Chứng cứ trong TTHC ở Việt Nam
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiếtcủa đề tài
Trong VAHC, chứng cứ là một trong các căn cứ quan trọng và chính yếu để TA ban hành phán quyết khách quan, công bằng và đúng đắnnhằm nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân, kiểm soát tính hợp pháp trong hoạtđộng quản lý hành chính nhà nước, bảođảmnguyêntắcthượng tôn của pháp luật và tính minh bạch, trách nhiệm của cơ quan công quyền, thể hiện quyền tiếp cận công lý của công dân. Do vậy, chứng cứ trong TTHC, với tư cách là công cụ pháp lý nhằm xác lập sự thật khách quan của vụ án, đóng vai trò trung tâm, then chốt trong toàn bộ quá trình xét xử hành chính, là chìa khóa quan trọng để làm sáng tỏ nội dung của VAHC.
Đặc thù của TTHC,đặc biệtlà sự bấtcân xứng về năng lực pháp lý và ưuthếtrong việc nắm giữ chứng cứ giữa người khởi kiện và cơ quan công quyền, khiến cho việc thu thập, giao nộp, cung cấp, và đánh giá chứng cứtrên thực tiễngặpnhiều bất cập, làm ảnh hưởng đến kếtquả giải quyết VAHC. Dođó,đòihỏicác quyđịnhvềchứng cứ trong TTHC phải đầy đủ, phù hợp, khoa học thìmớicó thể áp dụng hiệu quả trên thực tế trong công tác giải quyết, xét xử án hành chính. Nhận thức được tầm quan trọng này, Đảng và nhà nước tađã đề ranhiều chủ trương, chính sách nhằm hoàn thiện pháp luật nói chung và Luật TTHC nói riêng. Trong các văn kiện quan trọng của Đảng lần thứ XIII từ Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng đến chiến lược kinh tế – xã hội 10 năm 2021-2030 tạiĐạihội, đều nhấn mạnh vai trò quan trọng và sự cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật như: “Xâydựng hệthống pháp luậtđầyđủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch…lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân làm trọng tâm…”. Đặc biệt, Nghị quyết của Đại hộiĐảng lần thứ XIII đã ghi nhận việc“hoàn thiện đồng bộ hệthống pháp luật” và coiđó là nhiệm vụ trọng tâm thứ 5 từ 6 nhiệm vụ trọng tâm và đồng thời, đó cũng là khâu đột phá chiến lược thứ nhất trong 3 khâu đột phá chiến lược đặt ra cho toàn nhiệmkỳ Đại hộiXIII (2021-2025). Tại Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứsáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, trong đó đề ra mục tiêu cụ thể đến năm 2030 là“hệthống pháp luậtđầyđủ,đồng bộ,thống nhất, kịp thời,
khả thi, công khai…”,nhiệmvụ và giải pháp là “xâydựng chếđịnh tố tụng tư pháp lấy xét xử là trung tâm, tranh tụng làđột phá; bảo đảm tốtụng tư pháp dân chủ, công bằng, văn minh, pháp quyền, hiện đại, nghiêm minh, dễ tiếp cận,bảo đảmvà bảo vệ quyền còn người, quyền công dân”.TạiNghị quyếtsố 66-NQ/TW ngày 30/04/2025 của Bộ Chính trịvề đổimớicông tác xây dựng và thi hành pháp luật,đã nêu rõ các
nhóm nhiệmvụ,giải pháp cần thực hiện để đổimớicông tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đấtnước trong kỷ nguyên mới. Trong đó có nhiệmvụ,giải pháp là “đổimớitư duy,định hướng xây dựng pháp luật theo hướng vừa bảo đảmyêu cầu quản lý nhà nước, vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn
bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực pháttriển…Tạo độtphá trong công tác thi hành pháp luật, bảo đảmpháp luậtđược thực hiện công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực và hiệu quả;gắn kếtchặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật”.
Qua nghiên cứu, tìm hiểu thì nhận thấy các quyđịnhpháp luậtvề chứng cứ trong Luật TTHC ở Việt Nam hiện nay đã tạo ra cơ sở, căn cứ pháp lý tương đốiđầy đủ để các chủ thể áp dụng khi giải quyết VAHC. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đạt được, một số các vấn đề liên quan đến chứng cứ trong Luật TTHC ở Việt Nam cũng còn nhiều tồn tại. Cụ thể là:
Vềphương diện pháp luật, các quyđịnhpháp luật liên quan về nguồn chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh, trách nhiệmvề thu thập chứng cứ,trình tự thu thập chứng cứ, xác minh chứng cứ, đánh giá chứng cứ còn chưa đầy đủ, thống nhất, một số quy định pháp luật về chứng cứ không phù hợp với đặc thù của VAHC. Dẫn đến cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng vẫn còn gặp một số khó khăn,bấtcập khi áp dụng các quy định pháp luật về chứng cứ trong quá trình giải quyết VAHC, điều này đã ảnh hưởng đến kếtquả và chất lượng giải quyết VAHC.
Vềphương diện thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luậtvềchứngcứkhi giải quyết VAHC còn gặp nhiều khó khăn, chưa thật sự áp dụng được các quy định pháp luật về chứng cứ vào trên thực tế. Chẳng hạn như TA không thu thập được chứng cứnhanh chóng, làm ảnh hưởng đến thời gian giải quyết VAHC, nhiều VAHC phải tồn đọng,kéo dài, quá thời hạn giải quyết theo quy định; TA không thu thập đủ chứng cứ, không làmrõ được nộidung cần chứng minh, làmảnh hưởng đến kếtquả giải quyết VAHC; việc đánh giá chứng cứ, thời hạn giao nộp chứng cứ cũng chưa được quy định rõ ràng, ảnh hưởng đến quá trình giải quyết VAHC của TA; phía người khởi kiện rất khó có thể thu thập được chứng cứ từ phía ngườibịkiện, nên không đủ chứng cứ để chứng minh, không bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong vụ án; phía ngườibịkiện thường xuyên vắng mặt, không hợp tác tốt trong việc giao nộp, cung cấp chứng cứkhi giải quyết VAHC. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợicủa ngườikhởi kiện,ảnh hưởng đến kếtquả, hiệu quả giải quyết VAHC của TA.
Vềchứng cứ điện tử, hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, chứng cứmớicó thể sẽ được áp dụng rộng rãi trong thời gian tới, đó là chứng cứđiện tử. Ngày nay, trongđiềukiện giữa cơ quan nhà nướcvà doanh nghiệp, công dân đã thực hiện nhiều giao dịch điện tử, thực hiện thủ tục hành chính qua đăng ký trực tuyến,
qua cổng thông tin điện tử,cho nên khi phát sinh tranh chấp, các bên phảisử dụng chứng điện tửđể chứng minh. Đồng thời, hoạtđộng tố tụng củaTA, bên cạnh tính truyền thống bấy lâu, nay cũng đã có nhiều thay đổi, như xét xử trực tuyến, tổ chức mô hình TA điện tử, TA thông minh, các đương sự nộp đơn qua cổng thông tinđiệntửcủa TA, TA tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự bằng phương tiện điện tử. Do vậy, đòi hỏicác quy định liên quan về chứng cứ điện tử cần phải được pháp luật quy định đầy đủ,phù hợp để các chủ thể áp dụng khi giải quyết VAHC.
Bên cạnh đó, TTHC ở Việt Nam trong một thời gian dài đã tồn tại dưới dạng là
tốtụng thẩmvấnhay làtốtụng viết. Hiện nay nguyêntắctốtụngđãcósựthayđổi lớn, trong đó nguyên tắc tố tụng tranh tụng đang được đề cao. Tranh tụng trong xét xửán hành chính kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển lớn đemlạisựcông bằng trong TTHC. Muốn tranh tụng tốt thì không thể không nói đến một trong các công cụ để thực hiện tranh tụng đó là chứng cứ. Cho nên, quy định về chứng cứ phải phù hợp, hiệu quả đểnâng cao hiệu quả giải quyết VAHC.
Vềphương diện khoa học, nhận thấy các công trình nghiên cứu về mặt lý luận và pháp luật về chứng cứ trong TTHC ở Việt Nam cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu thực hiện. Nhưng vì mục đích nghiên cứu khác nhau, cho nên đa số các công trình chỉ đề cập đến mộtkhía cạnh lý luận và pháp luật nhấtđịnh.Cho tới nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu, toàn diện cả về phương diện lý luận, pháp luật vềchứngcứtrong TTHC. Do đó, việc nghiêncứuthấuđáovềlýluận, pháp luật và thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về chứng cứ trong TTHC làhếtsức cần thiết, để xây dựng những phương phướng, giải pháp khả thi, mang tính đột phá nhằm hoàn thiện pháp luật phù hợp với thực tiễn áp dụng, nâng cao hơn nữa tính tranh tụng tại phiên tòa, đảmbảo chất lượng và hiệu quả của hoạtđộng xétxử các VAHC, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.
Xuất phát từ nhận thức như vậy, tác giả chọn đề tài: “Chứng cứ trong TTHCở Việt Nam”làm Luận án tiến sĩ là cấp thiết, đáp ứng yêu cầu về pháp lý, thực tiễn vàlý luận khoa học được đặt ra ở nước ta.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Xây dựng cơ sở lý luận về chứng cứ trong TTHC, dựa trên cơ sở lýluận đó đểđánh giá các quy định về chứng cứ trong TTHC và thực trạng thực hiện các quy định vềchứng cứtrong TTHC trong việc giải quyết VAHC, từđó,đưa ra những phương hướng, giải pháp phù hợp để hoàn thiện về chứng cứ trong TTHC, bảo đảm sử dụng hiệu quả chứng cứ để giải quyết VAHC.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ của Luận án là tập trung giải quyết những vấn đề cụ thể sau:
Một là, thu thập và đánh giá kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố, có liên quanđến đềtài Luận án. Trên cơ sởđó,tìm ra những vấn đềchưa được giải quyết hoặc chưa được giải quyết triệt để; xác định những nội dung sẽ được Luận án kế thừa, phát triển và tập trung nghiên cứu.
Hai là, làm sángtỏnhững vấn đềlý luận vềchứng cứtrong TTHCđểthấy được những yêu cầu, vai trò của của chứng cứ trong giải quyết VAHC. Phân tích nội dung pháp luật vềchứng cứquy định trong TTHC.Từđó,đánh giá các yếu tốtácđộng đến áp dụng chứng cứ trong việc giải quyết VAHC.
Ba là, nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia về các chế định, quy định liên quan đến chứng cứ trong TTHC, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt với pháp luật về TTHC ở Việt Nam để rút ra các giá trị tham khảo.
Bốnlà, phân tích pháp luật hiện hành vềchứng cứtrong TTHC và đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật vềchứng cứtrong TTHC nhằm phát hiện những hạn chế, bất cập và xác định nguyên nhân của hạn chế, bất cập này.
Năm là,đềxuất các phương hướng, xây dựng các giải pháp hoàn thiện chứng cứ trong TTHC và những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng chứng cứ trong TTHC,đáp ứng được yêu cầu của việc giải quyết VAHC và yêu cầu cải cải cách tư pháp hiện nay.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là các quan điểm lý luận về chứng cứ trong TTHC; Quy định của pháp luật về chứng cứ trong TTHC, có sự tham khảo pháp luật của một số nước điển hình có nội dung liên quan đến đề tài; Thực trạng thực hiện các quy định về chứng cứ khi giải quyết VAHC ở Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
“Chứng cứtrong TTHCởViệt Nam” làđềtài nghiên cứu có nội dung rộng, bao quát hết tất cả những vấn đề liên quan đến chứng cứ trong TTHC. Trong giới hạn của Luận án tiến sĩ, đề tài xác định giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
Luận án đặt trọng tâm nghiên cứu chuyên sâu những vấn đề về lý luận, pháp lý và thực tiễn áp dụng chứng cứ trong TTHC khi giải quyết VAHC ở Việt Nam. Trong các nội dungvềchứng cứ, thì tập trung nghiên cứu nhiều, chuyên sâu vềnhững nội dung của chứng cứ liên quan trực tiếp đến việc xét xử VAHC như thu thập chứng cứ, giao nộp chứng cứ, đánh giá chứng cứ. Những nội dung khác liên quan đến chứng cứnhư xác minh, cung cấp, công bố, sử dụng, bảo quản, bảo vệ chứng cứ trong Luận án
cũng sẽcó đềcập, nhưng không nghiên cứu chuyên sâu. Luận án sẽgiới hạn trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
Phạm vivềkhông gian: Luận án nghiên cứu các quy định vềchứng cứtrong TTHC ở Việt Nam. Mặc dù có đề cập đến chứng cứ trong TTHC một số quốc gia cụthể có hệ thống pháp luật phát triển hoặc có điều kiện về chính trị xã hội có nét tươngđồng với Việt Nam, nhưng những thông tin này chủ yếu phục vụ cho tìm ra những ưu điểm,những điểm tiến bộ có thể tham khảo, áp dụng về chứng cứ trong TTHC ở Việt Nam và những kinh nghiệm từ nước ngoài có thể tham khảo cho việc hoàn thiện các quy định về chứng cứ trong TTHC ở Việt Nam.
Phạm vi về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu các quy định về chứng cứtheo Luật TTHC Việt Nam hiện hành và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan từnăm 1996 cho đến thời điểm hiện nay (từ thời điểm TA bắt đầu giải quyết các VAHC theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các VAHC được ban hành năm 1996).
4. Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của Luận án
Luận án là một công trình nghiên cứu chuyên sâu vềchứng cứtrong Luật TTHC, kết quả nghiên cứu sẽ là sự bổ sung quan trọng về lý luận cũng như thực tiễn vào hoạt động áp dụng quy định pháp luật vềchứng cứ khi giải quyết VAHC ở Việt Nam hiện nay.
Luận án còn là tài liệu tham khảo cho những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập Luật TTHC Việt Nam cho các cơ sở chuyên nghiên cứu pháp luật, đào tạo cán bộpháp luật. Luận án cũng có giá trịtham khảo hữu ích đối với những người làm công tác thực tiễn khi tham gia giải quyết VAHC ở nước ta hiện nay.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Luận án có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu đểsửa đổi, bổsung một sốquy định pháp luật vềchứng cứtrong Luật TTHC trong thời gian tới, hoặc hướng dẫn trong việc áp dụng chứng cứtrong Luật TTHC nhằm bảo đảm tính thống nhất và chính xác trong thực tiễn áp dụng chứng cứ khi giải quyết VAHC.
5. Những điểm mới của luận án
Luận án là một công trình khoahọcnghiên cứu chuyên sâu, toàn diện vàcó hệthống về chứng cứ trong TTHC. Những điểm mới nổi bật của kết quả nghiên cứu thểhiện ở những nội dung sau:
(1). Luận án là một công trình nghiêncứuđầutiên, toàn diện,hệ thống tương đốiđầy đủ về vấn đềlý luận của chứng cứ trong Luật TTHC. Luận án đóng góp vào việc làm phong phú thêm, làm rõ hơn những vấn đề còn chưa có nhận thức rõ ràng và thống nhất trong khoa học về chứng cứ trong TTHC Việt Nam. Luận án nêu lên được những vấn đề lý luận về chứng cứ trong TTHC bao gồm: khái niệm chứng cứ trong TTHC và phân tích chi tiếtnộihàm của khái niệm chứng cứ; Nêu lên những đặc điểm
của chứng cứthểhiệnởtính khách quan, tính liên quan và tínhhợppháp; Phân tích chi tiết các vai trò của chứng cứ, đó là chứng cứ có vai trò là bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân trong THHC; bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sựtrong TTHC; bảo đảmquyền tranh tụng của đương sựtrong TTHC; Trình bày chi tiết các cách phân loại chứng cứ; Trình bày các nộidung pháp lý về chứng cứ trong TTHC gồm các chế định về chứng cứ như nguồn chứng cứ, thu thập, xác minh, đánh giá, cung cấp, giao nộp, công bố, sử dụng, bảo quản, bảo vệ chứng cứ; Nêu lên những yếu tố tác động đến chứng cứ trong TTHC gồm yếu tố về chính trị, yếu tốvềcon người, yếutốvềpháp lý, yếutốvề kinhtế xã hội ởđịa phương. Việc làm sángtỏnhữngvấnđềlý luận nàysẽlà cơsởcho việc đưa ra các kiến nghị có tính khoa học, phù hợp để hoàn thiện được các quy định pháp luật về chứng cứ trong Luật TTHC.
(2) Luận án đã đúc kết kinh nghiệm của phápluật một sốquốc gia trên thế giới về quy định pháp luậtvề chứng cứtrong TTHC, về mô hình tài phán hành chính (nhất hệ tài phán, lưỡng hệ tài phán, dung hòa) của một số nước có thể được tham khảo khiđề xuấtcác kiến nghị hoàn thiện các quy định về chứng cứ trong TTHC ở Việt Nam.
(3) Luận án phân tích, đánh giá một cách chính xác, toàn diện và đầy đủ thực trạngvề chứng cứ trong Luật TTHCở phương diện quy định pháp luật và áp dụng pháp luật trên thực tiễn.Tấtcảcác vấn đềliên quan đến chứng cứ như: nghĩavụ chứng minh, thu thập, cung cấp, giao nộp, xác minh, đánh giá, công bố, sử dụng, bảo quản, bảo vệ về chứng cứ trong TTHCđều được làm rõ ở cả phương diện quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật vào trong việc giải quyết VAHC. Đồng thời, trong Luận án còn luận giải những vướng mắc,bấtcập đó,phân tích để tìm ra nguyên nhân của những hạn chế, để làm cơ sở cho việc đề xuất những phương hướng và giải pháp hoàn thiện về chứng cứ trong TTHC cho phù hợp.
(4) Luận án đã đềxuất các phương hướng và giải phápđểnâng cao hiệu quảviệc sử dụng chứng cứ trong TTHC vào trong việc giải quyết các VAHC. Đưa ra được những phương hướng hoàn thiện về chứng cứ phù hợp, hiệu quả và cần thiết như: bảo đảm sử dụng chứng cứ trong bối cảnh cải cách bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu quả và phù hợp với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ; Gắn liền với việc bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổchức, cá nhân trong VAHC;Đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của hệthống pháp luật; Phải phù hợp xu hướng phát triển của pháp luật Việt Namvềchứng cứvà chứng minh trong TTHC.Đối với giải pháp hoàn thiện pháp luật về chứng cứ trong TTHC, Luận án đã nêu được támđềxuất lớn như:vềtrách nhiệm chứng minh của người bịkiện;vềkhái niệm chứng cứ; về nguồn chứng cứ; về thu thập chứng cứ; về cung cấp, giao nộp chứng cứ; về xác minh, đánh giá chứng cứ; về bảo quản, bảo vệ chứng cứ; về chứng cứ là dữ liệu
điện tử. Trong từng giải pháp lớn, có các đề xuất cụ thể theo từng khía cạnh của vấn đềvới hơn mười đề nghị sửa đổi, bổ sung các điều ở dạng dự thảo hoàn chỉnh vào Luật TTHC hiện hành.Đồng thời, Luận án cũng đưa ra giải phápđảm bảo thi hành pháp luật về chứng cứ nhằm nâng cao chất lượng xét xử các VAHC mang tính đột phá phùhợp với hoàn cảnh,điều kiện, thực tiễn xétxửán hành chính ởViệt Nam hiện nay. Các giải pháp là cần có sự tham gia của Thừa phát lại trong việc hỗ trợ thu thập chứng cứkhi giải quyết VAHC; Nâng cao năng lực đội ngũ người tiến hành TTHC; Hoàn thiện cơ sởvật chất, xây dựng hoàn chỉnh cơ sởdữliệu quốc gia, phục vụcho hoạt động tiếp nhận, xác minh, giao nộp, thu thập chứng cứ; TA cần triển khaiđẩy mạnh việc xétxửtrực tuyến đối với các VAHC; Cần thành lập TA hành chính sơ thẩm chuyên biệt khu vực. Đây là những kiến nghịdựatrên những căncứ,lậpluận khoa học, phù hợp với chủ trương,đườnglối của Đảngvề cải cách tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết VAHC ở Việt Nam.
6. Cơ cấu của Luận án
Ngoài phần cam đoan, danh mục các từ viếttắtsử dụng trong Luận án, mục lục, phầnmởđầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luậnán đã được công bố, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lụcthì nội dung chính của Luận án được kết cấu gồm bốn chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyếtcủa đề tàinghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận của chứng cứ trong TTHC
Chương 3: Thực trạng pháp luật về chứng cứ và thực hiện pháp luậtvềchứng cứtrong TTHC ở Việt Nam
Chương 4: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện chứng cứtrong TTHCở Việt Nam
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ
THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊNCỨU
1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1.1.1. Tình hình nghiên cứu nước ngoài
1.1.1.1. Tình hình nghiên cứu lý luận về chứng cứ trong tố tụng hành chính ở nước ngoài
1.1.1.2. Tình hình nghiên cứu pháp luậtvề chứng cứtrong tố tụng hành chính ở nước ngoài
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.1.2.1. Về tình hình nghiêncứuvề lý luận của chứng cứtrong trongtốtụng hành chínhở ViệtNam
1.1.2.2. Về tình hình nghiên cứu pháp luật hiện hành về chứng cứ trong tố tụng hành chính
1.1.2.3. Về thực tiễn thực hiện pháp luật về chứng cứ trong tố tụng hành chính
1.1.2.4. Về hoàn thiện pháp luậtvề chứng cứtrong tố tụng hành chính
1.1.3. Đánh giá chung tình hình nghiên cứucó liên quan đến đề tài và những vấn đề được luận án tiếp tục nghiên cứu

Căncứ vào nhữngkếtquảnghiêncứucó liên quanđếnnộidung Luận án, chúng tôi đưa ra một số kết luận sau:
Thứ nhất, trên cơ sở đánh giá một cách khách quan, tương đối toàn diện về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước của các công trình khoa học liên quan đến Luận án cho thấy các vấn đề chứng cứ trong TTHC ở Việt Namđã dành được sựquan tâmđáng kể của các nhà khoa học. Các kếtquả nghiên cứu công bố,đã giải quyếtđược một số vấn đề về lý luận giúp cho chúng tôi có được cách tiếp cận đúng đắn, có tính gợimở cho việc nghiên cứu, hoàn chỉnh các vấn đề lý luận từ đó xác định các quan điểmkiến nghị hoàn thiện pháp luật, để nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng quy định về chứng cứ trong việc giải quyết VAHCở Việt Nam. Bên cạnh đó,các công trình cũng đã ít nhiều đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về chứng cứ trong việc giải quyết VAHC ở Việt Nam, cả trên phương diện pháp luật và thực tiễn thi hành, đưa ra mộtsốkiến nghị, giải pháp hoàn thiện góp phần nâng cao hiệuquảviệc giải quyết VAHC.Đólà nhữngkếtquảđạtđượcđểLuận án cóthểkếthừa và phát triển trong quá trình nghiên cứu đề tài “Chứng cứ trong TTHC ở Việt Nam”.
Thứ hai,mộtsốbài viết và công trình nghiêncứunhư trênvềnộidungđãkhông còn phù hợp vớiquy định pháp luật và thực tiễn hiện nay. Các công trình nghiên cứu chỉxem xétở phạm vi hẹp, nghiên cứu về mộtmảng nhỏ của chứng cứ, chưa nghiên cứu tập trung và có hệ thống, chuyên sâu, bao quát toàn diện dưới góc độlý luận và thực tiễn về chứng cứ trong Luật TTHC, một số quy định pháp luật hiện nay đã được sửa đổi, bổ sung,ban hành.Tấtcả nộidung trên, cho thấy một số vấn đề về lýluận và thực tiễn về chứng cứ trong TTHC ở Việt Nam vẫn chưa được giải quyết một cách thấu đáo. Mặc khác, các giải pháp đưa ra trong các công trình đã công bố cũng có nhiều điểmphù hợp, có ý nghĩa tham khảo cho chúng tôi khi thực hiện đề tài. Tuy nhiên, vì mục đích và phạm vi nghiên cứu của các công trình là khác nhau, nên đa số các giải pháp không sâu, nhiều giải pháp còn chung chung, ít giải pháp về hoàn thiện pháp luật, chủ yếu là giải pháp về thực tiễn áp dụng. Đồng thời, nhiều vấn đề còn chưa
gắn kếtvớinhững chủ trương,định hướng lớn của Đảng và nhà nướctrong chiến lược cải cách tư pháp đang được thực hiện.
Trong luận án này, bên cạnh kếthừakếtquảnghiên cứu củacác công trình khoa học trước đây, những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu bao gồm:
Lý luận về chứng cứ trong TTHC: khái niệm, đặc điểm, vai trò, phân loại của chứng cứtrong TTHC;nộidung pháp luậtvề chứng cứtrong TTHC; các yếu tố tác động đến chứng cứ trong TTHC. Điểm mới của Luận án là góp phần làm rõ những vấnđề còn đang mâu thuẫn, chưa được nghiên cứu, góp phần làm phong phú hơn về lý luận chứngcứtrong TTHC, phùhợpvới yêucầuthực tiễn trong việc giải quyết VAHC.
Luận án tập trung nghiên cứu quyđịnh pháp luậtvề chứng cứ và thực trạng thực hiện quy định của pháp luật về chứng cứ trong TTHC theo quy định hiện hành,đánh giá những hạn chế, vướng mắc trong quy định của pháp luật và tìm ra nguyên nhân của các hạn chế trong thực tiễn áp dụng.
Luận án đưara những phươnghướngvà giải pháp sửa đổi,bổ sung các quy định của pháp luật về chứng cứ trong TTHC và các giải pháp bảo đảmsửdụng chứng cứnhằm nâng cao chất lượng xétxửcác VAHC. Đây là những kiến nghịmớidựa trên những căn cứ, lập luận khoa học, phù hợp với chủ trương,đường lốicủa Đảng về cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Như vậy, kể từ khi Luật TTHC 2010 có hiệu lực thi hành đến nay thì chưa có một công trình khoa học pháp lý nào nghiên cứu toàn diện về lý luận và thực tiễn vềchứng cứ trong TTHC. Do đó, đề tài“Chứng cứtrong TTHC ở Việt Nam” mà tác giảchọn để làmLuận án là đề tài mới, đầu tiên nghiên cứu không bị trùng lắp.
1.2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 1.2.1. Cơ sở lý thuyết
1.2.1.1. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết đặt ra là chứng cứ trong TTHC là công cụ hữu hiệu, có ý nghĩa quan trọng để giải quyết đúng đắn, chính xác, nhanh chóng VAHC, bảo vệ được quyền vàlợi íchhợppháp chính đángcủacá nhân, cơ quan, tổchức trong tranh chấp hành
chính. Tuy vậy, về mặtlý luận và thực tiễn của chứng cứtrong TTHC chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, có tính hệ thống. Chính vì vậy, pháp luật hiện hành và việc áp dụng chứng cứ trong TTHC vào trong việc giải quyết VAHC còn nhiều vướng mắc, hạn chế chưa đáp ứng đòi hỏi thực tế.
Vềphương diện lý luận, hiện nay chưa có nghiêncứumộtcách toàn diện các vấn đề lý luận về chứng cứ trong TTHC. Các nghiên cứu chưa chỉ ra được vai trò, ý nghĩa của chứng cứ trong TTHC khi giải quyết VAHC, chưa nêu lên được đặc thù riêng biệt của chứng cứ trong TTHC, để phân biệt làm rõsựgiống và khác nhau giữa
chứng cứ trong TTHC và chứng cứ trong tố tụng dân sự, tố tụng hình sự. Trên thực tế, các yếu tố làmảnh hưởng đến chứng cứtrong TTHC khi giải quyết VAHC chưa được phân tích, nghiên cứu thấu đáo.
Vềphương diện quyđịnhpháp luật về chứng cứ trong TTHC ở Việt Nam là cơ sở pháp lý để giải quyết VAHC. Thực tiễn áp dụng các quyđịnhpháp luật về chứng cứtrong Luật TTHC để giải quyết VAHC ở Việt Nam trong thời gian qua đã đạtđược nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc về áp dụng quy định pháp luật khi giải quyết VAHC. Nguyên nhân những hạn chế này xuất pháttừ nhiều nguyên nhân chủ quan và khác quan, lý do là quy định của pháp luậtvề chứng cứ trong TTHC chưađồng bộ,chưa đảmbảo được tính toàn diện, quy định về chứng cứ không phù hợp với thực tiễn áp dụng và không phù hợp với đặc thù riêng của VAHC. Điều nàyđã ảnh hưởng đếnkết quả giải quyết VAHC nên chất lượng giải quyết các VAHC chưa cao.
Hiện nay chưa có hệ thống giải pháp phù hợp, khả thi, khoa học để khắc phục triệt để những hạn chế bất cập cả quy định pháp luật và thực hiện áp dụng quy định vềchứng cứ khi giải quyết VAHC. Để hoàn thiện pháp luật về chứng cứ trong việc giải quyết VAHC hiện nay, cần thiết phải tuânthủtheo một sốphươnghướngnhất định. Đồng thời, giải pháp hoàn thiện pháp luậtvề chứng cứ theo hướng khắc phục những hạn chế của quy định pháp luật hiện hành, nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết các VAHC. Trong đó cầntậptrung vào hai nhóm giải pháp cụ thể, là nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về chứng cứ và nhóm giải pháp nhằmđảmbảo thi hành pháp luật về chứng cứ trong Luật TTHC. Các phương hướng, giải phápđưaradựatrên cơsởnghiên cứu thấu đáo, toàn diện những vấn đề lý luận và đánh giá khách quan, khoa học, phù hợp thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luậtvề nộidung này.
1.2.1.2. Câu hỏi nghiên cứu
Đểlàm rõ các giả quyết nghiên cứu trên, luận án đặt ra sẽ giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
Nộidung lý luận về chứng cứ trong TTHC là gì? Chứng cứ trong TTHC có những điểm đặc thù gì so với chứng cứ trong tố tụng dân sự và tố tụng hình sự?
Quyđịnhpháp luậtvềchứngcứtrong TTHC ởViệt Nam đượcquyđịnhnhưthếnào? Nhữngyếutốnào tác động, chi phốiđến chứng cứ khi áp dụng giải quyết VAHC?
Thực trạng pháp luật hiện hành và thực trạng thực hiện pháp luật về chứng cứ trong TTHCởViệt Nam hiện còn vướng mắc, hạn chế gì cần khắc phục? Nguyên nhân của những hạn chế,bấtcập đó?
Việc hoàn thiện chứng cứ trong TTHC ở Việt Nam xuất phát từ những nhu cầu và phương hướng nào? Cần có những giải pháp cụ thể gì để hoàn thiện chứng cứ, bảo đảmchứng cứ là phương tiện chứng minh quan trọng trong TTHC?
1.2.1.3. Lý thuyết nghiên cứu
Luận án đượcnghiên cứu dựa trên các cơ sở lý thuyết chủ yếu sau:
Thứnhất, Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ yếu là chủ nghĩa duy vậtbiện chứng, chủ nghĩa duy vậtlịch sửcủa chủ nghĩa Mác-Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Đồng thời cũng dựa trên những vấnđề lý luậnvềvai tròcủanhà nước, của pháp luật trong việc bảovệ quyền con người, trong đó ngành tư pháp giữ vị trí quan trọng, mà thể hiện cụ thể rõ ràng qua hoạt động xét xử của TA. Luận án cũng vận dụng các quan điểmchỉđạo của Đảng Cộng sản Việt Nam vềcảicách tư pháp trong giaiđoạnhiện nay. Thểhiện trong các văn kiện của Đảng về chủ trương, chính sách, phương hướng, nhiệm vụ về hoàn thiện luật, là chìa khóa của toànbộ quá trình nghiên cứu. Cơsở lý thuyết này được tác giả sử dụng để làm căn cứ luận giải về cơ sở lý luận, các đề xuất, kiến nghị mà Luận án nêu ra.
Thứhai, dựa vào học thuyết công lýtựnhiên (natural justice)để làm sáng tỏ những đặc trưng, cơ sở lý luận, căn cứ hình thành nên các quy định về chứng cứvà đề xuất việc hoàn thiện pháp luật về chứng cứ trong TTHC. Học thuyết trình tự pháp luật công bằng (due process of law) làm cơ sở để nghiên cứu,đề xuấtcác phương hướng hoàn thiện quy định pháp luậtvề chứng cứ bảo đảmđược sự công bằng giữa các đương sự,bảo vệ quyền con người trong TTHC. Học thuyết chứng thực pháp lý (legal positivism) được sử dụng chủ yếu làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý về chứng cứ trong TTHC. Việc nghiên cứu pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật vềchứngcứtrong TTHC, chúng tôiđãbám sát các học thuyết trên để rút ra cách nhìn tổng quan,đểcó thểđềxuất các phương hướng, giải pháp đảmbảo thi hành pháp luậtvề chứng cứ nhằm nâng cao chất lượng xétxử các VAHCở Việt Nam. Theo học thuyết tiếp cấy ghép pháp luậtnước ngoài (legal transplant), dựa trên việc tham khảo các quy định tiến bộ trong pháp luật của một số nước trên thế giới về chứng cứ trong TTHC, làm cơsở để kiến nghịhoàn thiện các quy định của pháp luật về chứng cứ trong TTHC ở Việt Nam.
1.2.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được tiếp cận theo phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác -Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực hiện pháp luật. Vận dụng phương pháp này được đặt trong mối liên hệ với chính trị, xã hội, xu hướng cải cách tư pháp trong thời gian tới, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong từng giaiđoạn cụ
thể của Việt Nam. Phương pháp luận này đảm bảo cho việc đưa ra cơ sở lý thuyết vềchứng cứ trong TTHC, xem xét để đưa ra các đề xuất, kiến nghị mà Luận án nêu ra.
Đối với từng nội dung cụ thể, Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau đểđảm bảo tính hiệu quả, khoa học làm rõ được nội dung cần nghiên cứu.Cụ thể:
Phương pháp hồi cứu các tài liệu:được sửdụng đểtập hợp các tài liệu, công trình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước nhằm lựa chọn,tập hợp một cách đầy đủnhất các tài liệu liên quan đến đề tài Luận án từ nhiều nguồn khác nhau.
Phương pháp hệ thống: được sử dụng để xâu chuỗi và tìm ra sự nhất quán các vấn đề về lý luận,pháp lý và thực tiễn liên quan đến chứng cứ trong TTHC.
Phương pháp lịch sử: được sửdụng đểđánh giá các yếu tốtácđộng đến áp dụng chứng cứ trong TTHC khi giải quyết VAHC, cũng như đánh giá những nguyên nhân dẫn tới những bất cập,hạn chế về vấn đề này.
Phương pháp tổng hợp: được sử dụng chủ yếu trong quá trình thu thập tài liệu, phân tích các quan điểm, đề xuất, kiến nghị. Phương pháp nàycũng được sử dụng đểrút ra những nhận định, ý kiến đánh giá sau khi phân tích từng nội dung cụ thể, đưa ra kết luận ở các chương và kết luận của Luận án.
Phương pháp chứng minh:được sửdụng nhằm đưara các dẫn chứng vềquy định,số liệu,vụ việc để làm rõcác luận điểm, luận cứ trong các nội dung về lýluận ởcác nhận định trong các nội dung, đặc biệt là cácđềxuất, quanđiểm vềsửa đổi, bổsung quy định pháp luật và giải pháp đảm bảo thi hành pháp luật nâng cao chất lượng xét xử các VAHC. Bên cạnh đó, thì phương pháp này còn giúp chỉ ra những hạn chế, bất cập trong việc áp dụng các quy định pháp luật về chứng cứ vào trong thực tiễn qua việc TA giải quyết các VAHC. Từ đó, nêu ra những điểm còn hạn chế, bất cập, không khả thi, những điểm không phù hợp giữa các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng được thể hiện tại chương 3 của Luận án. Đây là căn cứ, cơsở để tác giả đưa ra các đềxuất, kiến nghị góp phần hoàn thiện một số quy định pháp luật hiện hành về chứng cứtrong TTHC hiện nay được thể hiện tại chương 4 của Luận án.
Phương pháp phân tích luật viết: phương pháp nàyđược sửdụng ởtất cảcác nội dung thuộc các chương của Luận án, nhằm để tìm hiểu và làmrõ các vấn đề về lýluận, các quy định của pháp luật, cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật, các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảgiải quyết VAHCởViệt Nam.Đặc biệt, phương pháp nàyđược sử dụng phần lớn tại chương 3 và chương 4 của Luận án, việc sử dụng phương pháp này cho phép tác giảnhận thức rõ hơn vềbản chất của chứng cứtrong TTHC, phát hiện ra những lỗ hổng, chưa được văn bản pháp luật điều chỉnh hoặc điều chỉnh chưa phù hợp,từ đó làmnền tảng cho việc nghiên cứu đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy định về chứng cứ trong TTHC.
Phương pháp so sánh: được sử dụng để đối chiếu các quan điểm khác nhau giữa các nhà khoa học trong các công trình nghiên cứu, giữa quy định của pháp luật với thực tiễn áp dụng, xem xét tính khảthi của quy định pháp luật vềchứng cứtrong TTHC khi áp dụng trong việc giải quyết VAHC trên thực tế.Phương pháp này cũng được sử dụng để nghiên cứu quy định về chứng cứ trong TTHC ở Việt Nam với một số quốc gia trên thế giới.
Phương pháp thống kê: Luận án sửdụng phương pháp thống kê đểphát hiện một cách đầy đủ các công trình nghiên cứu có liên quan đến Luận án, được thực hiện trong chương 1 về tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu. Ngoài ra, phương pháp thống kê cũng được sử dụng khi nghiên cứu cácsố liệu từbáo cáo ngành TA, qua phiếu khảo sát ý kiến ởphụlục, từđó đánh giá thực tiễn áp dụng chứng cứ trong TTHC khi giải quyết VAHC.
Phương pháp case study:được áp dụng đểđánh giá những bất cập trong thực tiễn khi áp dụng quy định pháp luật vềchứng cứvào trong việc giải quyết VAHC, thông qua nghiên cứu những VAHC điển hình mà TA đã giải quyết.
Phương pháp điều tra, khảo sát xã hội học: Luận án sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát xã hội học ởchương 3 và chương 4 đểchứng minh cho các kết quảnghiên cứu và đưa ra kết quả nghiên cứu. Tiến hành phương pháp này như sau:
(1) Đối tượng điều tra, khảo sát: những cá nhân có giảng dạy, nghiên cứu và trực tiếp thực thi pháp luật vềchứng cứtrong TTHC gồm giảng viên nghiên cứu, giảng dạy về pháp luật, Thẩm phán, Luật sư, Kiểm sát viên, Hội thẩm nhân dân, Thư ký TA, cán bộ, công chức trong CQHCNN đã từng đại diện hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho phía người bịkiện tham gia tốtụng trong VAHC. Với đối tượng khảo sát là những nhà khoa học, chuyên gia làm trong công tác giảng dạy, nghiên cứu về pháp luật và làm công tác thực tiễn áp dụng nên những ý kiến, quan điểm của họ có chất lượng, có giá trị tham khảo cao. Bên cạnh đó, để có cách nhìn đa chiều, có thêm nhiều thông tin thì chúng tôi cũng tiến hành khảo sát thêm những đối tượng có liên quan khác có kinh nghiệm, chuyên môn, công tác trong lĩnh vực pháp lý như như Hòa giải viên, Chấp hành viên, Công chứng viên, Chuyên viên pháp lý và những cá nhân đã từng tham gia tố tụng trong VAHC.
(2) Địa bàn điều tra, khảo sát: Khi chọn địa bàn điều tra, khảo sát chúng tôi bảo đảm tính ưu tiênđịa bàn có nhiều thông tin cần thu thập, ưu tiên thực hiện tại địa phương nơi có số lượng VAHC được TA thụ lý giải quyết nhiều.
(3) Phương thức tiến hành:điều tra, khảo sát thông qua phiếu hỏi dưới hình thức là khảo sát trực tuyến. Việc xây dựng bảng câu hỏi khảo sát căn cứ vào mục tiêu của việc khảo sát, tình hình thực tiễn về áp dụng chứng cứ vào việc giải quyết VAHC trong thời gian qua.
(4) Sốlượng người điều tra, khảo sát:đểbảo đảm được mức độchính xác và nhiều ý kiến, quan điểm về nội dung khảo sát nên số lượng đối tượng khảo sát là phải tương đối nhiều, dự kiến cần khoảng 500 ý kiến trả lời cho các nội dung khảo sát.
(5) Phạm vi, nội dung điều tra, khảo sát: căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đềtài và các vấn đềmà nghiên cứu đặt ra, nội dung khảo sát tiến hành chỉxoay quanh, liên quan đến các nội dung về chứng cứ khi giải quyết VAHC như nghĩa vụ chứng minh, thu thập, giao nộp, xác minh, đánh giá chứng cứ trong TTHC.
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: phương pháp này được tác giả sử dụng tại chương 3 và chương 4, để đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật trên các nội dung cơ bản vềchứng cứtrong TTHC. Các chuyên gia phỏng vấn lànhững nhà nghiên cứu, giảng dạy về Luật TTHC, những người hoạt động thực tiễn, áp dụng pháp luật, có nhiều kinh nghiệm trong việc giải quyết, xétxửcác VAHC. Quátrình phỏng vấn được các chuyên gia trả lời bằng văn bản. Tất cả các văn bản trả lời của chuyên gia sẽ do chính tác giả lưu trữ, quản lý, bảo quản và có thể trích xuất, cung cấp theo yêu cầu của cá nhân, tổchức, cá nhân có thẩm quyền đểphục vụmục đích nghiên cứu khoa học. Kết quảphỏng vấn không chỉnhằm mục đích làm sáng tỏcác quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện các quy định vềchứng cứtrong TTHCởViệt Nam hiện nay, mà còn được tổng hợp cụ thể, minh chứng rõ ràng tại phần phụ lục của Luận án.
Kết luận chương 1
Thứnhất, hiện nay các công trình khoa học nghiên cứu vấn đềvềchứng cứtrong TTHC ở Việt Nam dưới góc độ lý luận và thực tiễn còn rất ít. Tuy nhiên, mức độvà phạm vi nghiên cứu của các công trình đã được công bốthường chỉdừng lại một khía cạnh nhất định, chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về mặt lý luận và thực tiễn về chứng cứ trong TTHC.
Thứ hai, còn có nhiều nội dung về chứng cứ trong TTHC cần được nghiên cứu, làm sángtỏ,nhưng chưa được đềcập hoặc chưa được làm rõ trong các công trình nghiên cứu trước đó. Điều này đã đặt ra yêu cầu phải cósựnghiên cứu, tìm hiểu và làm rõ trong quá trình nghiên cứu về chứng cứ trong TTHC hiện nay.
Thứ ba, sau khi phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đến đề tài, những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu trong Luận án là: (1) Khái niệm, đặc điểm, thuộc tính, vai trò, phân loại của chứng cứ trong TTHC; (2). Nội dung pháp luật về chứng cứ trong TTHC; (3). Yếu tố tác độngđến chứng cứtrong TTHC; (4) Phân tích, đánh giá pháp luật và thực trạng thi hành pháp luật vềchứng cứ trong TTHC; (5) Xác định các phương hướng hoàn thiện pháp luật về chứng cứ trong TTHC; (6). Đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về chứng cứ trong TTHC ở Việt Nam.
Như vậy,để bảo đảm các quy định về chứng cứ đầy đủ, phù hợp,áp dụng hiệu quả, thực thiđược trên thực tếkhi giải quyết VAHC, rất cần có công trình khoa học nghiên cứu toàn diện các vấn đề về chứng cứ trong Luật TTHC cả dưới góc độ lý luận và thực tiễn hiện nay.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG
HÀNH CHÍNH
2.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, phân loại của chứng cứ trong tố tụng hành chính
2.1.1. Khái niệm của chứng cứ trong tố tụng hành chính
Làm rõ khái niệm về chứng cứ trong TTHC giúp chúng ta có thểnhận diện được chính xác về các dấu hiệu, đặc trưng của chứng cứ trong TTHC để làmcơ sở, tiền đề cho việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp liên quan đến chứng cứđược quy định trong Luật TTHC, nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết VAHC. Mỗi quốc gia khác nhau về thể chế,lịch sử, văn hóa, hệ thống pháp luật, kỹ thuật lập pháp, cho nên quy định pháp luậtvề khái niệm chứng cứ cũng có những điểmtương đồng và khác biệt nhấtđịnh.Có những nước xây dựng mộtđạo luật riêng về chứng cứ chẳng hạn như Mỹ,Úc; cũng có nhiềunướcđưakhái niệm chứngcứvào trong luậttốtụng như Nga, Trung Quốc; cũng có những nướckhông đưakhái niệm chứng cứ vào trong luật màchỉquy định những quy phạm xác định chứng cứ. Vềkhái niệm chứngcứ,phảithểhiện, bao quátđược nộidung chính là để chứng minh, làmrõ được sự thậtkhách quan của án. Cho dù cách hiểu về khái niệm chứng cứ dù ở cách này hay cách khác, nhưng cũng có những điểm khá thống nhất khi xác định mọi sự thật chứng minh chân lý của vụ án đều là chứng cứ1. Để hiểurõ nội hàm của khái niệm chứng cứ và có thể đưa ra một khái niệm chính xác về chứng cứ trong TTHC, theo chúng tôi cần phải làm rõ một số quan điểm, nhận thức khác nhau về khái niệm chứng cứ.
Thứ nhất, khái niệm chứng cứ theo quan điểm của hệ thống Thông luật
Hệthống Luật Anh-Mỹ với tư cách là hệ thống điển hình của Luật án lệ (Thông luật), các quy định của pháp luật chủ yếu được hình thành thông qua quá trình xét xửtại TA và các phán quyết củaThẩm phán. Theo truyền thống này, tốtụng tranh tụng
được coi là hình thức tố tụng đặc thù trong quá trình xétxử tạiTA. Theo đó, trong quá trình xét xửVAHC, TA đóng vai trò là người quan sát các bên tranh tụng, bảođảm quyền tranh tụng trước tòa cho các bên. Vì vậy, nguyên tắc đảmbảo sử dụng việc kiểm tra chéo đốichấtđể xác định tính chính xác, có căn cứ của chứng cứ được đặc biệt coi trọng. Việc chấp nhận chứng cứđể đưa ra phán quyết cuối cùng dựa trên những tiêu chí hợp lệ của chứng cứ do pháp luật quy định.
Tại các nước theo hệ thống pháp luật này, thường không có định nghĩa về khái niệm chứng cứ quy định trong luật thành văn như các hệ thống dân luật, nhưng thông
1 Nguyễn Văn Du (2005),“Khái niệm chứng cứ trong tố tụng hình sự: nhìn từ góc độ lịch sử và luật so sánh”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11, tr.38.
qua các quy phạm, quá trình áp dụng để giải quyết, cũng có thể rút ra được cách hiểu về khái niệm chứng cứ. Chẳng hạn chứng cứ trong TTHC làbấtkỳ thông tin, tài liệu,
lời khai, báo cáo hay dữ liệu được cơ quan hành chính sử dụng để xác định các sự kiện và ra quyếtđịnh trong quá trình xétxử hành chính2.TạinướcAnh, khi giải quyết VAHC, thể hiện được đặc trưng theo nguyên tắc tự do đánh giá chứng cứ, chứng cứ có được chấp nhận hay không là do Bồi thẩm đoàn,Hộiđồng xét xử. Theo đó, chứng cứlàbấtkỳ tài liệu thực tế hay lập luận pháp lý nào được trình bày trước tòa nhằmhỗ trợ hoặc xác định được tính hợp pháp của một QĐHC3. Như vậy, theo truyền thống Luật Anh-Mỹ, chứng cứ được hiểu là tất cả những gì được sử dụng trong việc chứng minh sự thậthoặc bác bỏ một vấn đề trong vụ án. Xem xétvề bản chấtcủa khái niệm chứng cứtrong hệ thống án lệ, thể hiện việc ưu tiên chứng cứ miệng hơn chứng cứ viết, lời khai4.
Thứ hai, khái niệm chứng cứ theo quan điểm của hệ thống Dân luật
Đặctrưng cơbảncủatốtụng theohệthống Dân luật khi giải quyếtvụán làthông qua xét hỏi, thể hiện sự can thiệp của TA vào hoạt động tố tụng rất rõ. Trước khi tiến hành xét xử vụ án, TA phải thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ. Ở các nước này, khái niệm chứng cứ và cách hiểu về chứng cứ cũng có những đặc thù riêng. Chẳng hạn, trong pháp luật hành chính Pháp, không có định nghĩa thành văn duy nhất cho chứng cứ, nhưng về mặt học thuật và thực tiễn áp dụng, khái niệm chứng cứtrong TTHC có thể được hiểu là toàn bộ các yếu tố thực tế hoặc pháp lý có khả năng làm rõ tínhhợppháp hoặc bất hợpphápcủaQĐHCbịkhiếu kiện. Theo pháp luật nước Đức,thì chứng cứ trong TTHC là mọi thông tinthực tếcó khả năng làm sáng tỏcác tình tiết có ý nghĩa quyếtđịnh cho vụ án. Theo Luật TTHC của Trung Quốc, chứng cứ là các bằng chứng, tài liệu, thông tin và sự kiện liên quan đến VAHC, được sử dụng để giảiquyết tranh chấp và quyếtđịnh kếtquả vụ án.Tại nướcNga, thì chứng cứtrong VAHC là những thông tin về sự việc được thu thập theo trình tự do luật quyđịnh,làmcơ sở để TAxác định có hay không có các tình tiết xác lập yêu cầu,phản đối của các bên, cũng như các tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết đúng đắn vụ án. ChỉriêngởnướcNga,đãcórấtnhiều trường phái khác nhau, córấtnhiềuý
kiến tranh luận về khái niệm chứng cứ5. Mỗi trường phái đềucó những quanđiểm mang nhữngđặcđiểm,ưuđiểm,nhượcđiểm riêng biệt. Theo trường pháicổ xưavềkhái niệm chứng cứ,thì cho rằng, chứng cứ là những sự kiện bình thường, là những hiện tượng xảy ra trong đời sống có ý nghĩa để thuyết phục Thẩm phán về sự tồn tại
2Nước Mỹ. 3 Nước Anh.
4 Nguyễn Văn Du (2005), Tlđd (1), tr.40.
5 Xem: Nguyễn Thái Phúc (2023), Những học thuyết chứng cứ cơ bản trong tố tụng hình sự, Kỷ yếu hội thảo chứng cứ và chứng minh giải quyết vụ án hình sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr.12.
hay không tồn tạicủa tình huống nào đó thuộc đốitượng chứng minh của vụ án. Chúng trở thành chứng cứ tư pháp vì chúng tham gia vào quỹ đạo của TA, trở thành công cụ để TA xác định những tình tiếtcủa của vụ án6. Trường phái này chỉ thừa nhận chứng cứlà những sựkiện của hiện thực khách quan ở đờithường và không đề cập đến hình thức tố tụng của chứng cứ;Theo trường phái logicvềkhái niệm chứng cứ, trường phái này chỉ thừa nhận chứng cứ là sự kiện của tồn tại khách quan (các sự kiện, tình tiết, hiện tượng, hành vi đãxảyra trong quá khứ) đượcsửdụng như là tiềnđềlogic, luận cứ để thu nhận tri thức mới về các đối tượng chứng minh của vụ án. Chứng cứchỉlà sựkiện chứkhông phải là dữliệu về sựkiện7; Theo trường phái khái niệm kép về khái niệm chứng cứ, thì chứng cứ là bất kỳ dữ liệu về sự kiện nào, mà trên cơ sở của những dữ liệu này, cơ quan tiến hành tố tụng xác định có hay không có các tình tiết thuộc đối tượng chứng minh và những tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án. Quan điểm này cho rằng chứng cứ là sự thống nhấtcủa nộidung và hình thức tố tụng của nó8; Theo trường phái thông tin về khái niệm chứng cứ, trường phái này cho rằng chứng cứ không phải là các sự kiệnđược nhậnbiết và ghi nhận trong hình thức tố
tụng mà là thông tin về sự kiện, nếu như những thông tin này có thể khẳng định hoặc phủ định các tình tiết phải chứng minh trong vụ án. Chứng cứ không phải là bản thân sự kiện theo đúng nghĩa, không phải là hiện tượng theo thế giới khách quan, mà là thông tin và sự kiện tồn tại trong nguồn do luật định, như vậy bản chất của chứng cứ là thông tin về sự kiện. Thuộc tính của chứng cứ là tính xác thực theo đó những thông tin thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án phải được đánh giá. Đây là cách tiếp cận mới cho phép giải quyết nhiều vấn đề về chứng cứ và thuộc tính của chứng cứ9; Theo trường phái tổnghợpvềkhái niệm chứng cứ, theo trường phái này chứngcứlàsựthống nhất đồng thời giữa hình thức tố tụng, nguồn và nội dung của nó. Các chứng cứ
tốtụng có giá trị pháp lý khác nhau, được đưa vào hồ sơ vụ án. TA là người quyết định sử dụng chứng cứ nào trong số các chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra, đánh giá tại phiên tòa để làm căn cứ cho phán quyết của mình. Khái niệm này trở thành kinh điển của học thuyết chứng cứ Nga thời kỳ Xô Viết, được ghi nhận trong hệ thống pháp luật Nga từ năm 1960. Hiện nay, theo khái niệm chứng cứ được quy định trong pháp luật nước Nga, thì chứng cứ là bất kỳ thông tin nào được thu thập từ những nguồn cụ thể do luật định mà trên cơ sở của những thông tin này người tiến hành tố tụng xác định sự
6 A.InVu-sin-xky (1967), Lý luận về chứng cứ tư pháp trong pháp luật Xô Viết, Nxb. Văn phẩm pháp luật Quốc gia, do TAND Tối cao dịch.
7 Chen-xốp.M.A (1951), Tố tụng hình sự Xô Viết, Nxb. Văn phẩm pháp luật Quốc gia, do TAND Tối cao dịch.
8 Xtrogovich.M.C (1960), Giáo trình Tố tụng hình sự Xô Viết, quyển 1, Truxov.A.I Căn bản về học thuyết chứng cứ tư pháp, Nxb. Văn phẩm pháp luật Quốc gia, do TAND Tối cao dịch.
9 Đorokhôv.V.IA (1978), Những vấn đềvềchứng cứtrongTốtụng hình sựXô Viết, Nxb.Đại học tổng hợp Voronhez.
tồn tại hoặc không tồn tại các tình tiết cần phải chứng minh trong vụ án và những tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án10.
Như vậy, quy định pháp luật các nước theo truyền thống Dân luật có điểm tương đồng giống nhau, đó làđể được xem làchứng cứ phải được thu thập theo luậttố tụng quy định, không vi phạm hệ thống pháp luật của quốc gia; chứng cứ phải có xu hướng chấp nhận sự kiện hoặc bác bỏ mộtsự kiện nào đó trong tình huống pháp lý phải chứng minh; chứngcứphảibảo đảmtính khách quan, rõ ràng,đầy đủ,tin cậy của chứng cứ.
Thứ ba, khái niệm chứng cứ trong TTHC ở Việt Nam
Từ năm 1996,TTHC bắt đầu đượcTA Việt Nam áp dụng để thực hiện quyền xétxử các VAHC và thuật ngữ chứng cứ đã được sử dụng nhiều trong quá trình tố
tụng. Tuy nhiên, khái niệm chứng cứ chỉ được quy định lần đầu tiên trong Luật TTHC năm 2010 và được kế thừa, bổ sung thêm trong Luật TTHC năm 2015. Luật TTHC đãdành riêng một chương quy định về chứng minh và chứng cứ, trong đó có đưa ra khái niệm cụ thể về chứng cứ trong VAHC như sau:“Chứng cứ trong VAHC là những gìcó thậtđược đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho TA trong quá trìnhtốtụng hoặc do TA thu thậpđượctheo trình tự, thủtụcdo Luật này quy định mà TA sửdụng làm căn cứđể xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sựphản đốicủa đương sựlà có căn cứvà hợp pháp”11. Khái niệm chứngcứtrong TTHC như trên cũng hoàn toàn giốngvớikhái niệm chứng cứ trong tố tụng dân sự12. Khái niệm chứngcứtrongtốtụng hìnhsựcómộtsốkhác biệt sovớikhái niệm chứngcứtrong TTHC vàtốtụng dânsự,đólà“Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quyđịnh,được căn cứđể xác định có hay không có hành vi phạm tội,ngườithực hiện hành vi phạmtộivà những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyếtvụ án”13.
Liên quan đến nội hàm của khái niệm chứng cứ trong TTHC, tìm hiểu các công trình nghiên cứu tại Việt Nam, chúng tôi thấy có hai quan nhóm quan điểm chính vềkhái niệm chứng cứ. Quan điểm thứ nhất, cho rằng khái niệm chứng cứ trong VAHC phảiđảmbảo ba yếu tố là có thật và liên quan đến VAHC, yếu tố này bảo đảmtính chính xác của chứng cứ; được TA thu nhận theo thủ tục do Luật TTHC quy định, yếu tốnày xác định tính hợp pháp của những gì có thật được coi là chứng cứ; được TA sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu
10 Nguyễn Văn Du (2005), Tlđd (1), tr.40. 11 Điều 80 Luật TTHC năm 2015.
12 Xem Điều 93 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015. 13 Điều 86 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015.
cầu hay sựphản đốicủa đương sự14. Quanđiểmthứ hai cho rằng khái niệm chứng cứthể hiện qua ba đặc điểm của chứng cứ, là tính khách quan của chứng cứ, thể hiện ởchỗ các tình tiết, sựkiện về tính hợp pháp của đốitượng khiếu kiện trong VAHC là những gì có thật, chúng tồn tại khách quan,độc lập vớiý thức của các chủ thể chứng minh trong VAHC; tính liên quan của chứng cứ, thể hiện chứng cứ được TA dùng làm căn cứxác định những nộidung chứng minh trong VAHC; và tính hợp pháp của chứng cứ, thể hiện thuộc tính pháp lý của chứng cứ, phải thu thập từcác nguồn hợp pháp, đúng quy định của pháp luật15.
Nộihàm củakhái niệm chứngcứthông qua khái niệm chứngcứnhư trênthểhiện ở những nội dung sau:
Thứ nhất, chứng cứ phải là những gì “có thật”, nghĩa là trong nhận thức của con người, khi chọn cái gì làm chứng cứ, họ hoàn toàn tin tưởng đó là sự thật, không có một chi tiết giả mạo nào xen vào, bất kỳ chứng cứ nào khi không có thật thì sẽ không có giá trịchứng minh trong VAHC. Tính có thật của chứng cứđược xác định bởi những đơn vịđo lường nhấtđịnh,gắn liền vớisự hiện hữu của chứng cứ,được thể hiện dướinhững hình thức nhấtđịnh và thông qua đó,chủ thể chứng minh cung cấp được cho TA và TA xác định được những nộidung mà dựa vào đó làm căn cứ giải quyếtvụ án.Vớitính có thậtcủachứngcứ,con ngườichỉcó thể tiếp cận chứng cứ, nhận thức về chứng cứ mà không thể sửa đổi hoặc làm nó khác đi. Nếu những gì mà do con ngườigiả mạo, hay ngụy tạo ra theo ý chủ quan, không đúng vớisự thật, thì không thể xemđó là chứng cứ.Tính “có thật” của chứng cứ càng cao thì có giá trịchứng minh để giải quyết đúng đắn VAHC càng lớn.
Thứ hai, chứng cứphải “cógiá trị chứng minh” các tình tiết, sự kiện trong vụán. Tất cả những gì có thật, có liên quan tới VAHC có thể là chứng cứ, nhưng chúng phải có giá trị chứng minh nhất định trong việc giải quyết vụ án,đólà có giá trị chứng minh về nội dung hoặc tố tụng của vụ án. Nếu một tình tiết có thật, có liên quan đến vụán, nhưng lại không có giá trị chứng minh thì cũng sẽ không được coi là chứng cứ và không được sử dụng trong quá trình giải quyết vụ án. Chứng cứ không chỉ đơn thuần là cung cấp thông tin mà còn có giá trị chứng minh, nghĩa là chứng cứ không chỉ nằmở việc đưa ra thông tin, mà còn ở việc thông tin đó có thể chứng minh được hay không. Không phảitấtcả thông tin, tình tiết, sự kiện đều có khả năng chứng minh cho
14 Theo quan điểm này có thể kể như: Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Luật TTHC Việt Nam, Nxb. Hồng Đức, tr.280; Trường Đại học Luật HàNội(2014), Giáo trình Luật TTHC Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr.188; Nguyễn Cảnh Hợp (chủ biên) (2017), Giải thích và bình luận Luật TTHC
năm 2015, Nxb. Hồng Đức–Hội Luật Gia Việt Nam, tr.151; Trường Đại học LuậtĐại học Quốc Gia Hà Nội (2023), Giáo trình Luật TTHC Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc Gia Hà Nội, tr.166.
15 Theo quan điểm này có thể kể như: Học viện tư pháp (2020), Giáo trình Kỹ năng tham gia giải quyết các vụviệc hành chính, Nxb. Tư pháp, tr.98; Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2022), Giáo trình Luật Tốtụng dân sự Việt Nam, Nxb. Hồng Đức, tr.208.
mộtluậnđiểm,mộtvấnđềnàođóphụcvụcho quá trình giải quyếtvụán. Do đó, thông tin cần phải được chọn lọc, kiểm chứng và có độ tin cậy cao để mang lại giá trị chứng minh.
Thứ ba, chứng cứ trong VAHC được “TA thu thập theo trình tự, thủ tục do luật TTHC quy định”.Tứclà khi TA thu thập chứng cứ phải thực hiện đầy đủ và đúng theo các nội dung, các yêu cầu, các công việc phải làm mà Luật TTHC đã quy định để có được chứng cứ mà TA muốn. Nếu những gì TA thu thập đượcmà không đúng theo trình tự, thủtụcdo luật TTHC quyđịnh,thì khôngthểsửdụng làm chứngđểgiải quyết VAHC. Quy định này để bảo đảm pháp lý cho việc ghi nhận những giá trị chứng minh chính xác của chứng cứ. Bởi vì, nếu thu thập chứng cứ mà không tuân thủ theo các quy định của pháp luật, chỉcần mộtthiếu sót nhỏ trong quá trình thu thập chứng cứ, cũng có thể dẫn đến làm sai lệch nội dung sự việc, có thể gâyảnh hưởng đếnkết quả giải quyết VAHC.
Thứ tư, chứng cứđược “TAsử dụng làm căn cứ đểxác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”. Chứng cứ chỉ phát sinh giá trị khi được TA sử dụng một cách hợp lý đểtìm ra sự thật khách quan và giải quyết đúng vụ án. Thông qua chứng cứ, TA sẽ đưa rađược những phán quyết đúng đắn,công minh, hợp lý, hợp tình đảmbảo được tốiđa các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể. TA là nơi duy nhất có quyền quyếtđịnh sử dụng chứng cứ nào để nhận định vào việc tuyên bản án. Cho nên, chứng cứnào được TAdùng làm căn cứ, để xác định yêu cầu hay phản đối yêu cầu của đương sự, làcó căn cứ và hợp pháp hay không còn phụ thuộc ý chí chủ quan của TA khi xác định chứng cứ. Những tài liệu, sựvậtcó thật, liên quan đến vụ án, nhưng vì lý do nào đó không được TA sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ án, thì không có ý nghĩa chứng cứ, không được xem là chứng cứ16. Nếusựvật, hiệntượngnàođóđápứngtính có thật, tính hợp pháp, tính liên quan nhưng không được TA sử dụng thì được dân gian gọi làbằng chứng. Bằng chứng trở thành chứng cứ khi nó trở thành phương tiện để chứng minh yêu cầu của đương sự là hợp pháp hay không hợp pháp hoặc xác định các tình tiết khách quan của VAHC17.
Nộihàm củakhái niệm chứngcứcóýnghĩa quan trọngđốivớitấtcảcác quyđịnh liên quan về chứng cứ. Khái niệm chứng cứ phải bao hàmđược mốiquan hệ giữa hình thức tố tụng và bản chất khách quan của chứng cứ,chủ thể và đốitượng chứng minh cũng nhưthểhiệnđầyđủcácyếutốnộihàm,đặc trưng của chứng cứ18. Nội
16 Trường Đại học Luật HàNội(2017), Giáo trình Luật TTHC Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr.188.
17 Đại học Luật Đại học Quốc Gia HàNội(2023), Giáo trình Luật TTHC Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc Gia HàNội, tr.166.
18 Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật TTHC Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr.200.
dung về khái niệm chứng cứ trong Luật TTHC theo phân tích như trên là chưa phản ánh hết bản chất, nội dung của chứng cứ. Thể hiện:
Thứ nhất, nếuchỉ dừng lại ởquanđiểmchứngcứlà những gì “có thật”, “khách quan” theo quy định của pháp luật hiện nay, là chưa phản ánh hết toàn bộ bản chất của chứng cứ. Để xác định những gì cho là chứng cứ, để sử dụng làm căn cứ giải quyết VAHC, thì không chỉ căn cứ vào sự phản ánh tính có “có thật” của nó. Để nhận thức đúng được vụ án, còn phải căn cứ vào đầy đủ thông tin, tình tiết, sự kiện về kết quả phản ánh tính có thật của chứng cứ. Nếu xem chứng cứ là những gì“có thật” nhưquy định là chưa phản ánh đúng bản chất của chứng cứ,dẫn đến khó nhận thức về chứng cứ hoặc thường mắc phải những sailầmtrong thu thập và đánh giá chứng cứ. Chỉcó những thông tin chính xác về tình tiết, sự kiện phản ánh sự thật khách quan của vụ án, hay“chứng cứ là những thông tin xác thực về những gìcó thật”19 mới được xem là nội dungcủachứng cứ. Mặckhác, thuật ngữ“những gì có thật”còn mang tính chung chung có thể gây nhầm lẫn trong việc hiểu và áp dụng20.
Thứ hai, theo khái niệm chứng cứ hiện nay chỉ cho rằng chứng cứ là “do TA thu thập được theo trình tự, thủ tục do Luật này quy định” là chưa thể hiện hết các chủ thểcó quyền thu thập chứng cứ. Trường hợp VKS không đồng ý với bản án sơ thẩm, VKS có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm. VKS cóthểxác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để đảm bảo cho việc kháng nghị. Cho nên, nếu chỉ quy định khái niệm chứng cứ trong VAHC là những gì có thật do TA thu thập được, mà không quy định chứng cứ do VKS thu thập được là chưa đầy đủ. Quy định không đầy đủ như vậy đã làm hạn chế đi vai trò của VKS trong việc thu thập chứng cứ, làm giảm đi giá trị của chứng cứ do VKS thu thập được. Trong khi đó cùng với TA, thì VKS cũng làcơ quan tiến hành tố tụng trong VAHC. Bên cạnh đó, các chủ thể khác trong VAHC như đương sự,ngườibảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, cũng có thể thu thập chứng cứ để chứng minh. Do vậy, chỉ quy định về khái niệm chứng cứ là “do TA thu thập được theo trình tự, thủ tục do Luật này quy định” là chưa đầy đủ, thiếu quyđịnh về chứng cứ do các chủ thể khác thu thập trong quá trình giải quyết VAHC.
Thứ ba,vớiquy định “chứng cứđược TAsửdụng làm căn cứđể xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sựlà có căn cứvà hợp pháp”, như vậyxác định chỉcó TA là chủ thểduy nhất có quyền sử dụng chứng cứ phục vụ cho việc chứng minh những vấn đề khác nhau trong vụ việc là không hợp lý. Trong quá trình tiến hành tố tụng, không chỉ có cơ quan tiến hành tố tụng,ngườitiến hành tố tụng được sử dụng chứng cứ vào quá trình chứng
19 Đỗ Văn Đương (2000), Thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ luật học, Trường Đại học cảnh sát nhân dân, tr.17.
20 Nguyễn Cảnh Hợp (chủ biên) (2017), Giải thích và bình luận Luật TTHC năm 2015, Nxb. Hồng Đức-Hội Luật Gia Việt Nam, tr.154.
minh, mà tất cả những người tham gia tố tụng cũng có quyền đưa ra chứng cứ, sử dụng chứng cứ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nhằm sáng tỏ các tình tiết, sự kiện của vụ việc21. Bên cạnh đó, khi xem xét chứng cứ được TA dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay phản đối yêu cầu của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không, nhằm giải quyết đúng đắn VAHC, là chúng ta đang xem xét đếnmụcđích chứng minh trong VAHC. Tức là, TA căn cứ vào chứng cứ,xem trong các yêu cầu đương sự thì yêu cầu nào đúng, yêu cầu nào sai,chứnộidung này không nằmtrong nộihàm của khái niệm chứng cứ.Bởivì chứng cứ là phương tiện để chứng minh trong VAHC, chứ chứng cứ không phải là phương tiện để giải quyết VAHC. Việc giải quyếtđúng đắn VAHC còn tùy thuộc vào áp dụng pháp luậtnộidung, luật chuyên ngành điều chỉnh từng lĩnh vực hành chính có đúng không. Dođó,nên hiểu chứngcứlàphương tiện “Để xác định sự thậtkhách quan của vụ án”22 thì phù hợp hơn.
Hoàn thiện khái niệm chứngcứmang tính chấtđịnhhướngđúngđắncho việc xây dựng, hoàn thiện các quy định khác liên quan đến chứng cứ. Dovậy, cần sửa đổi khái niệm chứng cứ quy định tạiĐiều 80 Luật TTHC như sau: “Chứngcứ trong VAHC là những thông tin, tình tiết, sự kiện phản ánh đúng sự thật khách quan, được xác định bằng các nguồn nhấtđịnh,được cácchủ thể cung cung cấp, giao nộp, cho cơ quan tiến hành tố tụng hoặc do cơ quan tiến hành tố tụng thu thập được theo trình tự, thủ tục do Luật này quy định mà chủ thể chứng minh dùng làm căn cứđể xác định sựthật khách quan của vụ án”.
2.1.2. Đặc điểm của chứng cứ trong tố tụng hành chính
Chứng cứ trong TTTHC có những đặc điểm riêng biệt biểu hiện những đặc thù của VAHC. Thể hiện:
Thứ nhất, chứng cứ trong VAHC chủ yếu thể hiện dưới dạng tài liệu đọc được
TTHC thường được coi là tố tụng viết vì căn cứ, chứng cứ dùng để giải quyết VAHC gắn liền với hoạt động công vụ nên chủ yếu tồn tại dưới dạng văn bản23. Xuất pháttừ đốitượng khởi kiện của VAHC thường là các QĐHC do CQHCNN hoặc người có thẩm quyền trong CQHCNN ban hành. Các QĐHC luôn biểu hiện dưới dạng là văn bản, các tài liệu chứng cứ liên quan làm căn cứ, cơ sở ban hành ra QĐHC cũng biểu hiện ở dạng văn bản. Cho nên, chứng cứ mà các chủ thể thu thập được, có trong hồ sơ VAHC thườngthểhiệndướidạng nguồn chứngcứlà các tài liệuđọcđược.Tài liệuđọc được phảilà tàiliệu mà có thể đọc được nộidung trong tài liệu đó. Các giấy tờ, tài liệudưới dạng tài liệuđọcđượctrên thựctếliên quanđếnviệc ban hành ra QĐHC
21 Nguyễn Minh Hằng (2009), Hoạt động chứng minh trong pháp luật tố tụng Việt Nam, Nxb. Chính trị-Hành chính, HàNội, tr.71.
22 Đỗ Văn Đương (2000), Thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ luật học, Trường Đại học cảnh sát nhân dân, tr.17.
23 Bùi Tiến Đạt, Trần Thị Trinh (2024),“Gópý dự thảo Luật Tổ chức TAND (sửa đổi) từ góc độ kiểm soát quyền lực nhà nước và TTHC”, Tạp chí Nghề luật, số 4, tr.6.
thường là do phía người bị kiện lưu giữ, quản lý. Do vậy, trong VAHC phíangười bị kiện thuận tiện hơn rất nhiều so vớingườikhởi kiện trong việc cung cấp, giao nộp, thu thập chứng cứ để chứng minh.
Thứ hai, chủ thểthực hiện việc thu thập, cung cấp chứng cứ để chứng minh trước hết thuộc về phía người khởi kiện
Các đương sự trong VAHC có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho TA và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Đương sự trong VAHC là những chủ thểđóng vai trò chủ đạo,chính yếu, chủ động trong việc thu thập, giao nộp chứng cứ để chứng minh.Đốivớicơ quan,tổ chức, cá nhân đang quản lí, lưu giữ chứng cứ,thìhọ chỉcung cấp, giao nộp chứng cứ khi có yêu cầu của đương sự và TA.
VAHC chỉ phát sinh do phía người khởi kiện tiến hành khởi kiện, đưa ra những yêu cầu TA giải quyết với phía người bịkiện. Trong VAHC, gần như phía người bịkiện không có yêu cầu phản tố ngược lại đối với người khởi kiện. Vì là người làm phát sinh ra VAHC, cho nên trách nhiệm chứng minh tính hợp pháp của đối tượng khởi kiện, trước hết và đầu tiên thuộc về phía người kiện. Muốn chứng minh được, thì đòi hỏi người khởi kiện phải có chứng cứ, đểcó chứng cứthì người khởi kiện phải thu thập chứng cứ. Mà chứng cứ người khởi kiện cần thu thập thì phần lớn lại nằm trong tay phía người bịkiện. Quyền lợi giữa người khởi kiện và người bịkiện lại đối lập nhau trong vụ án, nên người bị kiện không muốn phía người khởi kiện có chứng cứ đểchứng minh gây bất lợi cho mình, cho nên thường phía người bịkiện không đồng ý cung cấp chứng cứ khi có yêu cầu. Phía người bị kiện, là chủ thể ban hành ra QĐHC, các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc chứng minh tính hợp pháp của QĐHC trước hết và đầu tiên là do phía người bị kiện lưu giữ, quản lý. Khi cần chứng minh,người bịkiện chỉcần lấy chứng cứsẵn có đểgiao nộp cho TA mà không cần phải thu thập. Trong VAHC, bên người khởi kiện vẫn có thể được xem là bên “yếu thế” hơn so với người bịkiện trong việc thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứđểchứng minh.Thếnhưng trong Luật TTHC, không có quy định bất kỳ trường hợp nào loại trừ nghĩa vụthu thập, cung cấp, giao nộp chứng minh cho bên người khởi kiện.
Thứ ba, chứng cứ trong TTHC có nội dung chứng minh liên quan đến hiệu quảhoạt động quản lý hành chính nhà nước
Cácchủthểtrong quá trình thực hiện các hoạt động quản lý hành chính nhà nước của mình, có quyền ban hành ra các QĐHC đối với các đối tượng quản lý. Hoạtđộng ban hành QĐHC là một trong những phương thức quan trọng trong quản lý hành chính nhà nước, là hoạt động cơ bản của nền hành chính. Hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng và hiệu quả của các QĐHC cá biệt được ban hành và việc tổ chức thực hiện chúng trên thực tế.
QĐHC cá biệtlà đốitượng khởi kiện của VAHC, khi được ban hành để thực thi quyền lực nhà nước và có khả năng làm phát sinh, thay đổi, chấmdứthoặc phục hồi các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể.MộtQĐHC, khi được ban hành, sẽ tácđộng trực tiếp tới các đối tượng có liên quan, từ đó tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Nếu các QĐHC được ban hành, thực hiện bởi các chủ thể quản lý là chính xác, hợppháp, hợplý theo quyđịnhpháp luật, thì sẽmang lại hiệuquảtrong việc xác lập, duy trì, bảo vệ các trậttự công. QĐHCđược ban hành có chất lượng, đáp ứng đúng yêu cầu quản lý, bảođảmcác quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sẽ giúp cho bộ máy nhà nước hoạt động hài hòa, nhịp nhàng, hiệu lực, hiệu quả.Ngượclại, các chủ thể quản lý hành chính nhà nước khi thực hiện mệnh lệnhđiềuhành của mình, thông qua việc ban hành QĐHC, nếu để xảy ra sai sót, không bảođảmtính hợp pháp, hợp lý, thì sẽ tiềm ẩn nguy làm xâmhạiđến quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng quản lí, làm mất ổn định trật tự quản lí và chính trị xã hội, có thể khả năng tác động tiêu cực đến đời sống xã hội của người dân.
Trong VAHC,ngườibịkiện khi tham gia TTHC là bảo vệ quyền,lợiích hợp pháp của mình trong quản lý hành chính nhà nước. Người bị kiện có quyền, nghĩa vụchứng minh tính đúng đắn, hợp pháp của QĐHC, HVHCbịkhởi kiện. Khi VAHC phát sinh, phía ngườibịkiện căn cứ vào chứng cứ để chứng minh vớiTA, và cho ngườikhởi kiện biết rằng QĐHC mình ban hành là đúng đắn, hợp pháp theo quy định của pháp luật. Tức là chứng minh nội dung của QĐHC mình banhành đã đảmbảogóp phần ổn định trậttự xã hội; việc tổ chức và điềuhành hoạtđộng của bộ máy hành chính là hiệu quả; vàđãđiều chỉnh linh hoạt, đúngđắn, chính xác các yêu cầuphát sinh của thực tiễn hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Trong quá trình giải quyết VAHC, giải quyết tranh chấp giữa các bên, TA căncứvào chứngcứđểxem xét ra phán quyết về tính hợp pháp hoặc bất hợp pháp của hành vi pháp luật hay quyếtđịnh pháp luật của các chủ thể quản lý. Bằng phán quyết của TA, các chủ thể biết rõ thực trạng chất lượng, hiệu quả trong việc quản lý hành chính nhà nước của tổ chức mình,
từđónhận ra những thiếu sót đểkhắc phục, góp phần nâng cao hiệuquảhoạt động quản lý hành chính, vìlợiích chung của nhà nước, xã hội và lợi ích của tổchức, cánhân;đồng thờigóp phần vào việc bảo vệ pháp luật, duy trì và bảo vệ công lý, công bằng trong xã hội.
2.1.3. Thuộc tính của chứng cứ trong tố tụng hành chính
Thuộc tính của chứng cứlà nhữngdấuhiệucầnthiết củachứng cứ, nếuthiếu chúng thì thông tin về sự kiện không được phép sử dụng với tư cách là chứng cứ trong vụ án. Sự thống nhất các thuộc tính của chứng cứ là điều kiện cần thiếtđể chứng cứ có hiệu lực pháp lý trở thành công cụ chứng minh sự tồn tại hoặc không tồn tại của các
tình tiết, sự kiện trong vụ án. Trong các học thuyết chứng cứ khác nhau thì cách tiếp cận các thuộc tính của chứng cứ cũng khác nhau24.
Thuộc tính là đặc tính vốn có của các sự vật hiện tượng, nhờ vào thuộc tính vốn có của sựvật, hiện tượng mà người ta nhận biếtđược sựvậthiện tượng đó. Bấtkỳ một văn bản, tài liệu, thông tin, sự vật, hiện tượng nào đó khôngthể trởthành chứng cứ khi không tồn tại khách quan ngoài thế giớivậtchất, không liên quan hoàn toàn đến việc giải quyết vụ án hoặc không mang tính hợp pháp. Do đó, những gì được xem là chứng cứtrong tố tụng, phảicó đủ ba đặc điểmlà tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Các thuộc tính của chứng cứ trong TTHC thể hiện như sau:
Thứ nhất, tính khách quan
Tính khách quan của chứng cứhay “chứng cứlà những gì có thật”thểhiện ởchỗ chứng cứ là những gì có thật, tồn tại độc lập với ý chí con người, biểu thị độc lập của chứng cứvới mong muốn của con người. Con người khôngthểtạo ra chứng cứ, không thể làm ra thông tin, tài liệu, sự kiện theo hướng có lợi cho mình để tham gia vàhoạt động chứng minh theo ý chíchủquan của mình25. Tính khách quan là những thông tin, tài liệu, sự kiện, tình tiết có thật, tồn tại trên thực tế, tồn tại khách quan độc
lập với ý thức của con người. Bản thân của chứng cứ đã hoặc đang tồn tại trên thực tế, cho nên chứng cứ không thể là sản phẩm chủ quan của sự tưởng tượng, phỏng đoán, bịa đặt, suy diễn, nhào nặn ra thêm của con người. Bởi vì chứng cứ mang tính có thật, khách quan nên trong nhận thức của con người, khi chọn cái gì làm chứng cứ, họ hoàn toàn tin tưởng đó là sự thật, không có một chi tiết giả mạo nào xen vào, bất kỳ chứng cứ nào khi không có thật thì sẽ không có giá trị chứng minh trong VAHC. Tính có thật của chứng cứ được xác định bởi những đơn vị đo lường nhất định, gắn liền với sự hiện hữu của chứng cứ, được thể hiện dưới những hình thức nhất định và thông qua đó,chủthể chứng minh cung cấp được cho TA và TA xác định được những nội dung mà dựa vào đó làm căn cứ giải quyết vụ án. Với tính có thật của chứng cứ, con người chỉ có thể tiếp cận chứng cứ, nhận thức về chứng cứ mà không thể sửa đổi hoặc làm nó khác đi. Nếu những gì mà do con người giả mạo, hay ngụy tạo ra theo ý chủ quan, không đúng với sự thật, thì không thể xem đó là chứng cứ. Tính “cóthật”của chứng cứ càng cao thì có giá trị chứng minh để giải quyết đúng đắn VAHC càng lớn.
Tính khách quan là cơ sởkhoa học đểbác bỏnhững phương thức nhìn nhận,đánh giá chứng cứ theo lối suy diễn, phỏng đoán. Thuộc tính này đóng vai trò là cơ sởnhận thức VAHC, đểgiải quyết VAHC đúngđắn và nhanh chóng. Cóđượcnhững chứng cứkhách quan này, các chủ thể sẽ có cơ sở vững chắc để đưa ra được phán quyết, nhận định, kết luận đúng đắnvề vụ án.
24 Nguyễn Thái Phúc (2023), Tlđd (5), tr.17.
25 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2022), Tlđd (15), tr.209.
Thứ hai, tính liên quan
Trong VAHC, tính liên quan thể hiện là giữa chứng cứ và các nội dung cần làm rõ trong vụ án phải có mối liên hệ nhất định, và giữa các tình tiết, sự kiện trong vụ án luôn có mối liên hệ với nhau. Tính liên quan là sự liên hệ, dính dáng nhau ở một hoặc một số tính chất26. Trong quá trình quản lý hành chính Nhà nước, các chủ thể quản lý thông qua các hoạt động khác nhau của mình, hoặc trong quá trình tố tụng giải quyết VAHC, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng làm hình thành và tồn tại các thông tin, tình tiết, sự kiện dưới nhiều dạng, nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, để các thông tin, tình tiết, sự kiện có thể được TA sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ án, thì phải có giá trị chứng minh nhất định trong việc giải quyết vụ án, đólà có giá trị chứng minh về nội dung hoặc tố tụng của vụ án. Nếu một tình tiết có thật, nhưng lại không liên quan đến có giá trị chứng minh trong vụ án, thì cũng sẽ không được được sử dụng trong quá trình giải quyết vụ án. Chứng cứ không chỉ đơn thuần là cung cấp thông tin mà còn có giá trị chứng minh, nghĩa là chứng cứ không chỉnằm ở việc đưa ra thông tin, mà còn ở việc thông tin đó có thể chứng minh được hay không.
Tính liên quan không dừng lạiở sự liên quan đơn độcgiữa chứng cứ vớiđối tượng chứng minh đó, mà cần xem trong mối liên hệ tổng thể với các tình tiết, sự kiện khác. Trong VAHC có các tình tiết, sự kiện chỉ cần với chính bản thân nó cũng chỉ ra được rõ những nội dung cần chứng minh, nhưng cũng có những tình tiết, sự kiện phải thông qua mối liên hệ nhất định với các tình tiết, sự kiện khác thì mới thể chứng minh được những vấn đề liên quan trong vụ án. Khi giải quyết VAHC, các chủ thể cần xem xét chứng cứ một cách toàn diện ở nhiều góc độ, nhiều phương diện, có sự liên hệ giữa các tình tiếtsựkiện với nhau để tạo ra sự tổng hợp, khái quát các tình tiết, sự kiện đó. Căncứvào tính liên quan của chứng cứđối với đối tượng chứng minh,đểchúng ta loại trừ, chọn lọc những chứng cứ không liên quan, không có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, vì nó sẽ làm cho vụ án trở nên phức tạp hoặc có những định hướng giải quyết vụán sai lệch. Đồngthời, giúp chọn lọc có được những chứng cứcó giá trịchứng minh để bảo đảm việc giải quyết vụ án được đúng đắn và nhanh chóng. Thuộc tính này bao gồm hai dạng là liên quan trực tiếp và liên quan gián tiếp.Đối với tính liên quan trực tiếp, TA có thể chỉ căn cứ vào đó là xác định được ngay tình tiết phải chứng minh, thường đó là những vấn đề đã quá rõ ràng,đầy đủ cơ sở để xác định được ngay. Còn liên quan gián tiếp, phải đặt trong mối liên hệ với các chứng cứ khác, phải qua thêm khâu trung gian mới xác định được vấn đề cần chứng minh, điều này tạo nên tính logic khi đánh giá chứng cứ và giải quyết tổng thể VAHC.
26 Từ điển tiếng Việt (1998), Nxb Giáo dục, tr.190.
Thứ ba, tính hợp pháp
Tính hợp pháp của chứng cứ thể hiện ở chỗ những tình tiết, tài liệu hay đồ vật được coi là chứng cứphải được thu thập, kiểm tra, đánh giá theo đúng quyđịnh của pháp luật và phải được xác định từ các nguồn chứng cứ do luật định27. Các chủ thể khi thu thập chứng cứ phải thực hiện đầy đủ và đúng theo các nội dung, các yêu cầu, các công việc phải làm mà Luật TTHC đã quy định để có được chứng cứ. Quy định này đểbảo đảm pháp lý cho việc ghi nhận những giá trị mang tính chính xác của chứng cứ. Bởi vì, nếu thu thập chứng cứ mà không tuân thủ theo các quy định của pháp luật, khi có những thiếu sót trong quá trình thu thập chứng cứ, cũng cóthể dẫn đến làmsai lệch nội dung sự việc, có thể gây ảnh hưởng đến kết quả giải quyết VAHC.
Tínhhợpphápcủachứngcứđượcthểhiệnởviệc chứngcứphải đượcchứađựng trong các nguồn chứng cứ, muốn có được chứng cứ nằm trong các nguồn này đòi hỏiphải được thu thập bằng những biện pháp, cách thức do Luật TTHC quy định. Tính hợp pháp là một đặc tính mang tính hình thức của chứng cứ, tức là trong quá trình giải quyết vụ án, chứng cứ phải được thu thập theo đúng các trình tự, thủ tục do pháp Luật TTHC quy định. Nếu những tài liệu, thông tin mặc dù được thu thập từ các nguồn hợp pháp, nhưng không tuân thủ quy định của pháp Luật TTHC về các biện pháp thu thập chứng cứ, thì không có giá trị chứng minh trong VAHC. Do đó, những gì không được rút ra từ nguồn chứng cứ theo quy định pháp luật, không được thu thập, đánh giá theo trình tự luật định thì không được coi là chứng cứ, không được sử dụng vào quá trình giải quyết vụ án. Chứng cứ nào thu thập không đúng quy định, trình thự, thủ tục của Luật TTHC,đó là căn cứ để kếtluận tính không hợp pháp của chứng cứ.Tính hợp pháp của chứng cứđòihỏiTA trong quá trình tố tụng giải quyết VAHC phải thậtsự cẩn trọng, chính xác trong việc thu thập và đánh giá chứng cứđể làmcăn cứ ban hành bản án chính xác nhất. Yêucầuvềtínhhợpphápcủachứngcứđòihỏikhôngchỉđương sự mà cả những cơ quan và ngườitiến hành tố tụng, phảinắmvững các quy định về thủ tục thu thập, bảo quản, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, để tránh trường hợp làm mất chứng cứ hoặc dẫn đến việc dấu vết, thông tin không còn được công nhận làchứng cứ28.
Tính hợp pháp củachứng cứ đượchiểu theo nghĩa rộng, có nghĩa là phải hợp pháp cả về mặthình thức lẫn nộidung và haimặtnày có mốiliên hệ vớinhau. Hợp pháp về mặt hình thức, có nghĩa là các tài liệu được xem là chứng cứ phảiđảmbảo các yêu cầu về cách tạo lập ra chứng cứ. Hợp pháp về mặtnộidung, có nghĩa là ngoài việc tuân thủ đúng về hình thức, thì cần phải đảm bảo đầy đủ các nội dung thể hiện trong chứng cứ đó. Như vậy, một tài liệu chỉ cần không đảm bảo được tính hợp pháp về mặt
27 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2022), Tlđd (15), tr.211. 28 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2021), Tlđd (14), tr.284.
hình thức hoặc về mặtnộidung, thì cũng không được xem là chứng cứ trong VAHC. Theo đó, những sự kiện, tình tiếttồn tạikhách quan, có liên quan đến việc giải quyết vụ án, nhưng bản thân sự kiện, tình tiếtđó thu thập được tráivớiquy định của pháp luật thì không được sử dụng làm chứng cứ để giải quyết trong VAHC.
Các thuộc tính của chứng cứ nói trên là một thể thống nhất, có mối liên hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Mỗi thuộc tính giữ một vai trò quan trọng nhất định, thiếu một thuộc tính thì những tài liệu thu thập được không thể xem là chứng cứ. Tính khách quan là tiền đề của tính hợp pháp và tính liên quan; tính liên quan lại làtiền đềđảm bảo cho tính hợp pháp và tính khách quan; tính hợp pháp là cơ sở pháp lý của tính khách quan và tính liên quan. Chứng cứ phải là sự thống nhất của ba thuộc tính, nếu thiếu một thuộc tính, thì không được công nhận là chứng cứ.
2.1.3. Vai trò của chứng cứ trong tố tụng hành chính
Thứ nhất, bảo đảmquyền tiếp cận công lý của công dân trong TTHC
Khi xétxử,giải quyết VAHC, TA thực hiện các hoạtđộngcủamình liên quanđến chứng cứ như TA có trách nhiệmhỗ trợ đương sự trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ và tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứcho TA29 để bảo vệ quyền lợicho đương sự.Trong lĩnh vực TTHC, công lý là sự công bằng, bình đẳng trong thủ tục giải quyết VAHC. Khi tham gia trong VAHC, người bị kiện không thể lấy lý do mình vốn dĩ là chủ thể quản lý hành chính nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để thực hiện quản lý hành chính nhà nước nên có quyền được áp đặt ý chí trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của đương sự trong TTHC.Về khía cạnh này ngườikhởi kiện và ngườibịkiện hoàn toàn bình đẳng trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của đương sự trong TTHC30. Sự công bằng, bình đẳng giữa các đương sự khi tham gia trong quá trình giải quyết VAHC thể hiện như sau: quy trình TTHC phảiđảmbảo đemlạikếtquả giải quyết vụ án công bằng,đúng đắn,khách quan; phảiđảmbảo sự tương xứng giữa chi phí và lợi ích (vừa bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự vừa đảm bảo giải quyết nhanh chóng với chi phí không quá tốn kém); phảiđảmbảo quyền tham gia tố tụng và quyền tự định đoạtcủa đương sự;phảiđảmbảo quyền được thông tin của các đương sự; quy trình TTHC phảiđảmbảo cho các đương sựđược TA đốixửvớisự tôn trọng31. Như vậy, khi giải quyết VAHC, để đương sự, đặc biệt là người khởi kiện, tiếp cận được công lý, trong Luật TTHC đã có những quy định để đảm bảo nội dung này. Chẳng hạn như đương sự được quyền biết, ghi chép, sao chụp, trao đổi tài
29 Khoản 2 Điều 9 Luật TTHC năm 2015.
30 Nguyễn Văn Quang (2020), Một số vấn đề lý luận về bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTHC,Kỷyếu Hội thảo khoa học vấn đề bình đẳng quyền và nghĩa vụ trong TTHC ở Việt Nam hiện nay, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.6.
31 Viện chính sách công và pháp luật (2018): Kỷ yếu Hội thảo Công lý và quyền tiếp cận công lý:Một số vấn đềlý luận và thực tiễn, Hà Nội, tr.125, 126.
liệu, chứng cứ do đương sự khác giao nộp cho TA hoặc do TA thu thập được32. TA cótrách nhiệmhỗtrợđươngsựtrong việc thu thập tài liệu, chứngcứvà tiến hành thu thập, xác minh chứngcứ33. Đươngsựphải cung cấp, giaonộpđầyđủchứngcứcho TAđểlàm rõ sự thật khách quan của vụ án; quy định những biện pháp thu thập chứng cứđể các đương sựcó thể áp dụng, thu thập được đầy đủ chứng cứđể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi TA giải quyết VAHC34.
Thứ hai, bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTHC
Luật TTHC có nhiệm vụ là góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân,bảo vệ chế độ xã hộichủ nghĩa,bảo vệ lợiích của nhà nước, quyền và lợiích hợp pháp của cơ quan,tổ chức, cá nhân35. Các CQHCNN trong quá trình quản lý hành chính nhà nước của mình, sẽ thực thi trên thực tế một số các quyền công dân. Trong quá trình thực thi, CQHCNN thông qua các hoạtđộng có thể làm ảnh hưởng, xâm phạmđến quyền và lợiích hợp pháp của các cơ quan,tổ chức, cá nhân. Khi quyền công dân đã được pháp luật ghi nhận, được đảm bảo thực hiện thì cũng cầnđược pháp luậtbảo vệ.Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện VAHC khi cho rằng quyền và lợi íchhợppháp của mìnhbị ảnhhưởng, tác độngtừcác QĐHC, HVHC do các chủ thể quản lý ban hành, để yêu cầu TA bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Quyền công dân trong TTHC là việc nhà nước thiết lập các điều kiện cần thiết nhằm ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm thực hiện các quyền công dân trong quá trình giải quyết các khiếu kiện hành chính bằng conđườngxét xửcủaTAND, thông qua các hoạt động tố tụng theo trình tự, thủ tục riêng được điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật TTHC36. Như vậy, TA không giám sát và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân một cách chủ động, mà chủ yếu bảo vệ các quyền thông qua hoạt động xétxử.Điều này có nghĩa là mỗi khingườidân cho rằng quyền của mình bị xâm phạm thì đều có quyền kiện tới TA để được bảo vệ, kể cả khi sự xâm phạm ấy đến từ các cơquan nhà nước. Mọi người đều có quyền được TA có thẩm quyền bảo vệ bằng các cơ chế tài phán hữu hiệu để chống lại những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ đã được Hiến pháp và pháp luật quy định37. Khi tham gia vào quá trình tố tụng, để có cơsở cho TA chấp nhận yêu cầu khởi kiện, bảo vệ cho quyền và lợiích hợp pháp của mình, Luật TTHC cho phépđươngsựcó quyền và nghĩavụchủđộngthu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho TA, được thực hiện các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ để thực hiện việc chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
32 Khoản 1 Điều 98 Luật TTHC năm 2025. 33 Khoản 2 Điều 9 Luật TTHC năm 2025. 34 Xem Điều 84 Luật TTHC năm 2025.
35 Điều 1 Luật TTHC năm 2015.
36 Dương Thị Tươi (2023), Bảo đảm quyền công dân trong TTHC ở Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội. 37 Điều 8 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948.
Các quy định về chứng cứ trong TTHC được xây dựng và ban hành nhằm mụcđích đảmbảo thực hiện được sự công bằng, ít nhất ở khía cạnh cân bằng về quyền và nghĩa vụ giữa hai bên. Trong đó, sứ mệnh TTHC là phải tạo được quan hệ bình đẳng sau quan hệ bất bình đẳng trong hoạt động hành chínhtrước đó38. Trong quan hệ hành chính, bình đẳng giữa các bên cần được xem xét ở hai khía cạnh là trình tự công bằng thủtụcvà trìnhtựcông bằng nội dung. Luật TTHC là lĩnhvựctrìnhtựthủtục, bao gồmcác quy định để thực thi các quyền, nghĩa vụ của của các chủ thể trong quan hệ pháp luật hành chính tại TA. Về nội dung, các quyền và nghĩa vụ hành chính được quy định bởiluật các chuyên ngành như LuậtĐấtđai, Luật Xây dựng, Luật Xử lý vi phạm hành chính. Quan hệ hành chính phát sinh giữa công dân và nhà nước là quan hệ mang tính chất chấp hành điều hành, mệnh lệnh phục tùng, cho nên trong mối quan hệ về nội dung, công dân không thể nào có được sự bình đẳng, công bằng với CQHCNN. Pháp luật TTHC, trong đó bao gồm các quy định liên quan về chứng cứ, là công cụ cơ bảnđể thực hiện hóa các quyền, thiết lập cơ chế và trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp trong quan hệ hành chính tại TA một ycách hợp pháp, nhằm khắc phục tình trạng giải quyết mâu thuẫn trong quan hệ hành chính bằng những cách thức mà pháp luật không cho phép. Thông qua công tác xét xử VAHC tại TAND hiện nay, quyền lợicủangười khởikiện được bảo vệ.Khi tham gia trong VAHC thì chứng cứ giúp cho phía người khởi kiện chứng minh được yêu cầu của mình là có cơ sở và đúng pháp luật, từđó mới có căn cứ để TA bảo vệ quyền lợi cho họ. Do đó, các quy định về chứng cứ trong Luật TTHC đóng vai trò rất quan trọng, nó là điều kiện tiên quyết giúp cho các các cơ quan, tổchức, cá nhân khởi kiện VAHC có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Thứ ba,bảo đảmquyền tranh tụng của đương sự trong TTHC
Khi tham gia trong VAHC, quyền lợi các bên đương sự đối lập nhau nên việc sử dụng chứng cứ,chứng minh giữa các bên cũng khác nhau. Khi có những quan điểm, ý kiến,đề xuấtkhác nhau thì các bên cần tranh luận để làm rõ bảo vệ quan điểm của mình trước TA. Tranh tụng trong TTHC là các bên đương sự đưa ra các chứng cứ, căn cứ pháp lý, lập luận, đối đáp, tranh luận với nhau trên cơ sở các tài liệu, chứng cứcó trong vụ án và dựa trên các quy định pháp luậtđể bảo vệ quyền lợicủa mình. Chứngcứ làmộttrong các côngcụhiệuquảđượcđươngsự sử dụngđểtranh tụng. Chứngcứ là cơsởđểngườikhởi kiện thực hiện việc chứng minh,đểtạothế“cân bằng” giữa các bên khi tham gia tranh tụng trong các VAHC. Yêucầuvề sự“cân bằng” lợiích của các bên trong tố tụng như mộtbiểu hiện khác của tranh tụng công
38 Bùi Tiến Đạt (2023), Vấn đề chứng cứ, chứng minh trong tố tụng hình sự và TTHC: Tiếp cận từ nguyên tắc “Due Process of Law”, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Xu thế phát triển của pháp luật Việt Nam về chứng cứ, chứng minh trong tố tụng hình sự, Đà Nẵng, tr.103.
bằng hướng vào việc duy trìsự hiện diện các lợiích đốilập nhau (lợi ích của đối phương hoặc lợiích công cộng) trong tranh tụng, cáiđược coi là hồn cốtcủa tranh tụng39.
Thực chất của tranh tụng là việc các bên đi tìm và so sánh chứng cứđểchứng minh cho yêu cầu của mình là xác thực hơn. Như vậy, việc tranh tụng chỉcó thểcó hiệu quả khi nguyên tắc cung cấp chứng cứ chứng minh được đảm bảo40. Khi xét xửVAHC, TA có trách nhiệm bảo đảm cho cácđươngsựthực hiện quyền tranh tụng. Luật TTHC đã quy định những vấn đề liên quan về chứng cứ, đảm bảo cho các đương sựthực hiện được việc tranh tụng. Chẳng hạn như đương sựcó quyền thu thập, giao nộp, cung cấp tài liệu, chứng cứ kể từ khi TA thụ lý VAHC và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm,
lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏyêu cầu của người khác; trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứphải được xem xétđầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai; TA tiến hành tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng đểra bản án, quyết định41.
Thông qua việc tranh tụng, các tình tiết, nội dung củavụ án đượclàm rõ, giúp cho TA làmrõ, hiểu được sựthật khách quan của vụ án, để đưa ra những kết quả giải quyết vụ án chính xác. Khi giải quyết VAHC, nếu có tranh tụng sẽ tạo ra sự công bằng giữa các bên và công bằng sẽ được bảo đảmtốtnhấtnếu thực hiện đầy đủ yêu cầu của tranh tụng42. Đểcác đương sự tranh tụng được công bằng, bình đẳng phải đảm bảo các yêu cầu sau: Các bên đương sự phảiđược nhà nướctrao đầy đủ các phương tiện pháp lýđểthu thập chứng cứ. Bất kỳai có hành vi cảntrởhoạt độngxác minh, thu thập chứng cứcủa đương sựđều phảichịu chế tài; các bên đương sự phảiđược biếttấtcả các yêu cầu, chứng cứ, căn cứ pháp lý và các lý lẽ, lập luận của đối phương cũng nhưcó đủ thờigian để chuẩn bị các chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ để phản bác lại yêu cầu, chứng cứcủa đương sựphía bên kia; các bên đương sựcần nhận được sựhỗ trợ về mặtpháp lýtừLuật sư và nhữngngườikhác; các bênđươngsựphảiđượcđảm bảo tham gia phiên tòađểthực hiện quyền tranh tụng; tại phiên tòa tranh tụng, các bênđương sự phải là ngườigiữ vai trò chủ động,tích cực đốivớiviệc xác định sự thật khách quan của vụ án43.
39 Đào Trí Úc (2023), Các xu hướng của pháp luật về chứng minh và chứng cứ trong tố tụng hình sự Việt Nam trước yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, Trong kỷ yếu hội thảo khoa học: Xu thế phát triển của pháp luật Việt Nam về chứng cứ, chứng minh trong tố tụng hình sự, Đà Nẵng, tr.4.
40 Trịnh Văn Chung (2016), Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, tr.17.
41 Điều 18 Luật TTHC năm 2025.
42 Viện chính sách công và pháp luật (2018): Tlđd (24), tr.471.
43 Nguyễn Thị Thu Hà (2017),“Quyền được xétxử công bằng trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Luật học, Hà Nội, tr.46.
Thứtư, chứng cứ giúp cho TA ban hành phán quyết chính xác và đúng đắn Trong VAHC, chứng cứ là cơ sở vững chắc giúp cho TA xác minh đượcsự thật
khách quan của vụ án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, và làm căncứđể ra phán quyết chính xác,đúng đắn.Thông qua chứngcứcó trong hồ sơ, những tình tiết nộidung tranh chấp trong vụ án sẽ được làm sángtỏ, để TAđưa ra phán quyết chính xác. MọiquyếtđịnhcủaTAchỉđược ban hành khi các tình tiếtvụ án được chứng minh bởi chứng cứ đáng tin cậy, để phán quyết của TAcác đương sự “tâmphục, khẩu phục” tuân thủ chấp hành.
Chứng cứ có thể xem là là cầu nối giữa thực tiễn khách quan và nhận định pháp lý của TA. Nếu quyếtđịnh,bản án của TA được ban hành mà thiếu chứng cứ, thì sự thật cóthểchỉlà suy đoán chủ quan của Thẩm phán. Những nộidung nhận định, chứng minh trong VAHC mà không dựa vào chứng cứchính xác, sẽ dẫn đến sự suy yếu trong chức năng xétxử và niềm tin của ngườidân đốivớihệ thống tư pháp. Ngượclại, khi có chứng cứđầy đủ, chính xác thì quyền yêucầucủa đươngsựmới được xem xét thấu đáo, và bản án, quyết định của TA mới thực sự bảo vệ được công lý. VAHC được TA giải quyết căn cứ vào chứng cứ đúng sẽ giúp Thẩm phán ban hành phán quyết chính xác. Chứng cứ càng được thu thập đầy đủ, đánh giá chính xác, khách quan thì phán quyết của TA càng công tâm, có tính thuyếtphục, bảo đảmcông lý, bảo vệ được quyền lợicủa đương sựvà củng cố niềm tin vào pháp luật nhà nướcpháp quyền. Chứng cứ giữ vai trò trung tâm trong VAHC, đòihỏiviệc thu thập, xác minh, đánh giá chứng cứ của TA khi giải quyết vụ án phải tuân theo vàbảo đảmthực hiện được trên thực tế các nguyên tắc tố tụng như tranh tụng, công khai, bình đẳng giữa các bên đương sự.
2.1.4. Phân loại chứng cứ trong tố tụng hành chính
Phân loại chứng cứ là sự phân chia chứng cứ thành những loại khác nhau, dựa trên các tiêu chí khác nhau, nhằm xácđịnh đặc điểm và giátrịchứng minh của từng loại chứng cứ44, phục vụcho việc giải quyết VAHC. Trong quá trình sửdụng chứng cứ để chứng minh những vấn đề liên quan trong VAHC, nhận thấy rằng các chứng cứcó vịtrí không giống nhau, mang những đặc điểm cũng khác nhau, do chúngđược phản ánh từ những nguồn khác nhau hoặc mang nội dung chứng minh khác nhau. Vìvậy, cần phân loại chứng cứthành các loại khác nhau theo một tiêu chí nhất định, nhằm để đạt được mục đích là giúp cho các chủ thể thuận tiện hơn trong việc thu thập được chứng cứ; dễdàng trong việc nghiên cứu hồsơ; đánh giá được giá trịchứng minh của chứng cứ; sử dụng chứng cứ hiệu quả, chính xác để chứng minh trong việc giải quyết VAHC.
44 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2022), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Hồng Đức,tr.225.
Phân loại theo căn cứ nào cho hợp lý, là phụ thuộc vào mục đích của sự phân loại, chứ không nhất thiết phải trên cơ sở một căn cứ nhất định. Cách phân loại chứng cứtùy thuộc vào quan điểm,gócđộtiếp cận vềchứng cứ, việc phân loại chứng cứkhông ảnh hưởng đến giá trịchứng minh của từng chứng cứ.Bởi vì, giá trịchứng minh của chứng cứ không phải làở chỗ làchúng thuộc loại chứng cứ nào, màlà ở chỗchứng cứ đó có phản ánh được những tình tiết và diễn biến của vụ án hay không. Phân loại chứng cứ chỉ làbước điđầu tiên để khẳng định vai trò của chứng cứ, từ đó xem xét và nghiên cứu cách thức để khai thác giá trị chứng minh của mỗi loại chứng cứ. Cóthểthấy một sốcách phân loại phổbiến như sau: Dựa vào nguồn gốc chứng cứhay theo phương thức hình thành chứng cứ,thì cóthểphân loại thành chứng cứgốc và chứng cứsao chép; Dựa vào nguồn thu nhận chứng cứ, cách phân loại này bao gồm chứng cứ theo người và chứng cứ theo vật; Dựa vào mối liên hệ giữa chứng cứ với các sự kiện cần chứng minh, thì có chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp; Dựa vào nội dung chứng cứmang lại, thì có chứng cứchứng minh vềmặt tốtụng và chứng cứchứng minh về mặt nội dung; Dựa vào giá trị chứng minh của chứng cứ, có chứng cứtuyệt đối và chứng cứ tương đối.
2.1.4.1. Chứng cứ gốc và chứng cứ sao chép
Theo nguồn gốc xuất xứ, theo tính chất hình thành hoặc theo hình thức tạo thành của chứng cứ,thì có chứng cứgốc và chứng cứsao chép. Chứng cứgốc là những thông tin, sựkiện thực tếđầu tiên vềsựkiện cần chứng minh. Chứng cứnày được tạo ra trực tiếp từ một hành vi hoặc một hành động hoặc một quan hệ. Chứngcứgốc được hình thành từnguồn ban đầu mà không phải qua khâu trung gian45. Chứng cứ gốc thường phản ánh những tình tiết của vụ án một cách rõ ràng, đầy đủ và chính xác. Nếu thu thập được chứng cứ gốc thì việc nghiên cứu, đánh giá chứng cứ thường nhanh chóng, dễ dàng, có độ chính xác cao. Vì vậy, trong trường hợp thu thập, nghiên cứu đánh giá chứng cứ gốc, người ta có thể lấy chứng cứ gốc làm cơ sở cho các chủthểthực hiện những hoạt động trong quá trình chứng minh nhằm làm sáng tỏ, giải quyết đúng đắn vụ án. Tuy nhiên khi đánh giá chứng cứ, cũng phải thận trọng khi xem xét chứng cứ gốc, có trường hợp chứng cứ gốc vẫn có thể tạo lập không khách quan.Để xác định giá trị chứng minh của chứng cứ gốc cần kết hợp với các loại chứng cứkhác của vụ án46.
Khác với chứng cứgốc, chứng cứsao chép là chứng cứđược sao chép lại từnhững chứng cứ khác, hoặc hình thành từ việc chép các chứng cứ gốc theo trình tự luật định.Bởi vì, hình thành từ chứng cứ khác, có qua khâu trung gian, cho nên chứng cứ
45 Nguyễn Minh Hằng (2009), Hoạt động chứng minh trong pháp luật tố tụng Việt Nam, Nxb. Chính trị-Hành chính, Hà Nội, tr.69.
46 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2022), Tlđd (37), tr.228.
sao chép có thể chứa đựng dung lượng thông tin thực tế ít hơn so với chứng cứ gốc do bị thất lạc, mất mát trong quá trình sao chép lại, thuật lại. Ví dụ: bản sao y, chứng thực giấy tờ. Việc sao chép lại chứng cứ không phải khi nào cũng chính xác, phản ánh đúng chứng cứ gốc, bởi vì việc sao chép lại chứng cứ là do con người thực hiện nó chịu tác động ảnh hưởng bởi ý chí chủ quan của con người. Có trường hợp chứng cứ sao chép lại, thuật lại có nội dung không thống nhất, mâu thuẫn với chứng cứ gốc. Có thể trong quá trình sao chép do sơ suất vềchuyên môn, kỹthuật, hoặc do chủquan của người thực hiện sao chép dẫn đến sai sót việc sao chép làm giảm hoặc mất tính xác thực của chứng cứsao chép. Giá trịchứng minh của chứng cứsao chép phụthuộc nhiều vào chứng cứgốc, cho nên đểxác định giá trịchứng minh của chứng cứsao chép, cũng như khẳng định tính chính xác của chứng cứ sao chép, cần thiết phải kiểm tra xem việc sao chép chứng cứ từ chứng cứ gốc có đảm bảo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quyđịnh hay không. Đặc điểm này của chứng cứ sao chép đặt ra cho các chủ thể khi thu thập, sử dụng, đánh giá chứng cứ phải thận trọng, tỷ mỷ đánh giá đúng giá trị chứng minh của chứng cứ sao chép. Tìm hiểu đặc điểm trên của chứng cứ sao chép không có nghĩa là chúng ta coi thường giá trị chứng minh của chứng cứ sao chép. Bởi vì, nhiều trường hợp chứng cứ gốc không còn, thì cần thiết phải xuất phát từ chứng cứ sao chép để tìmra chứng cứ gốc trong trường hợp hai loại chứng cứ này đều cùng có nội dung xác định một sự kiện, một tình tiết nào đó. Khi sử dụng chứng cứ sao chép, phải cẩn thận không chỉxem xét riêng biệt chứng cứsao chép mà phải kết hợp với các loại chứng cứ khác và cần phải so sánh, đối chiếu nó với chứng cứ gốc để tìm ra chính xác tình tiết, sự kiện của vụ án.
2.1.4.2. Chứng cứ theo người và chứng cứ theo vật
Chứng cứ theo người là chứng cứ có nguồn gốc từ con người, được rút ta từ con người, do con người tạo ra, hình thành là do kết quả phản ánh ý thức của con người vềcác tình tiết, sựkiện diễn ra liên quan trong VAHC, được thểhiện dưới những hình thức vật chất mà con người có thể nhận biết, mô tả và tái tạo được. Chứng cứ này có thể do chính chủ thể có thể tự nhận biết, tự quan sát hoặc thông qua một người khác, người cung cấp những thông tin sự kiện này phải mô tả được thời gian, địa điểm một phần hoặc toàn bộxảy ra sựkiện47. Trong VAHC, thì chứng cứtheo người thểhiện dưới dạng như lời khai của các đương sự, lời khai của người làm chứng, biên bản đối chất, kết luận giám định. Chứng cứ theo người hình thành nên chịu tác động lớn từ tâm lý, khả năng nhận thức, lưu giữ của con người. Đối với những chứng cứ được rút ra từcon người như đương sự, người làm chứng, thì việc nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chúng rất phức tạp. Nét chung nhất của con người với nghĩa là nguồn chứng cứ bị chi
47 Nguyễn Minh Hằng (2009), Tlđd (38), tr.68.
phối rất lớn bởi yếu tốlợi ích, tâm lý, khảnăng nhận thức, ghinhớvà phản ánh lại những gìhọthấy,sựquan tâmcủa họđối với sựkiện.Tất cảnhững yếu tố này phải tính đến khi nghiên cứu, đánh giá và sử dụng các chứng cứ được rút ra từ đương sự, người làm chứng.
Chứng cứ theo vật là chứng cứ có nguồn gốc từ các vật tồn tại trong thế giới vật chất, được rút ra từ những vật khác nhau trong vụ án. Chứng cứ trong VAHC có nguồn gốc từ vật gồm các vật, tài liệu dưới những dạng vật chất cụ thể biểu hiện qua những thông tin, hình ảnh, giấy tờ, ký hiệu hoặc dưới những dấu hiệu có thể nhận biết được có chứa đựng những thông tin thực tế về VAHC. Vật chất nếu xét mức độ riêng biệt nhất định thì bản thân nó không phải là chứng cứ trong VAHC, nhưng thông qua hoạt động của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước tác động lên nó dưới dạng là ban hành QĐHC thì sẽ để lại những thông tin, dấu vết lên nó, khi nó phản ánh lại những tác động của con người, thì nó sẽ trở thành chứng cứ trong VAHC. Chứng cứ theo vật phải được phản ánh kịp thời vàđầy đủvì nó chịu tác động rất lớn từngoại cảnh tác động, thông thường, các chứng cứ được rút ra từ các vật, tài liệu việc nghiên cứu, đánh giá và sử dụng không mấy phức tạp vì chúng ít bị chi phối bởi ngoại cảnh48.
2.1.4.3. Chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp
Căncứvào hình thức liên hệgiữa thông tin thực tếvới những tình tiết sựkiện cần phải chứng minh, thì chứng cứđược chia thành chứng cứtrực tiếp và chứng cứgián tiếp. Chứng cứ trực tiếp là những sự kiện, tình tiết mà dựa vào đó TA rút ra được một kết luận xác thực về sự kiện cần chứng minh49. Chứng cứ trực tiếp có thể chỉ ngay ra đối tượng mà không cần phải thông qua một bước trung gian nào. Cho nên, căn cứvào loại chứng cứ này có thể giúp TA xác định được ngay yêu cầu nào của đương sựlà có căn cứ và hợp pháp hay không. Bản thân của chứng cứ trực tiếp mang nội dung có tính xác định rõ ràng, cụ thể, căn cứ vào đó đương sự trong VAHC có thể dễ dàng chứng minh được tính hợp pháp hoặc bất hợp pháp của QĐHC. Trong VAHC, nếu đương sự nào đưa ra được chứng cứ trực triếp để chứng minh thì yêu cầu của đương sựđódễ dàng được TA chấp nhận.
Chứng cứ gián tiếp chỉ xác định những sự việc có khả năng liên quan đến các tình tiết, sự kiện cần chứng minh, chính bản thân nó không thể xác định ngay sự kiện cần chứng minh, mà phải thông qua nhiều khâu trung gian mới xác định được giá trịchứng minh của chúng đối với tình tiết, sựkiện trong vụán50. Chứng cứgián tiếp là những căn cứ làm phát sinh, thay đổi tính chất mức độ của nguồn chứng cứ trực tiếp.Đểkết luận chính xác vềtình tiết cần chứng minh, không thểchỉsửdụng một vài
48 Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Tlđd (14), tr.301.
49 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2021), Tlđd (14), tr.215. 50 Nguyễn Minh Hằng (2009), Tlđd (38), tr.71.
chứng cứ gián tiếp riêng lẻ, mà phải tổng hợp các chứng cứ gián tiếp thành hệ thống, bảo đảm chắc chắn độ tin cậy và cho phép rút ra giá trị chứng minh của chúng. Chứng cứ gián tiếp bản thân nó không chứng minh trực tiếp được nội dung sự việc, nhưng khi kết hợp các chứng cứ gián tiếp với nhau hoặc kết hợp chứng cứ gián tiếp với chứng cứkhác, hoặc thông qua những hoạt động nhất định thì mới có thể đưa ra kết luận chính xác vềgiá trịchứng minh của chứng cứgián tiếp. Khi thu thập được chứng cứtrực tiếp không có nghĩa là chứng cứ trực tiếp có giá trị chứng minh cao hơn chứng cứ gián tiếp mà hai loại chứng cứnày có giá trịnhư nhau. Các vấn đềcủa đối tượng chứng minh cóthểđược làm sáng tỏthông qua chứng cứtrực tiếp hoặc các chứng cứgián tiếp51.
2.1.4.4. Chứng cứ chứng minh về mặt nội dung và chứng cứ chứng minh về mặt tố tụng
Căn cứ vào nội dung của chứng cứ mang lại, thì chúng ta có thể phân loại thành chứng cứchứng minh vềmặt tốtụng và chứng cứchứng minh vềmặt nội dung. Chứng cứ chứng minh về mặt nội dung, là những chứng cứ có nội dung thể hiện tính bất hợp pháp hay hợp pháp của các đối tượng khởi kiện trong VAHC. Chứng cứ chứng minh về mặt nội dung có thể được tạo lập ra bởi các đương sự trong vụ án hoặc do cơ quan tiến hành tố tụng tạo lập ra. Thông qua giá trị chứng minh của chứng cứ chứng minhvềmặt nội dung, TA có thểbiết phương án, quanđiểm giải quyết VAHC, khi cần nghiên cứu về mặt nội dung vụ án, thì chỉ cần nghiên cứu những chứng cứ này thìcó thể đưa ra kết luận các đối tượng khởi kiện trong VAHC là đúng hay sai.
Chứng cứ chứng minh về mặt tố tụng là những chứng cứ có nội dung thể hiện liên quan đến trìnhtựthủtục khi TA giải quyết VAHC. Chứng cứnày hình thành trong quá trình tố tụng, từ khi thụ lý đến khi VAHC được giải quyết xong bằng quyết định,bản án có hiệu lực pháp luật thi hành. Chứng cứ này có trong hồ sơ vụ án thường là do cơ quan tiến hành tốtụng, người tiến hành tốtụng lạo lập nên. Trong VAHC, chứng cứ chứng minh về mặt tố tụng thể hiện như là thông báo thụ lý vụ án, biên laiđóng tạm ứng án phí, giấy triệu tập đương sự, biên bản tống tạt, biên bản giao nhận
chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử…Thông qua giá trị chứng minh của chứng cứ chứng minh về mặt tố tụng, có thể chứng minh trong quá trình giải quyết VAHC, qua các giaiđoạn tốtụng TA có tiến hành đúng trình tự, thủtục luật quyđịnh hay không.
2.1.4.5. Chứng cứ tuyệt đối và chứng cứ tương đối
Chứngcứ tuyệt đối làchứng cứ đã thể hiện rõ ràng những tình tiết, sự kiện của vụán được pháp luật quyđịnh sẵn,được chính đương sựthừa nhận,được TA giải
51 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2022), Tlđd (37), tr.227.
quyết xong bằng bản án có hiệu lực pháp luật. Các chứng cứ tuyệt đối có giá trị ràng buộc đối với TA, mang tính chất bắt buộc TA phải sửdụng, đánh giá khi giải quyết VAHC. Trong VAHC, thì chứng cứ tuyệt đối được pháp luật công nhận là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh52.
Chứng cứtươngđối là chứng cứmà giátrịchứng minh của chúng không có tính chất bắt buộc, ràng buộc đối với TA trong quá trình sử dụng, đánh giá. Chứng cứtương đối bản thân nó chưa đủ cơ sở để khẳng định một tình tiết, sự kiện nào đó liên quan đến vụ án là chính xác, cho nên thông thường chỉ mang tính chất tham khảo khi TA giải quyết vụ án.
2.2. Nội dung pháp luật về chứng cứ trong tố tụng hành chính
Pháp luật về chứng cứ trong TTHC là tổng thể các quy định pháp luật mà các chủthểtham gia trong VAHC phải áp dụng và tuân thủnhằm bảo đảm giải quyết VAHC được chính xác, đúng đắn nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân,bảo vệ chế độ xã hộichủ nghĩa,bảo vệ lợiích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.Để làmrõ những tình tiết, sự kiện của VAHC thì các chủ thể tham gia trong vụ án, ngoài việc đưa ra các lập luận, logic, phải sử dụng những công cụ nhất định do pháp luật quy định. Những công cụ này các nhà khoa học gọi là phương tiện chứng minh, còn Luật TTHC gọi là chứng cứ53.
Các chế định về chứng cứ được quy định trong TTHC nhằm mục đích để chứng minh về mặt nội dung và tố tụng của vụ án. Đối với các tình tiết, sự kiện chứng minh về mặt tố tụng là thủ tục, trình tự tố tụng mà TA tiến hành khi giải quyết VAHC. Khi giải quyết vụ án TA cần đánh giá chứng cứ làm rõ những vấn đề về tố tụng như xác định những quan hệ pháp luật giữa đương sự; đối tượng khởi kiện; tư cách tham gia tố
tụng của những người tham gia tố tụng; thời hiệu khởi kiện; yêu cầu khởi kiện; thẩm quyền TA; thời hạn giải quyết vụ án. Đối với các tình tiết, sự kiện chứng minh về mặt nội dung thì đây là những sự kiện pháp lý làm cơ sở cho yêu cầu hay phản bác yêu cầu của các đương sự trong VAHC. Các chủ thể chứng minh phải căn cứ vào chứng cứ có giá trịchứng minh vềmặt nội dung của vụán và những quy định của pháp luật nội dung đối với từng loại việc khởi kiện mà xác định đối tượng chứng minh trong từng vụán cụ thể. Trong TTHC chỉ quy định những nội dung chứng minh về các tiêu chí đánh giá tính hợp pháp của QĐHC54, còn chứng cứ nào để chứng minh các nội dung này thì không có quy định. Do vậy, khi nhận diện được một cách đầy đủ, chính xác các chứng cứ chứng minh tính hợp pháp của QĐHC, sẽ giúp các chủ thể thuận tiện trong việc thu
52 Điều 79 Luật TTHC năm 2015.
53 Trường Đại học Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2023), Giáo trình Luật TTHC Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.166.
54 Xem khoản 3 Điều 91 Luật TTHC.
thập, xác minh, đánh giá chứng cứ, giúp cóđủchứng cứgiải quyết VAHC nhanh chóng, chính xác.
Các nội dung pháp luật vềchứng cứtrong TTHC xoay quanh các vấn đềlànguồn, thu thập, cung cấp, giao nộp, xác minh, đánh giá, công bố, sử dụng, bảo quản, và bảo vệ chứng cứ trong TTHC. Cơ sở lý luận cơ bản của các nội dung này thể hiện như sau:
2.2.1. Nguồn chứng cứ trong tố tụng hành chính
Nguồn chứng cứlà hình thức tồn tại, là nơi chứa đựng chứng cứ, cung cấp chứng cứ cho các chủ thể để chứng minh.Chứng cứ được rútra từ các nguồn chứng cứ, cho nên muốn thu thập được chứng cứ, thì trước hết cácchủthểphải nhận diện được nguồn chứng cứ, rồi từ đó mới rút ra được chứng cứ để chứng minh. Chứng cứchỉcó thểhình thành và được thu thập từnhững nguồn chứng cứnhất định. Trong TTHC, giữa chứng cứvà nguồn chứng cứcó mối liênhệmật thiết với nhau, nếu chứng cứlà những gì có thật, được TAsửdụng làm căn cứđểxác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là cócăn cứ và hợp pháp, thì nguồn chứng cứ là nơi chứa đựng những thông tin tồn tại trong thực tếkhách quan, là những gì có thật, thểhiện được tình tiết khách quan hay nội dung có căn cứ và hợp pháp của chứng cứ. Trong khoa học tố tụng, nguồn chứng cứthường được gọi bằng thuật ngữ khác là phương tiện chứng minh55.
Các chứng cứchứng minh trong VAHCchỉcó thểthu thập được trong các nguồn đã quy định trong Luật TTHC. Theo quy định tại Điều 81 Luật TTHC thì chứng cứđược thu thập từcác nguồn sau đây: tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữliệu điện tử; vật chứng; lời khai của đương sự; lời khai của người làm chứng; kết luận giámđịnh;biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; kết quả định giá, thẩm định giá tài sản; văn bản xác nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập; văn bản công chứng, chứng thực.
Chứng cứ trong TTHC thường biểu hiện dưới dạng văn bản, tồn tại dưới dạng nguồn là tài liệu đọc được. Trọng tâm của chứng cứtrong VAHC làđểchứng minh tính hợp pháp hoặc bất hợp pháp của đối tượng khởi kiện, mà thường là các QĐHC. Các QĐHC bị kiện luôn biểu hiện dưới dạng là văn bản, cho nên các tài liệu, chứng cứlàm cơ sở tạo lập, ban hành ra QĐHC cũng thể hiện dưới hình thức là văn bản. Chính vì vậy, khi giải quyết VAHC, đểchứng minh tính hợp pháp của QĐHC, các chủthểchứng minh thường hay căn cứ vào tài liệu, chứng cứ là văn bản, thể hiện dưới nguồn chứng cứ là tài liệu đọc được, như các giấy tờ, tài liệu, văn bản làm căn cứ ban hành ra
55 Trường Đại học Luật HàNội(2022), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr.200.
QĐHC. Tài liệu đọc được là một trong những nguồn chứng cứ phổ biến, thường xuyên nhất trong VAHC.
2.2.2. Thu thập chứng cứ trong tố tụng hành chính
Trách nhiệm thu thập chứngcứđểchứng minh có thể hiểu là gánh nặng pháp lý mà một bên trong quan hệ TTHC phải gánh chịu nếu không thể đưa ra chứng cứ đầy đủcho yêu cầu hoặc phản bác của mình. Trách nhiệm thu thập chứng cứ chứng minh gắn liền với hậu quả xétxử,nếu bên nào đưa ra yêu cầu mà không chứng minh được yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp thìcó thể bịTA bác bỏ yêu cầu đó.
Trong TTHC, thu thập chứng cứ là quá trình phát hiện, ghi nhận, thu giữ, bảo quản chứng cứ của các chủ thể, được thực hiện bằng các biện pháp được pháp luật quy địnhnhằm có chứng cứchứng minh đểgóp phần làm sáng tỏbản chất vụán. Trong VAHC, tùy vào vị trí, vai trò của các chủ thể tham gia khác nhau, việc thu thập chứng cứcủa các chủthểcũng khác nhau. Việc thu thập chứng cứcủa các chủthểtrong TTHC đều phải thông qua các biện pháp thu thập chứng cứ mà Luật TTHC quy định. Trong Luật TTHCđãquyđịnh vấn đềquan trọng và có tính nguyên tắc vềthu thập chứng cứ,đó là, các đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho TA và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp; TA có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ và tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ cho TA hoặc đương sự theo quy định.
Đểbảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong TTHC, cần phân bổrõ ràng, hợp lý về trách nhiệm thu thập chứng cứ theo tư cách chủ thể tố tụng. Với vai trò là người khởi kiện, cầncó chứng cứchứng minh tình tiết thực tế nộidung của QĐHC có xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp, cho nên, người khởi kiện có nghĩa vụcung cấp tài liệu, chứng cứ sơ bộ ban đầu khi khởi kiện;Vớitư cách là ngườibịkiện, cần chứng minh tính hợp pháp cho QĐHC đã ban hành, cho nên, nghĩa vụ cung cấp, giao nộp toàn bộ hồ sơ, tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc ban hành ra QĐHC phải do ngườibịkiện thực hiện. Nếu phía ngườibịkiện từ chối giao nộp, cung cấp tài liệu, chứng cứ, TA có thể tuyên hủy QĐHC, vì người bị kiện không chứng minh được hợp pháp của QĐHC ban hành.Nếu ngườibịkiện có hành vi cản trở hoạtđộng tố tụng của TA, thông qua việc không cung cấp chứng cứ, cung cấp không đủ, không đúng chứng cứtheo yêu cầu, thìcó thể bịloại trừ chứng cứ, bị xử phạt, xử lý theo quy định; Đối vớiTA, TA mang trọng trách là cơ quan xétxử,có quyền yêu cầu bất kỳ bên nào cung cấp, giao nộp chứng cứ. TA không được thay thế nghĩa vụ chứng minh của các bên đương sự,nhưng TA có thể chủ động thu thập chứng cứ để chứng minh nếu cần thiết cho việc làm rõ sựthật khách quan của vụ án. Do vậy, cácchếđịnhvềtrách nhiệm chứng minh trong TTHC phải thể hiện được những nộidung như trên, để bảo đảm
thực hiện nguyêntắcbảovệcông dântrướcquyềnlựcnhà nước, thể hiện tinh thần pháp quyền, tranh tụng, công khai, trong đó TA đóng vai trò bảo vệ sự thật khách quan chứkhông thuần túy giao toàn bộ trách nhiệm chứng minh cho người khởi kiện. Đây là cơ sở pháp lý vững chắc để đảm bảo rằng quyền lực công phải luôn được kiểm soát bằng công lý tư pháp, và người dân không bịđặtvào vịthế bấtlợichỉvì thiếu tài liệu, chứng cứ vì do nằm trong tay người bị kiện là cơ quan công quyền.
2.2.3. Xác minh, đánh giá chứng cứ trong tố tụng hành chính
Về xác minh chứng cứ: xác minh chứng cứ là hoạt động xem xét, phân tích các thông tin, tình tiết, tài liệu đã thu thập được có đảm bảo các thuộc tính của chứng cứhay không. Trước khi quyết định có công nhận và sửdụng tài liệu, chứng cứhay không TA phải thực hiện việc xác minh, tức là kiểm tra lại tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp của tài liệu, chứng cứđó, đểbảo đảm giátrịchứng minh và hiệu lực sửdụng. Chứng cứđược xác minh theo các phương pháp khác nhau, đó là, theo phương pháp so sánh,đối chiếu chứng cứgiữa các nguồn chứng cứvới nhau. Phương pháp kiểm tra tính hợp pháp, xác định chứng cứcó được thu thập đúng quy trình không. Phương pháp phân tích logic loại trừ mâu thuẫn, kiểm tra xem các chứng cứ có mâu thuẫn nhau không, nếu có thì xác định đâu là nguồn đáng tin hơn dựa trên độ xác thực và khách quan.
Về đánh giá chứng cứ: Trong quá trình giải quyết VAHC, muốn giải quyết một cách đúng đắn vụ án và xác định đúng sựthật khách quan, thì các đương sự, người tham giatốtụng, người tiến hành tố tụng đều phải tiến hành đánh giá chứng cứ để tìm ra chân lý khách quan của vụán. Đánh giá chứngcứlà giai đoạnkết thúc quá trình chứng minh của các chủ thể, để Thẩm phán ban hành ra quyếtđịnh hoặc Hộiđồng xét xử ban hành bản án kết thúc VAHC. Việc đánh giá chứng cứ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng chứng cứ, đó là cơ sở để đưa ra những nhận định và kếtluận về các vấn đề cụ thể mà TA cần giải quyết để làm sáng tỏ sự thật của vụ án.
Đánh giá chứng cứ là quá trình pháp lý mang tính chất suy luận, trong đó TA dựa trên kết quả xác minh và các quy phạm luật định, đưa ra kết luận về giá trị chứng minhcủachứngcứđốivớiviệc giải quyếtvụán. Việc quyđịnh đánh giá chứng cứ trong TTHC được dựa trên mộtsốlý thuyết pháp lý then chốt: học thuyết tự do đánh giá chứng cứ, khẳng định rằng TA không bị ràng buộc, chi phối bởibấtkỳ loạichứng cứnào, không phụ thuộc vào ai, phải tuân theo quy trình hợp pháp và nguyên tắc xét xử công bằng. Theo nguyên tắc sự thật khách quan, trong TTHC, TA không chỉgiải quyếtvụ án mộtcách bịđộng,phụ thuộc vào chứng cứ do đương sự cung cấp, mà TA còn có nghĩa vụ chủ động làmrõ sựthật khách quan, đặc biệt khimộtbên là cơ quan công quyền,vốn nắmgiữ quyền lực và có chứngcứvượttrội. Theo nguyên tắc pháp
chế và tranh tụng, đảm bảo chứng cứđược đánhgiá một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác.
Trong VAHC,ngườibịkiện tham gia TTHC là bảo vệ quyền,lợiích hợp pháp của mình trong quản lý hành chính nhà nước. Người bị kiện có quyền, nghĩa vụ chứng minh tính đúngđắn,hợpphápcủaQĐHCbịkhởi kiện. Khi VAHC phát sinh, phía ngườibịkiện căn cứ vào chứng cứ để chứng minh với TA, và cho người khởi kiện biết rằng QĐHC mình ban hành là đúng đắn, hợp pháp theo quy định của pháp luật. Tức là chứng minh nội dung của QĐHC mình ban hành đã đảm bảo góp phần ổn định trậttự xã hội; việc tổ chức và điều hành hoạt động của bộ máy hành chính là hiệu quả; và đãđiều chỉnh linh hoạt, đúngđắn, chính xác các yêu cầuphát sinh của thực tiễn hoạtđộng quản lý hành chính nhà nước. Trong quá trình giải quyết VAHC, giải quyết tranh chấp giữa các bên, TA đánh giá chứng cứ để xem xét ra phán quyết về tính hợp pháp hoặc bất hợp pháp của hành vi pháp luật hay quyết định pháp luật của các chủ thể quản lý. Thông qua chứng cứ, phán quyết của TA bằng quyền tư pháp, có thể đánh giá được hiệu quả hoạt động của quyền hành pháp. Khi giải quyết VAHC, TA xét thấy QĐHC bịkiện của các chủ thể quản lý ban hành là có căn cứ, đúng pháp luật thì TA sẽ bác yêu cầu khởi kiện. Còn nếu chứng minh được QĐHC bị kiện trái pháp luật, thì TAsẽ tuyênhủyQĐHCbị kiện trái pháp luật đó. Thông qua phán quyết củaTAdựatrên chứng cứkhi đánh giá, xem xét, kếtluận về tính hợp pháp hay bấthợp pháp của QĐHC dochủthểquản lý ban hành,sẽgóp phần bảo đảmcho hoạtđộng ban hành QĐHC được hợp pháp, hợp lý. Bằng phán quyết của TA, các chủ thể biết rõ thực trạng chất lượng, hiệu quả trong việc quản lý hành chính nhà nước của tổ chức mình, từđónhận ra những thiếu sótđể khắc phục,góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý hành chính, vìlợiích chung của nhà nước, xã hội và lợi íchcủa tổchức, cá nhân;đồng thời góp phần vào việc bảo vệ pháp luật, duy trì và bảo vệ công lý, công bằng trong xã hội.
2.2.4. Cung cấp, giao nộp chứng cứ trong tố tụng hành chính
Trong TTHC, cung cấp chứng cứ và giao nộp chứng cứ là hai hành vi pháp lý mangbảnchất chủ động, thụđộng tươngứngvới cácchủthểkhác nhau. Trong đó, cung cấp chứng cứlà quyền và nghĩavụcủa các bên tham gia tốtụng nhằm chứng minh cho các yêu cầu, lập luận của mình. Còn giao nộp chứng cứ là hành vi bắt buộc do các chủ thể thực hiện theo yêu cầu củaTA. Tuy nhiên,sự phân biệt rạch ròi giữa cung cấp chứng cứ, giao nộp chứng cứ thuộc về quyền, nghĩa vụ của chủ thể nào trong TTHC hiện nay chưa thậtsự rõ ràng.Đươngsựcungcấpchứngcứcàngđầyđủ,thìcàng giúp cho TA có căn cứ giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác. Nếu người khởi kiện không cung cấp được chứng cứ, TA có thể bác yêu cầu khởi kiện do không đủ căn cứchứng minh. Trong trường hợp chứng cứ không do đương sự nắm giữ, do cơ
quan,tổ chức, cá nhân khác đang nắmgiữ,mặcdù không có quyềnlợivà nghĩavụtrong vụ án, nhưng để làm rõ sự thật khách quan của vụ án, khi có yêu cầu của đương sự,TA, VKS thì cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ chứng cứ phải có trách nhiệm cung cấp chứng cứ theo yêu cầu.
Giaonộpchứngcứdo chính đương sự chủ động thực hiện hoặc theo yêu cầu của TA, VKS. Đương sự có nghĩa vụ, trách nhiệm phải giao nộp tất cả các chứng cứmà mình đã thu thập được, mình đang có cho TA nhằm phục vụ mục đích chứng minh. Nếu phía ngườibịkiện hoặc cơ quan, tổ chức khác không giao nộp hồ sơ khi TA yêu cầu, có thể bị coi là hành vi che giấu chứng cứ, làm sai lệch vụ việc, và TA có quyền xem xét đây là hành vi cản trở hoạt động tố tụng của TA.
Thời hạn cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định nhưng không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩmvụ án. Cung cấp, giao nộp chứng cứ cho TA có thể thực hiện dưới các hình thức là nộp văn bản giấy, bản sao có chứng thực, nộp hồ sơ số hóa qua cổng thông tin điện tử TA, nộp trực tiếp tại TA, nộp qua đường bưu chính.
2.2.5. Công bố, sử dụng chứng cứ trong tố tụng hành chính
Về công bố chứng cứ: Công bố chứng cứ là hành vi của Thẩm phán công khai các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho các đương sự biết, hoặc trình bày công khai nội dung của tài liệu, chứng cứ ngay tại phiên tòa xét xử. Bao gồm đọc nội dung văn bản, chiếu hoặc trình bày bản ghi âm, hình ảnh, công khai trích dẫn kết luận giámđịnh,lời khai vắng mặt. Côngbốchứng cứlà biểu hiện của nguyên tắc tranh tụng, nơi các bên được tiếp cận, phản bác và kiểm tra lẫn nhau về các chứng cứ. Điều này bắt nguồn từ học thuyết tranh tụng công bằng, tức một bên không thể bị ra phán quyết bất lợi nếu chưa được nghe, đọc hoặc kiểm tra những gì TA sử dụng để đánh giá. Bảo đảm hiệu lực công bằng của thủ tục, mọi thủ tục tố tụng đều phải minh bạch, rõ ràng, đương sự bình đẳng về cơ hội chứng minh. Nếu TA sử dụng chứng cứ chưa được công bốcông khai và chưa cho các bên tiếp cận,điều đóvi phạm quyền cơ bản vềxétxửcông bằng. TAchỉcó thể đánh giá chứng cứmà mình trực tiếp tiếp nhận, nghe,đọc hoặc xem xét công khai. Chứng cứ cần được công bố, tạo điều kiện cho các bên tranh luận. TA công bố chứng cứ để những người tham gia tố tụng biết rõ những chứng cứcủa nhau, biết được đầy đủ các chứng cứ có trong vụ án, đảm bảo cho các đương sựđược bình đẳng,như nhau trong việc tiếp cận các chứng cứ, để thực hiện quyền tranh tụng, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại TA.
Việc TA công bố chứng cứ được thực hiện tại phiên công khai chứng cứ hoặc tại phiên tòa xét xử. Nếu mộtbên vắng mặt, TA vẫn có quyền thực hiện công bố chứng cứđểcác bên khác có thể thực hiện quyền tiếp cận, sao chụp tài liệu, chứng cứ. Việc TA thực hiện công bố chứng cứ khi giải quyết VAHC sẽ mang lại nhiều ý nghĩa,
đó là,bảo đảmtính minh bạch và tranh tụng thực chất, giúp các bên có cơ hội thực sự để bảo vệ quanđiểmcủa mình. Tăng cường tính kiểm chứng và loại trừ chứngcứgian dối, khi chứng cứ được công bố công khai, các bên sẽ thuận tiện trong việc phát hiện ra những mâu thuẫn, lời khai không chính xác, trình bày sai lệch trong vụ án. Khẳngđịnh nguyên tắc TA trực tiếp đánh giá chứng cứ, Thẩm phán không thể ra phán quyết dựa trên tài liệu chưa công bố tạo điều kiện cho quyền xéthỏivà phản biện, các bên được phép kiểm tra, yêu cầu làm rõ vớinộidung đã công bố.
Vềsửdụng chứng cứ: sửdụng chứng cứlà việc các chủthểchứng minh lựa chọn những chứng cứđược thu thập, kiểm tra, đánh giá theo quyđịnh của pháp luật một cách khoa học, hợp lý để đưa ra quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án tại TA56. Sửdụng chứng cứlà hoạt động trung tâm quyết định hiệu quảcủa việc chứng minh trongtốtụng.Đểchứng cứđược sửdụng phải đápứng một sốđiều kiện nhất định,bảo đảm tính hợp pháp, tính liên quan, tính khách quan và đã được công khai. Chứng cứchỉđược sửdụng giải quyết vụán sau khiđã được đánh giáđểloại bỏđi những tình tiết, tài liệu không có giá trị chứng minh. Các chứng cứ đã được sàng lọc một cách kỹ lưỡng trước khi đưa vào sử dụng, để TA ban hành quyết định, bản án có tính chính xác cao.
Bảnchất pháp lýcủaviệcsử dụng chứngcứ trong TTHC không đơn thuần là thuộc về kỹ năng, kinh nghiệm, kỹ thuật tố tụng, mà còn là hoạt động mang tính quyền lực công, quyền tư đan xen, đó là, TA sử dụng chứng cứ để đánh giá tính hợp pháp, có căn cứ của QĐHC bị khiếu kiện. TA được sử dụng chứng cứđã đượccông khai, kiểm tra, xác minh, đểđánh giá toàn diệnvụán. Các bênđươngsựsửdụng chứngcứđểthực hiện quyền tranh tụng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Các bên có quyền sử dụng chứng cứ một cách bình đẳng để chứng minh cho yêu cầu hoặc bác yêu cầu của bên còn lại, mọi hoạt động sử dụng chứng cứ (trích dẫn, phân tích, lập luận) của các bên đều phải thực hiện đúng quy định pháp luật.
2.2.6. Bảo quản, bảo vệ chứng cứ trong tố tụng hành chính
Bảo quản chứng cứlà gìngiữgiá trịchứng minh của chứng cứ, là hoạt động duy trì nguyên trạng vật lý hoặc nội dung của chứng cứ trong suốt quá trình tố tụng đểđảm bảo tính toàn vẹn và khảnăng sửdụng tại TA. Bảo quản chứng cứcó ý nghĩa quan trọng giúp duy trì tình trạng nguyên vẹn của chứng cứnhư khi thu thập được trong suốt quá trình giải quyết vụ án, giúp chứng cứ được bảo vệ nguyên vẹn về giá trịcũng như đảm bảo giá trị chứng minh, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tố tụng đánh giá chứng cứtrong quá trình giải quyết VAHC. Tất cảcác chứng cứliên quan
56 Học viện Tư pháp (2016), Tlđd (15), tr.120.
đến VAHCđều cần phải được bảo quản đểđảm bảo tính nguyên vẹn của chứng cứ, cũng như giữ được giá trị chứng minh mà nội dung chứng cứ mang lại.
Bảo vệ chứng cứ là việc áp dụng các biện pháp pháp lý, tổ chức và kỹthuật nhằm ngăn chặn sự can thiệp trái phép, hủy hoại, làm sai lệch hoặc tiếp cận trái phép chứng cứ. Trong VAHC, việc bảo vệchứng cứcứnhằm chống lại các hành vi xâm phạm chứng cứ, giữđược giá trịchứng minh của chứng cứ. Bảo vệchứng cứđược thực hiện trong trường hợp có hành vi tiêu hủy, xâm phạm đến chứng cứ hoặc có nguy cơ chứng cứ bị tiêu hủy. Trách nhiệm chính trong việc bảo vệ chứng cứ thuộc vềTA. TA bảo vệ chứng cứ thông qua việc áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ sựtoàn vẹn của chứng cứ trước nguy cơ chứng cứ đó bị xâmhại57.
Việc quy định bảo quản, bảo vệ chứng cứ cần dựa trên những nguyên tắc nhất định.Theo nguyên tắc pháp chế, tranh tụng, sự thật khách quan, tính khả dụng và tin cậy của chứng cứ, thì chứng cứ chỉ có giá trị chứng minh nếu được duy trì trong trạng thái nguyênvẹn từthời điểm thu thập đến khisửdụng tại phiên tòa. Điều này phản ánh nguyên tắc TA không thể dựa vào chứng cứ có nguy cơ bị biến dạng, bị chỉnh sửa, xóa bỏ. Bảo quản tốt chứng cứ giúp TA xác định được sự thật khách quan của vụ án, nếu một bên cố tình làm biến mất hoặc thay đổi nội dung chứng minh của chứng cứ, hoặc ngăn cản bên kia tiếp cận chứng cứ, thì quyền tranh tụng công bằng bịphá vỡ. Do đó, việc bảo vệ chứng cứ còn là biện pháp bảo đảm quyền được xét xử công bằng cho các bên đương sự.
Tùy thuộc vào mỗi loại nguồn chứng cứ, việc bảo quản, bảo vệchứng cứcần thực hiện khác nhau.Đối với tài liệu đọc được, tàiliệu giấy thì niêm phong, lưu trữ tại kho chuyên biệt của tòa, photo sao y kèm xác nhận. Vật chứng thì niêm phong, dán mã số, cất giữ trong kho có camera và người quản lý. Dữ liệu số thì lưu trên ổ cứng được mã hóa, ký số, hoặc blockchain; hạn chế truy cập trái phép. Chứng cứ nghe được, nhìn được thì ghi nhận dưới định dạng tiêu chuẩn, lưu ởnhiều bản, có xác nhận ngày giờ
tạo tệp.
2.3. Các yếu tố tác động đến chứng cứ trong trong tố tụng hành chính 2.3.1. Yếu tố chính trị
Việc sử dụng chứng cứ trong TTHC để xét xử các VAHC bảo đảm nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một nguyên tắc mang tính hiến định, khẳng định vai trò của Đảng là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Nguyên tắc này được xem là yếu tố cốt lõi của mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó Đảngkhông đồng nhất với nhà nước, nhưng giữ vai trò định hướng chính trị, pháp lý,
57 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2021), Tlđd (14), tr.306;
thông quachủtrương, chính sách, nghị quyết. Đảng lãnh đạo nhưng không can thiệp trực tiếp vào hoạt động tư pháp, đảm bảo tính độc lập tương đối của TA, song vẫn giữvai trò định hướng vềquan điểm xửlý các vấn đềtrọng yếu của quốc gia, trong đó có TTHC.
TA xét xử VAHC là hoạt động thực thi quyền tư pháp, một bộ phận quyền lực nhà nước. TA vai trò, nhiệm vụthực hiện quyền tư pháp nói chung và giải quyết VAHC nói riêng cũng phải chịu sự lãnh đạo của Đảng.Sự lãnh đạo của Đảng đối với hệthống TAND thông qua các Nghị quyết, văn kiện và kết luận của Bộchính trịvềchiến lược cải cách tư pháp. Theo Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Trongđóxác định mục tiêu cụthểđến năm 2030 là “hoàn thành cơ bản việc xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân” với nhiều nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể như “xâydựng chếđịnh tốtụng tư pháp lấy xétxửlà trung tâm, tranh tụng là đột phá”, “hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến tư pháp, bảo đảm tôn trọng và bảo vệ
quyền con người, quyền công dân…”. Tại Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/04/2025 của Bộ Chính trị nêu rõ các nhóm nhiệm vụ, giải pháp cần thực hiện để đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đápứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷnguyên mới. Trong đó có nhiệm vụ, giải pháp là “Tạo đột phá trong công tác thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật được thực hiện công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực và hiệu quả; gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật”. Đây cũng là cơ sở định hướng cho các chủ thể trong việc ban hành, áp dụng các quy định về chứng cứ khi giải quyết VAHC.
Trong TTHC, mặc dù nguyên tắc xétxửđộc lập được khẳng định, trong thực tế xét xử hành chính, vẫn có những yếu tố sau chịu ảnh hưởng gián tiếp từ sự lãnh đạo của Đảng:các vụ kiện hành chính thường liên quan đếnquyếtđịnh của chính quyền địa phương hoặc bộ, ngành, những thiết chế trong hệ thống chính trị mà Đảng đóng vai trò chủ đạo. TA có xu hướng thận trọng hơn trong việc đánh giá tính trái pháp luật của QĐHC, nhất là khi không có chứng cứ đầy đủ từ phía người khởi kiện. Ngoài ra Thẩm phán được lựa chọn, đào tạo, quy hoạchbởihệ thống chính trị có định hướng lý tưởng chính trị. Điều này cóthể ảnh hưởng đếntư duy pháp lý khi đánh giá chứng cứ trong VAHC, thường phải kếthợpcảyếu tố pháp lý và chính trị. Điều này, sẽ có thách thức là gây khó khăn cho người khởi kiện trong việc tiếp cận chứng cứ và thực hiện nghĩa vụ chứng minh. Làm giảm hiệu quảbảo vệ quyền con người, quyền công dân trong TTHC, một trong các đặc trưng then chốt của nhà nước pháp quyền hiện đại.
2.3.2. Yếu tố pháp lý
Thứ nhất, về chế định chứng cứ trong TTHC
Khi TA giải quyết VAHC, các quyết định, bản án ban hành bởi TA có mang lại hiệu quả, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân,bảo vệchế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân được hay không, còn phụ thuộc rất lớn vào những quy định vềchứng cứ được quy định trong Luật TTHC. Sự hoàn thiện, thống nhất, phù hợp của các chế định về chứng cứ trong TTHC là yếu tố tác động, ảnh hưởng đến hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp hành chính tại TA. Những quy định vềchứng cứtrong TTHC nếu đầy đủ, hợp lý,khoa học sẽ tạo cơ sở pháp lý cho các chủ thể tham giatố tụng dễdàng thực hiện được các quyền và nghĩa vụcủa mình, chủthểtiến hành tốtụng giải
quyết VAHC nhanh chóng, bảo đảm tính chính xác, đúng đắn, làm sáng tỏ bản chất vụ án, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của đương sự.
Thứhai,vềcác quy định chuyên ngành khác liên quan đến việc giải quyết VAHC
Chứng cứ trong TTHC được sử dụng để chứng minh tính đúng sai, chứng minh về mặt nội dung khi áp dụng các quy định trong luật chuyên ngành khác. Pháp luật nội dung hay là pháp luật quản lý hành chính nhà nướccũng là yếu tốquan trọng ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của việc giải quyết VAHC. Giải quyết VAHC được xem là giải quyết tranh chấp hành chính phát sinh trong các lĩnh vực cụ thể khác nhau của quản lý hành chính nhà nước, do đó, trong quá trình xét xử, TA bên cạnh việc vận dụng các quy định TTHCvềxétxửvụán, còn phải căncứvào các quy định có liên quan vềcác lĩnh vực đặc thù của quản lý hành chính nhà nướcđểđánh giá tính hợp pháp của các QĐHC, HVHC trong các lĩnh vực đó. Vì thế, hiệu quả của xét xử VAHC còn phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện của pháp luật về quản lý hành chính nhà nước như: về Luật khiếu nại, Luật Đất đai, Luật Thuế, quản lý thị trường, hải quan, cấp phép
đầu tư,…đểgiúp cho việc áp dụng pháp luật được thống nhất và đánh giá đúngđắn tính hợp pháp của các QĐHC, HVHC trong các lĩnh vực cụthể. Không những vậy, còn đòi hỏi sự thống nhất, phù hợp, đồng bộ của pháp luật TTHC với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngànhđểgiúp cho việc áp dụng pháp luật được thống nhất, tránh sự nhầm lẫn và áp dụng sai, chồng chéo các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành dẫn đến việc đánh giá không đúng pháp tính hợp pháp QĐHC, HVHC trong các lĩnh vực hoặc mất quyền khởi kiện của người dân chỉ vì sự không thống nhất giữa quy định trong luật nội dung và Luật TTHC58.
Thứ ba, về mô hình chứng cứ và chứng minh trong TTHC
TTHC thường được coi là tố tụng thẩm phấn hay tố tụng viết vì căn cứ, chứng cứ dùng để giải quyết VAHC gắn liền với hoạt động công vụ nên chủ yếu tồn tại dưới
58 Nguyễn Thị Hà (2017), Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.68.
dạng văn bản và khảnăng thu thập chứng cứcũng như nghĩa vụcung cấp chứng cứcho TA của các đương sựtrong TTHC cũng có nhiều điểm khác biệt với vụán phi hình sựkhác59. Cóthểthấy mô hình chứng minh, chứng cứtrong TTHCtừkinh nghiệm ởmột sốnước thường gần với mô hình chứng minh, chứng cứtrongtốtụng hình sự (theo nguyên tắc “chủ động chứng minh vì lợi ích công”), nhưng ở Việt Nam
lại gần với mô hìnhtốtụng dân sự. Trong VAHCđươngnhiên khi người khởi kiện tiến hành khởi kiện VAHC, sẽ là chủ thể đầu tiên phải giao nộp những chứng cứ nhất định để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Mô hình chứng minh, chứng cứ này thực ra đã tồn tại cùng với sự hình thành của pháp luật TTHC từnăm 1996. Từ một nền tố tụng thẩm vấn (trong đó đề cao tố tụng viết), nguyên tắc tố
tụng tranh tụng được kỳ vọng tạo bước chuyển lớn nhằm tạo công bằng trong TTHC. Trong đó, tính hiệu quả, sự phù hợp của mô hình chứng cứ và trách nhiệm chứng minh trong TTHC hiện nay với nguyên tắc tranh tụng và với nguyên tắc trình tựpháp luật công bằng cần tiếp tục được nghiên cứu60. Nếu tốtụng tranh tụng,từtốtụng viết chuyển sang tốtụng tranh tụng đạt hiệu quả, áp dụng được trong việc giải quyết VAHC, thì mới thật sự tạo ra được sự công bằng cho các đương sự trong TTHC. Thếnhưng, thực tiễn tốtụng tranh tụng trong VAHC hiện nay cũng còn nhiều tồn tại, chẳng hạn như người khởi kiện khó thu thập được chứng cứtừphía người bịkiện, người bị kiện vắng mặt không tham gia tố tụng, không lấy được lời khai của người bịkiện được, không hỏi được người bị kiện tại phiên tòa xét xử, TA chỉ tham giahỗ trợthu thập chứng cứ cho đương sự ở mức độ nhất định.Dẫn đến,người khởi kiện không thu thập đủ chứng cứ để chứng minh, không đủ chứng cứ để tranh luận tại tòa.
KHO TÀI LIỆU.rar\TÀI LIỆU 2025 – RAR archive, unpacked size 61,230,792 bytes/ CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

