đến mất tập trung. Hơn thế nữa, một số phương pháp giảng dạy truyền thống ítsửdụng các hoạtđộngtương tác và mộtsốlớphọc íttổchức các hoạtđộngluyệntậpnghe hiểu khiến học viên thiếu cơ hộiđểrèn luyệnkỹnăng nghe hiểu, dễ nhàm chán và mất tập trung.
KHO TÀI LIỆU.rar\TÀI LIỆU 2025 – RAR archive, unpacked size 55,117,880 bytes/ NCKH.2024.BANHOANCHINH chuyển lại mới (Autosaved)
Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh cho học viên trường Đại học Kỹ thuật Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh cho học viên trường Đại học Kỹ thuật Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh cho học viên trường Đại học Kỹ thuật Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh cho học viên trường Đại học Kỹ thuật Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh cho học viên trường Đại học Kỹ thuật Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh cho học viên trường Đại học Kỹ thuật Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh cho học viên trường Đại học Kỹ thuật Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kỹ năng nghe hiểu tiếng Anh cho học viên trường Đại học Kỹ thuật

