Chế định miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam

Chế định miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam

Chế định miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bằng một hậu quả bất lợi do được áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó thực hiện. Theo tình hình diễn ra trên thực tế thì tất cả các loại tội phạm và các trường hợp phạm tội cụ thể đều khác nhau. Vì thế, để đạt hiệu quả cao trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, luật hình sự Việt Nam thực hiện việc phân hóa các trường hợp phạm tội, các đối tượng phạm tội khác nhau để có đường lối xử lý một cách có hiệu quả, phù hợp, chính xác và công bằng. Trong một điều kiện nhất định nào đó, các trường hợp phạm tội xảy ra trong thực tiễn, một người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi có các căn cứ pháp lý mà luật hình sự quy định là tội phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Và miễn trách nhiệm hình sự là một trong những chế định quan trọng của luật hình sự Việt Nam, chế định này thể hiện chính sách phân hóa trách nhiệm hình sự và nguyên tắc nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội và hành vi do họ thực hiện, đồng thời nhằm động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo giục, cải tạo, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. Miễn trách nhiệm hình sự cũng có mối quan hệ hữu cơ và chặt chẽ với chế định trách nhiệm hình sự. Vì thế, nếu giải quyết tốt vấn đề trách nhiệm hình sự, đồng thời áp dụng đúng đắn và chính xác chế định miễn trách nhiệm hình sự sẽ tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác phòng và chống tội phạm, bảo vệ có hiệu quả các lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.

Trong lịch sử pháp luật hình sự ở nước ta, chế định miễn trách nhiệm hình sự mới được nhà làm luật nước ta ghi nhận chính thức khi Bộ luật Hình sự năm 1985 ra đời. Trước thời gian đó, nội dung này chưa được ghi nhận với tính chất là một chế định độc lập trong pháp luật hình sự nhưng trong thực tiễn xét xử cho thấy có một số văn bản pháp lý được thừa nhận và áp dụng như miễn trách nhiệm hình sự qua các tên gọi khác như: “tha bổng bị cáo”, “tha miễn trách nhiệm hình sự”, “miễn tố”, “miễn nghị cho bị cáo”, “miễn hết cả tội”, “xá miễn” …

Đến lần pháp điển hóa lần thứ hai luật hình sự Việt Nam với việc thông qua Bộ luật Hình sự năm 1999, nhưng các khái niệm pháp lý về miễn trách nhiệm hình sự chưa được các nhà làm luật ở nước ta ghi nhận, hậu quả pháp lý của việc miễn trách nhiệm hình sự, hoặc các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự vẫn còn được quy định rải rác ở các điều luật, như vậy là chưa chính xác về mặt khoa học và chưa đạt về mặt lập pháp. Mặt khác, thực tiễn áp dụng chế định này cũng đã đặt ra nhiều vướng mắc đòi hỏi khoa học hình sự phải nghiên cứu giải quyết. Đến nay, Bộ luật Hình sự năm 2015 được coi là bước phát triển mới trong việc giải quyết các vấn đề về miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự có căn cứ, chính xác, đúng pháp luật sẽ có tác dụng rất lớn thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội và hành vi do họ thực hiện. Việc sửa đổi, bổ sung một số quy phạm của chế định miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội đã tạo điều kiện cho các cơ quan áp dụng pháp luật đạt được hiệu quả cao trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng, vẫn còn bất cập ở một số quy định, các văn bản giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự trong thời gian qua chưa được kịp thời, đầy đủ nên một số quy phạm pháp luật của chế định miễn trách nhiệm hình sự còn nhận thức, áp dụng chưa đúng.

Trong xu thế hội nhập như hiện nay, cùng với sự phát triển đất nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội… Trong đó, nhiều vấn đề của pháp luật hình sự cũng luôn vận động và phát triển nên đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu, thay đổi, bổ sung các nội dung, quy định cho phù hợp, và trong đó có chế định miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Trước tình hình đó, để tiếp tục hoàn thiện Bộ luật Hình sự hiện hành, chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chế định miễn trách nhiệm hình sự, đưa ra các giải pháp cần thiết để giải quyết những vấn đề vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, nhằm đảm bảo áp dụng đúng đắn chế định miễn trách nhiệm hình sự trên cả nước nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng. Đây chính là lý do luận chứng cho việc tác giả đã lựa chọn đề tài “Chế định miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ luật học của mình.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ về mặt lý luận, phân tích để làm rõ về mặt khoa học các nội dung cơ bản của chế định miễn trách nhiệm hình sự ở khía cạnh lập pháp và vấn đề áp dụng chúng trong thực tiễn, xác định những bất cập để đề xuất các giải pháp cụ thể, góp phần tiếp tục hoàn thiện những quy định này trong pháp luật hình sự Việt Nam. Đồng thời, luận văn cũng chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, nguyên nhân cơ bản trong việc áp dụng các quy phạm của chế định miễn trách nhiệm hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm và giáo dục, cải tạo người phạm tội.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu như đã đề cập ở trên, luận văn này tập trung vào việc giải quyết những nhiệm vụ sau:

– Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu lịch sử phát triển của chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam từ thời phong kiến đến nay. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển các quy định về miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, nhằm làm sáng tỏ bản chất pháp lý của những quy định về miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam. Luận văn xây dựng khái niệm, phân tích các đặc điểm cơ bản, ý nghĩa của miễn trách nhiệm hình sự. So sánh mối quan hệ giữa miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt.

– Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự về chế định miễn trách nhiệm hình sự trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự tại tỉnh Quảng Nam. Đồng thời phân tích những tồn tại xung quanh việc quy định và áp dụng chế định này, những số liệu thống kê trên thực tế, những thiếu sót, khuyết điểm và những vướng mắc của việc áp dụng pháp luật hình sự liên quan đến chế định miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong Bộ luật hình sự, đồng thời tác giả đề xuất những giải pháp hoàn thiện cụ thể nhằm góp phần tạo sự nhận thức và áp dụng pháp luật được thống nhất.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các quy định về miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội của pháp luật hình sự Việt Nam. Các vấn đề cơ bản như: Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và hành vi do họ thực hiện. Đồng thời, luận văn cũng nghiên cứu đánh giá, nhận xét số liệu từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam về việc áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Từ đó đưa ra các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu chế định miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội theo luật hình sự Việt Nam dưới góc độ của luật hình sự và nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian từ năm 2013 đến năm 2017.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Phương pháp luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng và chống tội phạm, về tính nhân đạo của pháp luật. Luận văn được trình bày trên cơ sở nghiên cứu các lý luận, đặc thù của khoa học pháp luật hình sự, các văn bản pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự và các văn bản pháp lý khác, những luận điểm khoa học có liên quan đến miễn trách nhiệm hình sự.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học luật hình sự như: lịch sử, phân tích, so sánh, thống kê… để luận chứng được các vấn đề tương ứng và tổng hợp các tri thức khoa học qua các nghiên cứu của pháp luật hình sự nước ta.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận văn là công trình chuyên khảo có hệ thống ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học, trong đó tập trung nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong Bộ luật Hình sự Việt Nam.

Phân tích một cách có hệ thống và làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản của chế định miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội như: Khái niệm, bản chất pháp lý và các đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệm hình sự, những quy định của pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, luận văn góp phần xác định cơ sở khoa học cho việc nhận thức chế định này được thống nhất.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn nghiên cứu khái quát việc áp dụng các quy định pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong hoạt động thực tiễn tỉnh Quảng Nam, phân tích một số điểm chưa phù hợp của Bộ luật Hình sự và một số vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự liên quan đến việc giải quyết vấn đề miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Từ đó, để góp phần nhân đạo hóa hơn nữa trong chính sách hình sự, luận văn kiến nghị bổ sung những trường hợp có thể áp dụng miễn trách nhiệm hình sự, đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm góp phần giải thích, hướng dẫn áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự được thống nhất, có thể đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thực tiễn về đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ các lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

7. Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm các phần cơ bản như: Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục. Trong đó phần nội dung của luận văn được trình bày qua ba chương.

Chương 1: Lý luận về miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam.

Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về miễn trách nhiệm hình sự và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2013 đến năm 2017.

Chương 3: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về miễn trách nhiệm hình sự trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự

Miễn trách nhiệm hình sự là một trong những chế định quan trọng của luật hình sự Việt Nam, trước khi xây dựng khái niệm miễn trách nhiệm hình sự, vấn đề cơ bản đầu tiên là phải làm rõ khái niệm trách nhiệm hình sự vì miễn trách nhiệm hình sự có quan hệ chặt chẽ và gắn liền với chế định trách nhiệm hình sự. Để tìm hiểu và nghiên cứu khái niệm và bản chất pháp lý của chế định miễn trách nhiệm hình sự, trước tiên phải xem xét, tìm hiểu khái niệm và các nội dung cơ bản của chế định trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam. Miễn trách nhiệm hình sự xuất hiện khi có trách nhiệm hình sự, cho nên việc nhận thức khoa học đúng đắn về trách nhiệm hình sự sẽ tạo cơ sở vững chắc cho nhận thức về miễn trách nhiệm hình sự.

Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định. Là một dạng của trách nhiệm pháp lý, từ trước đến nay, xung quanh khái niệm “trách nhiệm hình sự” là gì (?) vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, mà cụ thể là:

Theo TSKH Lê Cảm thì “trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định” [9, tr. 122];

Còn GS.TSKH Đào Trí úc lại quan niệm “trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Nhà nước” [45, tr.41];

Và theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa và TS. Lê Thị Sơn thì “trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích” [18, tr. 126] …

Do đó, dưới góc độ khoa học luật hình sự, TSKH. Lê Cảm đã đưa ra định nghĩa về trách nhiệm hình sự qua hai vấn đề, cơ sở và điều kiện: “Cơ sở của trách nhiệm hình sự là việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm” – “Điều kiện của trách nhiệm hình sự là căn cứ riêng cần và đủ, có tính chất bắt buộc và do luật hình sự quy định mà chỉ khi nào có tổng hợp tất cả chúng (các căn cứ riêng đó) thì một người mới phải chịu trách nhiệm hình sự” [7, tr. 130].

Như vậy, một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi người đó có đầy đủ cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự về việc thực hiện tội phạm. Nhưng trong thực tiễn có một số trường hợp, một người phạm tội mặc dù có đầy đủ cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự nhưng khi có căn cứ và những điều kiện nhất định thì người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự, và cũng có thể họ được miễn trách nhiệm hình sự. Cho nên, có thể khẳng định rằng, cơ sở của miễn trách nhiệm hình sự cũng xuất phát từ cơ sở của trách nhiệm hình sự.

Trong luật hình sự Việt Nam, chế định miễn trách nhiệm hình sự đã thể hiện được chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội, qua đó nhằm động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, tạo điều kiện về giáo dục, cải tạo để họ nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. Đến thời điểm này, việc đưa ra khái niệm về miễn trách nhiệm hình sự trong trong khoa học luật hình sự vẫn có nhiều quan điểm khác nhau như:

“Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó” [10, tr. 7];

“Miễn trách nhiệm hình sự là việc miễn kết tội cũng như áp dụng hình phạt đối với người thực hiện tội phạm và do vậy họ không bị coi là có tội. Nói cách khác, miễn trách nhiệm hình sự là miễn những hậu quả pháp lý đối với người phạm tội do pháp luật hình sự quy định” [7, tr. 14];

“Miễn trách nhiệm hình sự là việc hủy bỏ sự đánh giá tiêu cực đối với người đó dưới hình thức bản án” [6, tr. 31];

“Miễn trách nhiệm hình sự có nghĩa là miễn những hậu quả pháp lý về các tội phạm đối với người thực hiện tội phạm khi có những điều kiện theo quy định của pháp luật” [14, tr. 109];

“Miễn trách nhiệm hình sự là một nguyên tắc của luật hình sự dựa trên cơ sở xung đột về lợi ích, dùng để chỉ ra rằng không có tội phạm được thực hiện mặc dù trên thực tế hành vi của một người nào đó đã thỏa mãn cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan đối với một loại tội phạm. Nguyên tắc này được nhắc đến như là miễn trách nhiệm hình sự và không phải là miễn hình phạt bởi vì bị cáo không chỉ tránh khỏi hình phạt mà hơn thế nữa hành vi đó không được coi là tội phạm trong những điều kiện miễn trừ” [8, tr. 184].

“Miễn trách nhiệm hình sự có nghĩa là miễn những hậu quả pháp lý đối với một tội phạm do pháp luật quy định” [7, tr. 269];

“Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc tội một người chịu trách nhiệm hình sự về tội mà họ đã thực hiện” [12, tr. 321];

“Miễn trách nhiệm hình sự là không truy cứu trách nhiệm hình sự một người về việc đã thực hiện một tội phạm được quy định trong luật hình sự, thể hiện trong một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” [18, tr. 238];

“Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mà người đó đã phạm” [13, tr. 166];

Tổng hợp tất cả các quan điểm khoa học trong nước ta thấy đều tương đối thống nhất trong việc khẳng định rõ nội dung và bản chất pháp lý của miễn trách nhiệm hình sự.

Tóm lại, để xây dựng một khái niệm thì trong đó phải thể hiện được đầy đủ và chính xác về nội dung, bản chất, đối tượng áp dụng, hình thức thể hiện ngắn gọn và nhất quán về mặt pháp lý, đồng thời phù hợp với thực tiễn và chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước. Và trên cơ sở tổng kết một số các quan điểm khoa học nêu trên, kết hợp với việc phân tích các quy định của pháp luật hình sự có liên quan, dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo tác giả khái niệm miễn trách nhiệm hình sự có thể được định nghĩa như sau: Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, được thể hiện bằng văn bản của cơ quan tiến hành tố tụng với nội dung không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện luật định.

1.2. Đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự

Từ các khái niệm nêu trên và trên cơ sở nghiên cứu các quy định về miễn trách nhiệm hình sự của pháp luật hình sự hiện hành, chúng ta có thể đưa ra một số đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, miễn trách nhiệm hình sự là một trong những chế định quan trọng phản ánh rõ nét và thể hiện tính nhân đạo của chính sách hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam. Và chế định miễn trách nhiệm hình sự là một trong những biện pháp hữu hiệu để Nhà nước ta thực hiện chính sách phân hóa và trong đường lối xử lý thể hiện được phương châm “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng“, “trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục, cải tạo“… Và chỉ có thể được đặt ra đối với người nào là chủ thể của chính tội phạm ấy, đồng thời phải đáp ứng đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện trong từng trường hợp cụ thể được quy định trong pháp luật hình sự hiện hành, cũng như tuỳ thuộc vào từng trường hợp miễn trách nhiệm hình sự có thể là tuỳ nghi (lựa chọn) hay bắt buộc. Còn trong thực tiễn áp dụng, ngay cả khi trường hợp có đầy đủ căn cứ pháp lý và đáp ứng đủ các điều kiện quy định, nhưng nếu trường hợp đó là tuỳ nghi (lựa chọn) thì việc áp dụng hay không áp dụng miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội đó là do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định.

Thứ hai, người được miễn trách nhiệm hình sự không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội, nhưng nếu không có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện do luật định thì người đó có thể phải chịu hậu quả bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế hình sự được quy định trong pháp luật hình sự. Như vậy, không phải bất kỳ trường hợp nào một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm, bị xã hội lên án và đáng bị xử lý về hình sự đều phải chịu trách nhiệm hình sự, mà có trường hợp xét thấy không cần phải áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người đó mà vẫn đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm, thể hiện được việc giáo dục, cải tạo tốt để hòa nhập với cộng đồng của người phạm tội. Bên cạnh đó, việc người phạm tội đáp ứng được những điều kiện nhất định khác thì các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định miễn trách nhiệm hình sự cho họ.

Thứ ba, theo giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể, miễn trách nhiệm hình sự do cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền quyết định phải được thể hiện bằng văn bản. Hiện tại, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra (bằng văn bản) khi có căn cứ quy định tại Điều 16, Điều 29 và khoản 2 Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án (bằng văn bản) khi có một trong các căn cứ quy định tại Điều 16, Điều 29 và khoản 2 Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hoặc rút quyết định truy tố và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án theo Điều 285 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án khi có căn cứ quy định tại Điều 16, Điều 29 và khoản 2 Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ tư, trong luật hình sự Việt Nam, miễn trách nhiệm hình và trách nhiệm hình sự có quan hệ chặt chẽ và gắn liền với nhau. Cơ sở của miễn trách nhiệm hình sự cũng xuất phát từ cơ sở của trách nhiệm hình sự. Qua đó, có thể hiểu một cách chung nhất thì trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải chịu cho những hành vi phạm tội do mình gây ra, và được thể hiện bằng việc người đó bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định. Còn miễn trách nhiệm hình sự có nghĩa là không buộc người phạm tội phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội do mình gây ra, mà lẽ ra nếu không có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện do luật định để được miễn trách nhiệm hình sự, thì người đó vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự.

Trong đó, cơ sở chung của miễn trách nhiệm hình sự và trách nhiệm hình sự đó là “việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm”. Cả hai trường hợp áp dụng này, chủ thể là người phạm tội, thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi theo luật định mà luật hình sự quy định là tội phạm. Cho nên, người phạm tội là người phải chịu trách nhiệm hình sự, còn người được miễn trách nhiệm hình sự (cũng là người phạm tội) nhưng trường hợp phạm tội của họ lại có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện theo quy định của pháp luật hình sự để được miễn trách nhiệm hình sự. Điều đó có nghĩa, có trường hợp xét thấy không cần phải áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội mà vẫn có thể đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội và phù hợp với nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự, thì theo quy định của pháp luật, các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền cho họ được miễn trách nhiệm hình sự.

Thứ năm, người phạm tội mà được miễn trách nhiệm hình sự thì đương nhiên không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi khác của việc phạm tội do mình thực hiện (như: không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không phải chịu hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế về hình sự khác, không bị coi là có án tích và không bị coi là có tội). Nhưng trong thực tiễn xét xử cho thấy, người được miễn trách nhiệm hình sự vẫn có thể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế phi hình sự được quy định trong các ngành luật tương ứng khác như: Theo quy định của pháp luật dân sự thì buộc phải phục hồi lại tình trạng ban đầu, buộc bồi thường thiệt hại…; theo quy định của pháp luật hành chính thì có thể phạt tiền, cảnh cáo hoặc buộc thôi việc; chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động hay các biện pháp kỷ luật khác… Để minh chứng điều này có thể dẫn ra văn bản hướng dẫn thống nhất có tính chất chỉ đạo của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự: “Khi đã miễn trách nhiệm hình sự thì Tòa án không được quyết định bất kỳ loại hình phạt nào nhưng vẫn có thể quyết định việc bồi thường cho người bị hại và giải quyết tang vật”.

Thứ sáu, miễn trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây ra các thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự. Nội dung này không chỉ thể hiện sự khoan dung hay tính nhân đạo sâu sắc của chính sách hình sự nước ta, mà còn làm giảm “áp lực”, cường độ áp dụng trách nhiệm hình sự và hình phạt khi có căn cứ pháp lý và những điều kiện cho phép miễn trách nhiệm hình sự.

1.3. Ý nghĩa của miễn trách nhiệm hình sự

Việc nghiên cứu chế định miễn trách nhiệm hình sự hiện nay được xem là vấn đề quan trọng và cấp thiết, ngoài việc góp phần trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, thì chế định này còn thể hiện sâu sắc chính sách khoan hồng, tính nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với những người phạm tội. Qua đó nhằm khuyến khích, động viên người phạm tội lập công chuộc tội, thể hiện được sự giáo dục, cải tạo theo hướng tốt hơn và nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội. Vấn đề này có ý nghĩa quan trọng thể hiện trên các bình diện sau:

– Dưới góc độ chính trị-xã hội, việc quy định những trường hợp miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự là cơ sở cho các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền xác định được chính xác và đúng đắn trường hợp người phạm tội nào hay hành vi phạm tội nào là không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, hoặc trường hợp cụ thể nào không cần thiết phải áp dụng trách nhiệm hình sự mà vẫn đảm bảo được yêu cầu trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, hạn chế tới mức thấp nhất sự lạm dụng và tùy tiện khi áp dụng, qua đó tôn trọng và bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc công bằng xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bên cạnh đó, thực tiễn việc mở rộng các quy định áp dụng miễn trách nhiệm hình sự trong cũng chính là một trong những hình thức xã hội hóa giáo dục. Trong đó, tất cả quần chúng nhân dân, cơ quan tổ chức và gia đình người phạm tội cùng tham gia vào việc cải tạo, giáo dục và giúp đỡ họ trở thành người có ích cho xã hội. Ghi nhận một số trường hợp trong thực tế, một số vụ án xét thấy không cần phải áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội hay hành vi do họ gây ra nhưng vẫn đáp ứng được các yêu cầu về công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, khả năng giáo dục, nhanh chóng cải tạo tốt để hòa nhập với cộng đồng, bên cạnh đó đáp ứng được những điều kiện nhất định thì các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định cho họ được miễn trách nhiệm hình sự. Cho nên, “ngoài ý nghĩa nhân đạo và nguyên tắc mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý nghiêm minh, kịp thời, thì việc càng có nhiều căn cứ, điều kiện pháp lý cho việc miễn trách nhiệm hình sự càng làm tăng thêm các kênh để qua đó nhân dân có thể tham gia vào việc giáo dục người phạm tội” [45, tr.54].

– Dưới góc độ pháp lý, người được miễn trách nhiệm hình sự có nghĩa là vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng có các căn cứ và điều kiện để miễn trách nhiệm hình sự. Trong thực tế xã hội, người đó vẫn phải chịu sự lên án của Nhà nước vì đã thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm. Ta có thể hiểu, ngoài những trường hợp miễn trách nhiệm hình sự có tính chất tùy nghi (lựa chọn) hay có tính chất bắt buộc ra thì biện pháp này chỉ áp dụng (hoặc có thể được áp dụng) đối với người nào mà trong hành vi vi phạm pháp luật của cấu thành tội phạm cụ thể, nhưng đối với họ lại có những căn cứ pháp lý hay những điều kiện nhất định để được miễn trách nhiệm hình sự trong từng trường hợp tương ứng mà pháp luật hình sự hiện hành quy định.

Do đó, dưới góc độ pháp lý này, người được miễn trách nhiệm hình sự đương nhiên không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội do mình thực hiện như: không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không bị kết tội, không phải chịu hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế về hình sự khác, không bị coi là có án tích và không bị coi là có tội. Tuy nhiên, người phạm tội vẫn có thể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế không phải hình sự thuộc các ngành luật tương ứng khác trong hệ thống pháp luật của Nhà nước (như: pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật hành chính, pháp luật lao động…). Vì vậy, bắt buộc phải áp dụng đúng trong những trường hợp miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội chính là sự đảm bảo nguyên tắc công bằng của pháp luật hình sự Việt Nam trong đời sống xã hội giữa các công dân nói chung, và giữa những người phạm tội nói riêng.

– Dưới góc độ nhân đạo và bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Trong đó phản ánh rõ nét nhất nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng đó là chế định miễn trách nhiệm hình sự. Đó cũng là một trong những biện pháp hữu hiệu để thực hiện chính sách phân hóa và thể hiện phương châm trong đường lối xử lý của Nhà nước, trong đó “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”, “trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục, cải tạo“. Tiếp đến, Chế định miễn trách nhiệm hình sự và trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam luôn gắn liền và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cho nên, về điều này đúng như TS Lê Thị Sơn đã viết: “Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với người phạm tội thì miễn trách nhiệm hình sự, miễn hậu quả pháp lý của việc phạm tội cũng chỉ có thể đặt ra đối với người phạm tội. Không thể áp dụng miễn trách nhiệm hình sự đối với người không có hành vi thỏa mãn dấu hiệu pháp lý của một cấu thành tội phạm được quy định trong luật hình sự” [37, tr.19].

Do đó, dưới góc độ này, nhà làm luật đã quy định chặt chẽ cơ sở của trách nhiệm hình sự tại Điều 2 Bộ luật Hình sự năm 1999 đó là “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự“. Khi đã thỏa mãn cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự thì một người đó mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, bên cạnh việc phân loại tội phạm thì các nhà làm luật nước ta cũng đồng thời tiến hành phân hóa trong pháp luật hình sự Việt Nam về các trường hợp phạm tội hay các đối tượng phạm tội khác nhau để có đường lối xử lý phù hợp, chính xác và công bằng. Nếu trường hợp một người phạm tội mà có đầy đủ các căn cứ pháp lý và những điều kiện nhất định, thì người đó có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Trường hợp người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, điều đó có nghĩa họ được áp dụng bởi chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước để mở rộng cơ hội sửa chữa những sai lầm, khắc phục những hậu quả gây ra, trở thành người lương thiện và có ích cho xã hội.

– Dưới góc độ kỹ thuật lập pháp, trong Bộ luật Hình các trường hợp được áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự được các nhà làm luật nước ta quy định một cách đầy đủ, chặt chẽ, có hệ thống và phù hợp với thực tiễn thì đó cũng là một trong những tiền đề, cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng và hoàn thiện một số chế định khác có liên quan như: trách nhiệm hình sự, hình phạt, miễn hình phạt… Qua đó, thể hiện được sự tiến bộ về kỹ thuật lập pháp hình sự trong việc xây dựng từng chế định của luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay, giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Qua đó củng cố và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm.

1.4. Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt

Hai khái niệm “miễn trách nhiệm hình sự” và “miễn hình phạt” trong pháp luật hình sự Việt nam có liên quan chặt chẽ mật thiết với nhau. Do đó, việc phân biệt sự giống và khác nhau giữa hai khái niệm có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn.

1.4.1. Những điểm giống nhau giữa miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt

Thứ nhất, hai chế định đều phản ánh sự khoan hồng, nhân đạo trong chính sách hình sự nói chung và của luật hình sự Việt Nam nói riêng.

Thứ hai, miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người nào bị coi là có lỗi trong chính việc phạm tội đó. Nói một cách khác, hành vi nguy hiểm cho xã hội do người đó thực hiện bị pháp luật hình sự cấm (Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm).

Thứ ba, miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt chỉ có thể được áp dụng trong từng trường hợp cụ thể khi có đầy đủ những căn cứ pháp lý và điều kiện cụ thể do pháp luật hình sự quy định.

Thứ tư, Người được miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt đều không phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội hoặc của việc quyết định hình phạt và án tích.

Thứ năm, cũng như việc miễn trách nhiệm hình sự, bằng các quy phạm có tính chất nhân đạo của chế định miễn hình phạt, nhà làm luật không phải dùng các biện pháp mang tính trấn áp (trừng trị) về mặt hình sự và do đó, sẽ loại trừ được việc áp dụng hình phạt trong những trường hợp mặc dù hình phạt có được Tòa án quyết định đi chăng nữa nhưng trên thực tế là bất hợp lý vì các mục đích của nó không thể đạt được, đồng thời Nhà nước không cách ly khỏi xã hội những người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và như vậy, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho họ sớm thích nghi với các yêu cầu của trật tự pháp luật để trở lại cuộc sống bình thường trong cộng đồng xã hội, phấn đấu làm người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.

1.4.2. Những điểm khác nhau giữa miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt

Thứ nhất, về khái niệm. Miễn trách nhiệm hình sự là việc ko bắt buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mà họ đã thực hiện, còn miễn hình phạt là ko buộc người bị kết án phải chịu hình phạt về tội họ đã thực hiện. Miễn trách nhiệm hình sự thì đương nhiên là không áp dụng hình phạt với người phạm tội, tức là không áp dụng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước đối với họ, nhưng miễn hình phạt thì không có nghĩa là không có trách nhiệm hình sự. Hay nói cách khác, người được miễn hình phạt khi họ chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự, còn người được miễn trách nhiệm hình sự thì đương nhiên được miễn hình phạt.

Thứ hai, về điều kiện.

– Miễn trách nhiệm hình sự:

Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây: a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; b) Khi có quyết định đại xá.

Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau: a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa; c) Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

Ngoài ra “Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.”

– Miễn hình phạt:

Người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự.

Theo quy định khoản 1, 2 Điều 54 “1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này; 2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.”

Thứ ba, về thẩm quyền áp dụng. Nếu hình phạt và việc áp dụng miễn hình phạt đối với người bị kết án chỉ có thể và phải do một cơ quan duy nhất áp dụng đó là Tòa án thì đối với miễn trách nhiệm hình sự, các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền áp dụng bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án.

Thứ tư, về hậu quả pháp lý. Miễn trách nhiệm hình sự được áp dụng thì đương nhiên không có án tích và có tính khoan hồng cao hơn so với miễn hình phạt. Còn miễn hình phạt thì có án tích nhưng thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích.

Thứ năm, về đối tượng áp dụng. Đối tượng của miễn trách nhiệm hình sự có thể là người đã bị kết án hoặc chưa bị kết án, còn đối với miễn hình phạt thì là người đã bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật.

Thứ sáu, về các trường hợp được áp dụng. Các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự bao gồm tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Điều 16; người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, gây hại ko lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ…Điều 91; người đã nhận làm gián điệp, nhưng ko thực hiện nhiệm vụ đc giao và tự thú, thành khẩn khai báo Điều 110; người không tố giác có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm khoản 3 Điều 390. Còn các trường hợp được miễn hình phạt chỉ đc quy định ở 2 điều luật đó là Điều 59 và khoản 3 Điều 390 tội không tố giác tội phạm.

Những sửa đổi, bổ sung về chế định miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 2015 đã khắc phục được những bất cập, hạn chế của Bộ luật Hình sự năm 1999, qua đó góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả trong đấu trong và phòng ngừa tội phạm ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Kết luận Chương 1

Miễn trách nhiệm hình sự là một trong những chế định quan trọng pháp luật hình sự Việt Nam, thể hiện rõ nét nhất chính sách nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và Pháp luật hình sự của Việt Nam nói riêng đối với người phạm tội và hành vi do họ thực hiện, đồng thời nhằm động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo tốt để hòa nhập với cộng đồng và giúp đỡ họ thành người có ích cho xã hội.

Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam thể hiện phương châm đúng đắn của đường lối xử lý về hình sự, đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa các biện pháp cưỡng chế hình sự cũng như phi hình sự khác của Nhà nước nhằm cải tạo, giáo dục người phạm tội, qua đó sẽ hạn chế việc áp dụng các biện pháp mang tính trấn áp (trừng trị) về mặt hình sự. Việc áp dụng các chế định này chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh…

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 9\HINH SU\DO THE THANH TIEN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *