Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của luận án

Theo quyđịnh củapháp luậttố tụng hìnhsựViệt Nam, giai đoạnđiều tra VAHS có nhiệm vụthu thập chứngcứchứng minh, làm rõtộiphạm, hành vi của người thực hiện tội phạm và những vấn đề liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc truy tố, xét xử VAHS. Nhiệm vụ này của CQĐTđược thực hiệnvới các quyền hạn, trách nhiệm tố tụng và tiến hành theo trình tự, thủ tục tiếp nhận, phân loại, chuyển giao, giải quyết nguồn tin về tội phạm, điều tra VAHS theo quy định của pháp luật.

Chất lượng, hiệuquảđiều tra VAHSphụthuộc vào nhiều yếu tố, trong đó việc phân định thẩm quyền điều tra giữa các loại, cấp CQĐT, việc phân định thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN không những xác định thẩm quyền điều tra của CQĐT trong QĐNDVN với các CQĐT khác mà còn phân định thẩm quyền giữa các loại, các cấp của CQĐT trong QĐNDVN với nhau, tạo thành khung pháp lýcho các CQĐT trong QĐNDVN hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Do vậy, pháp luật đãquy định CQĐT trong QĐNDVN có thẩm quyền điều tra VAHS theo thẩm quyền xét xửcủa TAQS, theo đó có thẩm quyền điều tra các VAHS mà người thực hiện hành vi phạm tội hoặcbịcan là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dựbịtrong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với QĐNDVN trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặchợpđồng vào phụcvụtrong QĐNDVN [115] và các VAHS khác theo quy định của pháp luật. Trong đó, Cơ quan ANĐT có thẩm quyền điều tra các vụ án về an ninh quốc gia, CQĐT Viện KSQS trung ương điều tra các vụ án về các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tham nhũng xảy ra trong hoạt động tư pháp, Cơ quanĐTHS có thẩm quyền điều tra các vụ án còn lại thẩm quyền xét xử của TAQS.

Các CQĐT trong QĐNDVN được phân cấp với các cấp là CQĐT Bộ Quốc phòng, CQĐT cấp quân khu và Cơ quan ĐTHS khu vực, việc phân định thẩm quyền điều tra VAHS giữa các cấp CQĐT được xác định theo tính chất tội phạm, đối tượng phạm tội, nơi xảy ra tội phạm và các căn cứ khác theo quy định của pháp luật, theo đó CQĐT cấp Bộ Quốc phòng điều tra vụ VAHS về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy để điều tra lại; VAHS về tội

1

phạm đặc biệtnghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc liên quan đến nhiều quốc gia nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra. CQĐT cấp quân khu điều tra VAHS về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xửcủa TAQS cấp quân khu hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan ĐTHS khu vực nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra. Tội phạm xảy ra trên địa bàn quân khu dođối tượng thuộc quân khu quản lý thì do CQĐT cấp quân khu thụ lý điều tra. Nếu đối tượng thuộc các quân đoàn, quân chủng, binh chủng, tổng cục… trực thuộc Bộ Quốc phòng đóng trên địa bàn quân khu thì do CQĐT thuộc các quân đoàn, quân chủng, binh chủng, tổng cục… thụ lý điều tra. Cơ quan ĐTHS khu vực điều tra VAHS vềnhững tội phạm thuộc thẩm quyền xét xửcủaTAQS khu vực. Trong đó, Cơ quan ĐTHS khu vực trực thuộc các quân khu đảm nhiệm địa bàn từ 01 – 02 tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương và thực hiện thẩm quyền điều tra các VAHS liên quan đến các quân nhân, cơ quan, đơn vị thuộc quân khu trên địa bàn phụ trách xảy ra ngoài địa bàn quân khu; Cơ quan ĐTHS khu vực thuộc các quân đoàn, quân chủng, binh chủng,

tổng cục… thực hiện thẩm quyền điều tra các VAHS liên quan đến các quân nhân, cơ quan, đơn vị thuộc các quân đoàn, quân chủng, binh chủng, tổng cục.

Pháp luật nước ta quy định về thẩm quyền điều tra của CQĐT trong đó có các CQĐT trong QĐNDVN, hình thành hệ thống các quy phạm về thẩm quyềnđiềutra theo quy định của Luật tổ chức ĐTHS và BLTTHS. Hệ thống quy phạm pháp luật này là cơ sở pháp lý để xác định thẩm quyền điều tra của các CQĐT trong QĐNDVN góp phần đấu tranh, xử lý tội phạm xảy ra trong QĐNDVN, thông qua đó, tăng cường

kỷ luật, sức mạnhchiến đấucủa Quânđội,xây dựng Quânđộichính quy, tinh nhuệvà từng bước hiện đại.

Trong quá trình thực hiện pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN, bên cạnh ưu điểm, thực tiễn hoạt độngđiều tra VAHS trong QĐNDVN đã chỉ ra những hạn chế, bất cập về thẩm quyền điều tra VAHS của các CQĐT trong QĐNDVN làm giảm hiệu quả động điều tra, như: Mộtsố trường hợp xác định thẩm quyền điều tra rất khó như pháp nhân thương mại phạm tội, dân quân

tựvệ phạmtội, gây thiệt hại đến uy tín, danh dự của QĐNDVN, việc xác định thẩm quyền giữa các CQĐT trong và ngoài QĐNDVN nhiều trườnghợpcó tranh chấp về thẩm quyền điều tra. CQĐT trong QĐNDVN được tổ chức vừa theo địa bàn, lãnh thổ

2

(các quân khu), vừa theo thẩm quyền quản lý ngành (quân đoàn, quân chủng, Bộ đội biên phòng, Bộ Tổng Tham mưu, tổng cục, binh chủng), trong một số trường hợp cũng có sự xung đột nhất định về thẩm quyền giữa CQĐT theo địa bàn lãnh thổ vàCQĐT quản lý ngành [139].

Hạn chế nêu trên đã dẫn đến những bất cập như CQĐT ở tại địa bàn, nơi xảy ra VAHS không có thẩm quyền điều tra, trong khi đó CQĐT có thẩm quyền điều tra ở xa, chưa kịp thờiđểtiến hành các hoạt động điều tra banđầu,nhất là các biện pháp cấp bách; số lượng thụ lý VAHS hàng năm giữa các CQĐT không đồng đều, một sốCQĐT thụ lý hàng năm với số lượng lớn dẫn đến quá tải hoặc có trường hợp CQĐT thụ lý giải quyết hàng năm số lượng ít dẫn đến không có điều kiện để nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụcho ĐTV;mộtsố VAHS chậmđược chuyển giao cho CQĐT trong QĐNDVN để giải quyết theo thẩm quyền, dẫn đến trong mộtsốtrường hợp hiệu quả điều tra các VAHS thuộc thẩm quyền còn hạn chế nhất định.

Đứng trước yêu cầu giải quyết VAHS trong QĐNDVN, để góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại [63, tr. 157 – 158]; yêu cầu cải cách tư pháp và triển khai thực hiện Nghị quyết số27-NQ/TW, ngày 09/11/2022, Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về tiếp tụcxây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hộichủnghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, đòihỏiphải cải cách phân định thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN một cách hợp lý, khoa học, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và công tácđấu tranh phòng, chốngtộiphạm trong tình hình mới, góp phần bảo vệ công lý,bảovệquyền con người, quyền công dân,bảovệ chế độ xãhội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp phápcủa tổchức, cá nhân, góp phần bảo vệ kỷ luật, sức mạnh chiến đấu của QĐNDVN.

Với mong muốn làm sâu sắc, phong phú thêm về lý luận và góp phần hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN, NCS lựa chọn vấn đề “Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quânđội nhân dân Việt Nam”làm đề tài luận án tiến sĩ luật học.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án

Hình thành khung lý thuyết về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN, trên cơsở thực tiễn đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Để đạt được những mục tiêu nêu trên, luận án có những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, xây dựng khung lý thuyết về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN; phân tích một cách cơ bản, có hệ thống những quan điểm về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong Quânđội; nghiên cứu lý luận thẩm quyềnđiều tra VAHS của CQĐT trong Quân đội, trên cơsởđó cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN.

Thứ hai, phân tích, đánh giá pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN trong lịch sử, hiện tại và pháp luật một số nước trên thế giới; qua đó chỉ ra những bất cập, hạn chế, bài học kinh nghiệm làm cơ sở cho các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN.

Thứ ba, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN, thông qua đó chỉ ra những bất cập, hạn chế và nguyên nhân trong việc áp dụng quy định về thẩm quyền.

Thứ tư, đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN; các giải pháp nâng cao hiệuquảáp dụng pháp luậtvềthẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án

Các học thuyết, quan điểm về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong quân đội. Pháp luậtvềthẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN và đời sống thực tiễncủaviệc áp dụng quyđịnh về thẩm quyềnđiều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN.

3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án

– Luận án có phạm vi nghiên cứu là những quan điểm, học thuyếtvề thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong Quân đội.

– Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và pháp luật một số nước cótương đồng về mô hình tổ chức quân đội với Việt Nam hoặc có lực lượng quân đội hiện đại. Trong đó, nghiên cứu pháp luật về thẩm quyền điều tra của CQĐT trong QĐNDVN, gồm: Cơ quan ANĐT, Cơ quan ĐTHS và CQĐT của Viện KSQS trung ương.

– Thực tiễn áp dụng pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN trong 10 năm từ 2013 – 2022.

– Nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS trong QĐNDVN bằng pháp luật hìnhsự, tốtụng hình sự, pháp luật về tổ chức cơ quan tưpháp, tổ chức Cơ quan ĐTHS.

– Luận án không nghiên cứu thẩm quyền người tiến hành tố tụng của CQĐT trong QĐNDVN; thẩm quyền điều tra của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạtđộngđiềutra trong QĐNDVN; không nghiên cứu vềphương pháp, chiến thuật, kỹ thuật điều tra của CQĐT trong QĐNDVN.

Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam

4. Phương pháp luận, cơ sở lý luận, phương pháp tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu cụ thể

4.1. Phương pháp luận

Các nội dungcủaluận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nhà nước pháp quyền, về tư pháp.

4.2. Cơ sở lý luận

Là nhữngvấnđề mang tính học thuật về thẩm quyền của cơ quan tiến hànhtốtụng, thẩm quyền của CQĐT; thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN

mang tính học thuật thể hiện trong các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố trên sách, tạp chí khoa học, luận văn, luận án, các tài liệu học thuật khác có liên quan trực tiếp đến thẩm quyền của CQĐT trong QĐNDVN.

Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận vấn đề dưới góc độ chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hìnhsựkhi phân tích, đánh giá các vấn đề về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN.

4.3. Phương pháp tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong quátrình thực hiện luận án

5

Phương pháp phân tích – tổng hợp: Được sửdụng đểhệthống hóa các quanđiểm, họcthuyết của các tác giả trong và ngoài nước về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, quy định của pháp luật

tố tụng hình sự về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN, hệ thống hóa các nội dung liên quan đến đề tài luận án theo các nhóm vấn đề trong tổng quan tình hình nghiên cứu, phân tích, đánh giá, khái quát đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN.

Phương pháp logic – lịch sử:Được sửdụng trong việc làm rõ quá trình hình thành và phát triển của các quy định về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN trong pháp luật tố tụng hình sự nước ta qua các thời kỳ lịch sử, nhấtlà từkhi có BLTTHS năm 1988 đến nay.

Phương pháp thống kê và nghiên cứuđiểnhình:Được sửdụng để làm rõ diễn biến tình hình tội phạm xảy ra cũng như thực tiễn xácđịnhthẩm quyềnđiềutra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN từ năm 2013 đến năm 2022.

Phương pháp so sánh luật học:Được sửdụng trong việc làm rõsựkế thừa và phát triển của các quyđịnh về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.

Phương pháp hệ thống:Được sửdụng để làm rõ các vấn đề lý luận, thực tiễnáp dụng pháp luật vềthẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN vànhững vấn đề khác thuộc phạm vi nghiên cứu trong luận án.

5. Những đóng góp mới về mặt khoa học và ý nghĩa của luận án 5.1. Những đóng góp mới về mặt khoa học

Luận án sau khi bảovệthành công sẽ là một công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý tố tụng hình sự, nghiên cứu, phân tích một cách sâu sắc, toàn diện, có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Những đóng góp mới của luận án bao gồm các nội dung dưới đây:

Một là, hình thành khung lý thuyết thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN như: Khái niệm, đặc điểm, cơ sở, yếutố tác động ảnh hưởng đến

6

thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN, góp làm phong phú khoa học pháp luật về tố tụng hình sự Việt Nam.

Hai là, đưa ra nhận xét, đánh giá thực trạng pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS và tổ chức thực hiện quy định về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN.

Ba là, nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện quy định về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN, trên cơ sở đó chỉ ra những kết quả đã đạt được và những tồn tại, hạn chế cần khắc phục cũng như nguyên nhân của những bất cập, hạn chế về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN.

Bốn là, kết quả nghiên cứu là các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN và kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN.

Năm là, kết quả nghiên cứu và các giải pháp đề xuất sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị đối với việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thẩm quyềnđiều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN; đồng thời là tài liệu để các cơ quan chức năng tham khảo, lựa chọn và áp dụng các giải pháp nhằm khắc phục những thiếu sót, hạn chếtrong thực tiễn thực hiện quy định thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN giai đoạn hiện nay và thời gian tới, trên cơ sở đó góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng quy định thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN. 5.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

– Về mặt khoa học: Luận án góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN trong tố tụng hình sự Việt Nam và đề ra giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN.

– Về mặt thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, vận dụng trong quá trình hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sựvề thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN. Đồng thời qua việc phát hiện những tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN, luận án đề ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT

7

trong QĐNDVN. Ngoài ra, những kết quả nghiên cứu của luận án cóthể sửdụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo về pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.

6. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận ánđược kết cấu thành bốn chương, gồm:

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án. Chương 2: Những vấn đề lý luận về thẩm quyền điều tra vụ án hìnhsự của Cơ

quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Chương 3: Pháp luật về thẩm quyền điều tra vụ án hìnhsựcủa Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam vàmộtsố nướctrên thế giới, thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.

Chương 4: Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thẩm quyềnđiều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

8

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước

1.1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu về sự cần thiết, mục đích của Cơ quan điều tra trong quân đội

1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.2.1. Nghiên cứuvềthẩm quyềnđiềutra của Cơ quanđiềutra trong tố tụng hình sự Việt Nam

1.1.2.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng trong Quân đội nhân dân Việt Nam

1.1.2.3. Nhóm các công trình nghiên cứu về định hướng cải cách tư pháp đối với Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam

28

1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu

1.2.1. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Tình hình nghiên cứu nêu trên cho thấy phạm vi, mức độ, nội dung của các nghiên cứu liên quan đến thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong quân đội ởtrong, ngoài nước. Trên cơ sở những phân tích, nhận xét đưa ra ở mục 1.1, NCS một số đánh giá về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài như sau:

Các ấn phẩm nghiên cứu về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong quânđội chưa nhiều, nhất ở ngoài nước, do đó chưa hình thành một khung lý thuyếtvềthẩm quyền điều tra VAHS củaCQĐT trong QĐNDVN. Những năm gần đây, để phục vụ cho chiến lược cải cách tư pháp, hoàn thiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhiều công trình khoa học, luận án, đề tàiđược công bố nhưng chưa chú trọng đến khung lý thuyết về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN, do đó chưa chỉ rõ luận cứ khoa học, một số vấn đề cốt lõi của lý luận chưa được đề cậpmột cách sâu sắc, như luận chứng của tính tất yếu, cơ sở lýluận về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT, cho việc hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN.

Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài, kết quả nghiên cứu chỉ rõ thẩm quyền điều tra VAHS trong quân độiđượcquy địnhở nhiềunước vớicác hệ thống pháp luật khác nhau và mô hình tố tụng khác nhau với mục đích duy trì kỷ luật quân đội, qua đó nâng cao hiệu quả duy trì kỷ luật quân đội, nâng cao hoạt động của lực lượng vũ trang, quân đội; trong đó khái quát chung nhất là thẩm quyền điều tracủaCQĐT trong quân đội có hệ thống pháp luật riêng biệt áp dụng cho các thành viên của lực lượng vũ trang hoặc dân thường trong một số trường hợp. Các công trình nghiên cứuđã phân tích, khái quátmộtsốmô hìnhtổchức CQĐT trong quân đội để triển khai thực thẩm quyền điều tra VAHS, cần phải tiến hành cải cách thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong quân đội bởi vì do hệ thống pháp luật riêng biệt, các tội phạm riêng biệt xảy ra trong quân đội, trong hoạt động quân sự, do đó yêu cầu đặc thù trong quá trình điều tra, giải quyết VAHS.

Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trongnước đề cậpvề thẩm quyền của CQĐT trong QĐNDVN dưới dạng khái quát các quy định của pháp luật

29

tố tụng hình sự mà ít có sự phân tích, đánh giá chuyên sâu trên cơ sở lý luận và thực tiễn, là bởi vì vấnđề này ít được nhà khoa học nghiên cứu độc lập, thườngđược nghiên cứu kết hợp với các vấn đề khác của tố tụng hình sự như mô hình tố tụng; thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử do các nhà khoa học ít có thông tinvề hoạt động quân sự, quốc phòng. Bên cạnh đó những thông tin liên quan đến hoạt động quân sựthường được bảo mật, khó tiếp cận, ở một góc độ, khía cạnh nào đó, thông tin hoạt động điều tra trong Quân đội có tính “nhạy cảm”, nên không thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học.

Vấn đề thẩm quyền của CQĐT trong QĐNDVN, thời gian gần đây được các cán bộ thực tiễn nghiêncứu độclập như luận án tiến sĩ; luận văn thạc sĩ; bài báo,đề tài: Các công trình này được thực hiện bởi cán bộ đang công tác tại các cơ quan tiến hành tố tụng trong QĐNDVN nên chủ yếu phân tích các quy định thẩm quyền của cơ quan tiến hànhtốtụng trong Quân đội qua thực tiễn giải quyết VAHStừ đó kiếnnghị đề xuấtsửa đổicác quy định của pháp luật để phù hợpvớithực tiễn giải quyết VAHS trong Quân đội.

Các công trình hình thành được khung lý thuyết mức độ cơ bản, chưa khái quát, phân tích được vì sao tínhtấtyếu khách quan của quy định về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN. Chưa phân tích, khái quát, đánh giá một cách

tổng thể về đặc điểm, đặc trưng khác biệt của thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN. Những kiến nghị đề xuất mới đối với phạm vi, nội dung cụ thể quyđịnh pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN như dân quân tự vệ, pháp nhân thương mại phạm tội, thiệt hại về tàisảnquân đội, thiệthại về danh dự, uy tín của QĐNDVN.

1.2.2. Những vấn đề tiếp tục nghiên cứu

Qua nghiên cứu các công trình, vấn đề thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN cần được tiếp tục nghiên cứu để làm rõ các vấn đề sau:

Thứ nhất, bổ sung, hình thành khung lý thuyết về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN, trong đó luận án sẽ xây dựng khái niệm thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN trên cơ sở phân tích, đặc điểm và chỉ ra nội hàm của khái niệm, hình thành luận cứ cơsởcủaquy định thẩm quyền điều tra

30

VAHS của CQĐT trong QĐNDVN, cũng như những yếu tố tác động đến thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN.

Thứ hai, phân tích làm rõ mô hình quy định về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN trên hai phương diện là quy định về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN theo quy định của BLTTHS năm 2015 và tổ chức,bộ máy CQĐT trong QĐNDVN theo quyđịnhcủaLuậttổ chức Cơ quan ĐTHS năm 2015.

Thứ ba, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN, trên cơ sở đó đưa ra các nhận xét, đánh giá về tồn tại hạn chế, nguyên nhân của hạn chế làm cơ sở cho việc đề xuất hoàn thiện pháp luật thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN.

Thứ tư, luận án đưa ra các giải pháp hoàn thiện và các kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện quyđịnhthẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN trên cơsở khung lý thuyết mà luận án đã chỉ ra và các nhận xét, đánh giá, thực tiễn thi hành.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu 1.3.1. Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:

1. Các quan điểm, học thuyết về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN được sửdụng khi xây dựng quyđịnh thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong BLTTHS như thế nào?

2. Vì sao cần phải quyđịnh thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN? đặc điểm riêng biệt của thẩm quyền điều tra VAHS trong QĐNDVN?

3. Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quy định thẩm quyền điều tra VAHS trong QĐNDVN?

4. Lịch sử lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN có những bài học gì cần tiếp thu trong giai đoạn hiện nay và kinh nghiệm nàocủa một số nướctrên thế giới có thể nghiên cứu tiếp thu khi hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN trước yêu cầu cải cách tư pháp?

31

5. Thực trạng pháp luật về thẩm quyềnđiều tra VAHScủaCQĐT trong QĐNDVN và những hạn chế, bất cập cũng như nguyên nhâncủathực trạng đó là gì?

6. Thực tiễn thực hiện thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN những năm qua có những thành công, hạn chế gì, nguyên nhân của thực trạng đó và những vấn đề cần khắc phục để nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra của các CQĐT trong QĐNDVN được thực hiện như thế nào?

7. Cơsở,địnhhướngvà giải pháp hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi thẩm quyền điều tra VAHS của các CQĐT trong QĐNDVN?

1.3.2. Giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở các câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu được đặt ra như sau:

1. Lý luận thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong quân đội còn có quan điểm hoặcnhận thức chưa đầy đủ, toàn diện về tính tất yếu, cơ sở, những yếu tố ảnh hưởng đến thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN. Vì vậy, với một hướng tiếp cận phù hợp, luận án nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, khái niệm, những yếu tố ảnh hưởng để khắc phục nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ về thẩm quyềnđiều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN.

2. Pháp luật thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN để bảo vệ khách thể quan trọng nhất là kỷ luật, sức mạnh chiến đấu của Quân đội, đặc điểm hoạt động quân sự, tính chất hoạt động quân sự tạo nên đặc điểm riêng biệt của thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN.

3. Những yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật thẩm quyền điều tra VAHS trong QĐNDVN là chức năng, nhiệm vụ, mô hình tổ chức của Quân đội; tình hình vi phạm tội phạm xảy ra trong Quân đội, ý thức chấp hành pháp luật của quân nhân tại ngũ.

4. Về cơ bản thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN đã có nhiều sửa đổi, bổ sung, pháp điển theo hướng phù hợp với hoạt động của QĐNDVN và liên quanđếnQuân đội, góp phần bảovệsức mạnh chiếnđấu của Quân đội.Pháp luật nhiều nước đều quy định Quân đội có thẩm quyền điều tra các VAHS liên quan đến quân nhân phạm tội và các trường hợp khác. Nhìn chung vẫn chưa đủ để bảo vệ sức mạnh chiếnđấucủa QĐNDVN và duy trì kỷ luật Quânđội,pháp luậtvềthẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN còn khoảng trống, bất cập cần phảiđược làm rõ trên hai phương diện đó là pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS và

32

tổ chức triển khai thực hiện quy định về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN.

5. Thực trạng pháp luật về thẩm quyềnđiều tra VAHScủaCQĐT trong QĐNDVN và những hạn chế,bất cậpnhất định, cũng như nguyên nhân hạn chế, bất cập đó là các quy định của pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN chưa tương thích với các quy định của phápluật vềquân sự, quốc phòng, chưa phù hợp với đặc điểm, tính chất hoạt động của quân sự.

6. Thực tiễn áp dụng quy địnhvềthẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN còn những hạn chế nhất định trong việc phân định thẩm quyền điều tra giữa các CQĐT và một số hạn chế khác, những vấn đề này cần phải được phân tích, đánh giá, làm rõ, tình trạng này cần có thể được giải quyết bằng việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về thẩm quyềnđiều tra VAHS và tổchức bộ máy CQĐT trong QĐNDVN và các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành.

7. Trên cơ sở khung lý thuyết mà luận án đã chỉ ra và các nhận xét, đánh giá, thực tiễn thi hành, đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN và các kiến nghị nâng cao trên các phương diện khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN.

33

Tiểu kết Chương 1

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, đã được NCS trình bày với cơ cấu các mục đã khái quát được những kết quả nghiên cứu cơ bản, chủ yếu của các tác giả, nhóm tác giả trong và ngoài nước liên quan đến thẩm quyền điềutra VAHS của CQĐT trong quân đội, đồng thời chỉ ra được những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết trong luận án với hệ thống các câu hỏi nghiên cứu và cách tiếp cận, luận giải, giả thuyết nghiên cứu với kết quả như sau:

1. NCS đã nghiên cứu các công trình của các giả có nền khoa học pháp lý phát triển hoặc các quốc giacó điềukiện tương đồng với Việt Nam về tổ chức quân đội, các nghiên cứu đã khẳng định thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong quân đội là bảo vệsức mạnh chiến đấu và góp phần duy trì kỷ luật của quân đội. Ở Việt Nam các nghiên cứu về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN thể hiện ở các mức độ khái quát trên 2 phương diện là quy định về thẩm quyền và tổ chức thực hiện, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, luận giải dứt khoát lý luận về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN.

2. Các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong quân đội, đó là bảo đảm sức mạnh chiến đấu, góp phần duy trì kỷ luật quân đội là tính tất yếu cho cơ sở quy định thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong quân đội. Những vấn đề NCS tiếp tục nghiên cứu như: Bổ sung, hoàn thiện khung lý thuyết; phân tích làm rõ mô hình triển khai thực hiện quy định về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN; đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật, nhận xét vềtồntại hạnchế, nguyên nhân của hạn chế; các giải pháp hoàn thiện và các kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện quy định pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN.

3. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án là cơ sở để xác định câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu mà các chương sau của luận án sẽ giải đáp như:

Tính tất yếu, cơ sở, yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong Quân đội; quy định về thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong Quân đội và thực tiễn thi hành; kết quả thực hiện quy định thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN, hạn chế, nguyên nhân và giải pháp khắc phục.

34

CHƯƠNG 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ

CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

2.1. Khái niệm thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Thẩm quyền là khái niệm khá phức tạp trong khoa học, có nhiều quan điểm, lý thuyết khác nhau về thẩm quyền. Tuy nhiên, các nội hàm sau đây của khái niệm thẩm quyền được thừa nhận rộng rãi, đó là: Thẩm quyền là của một chủ thể nhất định, có thể là cơ quan, tổ chức, cá nhân; các chủ thể này có quyền, trách nhiệm giải quyết, ra quyết định về một vấn đề trong những lĩnh vực nhất định; các chủ thể này được pháp luật quy định quyền hạn, trách nhiệm để thực hiện một hoặc một số quyền lực nhất định để thực hiện công việc hoặc một lĩnh vực công việc theo chuyên môn theo yêu cầu của việc quản lý nhà nước; hình thành mối quan hệ với các chủ thể khác khi thực hiện thẩm quyền.

Cơ quan điều tra trong QĐNDVN là một loại cơ quan Nhànướcnên thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT trong QĐNDVN có những nội hàm sau đây.

2.1.1. Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam có chức năng điều tra vụ án hình sự liên quan đến Quân đội nhân dân Việt Nam

Nhà nước hình thành hệ thống CQĐTvớimục đích bảo đảm hoạtđộng điều tra nhanh chóng và chính xác, khi đã hình thành hệ thống CQĐT thì việc phân định thẩm quyền điềutra làđòihỏi tất yếu [76, tr.10]. Hoạt động tư pháp làmộttrong những phương thức thực hiện quyền lực Nhà nước thông qua hoạt động xét xử, hoạtđộng thực hành quyền công tố, hoạt động điều tra và hoạt động thi hành án [147, tr. 596]. Như vậy, chủ thể của thực hiện quyền lực nhà nước trong hoạt động tư pháp làcác CQĐT, truy tố, xét xử. Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm, CQĐT phải tiến hành khởi tốVAHS, áp dụng các biện pháp theo quy địnhcủapháp luậtđể giảiquyết các nhiệm vụ đặtra trong giai đoạnđiềutra,đảm bảomọi tội phạm đều được kịp thời phát hiện, xử lý khách quan, công bằng.

Chức năngcủaCQĐT là chức năng điều tra, hay nói theo cách khác, CQĐT thực hiện chức năng điều tra, khám phátộiphạm. Bởi vì, hoạt động của CQĐT trong

35

quá trình điều tra từng vụ án cụ thể chính là quá trình thu thập, nghiên cứu, đánh giávà sửdụng chứng cứđể chứngminh làm rõ sự thật vụ án. CQĐT có chức năng điều tra tất cả các tội phạm, chức năng này được xác định thông qua các nhiệm vụ, quyền hạn củaCQĐT. Điều tra VAHS là hoạtđộngthu thập tài liệu, chứngcứcủaCQĐT và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt độngđiềutra theo luật định, tiến hành theo trìnhtựtố tụnghình sự, nhằm chứng minhsựthật củavụ ántheo yêu cầu của pháp luật.

Đa phần các quốc gia trên thế giới đều khẳng định điều tra VAHS thuộc nhánh quyền lực hành pháp để truy cứu trách nhiệm hìnhsựđối với ngườiphạm tội. Môhình điều tra tranh tụng, thẩm quyền điều tra VAHS không chỉ thuộc về phía CQĐT mà thành viên xã hội cũng có quyền tiến hành điều tra thu thập chứng cứ, bên truy tốcó quyền triển khai điều tra tội phạm, bên biện hộ có quyền nhờ người triển khaiđiều tra, ở giai đoạn tiền xét xử, công tố viên và luật sư có quyền điều tra, thu thập chứng cứnhư nhau [182]. Mô hình điều tra thẩm vấn là tính đơn nhất, tính đơn quyền trong trình tự, thẩm quyền điều tra VAHS thuộc về phía CQĐT, nghĩa là CQĐT đơn phương tiến hành hoạt động điều tra nhằm thu thập chứng cứ, tìm sự thật phạm tội vàxác minh tội phạm. Tính phổ cập của cách tổ chức hoạt động điều tra xuất phát từquan niệm điều tra là một trong những nội dung của quyền công tố, để truy cứu trách nhiệm hìnhsựmột người thì cơ quan công tố phải tiến hành điều tra thu thập chứng cứvà phải chịu trách nhiệm về tất cả các hành vi tố tụng của hoạt động điều tra [40, tr.1]. Qua nghiên cứu mô hình tố tụng các nước thấy rằng, mô hình tổ chức điều tra VAHS ở các quốc gia với phạm vi của thẩm quyền điều tra VAHS như sau:

Một là, thẩm quyền điều tra VAHS thuộc về cơ quan công tố, tức là công tố chỉ đạo hoạt động điều tra ngay từ đầu, chỉ đạo ĐTV thu thập các chứng cứ buộc tội và truy tìm thủ phạm.

Hai là, thẩm quyền điều tra VAHS thuộc về cảnh sát và cơ quan nhà nước, cơ quan công tố không can thiệp sâu vào quá trình điều tra,chỉtưvấncho cảnh sátvề căn cứ khởi tố VAHS, các vấn đề liên quan đến chứng cứ, tội danh, hướng điều tra. Ý kiếncủacôngtốkhông mang tính bắt buộc đốivớicảnh sát.Chủyếutrên cơsởkết quả điều tra, cơ quan công tố xem xét thấy đủ căn cứ thì quyết định đưa vụ án ra tòa, nếu không đủ bằng chứng buộc tội thì trả hồ sơ cho cảnh sát.

36

Ba là, thẩm quyền điều tra VAHS thuộc về CQĐT, cơ quan công tố không chỉđạo điều tra VAHS, nhưng có nhiệmvụ quyết định tố tụng và giám sát hoạt độngđiều tra VAHS.

Như vậy, cho dù mô hình tổ chức, thẩm quyền điều tra VAHS ở các mô hình tố tụng là khác nhau nhưng thấy rằng thẩm quyền điều tra VAHS là thực hiện chức năng điều tra trong tố tụng hình sự thuộc quyền công tố mang tính chất độc lập không bị chi phối bởi cơ quan, tổ chức, cá nhân bên ngoài.

Quá trình giải quyết VAHS được tiến hành với nhiều biện pháp khác nhau có quan hệ chặt chẽ,tác động hỗtrợvớinhau, biện pháptrước làm tiền đềcho hoạtđộng sau, giai đoạn sau lại có vai trò kiểm tra giai đoạn trước và mỗi giai đoạn được cụ thểhóa bằng một văn bản tố tụng hình sự, trình tự thủ tục được quy định chặt chẽ và đầyđủ cho mỗi giai đoạn tố tụng. Thẩm quyền điều tra VAHS để xác định nhất quán về chủ thể thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứnhằm phát hiện tội phạm, đưa người phạm tội ra truy tố. Mỗi CQĐT có thẩm quyền điều tra đối với một loại tội phạm nhất định, việc phân chia thẩm quyền điều tra của từng CQĐT đối với từng vụ án sẽ giúp đảm bảo hiệu quả, minh bạch, công bằng trong việc điều tra, khám phá tội phạm, các tiêu chí để phân chia thẩm quyền giữa các CQĐT gồm:

Loại tội phạm: Sẽ quyết định CQĐT nào có thẩm quyền đốivớivụán, mỗi CQĐT có chức năng và thẩm quyền khác nhau trong việc giải quyết các loạitộiphạm, CQĐT chỉ có thẩm quyền điều tra một nhóm tội phạm nhất định là đảm bảo hiệu quả của điềutra VAHS,sửdụng nguồn lực có hiệu quả và khichỉtập trung điều tra một nhóm tội phạm nhất định, CQĐT có thể tăng tính chuyên môn hóa.

Tính chất của tội phạm: Một số loại tội phạm có tính chất đặc biệt, như tội phạm chống phá nhà nước, tội phạm tham nhũng, tội phạm kinh tế, v.v. Những tội phạm này thường được xem là nghiêm trọng hơn so với các tội phạm khác, do đósẽđược giao cho các CQĐT chuyên trách hoặc có thẩm quyền cao hơn.

Đối tượngthực hiện tội phạm: Sẽ ảnhhưởngđến quyết định phân chia thẩm quyền, do tính chất của hành vi phạm tội. Những đối tượng phạm tội khác nhau đòi hỏi CQĐT có nhiều kiến thức chuyên môn khác nhau để điều tra một cách chính xác và hiệu quả.

37

Địa điểm xảyra tội phạm: Thẩm quyền điều tra VAHS của CQĐT theo địa bàn cụ thể, giúp cho việc điều tra, truy tìm, khám phá các tội phạm trở nên hiệu quảhơn. Vì các CQĐTnắm rõ đượcđịa bàn, rõ hơn về tình hình an ninh, trật tựtại địa phương, có thể định hướng điều tra chính xác hơn, tránh phân tán nguồn lực và tránh việc trùng lặp hoạt động điều tra, đảm bảo quyền lợi của người dân và tăng cường sựgắn kết giữa người dân và CQĐT.

CQĐT trong QĐNDVN là cơ quan quyền lực trong bộ máy Nhà nước được giao chức năng điều tra các tội phạm trong QĐNDVN, có hai chức năng:

Thứ nhất: Thực hiện chức năng cơ bản là điều tra theo tố tụng hình sự đối với những VAHS khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS.

Thứ hai: Tham mưu cho cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Quân đội về công tác đấu tranh phòng,chống vi phạm, tội phạm. Trong phạm vi chức năng củamình, CQĐT trong QĐNDVN có nhiệm vụ phát hiện chính xác, nhanh chóng, xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oanngườivô

tội nhằm góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủcủanhân dân; bảo vệ an ninh quốc phòng, kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của quân nhân, công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng và của các công dân khác.

2.1.2. Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam có quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ trong điều tra vụ án hình sự

Cơ quan điều tra được tổ chức trong QĐNDVN đểđiềutra các VAHS xảy ra trong Quân đội theo quy trìnhtốtụngđiềutra VAHS chung, có tínhchất đặcthù của hoạt động quân sự, đảm bảo cho quá trình tiến hành tố tụng điều travụán được nhanh chóng, khách quan, kịp thời đề nghị truy tố chính xác, là cơ sở để TAQS xét xử đúng người, đúng tội; góp phần duy trìkỷ luậtvà bảo vệsức mạnh chiến đấu của Quânđội. Điều tra là hoạtđộng tốtụng hình sự do người và cơ quan có thẩm quyền thực

hiện nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ làm cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự [145, tr.257]. Nhiệm vụ của giai đoạnđiều tra trong quá trình tố tụng hình sự là xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội; xác định thiệt hại do tội phạm gây ra, tạo điều kiện cần thiết cho việc

38

giải quyết vụ án; lập hồ sơ đề nghị truy tố bị can và xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức áp dụng các biện pháp khắc phục, ngăn ngừa. CQĐT trong QĐNDVN là một trong những CQĐT, dođóquyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ trong điều tra VAHS của CQĐT nói chung cũng chính của CQĐT trong QĐNDVN, có thể xác định CQĐT trong QĐNDVN với các nhiệm vụ chính sau:

Một là, tiến hành điều tra các tội phạm theo thẩm quyền được giao, áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quyđịnh để xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội. Theo đó, bất kỳ tội phạm nào xảy ra thì CQĐT đều có thẩm quyền tiến hành điều tra, không kểtộiphạm đóđượcthực hiệndướihình thức, phương thức gì, loại tội phạm gì, ở giai đoạn nào. Sau khi phát hiện, tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm đó nhằm xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ban hành quyết định khởi tố VAHS hoặc quyết định không khởi tố VAHS. Trong trường hợp xácđịnh códấu hiệu tội phạm thì ra quyết định khởi tố VAHS, tiến hành các hoạt động điều tra nhằm làm rõ tội phạm và người phạm tội, áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm. Khi đủ chứng cứ chứng minh

tội phạm và người phạm tội, CQĐT ban hành bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố bịcan chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều tra đề nghị truy tố sang Viện kiểm sát để chuyển sang giai đoạn tố tụng tiếp theo hoặc ban hành kết luận điều tra, quyết định đình chỉ điều tra VAHS.

Trong tố tụng hình sự việc phân chia giai đoạn khởi tố, điều tra VAHS là rõ ràng, theo đó giai đoạn điều tra VAHS bắt đầu từ khởi tố VAHS, kết thúc là kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra vụ án. Trong khoahọcĐTHS, không có sựphân chia giai đoạn giữa khởi tố, điềutra là do xuất phát từđối tượng của phương pháp khoa học ĐTHS là những quy luật về tổ chức, tiến hànhhoạt động điều tra và phòng ngừa tội phạm. Dựa trên cơ sở nhận thức những quy luật này, tiến hành nghiên cứu, xác định cơ sở phương pháp luận của công tác điều tra mọi hoạt động tội phạm và phương pháp điều tra tội phạm cụ thể [81, tr.5]. Về phương diện lý luận, điều tra ban đầu với ý nghĩa là một giai đoạn điều tra trong khoa học ĐTHS vẫn còn là vấn đề cần phải trao đổi [37, tr.23], trong đó điều tra ban đầu là khái niệm mà nội hàm của nó trong khoa học luậttốtụng hình sựcó sựkhác biệt sovớicách hiểu trong khoa học ĐTHS [84, tr.21]. Hoạt động tố tụng, hoạt động ĐTHS là hoạt động phức

39

tạp, gắn liền với phát hiện, xử lý tội phạm và người phạm tội, việc phân chia giaiđoạn

tố tụng, đặcbiệt là giữa khởitốvớigiaiđoạn điềutra mang tính chất tươngđối,về cơ bản vẫn đang trong tiến trình giải quyết của cùngmộtcơ quan, ít có sự chuyển giao từ cơ quan này sang cơ quan khác. Các hoạt động, kiểm tra, xác minh dấu hiệu của tộiphạm bản chất cũng vẫn là các hoạt động xác định tội phạm và sau khi đã khởi tố VAHS, các hoạt động điều tra vẫn phải tiếp tục mà khôngcó sựngừng nghỉ, gián đoạn [37, tr.25]. Như trường hợp nguồn tin về tội phạm do CQĐT trực tiếp phát hiện, việc chuyển hóa tài liệu trinh sát sang tài liệu tố tụng bằng sự kiện như bắt phạm tội quả tang hoặc biên bản phạm tội quả tang, CQĐT nhanh chóng áp dụng biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế và ra Quyết định khởi tố VAHS hoặc trường hợp sau tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, sau khi phân loại xác định có dấu hiệu tội phạm, không tiến hành kiểm tra, xác minh đối với nguồn tin về tội phạm mà CQĐT ra quyết định khởi tố VAHS. Bên cạnh đó, tin báo, tố giácvềtộiphạm và kiến nghị khởi tố là một trong các nguồn tin về tội phạm để tiến hành khởi tố hoặc không khởi tố VAHS được tiến hành theo trình tựthủtục; các nguồn tin khác về tội phạm như CQĐT trực tiếp phát hiện để khởi tố VAHS, các hoạt động trước khi ban hành quyết định khởi tố VAHS đang còn chưa rõ ràng về mặt pháp lý. Trong trường hợp này, nếu phân chia giai đoạn thì giai đoạn khởi tố, CQĐT chưa tiến hành các hoạt động kiểm tra nguồn tin về tội phạm. Bởi vì, khởi tố VAHS, pháp luật tố tụng hình sự chỉ yêu cầu“có dấu hiệu của tội phạm” mà không cần “có đủdấu hiệu của tội phạm” vì quyết định khởi tố VAHS chưa phải là căn cứ buộc tội bất kỳ một ai mà chỉ là mở đầu một VAHS để CQĐT cócăn cứ tiến hành các hoạt động điều tra cụ thể được pháp luật tố tụng hình sự quyđịnh nhằm xác định sựthật khách quan của vụ án [83].

Cơ quan điều tra là chủ thể tiến hành các hoạt động điều tra, là giaiđoạn đầu tiên giữ vai trò quan trọng trong toàn bộ tiến trình tố tụng hình sự, thực tiễn đã chỉ ra rằng, có thể nói những kết quả khảquan cũng như những sai lầm tư pháp nghiêm trọng nhất như bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội… thường bắt nguồn từ giai đoạn điều tra [86, tr. 235]. Bởi vì, Tòa án muốn xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật thì trước đó, CQĐT phải tiến hành thu thập được các chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội và những tình tiết khác của vụ án mà nhiệm vụ này lại do chính CQĐT thực hiện. Nhiệm vụ của điều tra VAHS rất quan trọng trong quá

40

trình giải quyết VAHS, giai đoạn quyết định vận mệnh của bị can, không phải là giaiđoạn xét xử, mà là giai đoạn điều tra [69, tr.20]. Như vậy, CQĐT có thẩm quyền điều tra đối với tất cả tội phạm, là cơ sở để xác định thẩm quyền cho CQĐT trong khởi tố và tiến hành các hoạt động điều tra VAHS, từđó xác định thẩm quyền cho từng CQĐT cụ thể trong việc thực hiện các nhiệm vụ trong điều tra VAHS.

Hai là, lập hồ sơ, đề nghị truy tố:Hồ sơ vụ ánlà cơ sở, căn cứ pháp lý đề toà án đưa ra tranh tụngtạiphiên tòavề sựviệc phạm tội và người thực hiện hành vi tội phạm cũng như nhữngvấn đềcó liên quanđếnVAHS. Vì vậy, hồ sơ vụ án có ý nghĩađặc biệttrong quá trình giải quyết VAHS theo mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn nhưở Việt Nam [43, tr.295]. Hồ sơ vụ án bao gồm: Các văn bản,tài liệu đượccác cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập hoặc lập ra trong quá trình khởi tố,điềutra,được sắpxếptheomộttrình tự nhất định, gồm: Lệnh, quyết định, yêu cầu của CQĐT, Viện kiểm sát; các biên bản tố tụng do CQĐT, Viện kiểm sát lập; các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án; các chứng cứ, tài liệu có ý nghĩa trong giải quyết VAHS. Là kết quả tập hợp có hệ thống những văn bản, tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra VAHS theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sựnhằm chứng minh những vấn đềcần chứng minh trong VAHS cụ thể như: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm vànhững tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai làngười thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hìnhsựcủa bị can và đặc điểm vềnhân thân của bị can cùng các tình tiết có liên quan giúp cho việc làm rõ sự thật khách quan của vụ án, đề xuất xửlý người phạm tội đúng chính sách pháp luật. Nhiệm vụ này được thể hiện sau khi điều tra, xác định được tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, người có hành vi phạm tội đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì CQĐT phải kịp thời lập hồ sơ đề nghị truy tố.

Việc truy tố, xétxửchỉ được căn cứvào những chứng cứđãđược thu nhậpđúng thủ tục và có trong hồ sơ vụ án, chứng cứ được thu thập trái với trình tự, thủ tục của BLTTHS hoặc thu nhập đúng với trình tựthủ tục tố tụngnhưng chưa được đưa vào hồ sơ vụ án, thì không có giá trị pháp lý.Để đảm bảo choviệc giải quyết vụ án chính xác, khách quan, không để lọt tội phạm và làm oan người vô tội, khi lập hồ sơ

41

vụ án hình sự CQĐT cần phải nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá thận trọng tất cả những tài liệu, chứngcứđãthu thậpđược về VAHS, để đảm bảocác chứng cứđều thể hiện đầy đủ các thuộc tính là tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp của chứng cứ, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác truy tố, xét xử, trong quá trình điều tra, CQĐT cần xác định chính xác những vấn đề cần chứng minh; thu thập chứng cứ chứng minh

từng vấn đềđó và sắpxếp một cách trình tự, khoa học để đưa vàohồ sơVAHS chuyển Viện KSQS đề nghị truy tố bị can.

Ba là, tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và phòngngừa. Tội phạm phát sinh là kết quả tác động của hàng loạt các nguyên nhân, điều kiện khác nhau, việc xác định đúng nguyên nhân,điềukiện phạm tội sẽ giúp cho việc xácđịnhđúng quy luật diễn biến, tìm được những biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm có hiệu quả, xây dựng biện pháp phòng ngừa tội phạm không thể chỉ dựa trên tình hình tội phạm mà phải gắn kết với nguyên nhân của tội phạm. Trên cơ sở đó, các biện pháp phòng ngừa mới có thể giải quyết được nguyên nhân phát sinh tội phạm, từ đó, ảnh hưởng tới hiệu quảcủa việc phòng ngừa tội phạm xảy ra trên thực tế.

Phòng ngừa tội phạm là trách nhiệm của Nhà nước, các tổ chức và công dân, nhưng vai trò của CQĐT là quan trọng hàng đầu vì cơ quan này có chuyên môn nghiệp vụ trong phòng, chống tội phạm. CQĐT có vai trò quan trọng trong việc kiến nghị đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật, nhất là pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, là cơ quan có trình độ chuyên môn sâu nên những kiến nghị của CQĐT là xác đáng, góp phần hoàn thiện pháp luật, sẽ hạn chế bất cập về luật và điều rõ ràng là pháp luật ngày càng hoàn thiện thì nó sẽ là công cụ pháp lý hiệu quả trong việc ngăn chặn tội phạm. Bên cạnh đó, CQĐT trong QĐNDVN phốihợp vớicơ quan, tổ chức, đơn vịQuân đội để tuyên truyền giáo dục quân nhân, quần chúng nhân dân tích cực tham gia công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm. Phòng ngừa tội phạm bằng cách chủ động ngăn ngừa, không để cho tội phạm xảy ra là quan trọng hơn nhiều so với việc cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, truy tố, xét xử và áp dụng đối với người phạm tội, vì khi đó, tội phạm đã xảy ra rồi [92, tr.251].

Như vậy, việc xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội là rất quan trọng vìđây là những yếu tố làm nảy sinh, phát triển tội phạm. Do đó, trong quá trình điều tra,

42

CQĐT phải chứng minh, làm rõ những nguyên nhân, điều kiện phạm tội và dựa trên cơ sở đó với tưcách là một cơ quan tiến hành tố tụng phải yêu cầu các cơ quan hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa,nếu làm tốt vấn đề này thì CQĐT đã thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm một cách hiệu quả.

Ngoài ra, bên cạnh nhiệmvụ, mụcđích chung của điều tra VAHS là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các quân nhân thực hiện hành vi phạm tội, đối tượng có hành vi xâm phạmđến Quân đội phạm tội theo quyđịnhcủa pháp luật. Thông qua kết quả điều tra có ý nghĩa quan trọng để duy trì kỷ luật Quân đội, nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội, nếu những hành vi vi phạm pháp luật hoặc xâm phạm đến Quân đội không được điều tra và xử lý kịp thời, thì sẽ ảnh hưởng đến uy tín và sức mạnh của Quân đội, có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến tinh thần của các quân nhân khác trong Quân đội.

Các CQĐT trong QĐNDVN là đơn vị Quân đội, ĐTV là quân nhân tại ngũ; bên cạnh nhiệmvụ điều tra VAHS theo quyđịnh của pháp luật, CQĐT trong QĐNDVN thực hiện các nhiệm vụ quân sự khác theo sựphân côngcủa ngườichỉhuy đơnvị Quân đội, như tham gia diễn tập khu vực phòng thủ; luyện tập chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu theo đội hìnhchiến đấu của đơn vịquân đội; xác minh

các trườnghợpquân nhân trốn tránh nhiệm vụ, vắngmặttại đơnvị…. Như vậy, khi

thực hiện chức năng, nhiệm vụ điều tra các VAHS thuộc thẩm quyền, CQĐT trong QĐNDVN có những quyền hạn sau:

Thứ nhất, có thẩm quyền khởitốVAHS, khởi tố bị can: Khi phát hiện, tiếp nhận, phân loại, giải quyết nguồn tin về tội phạm, CQĐT trong QĐNDVN tiến hành kiểm tra xác định nguồn tin về tội phạm có hay không dấu hiệu của tội phạm khôngđể raquyếtđịnhkhởi tố hoặc không khởitố vụ ánhình sự, khi có đủ chứng cứ xácđịnh một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì ra quyết định khởi tố bị can.

Thứ hai, có thẩm quyền áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật đểphát hiện và thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm làm rõtộiphạm và người phạm tội, như: Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, hỏi cung bị can, lấy lời khai người tham gia tố tụng, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra và các biện phápđiều tra khác theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình

43

sự, như: Các biện pháp ngăn chặn; các biện pháp bảo đảm thu thập chứng cứ; các biện pháp cưỡng chế bảo đảm cho hoạt động tố tụng hình sự và các biện pháp khác theo quy định của pháp luật.

Thứ tư, có thẩm quyền ra kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra.

2.1.3. Phạm vi, giới hạn thẩm quyền điều tra vụ án hình sựcủaCơ quanđiềutra trong Quân đội nhân dân Việt Nam

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

KHO TÀI LIỆU.rar\TÀI LIỆU 2025 – RAR archive, unpacked size 48,578,319 bytes/ THẨM QUYỀN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦACƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN.pdf

Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam Thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *