Trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, tình hình kinh tế – xã hội cả nước đã có nhiều chuyển biến tích cực, tuy nhiên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và công tác tổ chức, thực thi pháp luật ở nước ta vẫn còn một số điểm hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động điều tiết xã hội của pháp luật. Bên cạnh đó, mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường cũng gây nên những ảnh hưởng không nhỏ đến đạo đức, tiến bộ xã hội, đặc biệt là đối với nhóm đối tượng thanh thiếu niên, những người vẫn còn đang trong quá trình phát triển, hoàn thiện về thể chất, tâm sinh lý cũng như nhân cách sống. Một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên trở nên hư hỏng, không lo tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao năng lực bản thân mà chạy theo lối sống thực dụng, ích kỷ, có lối hành xử côn đồ, hung hãn. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy chủ thể thực hiện tội phạm hiện nay không chỉ có xu hướng trẻ hóa về độ tuổi mà còn tinh vi, xảo quyệt trong hành vi phạm tội.

Luật hình sự với tư cách là một trong những ngành luật ra đời sớm nhất, mang nhiệm vụ rất quan trọng trong hệ thống pháp luật đó là bảo vệ chế độ xã hội, trật tự xã hội. Chính sách pháp luật hình sự của nước ta trong việc truy cứu TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chủ yếu là nhằm giáo dục, giúp đỡ họ nhận thức được hành vi sai trái cũng như rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, góp sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Vì vậy, Bộ luật hình sự nước ta đã dành một chương riêng để quy định về những vấn đề đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Điều này đã thể hiện sự quan tâm, tư tưởng nhân đạo, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng và thanh thiếu niên nói chung phù hợp với xu hướng quốc tế về yêu cầu bảo vệ ngày một tốt hơn quyền và lợi ích của người dưới 18 tuổi. Trong bối cảnh BLHS 2015 vừa ra đời đánh dấu một bước tiến quan trọng trong tư duy lập pháp hình sự khi đề cao hơn nữa hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội mà đặc biệt là người dưới 18 tuổi phạm tội cũng như tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013. Cần thiết có một nghiên cứu khoa học mang tính tổng hợp đối với các quy định về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng như sự đánh giá về mặt thực tiễn thi hành các quy định của BLHS 2015 để kịp thời có phương hướng, giải pháp tiếp tục hoàn thiện quy định về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Vì những lý do đó, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” để làm luận văn thạc sĩ luật học.

  1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
  2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
    1. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định của Luật Hình sự Việt Nam, bên cạnh đó, trên cơ sở phân tích, đánh giá số liệu thống kê từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam từ năm 2014 đến năm 2018, chỉ ra những hạn chế, bất cập trong thực tiễn từ đó đề xuất giải pháp tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội.

    1. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài phải giải quyết các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề về mặt lý luận liên quan đến TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội thông qua việc nghiên cứu một cách có hệ thống về trách nhiệm pháp lý, TNHS của người phạm tội nói chung và TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng.

Thứ hai, nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia về TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội. Trong đó làm rõ các nguyên tắc xử lý, các quy định về hình thức cũng như nội dung của TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như hình phạt, biện pháp tư pháp, án tích,…

Thứ ba, nghiên cứu thực tiễn áp dụng TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thông qua số liệu được thu thập từ thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Từ đó, chỉ ra những hạn chế, bất cập trong việc áp dụng TNHS đối với người dưới 18 tuổi.

Thứ tư, đề xuất một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và một số giải pháp góp phần bảo đảm áp dụng đúng TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

  1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
    1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn của TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

    1. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn có một số giới hạn về phạm vi nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, tác giả nghiên cứu các quy định về TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội trong Luật hình sự Việt Nam trong sự so sánh với các quy định trong Bộ luật hình sự các nước Liên Bang Nga, Trung Quốc, Nhật Bản và các văn bản pháp lý của Liên Hợp Quốc.

Thứ hai, tác giả tập trung nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam thông qua số liệu thống kê từ thực tiễn xét xử trong vòng 5 năm từ năm 2014 đến năm 2018.

  1. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
    1. Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề thanh niên, giáo dục thanh niên.

    1. Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê,…nhằm làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu.

  1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Về mặt lý luận, luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên đề cập đến việc làm sáng tỏ một cách toàn diện và có hệ thống về vấn đề TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong bối cảnh BLHS vừa được ban hành năm 2015 và sửa đổi, bổ sung năm 2017. Qua đó, là cơ sở cho việc nhận thức một cách đúng đắn về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Bên cạnh việc phân tích các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, luận văn còn nghiên cứu quy định của pháp luật quốc tế cũng như pháp luật một số nước qua đó có sự đánh giá một cách toàn diện về TNHS đối với người dưới 18 tuổi.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Về mặt thực tiễn, trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, quy định của pháp luật quốc tế, quy định của một số nước, và thực tiễn áp dụng trên bàn tỉnh Quảng Nam, luận văn chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế và đề xuất các giải pháp liên quan đến công tác lập pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về TNHS đối với người dưới 18 tuổi và một số giải pháp nhằm bảo đảm áp dụng đúng TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Qua đó, góp phần bảo vệ quyền lợi của người dưới 18 tuổi phạm tội cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trên thực tế. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng để tham khảo trong quá trình tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng như làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, học tập tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật.

  1. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Danh mục các chữ viết tắt, Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội trong Luật hình sự Việt Nam.

Chương 2: TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định của BLHS Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua.

Chương 3: Hoàn thiện các quy định của BLHS về TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội và giải pháp đảm bảo áp dụng đúng TNHS.

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TRONG LUẬT

HÌNH SỰ VIỆT NAM

Trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Khái quát chung về trách nhiệm hình sự của người phạm tội

Trách nhiệm pháp lý

Trách nhiệm pháp lý là một trong những vấn đề quan trọng của lý luận về pháp luật. Trong các sách báo và tài liệu khoa học pháp lý ở Việt Nam, trách nhiệm pháp lý thường được gắn với vi phạm pháp luật, gắn liền với yếu tố lỗi và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân có thẩm quyền áp dụng. Tác giả cho rằng, cách hiểu này vẫn chưa hoàn toàn bao quát hết thực tiễn phong phú của đời sống pháp lý. Vi phạm pháp luật chỉ là một trong các “nguồn” phát sinh của trách nhiệm pháp lý. Trên thực tế, trách nhiệm pháp lý không chỉ đến từ hành vi vi phạm pháp luật mà còn có nguồn gốc từ các quan hệ pháp luật khác như giao dịch dân sự, thương mại, quan hệ hôn nhân – gia đình,…Xã hội càng phát triển thì các mối quan hệ pháp luật càng phát triển, và do đó nguồn của trách nhiệm pháp lý cũng ngày càng mở rộng. Tác giả đồng ý với khái niệm trách nhiệm pháp lý mà TS Nguyễn Văn Quân đưa ra, theo đó “trách nhiệm pháp lý là một liên hệ, ràng buộc pháp lý giữa các chủ thể pháp luật. Theo đó, một bên có nghĩa vụ thực hiện một hành vi nào đó, bảo đảm cho một việc gì đó, thực hiện cam kết của mình, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của bên liên quan” [27, tr.5].

Khái niệm và đặc điểm cơ bản của trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội

Trong khoa học pháp lý, TNHS của người phạm tội là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, đặc biệt là trong những năm gần đây tại Việt Nam. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có nhận thức thống nhất về TNHS trong khoa học luật hình sự. Theo quan điểm của GS.TSKH Đào Trí Úc thì TNHS của người phạm tội là “hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Nhà nước” [39, tr.41]. GS.TSKH Lê Cảm cho rằng TNHS của người phạm tội là “hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của nhà nước do luật hình sự quy định” [6, tr. 122]. GS.TS Đỗ Ngọc Quang lại cho rằng TNHS của người phạm tội là “một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện” [26, tr.41]. GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa và GS.TS Lê Thị Sơn thì cho rằng TNHS của người phạm tội là “trách nhiệm của người phạm tội phải chịu những hậu quả bất lợi về hành vi phạm tội của mình” và là “một dạng trách nhiệm pháp lý bao gồm: nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích” [12, tr. 281-282]. Quan điểm của Đại học Luật Hà Nội cho rằng TNHS của người phạm tội là “trách nhiệm của người phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình” [38, tr. 245]. Quan điểm khác cho rằng TNHS của người phạm tội là “nghĩa vụ của một người phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi trước Nhà nước về hành vi phạm tội của mình thể hiện ở việc người phạm tội bị tước đoạt hoặc bị hạn chế quyền và lợi ích nhất định theo quy định của pháp luật” [13, tr. 316].

Nhìn chung, các quan điểm nêu trên đều thống nhất cho rằng TNHS của người phạm tội là hậu quả pháp lý phải chịu của việc thực hiện tội phạm và là một dạng trách nhiệm pháp lý. Liên quan đến nội dung cụ thể của TNHS của người phạm tội cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất. Trong số các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước có tính chất pháp lý hình sự áp dụng đối với người phạm tội thì hình phạt là biện pháp cưỡng chế chủ yếu. Tuy nhiên, TNHS là khái niệm rộng hơn khái niệm hình phạt. TNHS là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, còn hình phạt chỉ là một trong những biện pháp cưỡng chế thể hiện nội dung của TNHS. Chính vì thế, quan điểm coi TNHS của người phạm tội chỉ là trách nhiệm của người phải chịu biện pháp cưỡng chế của Nhà nước là hình phạt là không phù hợp. Quan điểm coi TNHS của người phạm tội là nghĩa vụ của một người phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi trước Nhà nước về hành vi phạm tội của mình theo tác giả cũng không phù hợp. Về bản chất thì nghĩa vụ pháp lý hình sự và trách nhiệm pháp lý hình sự là khác nhau. Khi đề cập đến nghĩa vụ pháp lý của một người là đề cập đến khả năng người đó có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý, còn khi nói đến trách nhiệm pháp lý hình sự của một người chính là nói đến việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý trái với ý chí của người có nghĩa vụ. TNHS của người phạm tội, với tính cách là một dạng của trách nhiệm pháp lý, không phải là nghĩa vụ mà một người có thể phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi do việc người đó thực hiện tội phạm mà chính là việc phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của người phạm tội trước Nhà nước do việc người đó đã thực hiện tội phạm. Bên cạnh đó, theo quan điểm của tác giả thì, nếu không có bản án kết tội có hiệu lực của Tòa án thì không thể nói đến TNHS đối với một người. Tại khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 và Điều 13 BLTTHS 2015 đã khẳng định một nguyên tắc quan trọng nhằm bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp hình sự – nguyên tắc suy đoán vô tội. Theo đó, “người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Bản án kết tội có hiệu lực do Tòa án tuyên chính là cơ sở pháp lý xác nhận người bị buộc tội chính thức bị coi là có tội. Vì vậy, có thể nói, TNHS được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án và TNHS mà một người phải chịu trước Nhà nước chỉ có thể được xác nhận một cách chính thức khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, tác giả cho rằng, để xác định khái niệm TNHS của người phạm tội trước hết nhận biết các đặc điểm vốn có của nó. Qua nghiên cứu các quan điểm nêu trên về khái niệm TNHS của người phạm tội, đồng thời căn cứ vào các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam liên quan đến việc giải quyết vấn đề TNHS của người phạm tội cũng như thực tiễn áp dụng các quy phạm ấy. Chúng ta nhận thấy TNHS của người phạm tội có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, TNHS của người phạm tội là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm.

Thứ hai, TNHS là một dạng trách nhiệm nghiêm khắc nhất trong các trách nhiệm pháp lý.

Thứ ba, TNHS của người phạm tội là trách nhiệm cá nhân của người phạm tội trước Nhà nước.

Thứ tư, TNHS của người phạm tội được xác định bằng trình tự đặc biệt được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự.

Thứ năm, TNHS được phản ánh trong bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Tòa án.

Như vậy, từ sự tìm hiểu các quan điểm khác nhau về TNHS của người phạm tội kết hợp với việc nhận thức một số vấn đề mang tính lý luận có liên quan đến TNHS của người phạm tội, theo tác giả, khái niệm TNHS của người phạm tội có thể được định nghĩa như sau: “Trách nhiệm hình sự của người phạm tội là một dạng của trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm mà người phạm tội phải chịu những tác động pháp lý bất lợi được quy định trong luật hình sự trước Nhà nước gồm bản án kết tội của Tòa án, hình phạt mà Tòa án quyết định và án tích.”

Cơ sở của trách nhiệm hình sự của người phạm tội

Việc tìm hiểu về cơ sở của TNHS đòi hỏi chúng ta phải phân tích dưới góc độ cơ sở triết học và cơ sở pháp lý.

  • Cơ sở triết học

Nghiên cứu về cơ sở triết học của TNHS là trả lời câu hỏi: dựa trên cơ sở nào mà Nhà nước có quyền buộc một người phải chịu TNHS về hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện? Trả lời cho câu hỏi này đòi hỏi phải giải quyết vấn đề triết học về tự do ý chí, về mối quan hệ giữa tính tất yếu và tính tự do trong hành vi của con người.

TNHS của người phạm tội chỉ đặt ra đối với hành vi của con người và nhằm điều chỉnh hành vi của con người. Hành vi đó có thể biểu hiện bằng hành động hoặc không hành động. Những ý tưởng, ý nghĩ, đặc tính cá nhân của con người chưa được biểu hiện ra dưới dạng hành vi cụ thể thì không phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng.

Mối quan hệ giữa tính tất yếu và tính tự do trong hành vi của con người thể hiện ở sự tương tác giữa các điều kiện khách quan bên ngoài với con người. Tính tất yếu trong hành vi của con người thể hiện ở chỗ, hành vi của con người được hình thành và thực hiện một cách có quy luật, là kết quả của sự tác động của các điều kiện tự nhiên, xã hội đến con người. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là con người lệ thuộc tuyệt đối vào hoàn cảnh khách quan. Hành vi phạm tội là kết quả của sự suy xét của lý trí và sự quyết định của ý chí. Vì vậy, trong cùng một hoàn cảnh, cùng chịu sự tác động như nhau của điều kiện bên ngoài, nhưng mọi người lại có cách xử sự khác nhau. Tính tự do trong hành vi thể hiện ở chỗ tuy bị hoàn cảnh khách quan tác động đến nhưng con người không mất đi khả năng tự do lựa chọn hành vi của mình. Cơ sở quy kết TNHS đối với người phạm tội chính là ở chỗ họ đã thể hiện tự do ý chí trong việc lựa chọn xử sự trái pháp luật trong khi có thể lựa chọn xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội.

  • Cơ sở pháp lý

Cơ sở pháp lý của TNHS của người phạm tội là căn cứ có tính chất bắt buộc chung do luật hình sự quy định và phải dựa vào đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có thể đặt vấn đề TNHS của người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được luật hình sự quy định là tội phạm. Hiện nay, trong khoa học luật hình sự Việt Nam chưa có quan điểm thống nhất về cơ sở pháp lý của TNHS. Có quan điểm cho rằng “cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý của TNHS, là điều kiện cần và đủ của TNHS” [38, tr.246]. Quan điểm khác cho rằng cơ sở pháp lý của TNHS là “việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm” [5, tr.133]. Tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng cơ sở pháp lý của TNHS chính là cấu thành tội phạm.

Ở nước ta, cơ sở pháp lý của TNHS của người phạm tội được ghi nhận tại khoản 1 Điều 2 BLHS 2015: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Quy định này thể hiện tinh thần của nguyên tắc pháp chế XHCN, theo đó, những căn cứ là cơ sở của TNHS của người phạm tội, của việc áp dụng hình phạt hoặc miễn hình phạt cũng như các hình thức TNHS khác với tính cách là hậu quả pháp lý của hành vi phạm tội đều phải do pháp luật hình sự quy định. Nói cách khác, quy định của pháp luật hình sự về một hành vi bị coi là tội phạm là cơ sở pháp lý của TNHS của người phạm tội.

Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Trong Bộ luật hình sự hiện hành, vấn đề TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội được nhà làm luật quy định trong một chương riêng thuộc Phần chung – Chương XII. Trong đó quy định các nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội; các biện pháp phi hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (bao gồm các biện pháp giám sát, giáo dục và biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng); vấn đề hình phạt, quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và các vấn đề khác có liên quan. Thuật ngữ người dưới 18 tuổi phạm tội được hiểu là người đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi tại thời điểm thực hiện tội phạm. TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội là TNHS người đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi tại thời điểm thực hiện tội phạm, hành vi của họ xâm hại đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Đây là đối tượng mang những đặc điểm về thể chất và tâm sinh lý đặc biệt, đòi hỏi phải áp dụng TNHS với họ thông qua những trình tự, thủ tục tố tụng nhất định. Bên cạnh những đặc điểm nói chung của TNHS của người phạm tội thì TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội còn mang những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, đây là dạng TNHS đặc biệt áp dụng đối với người đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi tại thời điểm thực hiện tội phạm, được quy định trong một chương riêng, thể hiện rõ nét tính nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng cũng như sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước ta đối với nhóm chủ thể này.

Thứ hai, phạm vi chịu TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội hẹp hơn so với người từ đủ 18 tuổi phạm tội. Ngoài các căn cứ miễn TNHS đối với người phạm tội thì người dưới 18 tuổi phạm tội còn được miễn TNHS đối với một số tội phạm nếu đáp ứng các điều kiện luật định. Bên cạnh đó, về loại hình phạt có thể áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng hẹp hơn so với người phạm tội từ đủ 18 tuổi. Các hình phạt tù chung thân, tử hình, các hình phạt bổ sung không thể được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Các hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn tuy được phép áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhưng cũng tùy vào loại tội phạm mà họ thực hiện.

Thứ ba, TNHS áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội về mức độ nghiêm khắc có giảm nhẹ hơn so với người đủ 18 tuổi phạm tội. Biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng và các biện pháp giám sát, giáo dục đều là những biện pháp ít hà khắc hơn và được ưu tiên áp dụng thay vì áp dụng hình phạt. Các hình phạt nhằm cách ly hoàn toàn người phạm tội ra khỏi xã hội như tù chung thân và tử hình đều không áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Khung hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng thấp hơn so với người từ đủ 18 tuổi phạm tội.

Thứ tư, TNHS áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội mang ý nghĩa giáo dục, cải tạo là chính. Việc thu hẹp phạm vi chịu TNHS cũng như mức độ nghiêm khắc trong việc áp dụng TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhằm giảm tính trừng trị và tăng tính giáo dục, cải tạo qua đó giúp họ trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội.

Dựa trên nền tảng khái niệm TNHS của người phạm tội và những phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như sau: “Trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi phạm tội là một dạng của trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi tại thời điểm thực hiện tội phạm phải chịu những tác động pháp lý bất lợi được quy định trong luật hình sự trước Nhà nước gồm bản án kết tội của Tòa án, hình phạt mà Tòa án quyết định và án tích.”

Cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Nghiên cứu các đặc điểm tâm sinh lý của người dưới 18 tuổi phạm tội trong mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố độ tuổi, môi trường, gia định, nhà trường và xã hội, có thể rút ra một số đặc thù sau:

Thứ nhất, từ những hạn chế về mặt thể chất cũng như tâm sinh lý của lứa tuổi này, có thể thấy năng lực TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội hạn chế hơn so với người từ đủ 18 tuổi phạm tội. Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như tâm sinh lý. Ở giai đoạn này, sự mất cân bằng bên trong cơ thể diễn ra do các bộ phận phát triển không đồng đều. Đồng thời, tuyến nội tiết hoạt động mạnh gây ra sự hoạt động thiếu ổn định của hệ thần kinh, dễ bị xúc động mạnh, có những phản ứng nóng nảy vô cớ cũng như hành vi bất thường. Đôi khi, chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ nhặt mà họ có những hành vi thái quá, thiếu kiềm chế dẫn đến hậu quả đáng tiếc. Bên cạnh đó, cảm nhận về “tính người lớn” của bản thân cũng chính là nét tâm lý đặc trưng của nhóm đối tượng này. Yếu tố tâm lý này tạo nên khoảng cách trong hoạt động giao tiếp giữa họ với cha mẹ, khiến họ có nhu cầu giao tiếp cao hơn đối với bạn đồng trang lứa. Những phát triển mạnh mẽ về thể chất và chức năng sinh lý càng khiến họ có ấn tượng sâu sắc rằng bản thân đã trưởng thành và đòi hỏi nhu cầu độc lập, muốn tự hành động, tự đưa ra quyết định theo ý kiến riêng. Tuy nhiên, khi nhu cầu độc lập phát triển theo hướng thái quá, dễ dẫn đến các hành vi như ngang bướng, bảo thủ, dễ tự ái, khoe khoang, phô trương, hành động mang tính phiêu lưu, mạo hiểm. Không giống với sự phát triển như “vũ bão” về mặt thể chất cũng như tâm lý của nhóm đối tượng này, trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống của họ vẫn còn quá ít ỏi đặc biệt là nhận thức về pháp luật. Dẫn đến dễ bị kích động, dễ bị lôi kéo vào các hoạt động phạm pháp. Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội nhưng bản thân họ lại không biết mình phạm tội, không nhận thức được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội mà hành vi của mình mang lại. Một số còn cho rằng hành vi của mình là hợp pháp, là tự bảo vệ quyền lợi của bản thân, hay góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Nhìn chung, khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của người dưới 18 tuổi phạm tội hạn chế hơn so với người đã thành niên, vì thế, không thể coi người dưới 18 tuổi phạm tội có năng lực TNHS toàn phần như người từ đủ 18 tuổi phạm tội. Mặt khác, tuy người dưới 18 tuổi dễ bị dụ dỗ, kích động tham gia thực hiện tội phạm nhưng nhìn chung ý thức phạm tội vẫn chưa sâu sắc, sự giáo dục của nhà trường, xã hội cũng như gia đình vẫn có những tác động lớn đến nhận thức và hành vi của họ để giúp họ rời xa con đường phạm tội. Vì lẽ đó, việc cải tạo, giúp đỡ họ trở thành công dân có ích cho xã hội cũng có những ưu thế nhất định so với người từ đủ 18 tuổi phạm tội.

Thứ hai, nguyên nhân và điều kiện thúc đẩy hành vi phạm tội ở người dưới 18 tuổi chủ yếu bắt nguồn từ những thiếu sót, bất cập và cả những sai lầm trong việc nuôi dưỡng, giáo dục cũng như xây dựng và tổ chức các mối quan hệ trong cuộc sống của người lớn. Môi trường xã hội hóa đầu tiên và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với mỗi con người đó là gia đình. Không gì thay thế được sự giáo dục của cha mẹ đối với con cái bởi đó không chỉ là sự truyền đạt những tri thức mà còn là sự truyền đạt những kinh nghiệm sống, ứng xử giao tiếp hằng ngày và đó còn là sự bao bọc con cái trong vòng tay yêu thương của cha mẹ. Bên cạnh đó là nhà trường và xã hội là môi trường cung cấp tri thức, nền tảng đạo đức và sự tham chiếu trong lối sống. Do đó, đặt ra một đòi hỏi hết sức chính đáng là người dưới 18 tuổi phạm tội cần nhận được sự quan tâm và bảo trợ đặc biệt của gia đình, nhà trường, xã hội và pháp luật. Sự bảo trợ này không chỉ xuất hiện khi người dưới 18 tuổi là đối tượng bị tội phạm xâm hại, mà phải tồn tại xuyên suốt và ngay cả khi họ là chủ thể tham gia thực hiện tội phạm. Vì lẽ đó mà pháp luật không đặt lên những người dưới 18 tuổi phạm tội những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc ngang bằng với các biện pháp TNHS áp dụng với người từ đủ 18 tuổi phạm tội.

Thứ ba, người dưới 18 tuổi là nhóm người đang ở ngưỡng cửa cuộc đời, những sai lầm trong nhận thức của họ vẫn chưa hằn sâu, còn có thể uốn nắn nếu sử dụng đúng cách, hơn nữa khả năng tiếp nhận sự giáo dục, cải tạo ở họ cũng rất lớn. Quan trọng hơn là họ vẫn còn một tương lai ở phía trước, vẫn có thể làm lại từ đầu. Điều này cho phép các cơ quan bảo vệ pháp luật áp dụng những biện pháp, cách thức khác thay vì buộc họ phải gánh chịu những chế tài mang tính nghiêm khắc của pháp luật hình sự. Đây cũng là cơ sở để áp dụng hệ thống các biện pháp riêng ít nghiêm khắc hơn, mang tính giáo dục là chính đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Từ những cơ sở nêu trên, nhà làm luật đã quy định những vấn đề về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thành một chương riêng trong BLHS bằng những điều luật mang tính khoan hồng đặc biệt.

Trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong pháp luật quốc tế và pháp luật một số nước trên thế giới

Trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong pháp luật quốc tế

Người dưới 18 tuổi phạm tội là một hiện tượng, thực tế tồn tại từ lâu ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Kể từ khi Liên Hợp Quốc được thành lập năm 1945, đến nay, đã có nhiều văn bản pháp lý mang tầm quốc tế về quyền con người ra đời. Hiện nay, việc tăng cường bảo vệ các quyền của trẻ em nói chung, người dưới 18 tuổi nói riêng cũng là một khía cạnh quan trọng trong hoạt động của các cơ quan và chương trình của Liên Hợp Quốc. Theo đó, Liên Hợp Quốc đã ban hành nhiều văn kiện về tư pháp người chưa thành niên như: Công ước về quyền trẻ em được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 1989 và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập; bên cạnh đó là tập hợp các quy tắc, hướng dẫn tuy không có hiệu lực ràng buộc về mặt pháp lý đối với các quốc gia thành viên nhưng vẫn được các quốc gia trên thế giới đồng tình ủng hộ như Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về hoạt động tư pháp đối với người vị thành niên hay còn gọi là Các quy tắc Bắc Kinh, được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 29/11/1985; Các hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên hay còn gọi là Các hướng dẫn Ri-át, được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14/12/1990; Các quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước tự do được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14/12/1990; Các hướng dẫn làm việc với trẻ em trong hệ thống tư pháp hình sự hay còn gọi là Các hướng dẫn Viên, được khuyến nghị bởi Hội đồng Kinh tế – Xã hội Liên Hợp Quốc ngày 21/7/1997.

Các văn kiện kể trên ra đời nhằm một mục tiêu chung đó là hạn chế đến mức tối thiểu việc các cơ quan tư pháp phải xử lý đối với trẻ em, người chưa thành niên cũng như những ảnh hưởng xấu có thể xảy đến với họ trong trường hợp buộc phải áp dụng các chế tài pháp luật. Cụ thể, Công ước về quyền trẻ em định nghĩa trẻ em là “bất kỳ người nào dưới 18 tuổi” và yêu cầu các quốc gia là thành viên phải xem “lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu”. Trên tinh thần đó, tại Điều 37 của Công ước này quy định “những người dưới 18 tuổi nếu gây ra những hành động phạm pháp sẽ không bị áp dụng hình phạt tử hình hoặc tù chung thân mà không có khả năng được phóng thích”; “Việc bắt, giam giữ hoặc bỏ tù trẻ em phải được tiến hành phù hợp với pháp luật và chỉ được coi là biện pháp cuối cùng và áp dụng trong thời hạn thích hợp ngắn nhất”. Tại Điều 40 có quy định “Mọi trẻ em bị tình nghi hay bị cáo buộc là đã vi phạm luật hình sự… được coi là vô tội cho tới khi bị chứng minh rằng đã phạm tội theo pháp luật”; bên cạnh đó còn đòi hỏi các quốc gia thành viên phải xây dựng những đạo luật, thủ tục, các cơ quan và thể chế áp dụng riêng đối với trẻ em bị tình nghi, bị cáo buộc hay bị xác nhận là đã vi phạm luật hình sự như: “Xác định độ tuổi tối thiểu mà dưới độ tuổi đó trẻ em sẽ được coi là không có khả năng vi phạm luật hình sự”; “Bất kỳ khi nào thấy thích hợp và cần thiết cần đề ra các biện pháp xử lý những trẻ em vi phạm pháp luật hình sự mà không phải sử dụng đến thủ tục tư pháp, miễn là các quyền con người và những bảo vệ pháp lý được tôn trọng đầy đủ”. Bên cạnh đó, trong Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về hoạt động tư pháp đối với người vị thành niên còn đề cập những nội dung như tại Quy tắc 8 đòi hỏi phải tôn trọng quyền riêng tư của người chưa thành niên trong tất cả các giai đoạn tố tụng, nhằm tránh những tổn hại gây ra do sự công khai quá mức hay do sự quy chụp; Quy tắc 18 đòi hỏi các quốc gia “cần cho phép cơ quan có thẩm quyền có nhiều biện pháp xử lý khác nhau, nhằm phát huy tính linh hoạt, giúp tránh việc sử dụng hình phạt giam giữ ở mức độ cao nhất có thể”; Quy tắc 28 đòi hỏi việc trả tự do có điều kiện cần được áp dụng sớm và thường xuyên, cụ thể là “Cơ quan thích hợp phải trả tự do có điều kiện ở mức độ nhiều nhất có thể được, và lệnh trả tự do phải được đưa ra trong thời gian sớm nhất có thể được”.

Các nội dung và quy định nêu trên cho thấy rằng, vấn đề áp dụng pháp luật đối với người dưới 18 tuổi nói chung và TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng đã được các quốc gia trên thế giới dành sự quan tâm đặc biệt từ lâu. Các quốc gia trên toàn cầu đã và đang nỗ lực tìm mọi cách bảo đảm hệ thống pháp luật liên quan đến người dưới 18 tuổi phạm tội tuân thủ theo đúng pháp luật quốc tế về quyền con người.

Trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi trong pháp luật một số nước trên thế giới

Mặc dù tồn tại nhiều văn kiện pháp lý mang tầm quốc tế về tư pháp người chưa thành niên nêu trên, tuy nhiên, mỗi quốc gia giải quyết vấn đề TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội bằng những cách thức khác nhau, thái độ khác nhau tùy theo điều kiện kinh tế – xã hội, truyền thống pháp luật và quan điểm của các nhà làm luật. Trên cơ sở đó, tác giả đã nghiên cứu một số nội dung, quy định về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội hay còn gọi là người chưa thành niên trong pháp luật hình sự Liên bang Nga, Trung Quốc, Nhật Bản nhằm làm rõ hơn vấn đề này.

Thứ nhất, về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Nhìn chung, pháp luật hình sự các nước đều đề cao nguyên tắc nhân đạo trong các quy định về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Khoản 2 Điều 57 BLHS Liên bang Nga quy định: “hình phạt tù chung thân không áp dụng đối với người phạm tội tại thời điểm người đó dưới 18 tuổi”. Khoản 2 Điều 59 BLHS Liên Bang Nga quy định: “hình phạt tử hình không áp dụng đối với người phạm tội tại thời điểm người đó dưới 18 tuổi”. Khoản 2 Điều 88 BLHS Liên Bang Nga quy định: “hình phạt tiền chỉ áp dụng đối với người chưa thành niên có thu nhập riêng hoặc tài sản riêng”. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1 Điều 90 BLHS Liên Bang Nga thì người chưa thành niên phạm tội lần đầu ở mức độ nghiêm trọng nhỏ hoặc trung bình có thể được miễn TNHS và áp dụng các biện pháp mang tính giáo dục nếu có căn cứ cho rằng có thể đạt được hiệu quả cải tạo. Tại Điều 49 BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định: “Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa đủ 18 tuổi tại thời điểm thực hiện tội phạm…”. Điều 54 Luật về người chưa thành niên của Nhật Bản lại quy định: “Không có người chưa thành niên nào bị kết án phải làm việc tại một công xưởng để thay thế cho hình phạt tiền”.

Thứ hai, về độ tuổi chịu TNHS. Tại khoản 1 Điều 87 BLHS Liên Bang Nga xác định “người chưa thành niên được hiểu là người đủ 14 đến 18 tuổi tại thời điểm thực hiện tội phạm”. Trong khi đó, tại khoản 1 Điều 2 Luật về người chưa thành niên của Nhật Bản lại quy định: “Trong đạo luật này, người chưa thành niên là người dưới 20 tuổi, người đã thành niên là người từ 20 tuổi trở lên”. Điều 3 của Luật này quy định về thẩm quyền của Tòa án gia đình gồm: “Người chưa thành niên bị cho là đã thực hiện hành vi phạm tội; Người chưa thành niên dưới 14 tuổi bị cho là đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự; Người chưa thành niên có nguy cơ phạm tội hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự khi xem xét tính cách của họ và môi trường xung quanh vì họ có các hành vi sau: Họ có xu hướng không chịu sự kiểm soát của người giám hộ; Thường không về nhà mà không có lý do chính đáng; Thường có quan hệ với những người có xu hướng phạm tội hoặc những người có vấn đề về đạo đức hoặc thường lui tới những nơi có ảnh hưởng đến danh dự của họ; Có xu hướng thực hiện hành vi làm tổn thương về mặt đạo đức của mình hoặc của người khác”. Có thể thấy, phạm vi xử lý hình sự của luật hình sự Nhật Bản đối với người chưa thành niên là rất rộng. BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không quy định thế nào là người chưa thành niên, cũng như không có chương riêng quy định về người chưa thành niên. Theo quy định tại Điều 17 BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có thể hiểu rằng, người đủ 16 tuổi tại thời điểm phạm tội sẽ phải chịu TNHS, người đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS đối với một số tội phạm có tính chất nghiêm trọng như Cố ý giết người, Cố ý gây thương tích dẫn đến thương tích nặng hoặc chết người, Hiếp dâm, Cướp,…

Thứ ba, các biện pháp xử lý được áp dụng riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Tại khoản 1 Điều 88 BLHS Liên Bang Nga quy định hệ thống hình phạt áp dụng riêng đối với người chưa thành niên bao gồm: Phạt tiền; Tước quyền tham gia các hoạt động nhất định; Lao động cải tạo; Lao động khắc phục; Phạt giam; Phạt tù có thời hạn. Khoản 2 Điều 90 BLHS Liên Bang Nga quy định các biện pháp mang tính giáo dục được áp dụng trong trường hợp miễn TNHS đối với người chưa thành niên gồm: Cảnh cáo; Giám sát của gia đình hoặc cơ quan có thẩm quyền; Khắc phục thiệt hại đã gây ra; Hạn chế giải trí và thiết lập các yêu cầu đặc biệt về hành vi của người chưa thành niên. BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định hệ thống hình phạt chính áp dụng đối với người chưa thành niên bao gồm: Quản chế; Phạt giam hình sự; Phạt tù; hệ thống hình phạt bổ sung áp dụng đối với người chưa thành niên bao gồm: Phạt tù; Phạt tiền, phạt tiền theo ngày, lao động công ích; Tước hoặc hạn chế quyền nhất định. Điều 9 BLHS Nhật Bản quy định, hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên không có sự khác biệt đối với người đã thành niên, bao gồm: Tử hình; Tù có lao động bắt buộc; Tù không có lao động bắt buộc; Phạt tiền; Phạt giam hình sự; Phạt tiền về tội hình sự nhỏ; Phạt giam vì không nộp đủ tiền phạt. Bên cạnh đó Luật về người chưa thành niên của Nhật Bản không quy định các biện pháp giám sát, giáo dục mà gọi đây là các biện pháp bảo vệ người chưa thành niên và quy định tại khoản 1 Điều 24, theo đó gồm các biện pháp: Đưa người chưa thành niên vào cơ sở giám sát; Đưa người chưa thành niên vào nhà dành cho trẻ sống một mình hoặc cơ sở bảo hộ trẻ em; Đưa người chưa thành niên vào cơ sở giáo dục người chưa thành niên.

Thứ tư, quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Tại khoản 1 Điều 89 BLHS Liên Bang Nga quy định: “Khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên Tòa án phải cân nhắc kĩ lưỡng, bên cạnh các trường hợp được quy định tại Điều 60 của Bộ luật này, những điều kiện của cuộc sống và sự giáo dục, mức độ nhận thức, và những đặc điểm khác, kể cả ảnh hưởng của người lớn hơn lên họ”. Tại Điều 17 BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định nếu một người đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi mà phạm tội thì sẽ được giảm nhẹ sự trừng phạt. Trong khi đó, pháp luật hình sự Nhật Bản không quy định về mặt nguyên tắc khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.

Đặt trong sự so sánh giữa quy định của các quốc gia kể trên về TNHS của người chưa thành niên, có thể thấy rằng pháp luật hình sự các nước, trong xu thế chung của pháp luật quốc tế đều đề cao nguyên tắc nhân đạo. Sở dĩ có sự khác nhau nêu trên là do sự khác biệt về truyền thống lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán, quan niệm về đạo đức. Mặt khác, còn do sự phát triển không đồng đều về kinh tế, chính trị, xã hội, sự khác biệt về đặc điểm sinh học của từng chủng người cũng như chính sách hình sự và yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm ở mỗi quốc gia.

Tiểu kết Chương 1

Trách nhiệm hình sự của người phạm tội là một vấn đề pháp lý nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Với tư cách là nhóm chủ thể đặc biệt, người dưới 18 tuổi mang những hạn chế về mặt tâm sinh lý cũng như nhận thức và ý thức pháp luật. Có thể nói, nguyên nhân và điều kiện thúc đẩy hành vi phạm tội ở người dưới 18 tuổi chủ yếu bắt nguồn từ những thiếu sót, bất cập và cả những sai lầm trong việc nuôi dưỡng, giáo dục cũng như xây dựng và tổ chức các mối quan hệ trong cuộc sống của người lớn. Vì vậy, TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng có những khác biệt cơ bản so với TNHS đối với người phạm tội nói chung. TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định trong một chương riêng với phạm vi chịu TNHS hẹp hơn, mức độ nghiêm khắc có phần giảm nhẹ hơn và mang ý nghĩa giáo dục, cải tạo là chính.

Trong pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia thì vấn đề TNHS của những người chưa thành niên hay tư pháp người chưa thành niên cũng rất được quan tâm. Trong bối cảnh các quốc gia trên thế giới đang ra sức bảo vệ ngày một tốt hơn quyền con người, mà trẻ em, người chưa thành niên là những thế hệ tương lai cần được quan tâm hơn hết thì nguyên tắc nhân đạo phải là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình xây dựng, ban hành pháp luật cũng như quá trình áp dụng pháp luật hình sự đối với họ. Tuy nhiên, pháp luật hình sự mỗi quốc gia thể hiện nguyên tắc nhân đạo trong vấn đề TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội là khác nhau. Quy định về mức tuổi chịu TNHS của các quốc gia là khác nhau. Hình phạt và các biện pháp khác mang tính giáo dục cũng có nhiều sự khác biệt. Điều này xuất phát từ các nguyên nhân về điều kiện kinh tế – xã hội, truyền thống pháp luật và quan điểm của các nhà làm luật ở mỗi quốc gia khác nhau là khác nhau.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 9\HINH SU\HOANG LINH\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *