Phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động kinh doanh chủ yếu của hầu hết các ngân hàng thương mại nói chung và các ngân hàng thương mại ở Việt Nam nói riêng. Việc nâng cao chất lượng tín dụng sẽ tạo ra và mang đến giá trị cho cả ngân hàng lẫn khách hàng.

Từ năm 2020 đến nay, tình hình tín dụng khách hàng pháp nhân toàn Agribank chi nhánh tỉnh Quảng Nam có chiều hướng giảm về cả dư nợ cũng như số lượng khách hàng vay vốn còn dư nợ, cụ thể: năm 2021 dư nợ giảm 134 tỷ đồng tương ứng giảm 60 khách hàng so với năm 2020, năm 2022 dư nợ giảm 160 tỷ đồng tương ứng giảm 15 khách hàng so với năm 2021. Trước thực trạng đó Ban lãnh đạo Agribank chi nhánh tỉnh Quảng Nam đã ra văn bản ngày 23/03/2023 số 630/NHNo.Qna –KHDN “ V/v: Phát động thi đua tăng trưởng tín dụng khách hàng pháp nhân năm 2023”

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam – Agribank Tây Giang cũng đã có nhiều cố gắng phát triển hoạt động tín dụng đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp lớn và phát triển Ngân hàng. Tuy nhiên, với những gì đạt được chưa phải là đã tương xứng với tiềm năng của ngân hàng cũng như của các doanh nghiệp lớn trên địa bàn, việc không ngừng phát triển hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp lớn là rất cần thiết để Agribank Tây Giang không ngừng mở rộng và phát triển, chính vì vậy đề tài: “Phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam” được lựa chọn nghiên cứu nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu tổng quát: Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam, từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam

2.2. Mục tiêu cụ thể:

Để đáp ứng được mục tiêu tổng quát, luận văn chia nhỏ thành 3 mục tiêu cụ thể:

– Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động trong công tác phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nói riêng.

– Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam

– Đề xuất một số giải pháp trong công tác phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam

2.3. Câu hỏi nghiên cứu:

Để đáp ứng mục tiêu tổng quát cũng như 3 mục tiêu cụ thể, luận văn cần trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu tương ứng.

– Hoạt động tín dụng khách hàng nói chung phát triển hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp gồm những nội dung gì?

– Thực trạng côn tác hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua là như thế nào?

– Cần phải làm gì để phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến?

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam.

Phạm vi nghiên cứu tại tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam, số liệu được thu thập trong thời gian 2020-2022 để phân tích đánh giá.

4. Phương pháp nghiên cứu

– Luận văn được nghiên cứu theo phương pháp nghiên cứu hỗn hợp để tổng hợp các lý thuyết và nghiên cứu trước để hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về Hoạt động tín dụng khách hàng nói chung phát triển hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp nói riêng để hình thành nên cơ sở lý thuyết của đề tài.

– Về phương pháp phân tích, luận văn giới hạn sử dụng một số kỹ thuật phân tích thống kê mô tả để đánh giá sự biến động theo thời gian về quy mô và cấu trúc dữ liệu thứ cấp (các báo cáo, nghiên cứu đã có, liên quan) theo các chỉ tiêu khác nhau để nhận diện thực trạng hoạt động tín dụng khách hàng nói chung phát triển hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

5.1. Ý nghĩa khoa học

Đề tài nghiên cứu góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm các cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, quy trình liên quan đến hoạt động tín dụng khách hàng nói chung phát triển hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp nói riêng.

5.2. Ý nghĩa thực tiễn

Về lý luận: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng Agribank Tây Giang thông qua việc trình bày khái quát về hoạt động tín dụng của Ngân hàng Agribank Tây Giang, đặc điểm tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp, khái niệm, các chỉ tiêu đánh giá, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng danh nghiệp của Ngân hàng Agribank Tây Giang.

Về thực tiễn: Mô tả, đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân làm hạn chế phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Agribank thời gian tới.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá những vấn đề đặt ra, Luận văn đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Agribank Tây Giang thời gian tới.

Phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

6. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng và phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng và phát triển hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam.

Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu phát triển hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

Một số công trình nghiên cứu về đề tài giải pháp phát triển hoạt động tín dụng đã được thực hiện như:

“Phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp lớn tại ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam” chuyên đề tốt nghiệp luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Mạnh Mười Lúa – Đại học quốc gia Hà Nội viết năm 2015. Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp lớn tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam trên cơ sở đó đề ra các giải pháp phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp lớn tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam.

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Võ Việt Hùng, (2011): “Giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”. Đề tài của tác giả đã hệ thống hóa lý luận cơ bản về hoạt động tín dụng NHTM, đưa ra những yêu cầu cần thiết để mở rộng hoạt động tín dụng. Trình bày thực trạng hoạt động tín dụng của NH Nông nghiệp và Phát triển nông thông Việt Nam trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp cụ thể góp phần mở rộng hoạt động tín dụng đối với Agribank trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Hải Thanh, (2014) với đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam”. Trong đó, luận văn đã hệ thống hóa những lý luận cơ bản về nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM, phân tích đánh giá về thực trạng hoạt động tín dụng tại Techcombank trên địa bàn Hà Nội từ năm 2012 – 2014, từ đó rút ra thành công hạn chế và nguyên nhân của hạn chế về hoạt động tín dụng của NH. Luận văn đề xuất những kiến nghị và giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của NH trên địa bàn Hà Nội.

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Lê Thị Huyền, (2010): “Luận cứ khoa học về xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam”. Đề tài của tác giả đã đúc kết lại lý thuyết cơ bản về mô hình quản lý rủi ro và từ đó đưa ra những lý thuyết cơ bản về mô hình quản lý rủi ro và từ đó đưa ra những lý thuyết cơ bản về mô hìn h rủi ro tín dụng. Luận án đã nghiên cứu đặc điểm hoạt động tín dụng, thực trạng rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng của hệ thống NHTM Việt Nam. Đồng thời nêu định hướng quản lý rủi ro trong thời gian tới đồng thời phân tích lợi ích và các điều kiện ảnh hưởng đến việc xác định mô hình quản lý rủi ro ở các NHTM Việt Nam.

Như vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động tín dụng của ngân hàng dưới các góc độ khác nhau và thời gian khác nhau, đó là nguồn tài liệu quý giá để luận văn kế thừa và phát triển. Tuy nhiên, các công trình đó chủ yếu đề cập đến những giải pháp chung nhất và mang tính thời điểm, phạm vi trong một tổ chức cụ thể, mặt khác, có một số đề tài chỉ tập trung chủ yếu nghiên cứu về lĩnh vực quản lý rủi ro tín dụng. Do đó, đứng trước bối cảnh hiện nay và với một tổ chức như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam hoạt động trên địa bàn nhiều cạnh tranh thì các giải pháp trên không còn phù hợp. Vì vậy cần có những nghiên cứu thật chi tiết về quản lý hoạt động tín dụng đối với Agribank Tây Giang nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngân hàng cũng như phục vụ tốt cho chính sách phát triển kinh tế, chính trị và xã hội trên địa bàn huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam.

Trong năm 2022, Agribank đã dành 30.000 tỷ đồng triển khai tín dụng ngắn hạn ưu đãi đối với khách hàng doanh nghiệp lớn với mức lãi suất cho vay ngắn hạn 4,0%/năm để bổ sung vốn lưu động thực hiện phương án sản xuất kinh doanh. Đối tượng của chương trình là các doanh nghiệp lớn hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp, xây dựng và thương mại dịch vụ theo các tiêu chí của Agribank.

Bên cạnh việc được hưởng lãi suất cho vay ưu đãi, khách hàng còn được hưởng các chính sách ưu đãi miễn giảm phí dịch vụ khác của Agribank như: Tiền gửi có kỳ hạn, Chi trả lương qua tài khoản, Nhờ thu tự động, Nộp thuế điện tử, Thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ, Thẻ, POS, E-Banking, Bảo hiểm,…Ngoài ra, nhằm tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng của dịch covid 19, Agribank đã triển khai đồng loạt nhiều giải pháp hỗ trợ khách hàng vượt qua khó khăn, ổn định kinh doanh vượt qua sản suất như: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ, miẽn giảm lãi suất cho vay, Miễn phí chuyển tiền trong nước …

Như vậy, với vai trò chủ lực trong thực hiện chính sách tiền tệ, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, nhất là khu vực nông nghiệp nông dân và nông thôn, Agribank luôn dành nguồn vốn ưu đãi lớn hỗ trợ khách hàng, doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng sản xuất kinh doanh đặc biệt trong giai đoạn toàn xã hội đang bị ảnh hưởng bởi dịch Covid – 19 như hiện nay.

1.2. Cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng và phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp

1.2.1. Tổng quan về hoạt động tín dụng ngân hàng thương mại

1.2.1.1. Khái niệm về tín dụng

Theo pháp lệnh của Ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hành ngày 24/05/1990: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.” Như vậy, ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ thông qua nghiệp vụ huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay, đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác.

Tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là một sản phẩm của nền sản xuất hàng hoá. Nó tồn tại song song và phát triển cùng với nền kinh tế hàng hoá và là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên những giai đoạn cao hơn. Tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế-xã hội, đã có nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng được đưa ra. Song khái quát lại có thể hiểu tín dụng theo khái niệm cơ bản sau:

“Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận.”

Mối quan hệ giao dịch này thể hiện các nội dung sau:

+ Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định. Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như: hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản.

+ Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay.

+ Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay ban đầu hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức (lãi vay).

Tóm lại, tín dụng là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các chủ thể trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi.

Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng với một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay, hay nói cách khác, ngân hàng là một trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi tạm thừa vốn sang nơi thiếu. Giá (lãi suất) của khoản vay do ngân hàng ấn định cho khách hàng vay là mức lợi tức mà khách hàng phải trả trong suốt khoản thời gian tồn tại của khoản vay.

Chủ thể tham gia trong quan hệ TDNH là ngân hàng, nhà nước, doanh nghiệp và hộ dân cư. Đối tượng được sử dụng trong quan hệ tín dụng là tiền, do đó, nó không chịu sự giới hạn theo hàng hoá, vận động đa phương đa chiều. Đây chính là ưu điểm nổi bật và là đặc điểm khác biệt giữa TDNH với các loại hình tín dụng khác. Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu, chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế.

Tín dụng Ngân hàng được thực hiện trên cơ sở 4 nguyên tắc sau:

+ Cho vay có hòan trả vốn và lãi sau một thời gian nhất định. Đây là nguyên tắc đảm bảo thực chất của tín dụng. Tính chất tín dụng sẽ bị phá vỡ nếu nguyên tắc này không được thực hiện đầy đủ.

+ Cho vay có giá trị tương đương làm đảm bảo: Giá trị đảm bảo là cơ sở của khả năng thu hồi nợ, là cơ sở hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng, là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhât trong nhiều trường hợp khác nhau.

+ Cho vay phải có mục đích và kế hoạch theo hợp đồng đã ký. Nguyên tắc này đòi hỏi người vay vốn phải thực hiện đúng kế hoạch, mục đích trong hợp đồng vay vốn và sử dụng có hiệu quả khoản tiền vay đó.

+ Cho vay phải có nguồn trả nợ đảm bảo. Người vay vốn phải giải trình được nguồn trả nợ khoản vay với ngân hàng. Có như vậy thì chất lượng khoản vay mới được đảm bảo. Như vậy, bên cạnh tài sản đảm bảo, mục đích vay rõ ràng thì nguồn trả nợ cũng là một nguyên tắc vô cùng quan trọng trong tín dụng ngân hàng.

1.2.1.2. Khái niệm tín dụng ngân hàng thương mại

– Tín dụng ngân hàng thực hiện cho vay dưới hình thức tiền tệ: cho vay bằng tiền tệ là loại hình tín dụng phổ biến, linh hoạt và đáp ứng mọi đối tượng trong nền kinh tế quốc dân.

– Tín dụng ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay của các thành phần trong xã hội chứ không phải hoàn toàn là vốn thuộc sở hữu chính mình như tín dụng nặng lãi hay tín dụng thương mại.

– Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội. Có những trường hợp mà nhu cầu tín dụng ngân hàng gia tăng nhưng sản xuất và lưu thông hàng hóa không tăng, nhất là trong thời kì kinh tế khủng hoảng, sản xuất và lưu thông hàng hóa bị co hẹp nhưng nhu cầu tín dụng vẫn gia tăng để chống tình trạng phá sản. Ngược lại trong thời kì kinh tế hưng thịnh, các doanh nghiệp mở mang sản xuất, hàng hóa lưu chuyển tăng mạnh nhưng tín dụng ngân hàng lại không đáp ứng kịp. Đây là một hiện tượng bình thường của nền kinh tế.

– Hơn nữa tín dụng ngân hàng còn có một số ưu điểm nỏi bật so với hình thức khác là:

+ Tín dụng ngân hàng có thể thỏa mãn một cách tối da nhu cầu về vốn của các đối tượng khác trong nền kinh tế vì nó có thể huy động nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong xã hội dưới nhiều hình thức và khối lượng lớn.

+ Tín dụng ngân hàng có thời hạn cho vay phong phú, có thể cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn do ngân hàng có thể điều chỉnh giữa các nguồn vốn với nhau để đáp ứng nhu cầu về thời hạn vay.

+ Tín dụng ngân hàng có phạm vi lớn vì nguồn vốn bằng tiền là thích hợp với mọi đối tượng trong nền kinh tế, do đó nó có thể cho nhiều đối tượng vay.

1.2.1.3. Nội dung hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại

Đây là hoạt động chủ yếu của NHTM bởi nó tạo ra thu nhập chính, duy trì cho sự tồn tại cho NHTM. Đây cũng là hoạt động cơ bản và lâu dài, NHTM dùng những khoản vốn huy động được để cho vay đối với nền kinh tế, nhằm giúp những người có nhu cầu vốn có điều kiện để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh của mình hoặc đảm bảo các nhu cầu khác. Với việc cho vay này NHTM đã làm cho sự phát triển kinh tế được thông suốt và hiệu quả. Bởi nếu không có nguồn vốn vay từ ngân hàng thì rất nhiều doanh nghiệp không thể tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh được, bởi vì hầu như mọi doanh nghiệp hiện nay đều vay vốn ngân hàng. Bên cạnh đó hoạt động cho vay mang lại thu nhập cho ngân hàng dưới dạng lãi vay, càng cho vay được nhiều thì lãi thu được càng lớn. Tuy nhiên hoạt động tín dụng tiềm ẩn nhiều rủi ro, vì vậy việc nâng cao chất lượng các khoản tín dụng là mục tiêu hàng đầu, sống còn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng để đảm bảo hiệu quả, thu nhập cao mà vẫn an toàn.

1.2.2. Phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp

Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của hệ thống NHTM ở nước ta, nó mang lại 60 – 70% thu nhập cho mỗi ngân hàng. Vì vậy, phát triển hoạt động tín dụng là vấn đề sống còn của mỗi ngân hàng. Phát triển hoạt động tín dụng cần thực hiện ở mọi khía cạnh: phát triển sản phẩm tín dụng, mở rộng địa bàn, nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay, thu nợ…

Các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý hoạt động tín dụng

Nhóm chỉ tiêu phản ánh phát triển hoạt động tín dụng

          • Tỷ lệ tăng trưởng doanh số cho vay

Đây là chỉ tiêu phản ánh quy mô cấp tín dụng của ngân hàng đối với nền kinh tế, là chỉ tiêu phản ánh chính xác tuyệt đối về hoạt động cho vay trong một khoảng thời gian. Do đó, nếu kết hợp doanh số cho vay của các thời kỳ liên tiếp thì có thể thấy được xu hướng hoạt động tín dụng của NHTM.

Chỉ tiêu càng cao thì mức độ hoạt động của ngân hàng càng ổn định và có hiệu quả, ngước lại, nếu chỉ tiêu này thấp thì ngân hàng đang gặp khó khăn, nhất là trong việc tìm kiếm khách hàng và thể hiện việc thực kế hoạch tín dụng chưa hiệu quả.

          • Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ tín dụng

Nhóm chỉ tiêu này phản ánh khả năng tăng trưởng dư nợ tín dụng và quy mô tín dụng của NH. Đồng thời còn phản ánh khả năng duy trì và mở rộng thị phần cho vay của NH. Dư nợ tín dụng tăng trưởng ổn định hơn các NHTM khác trên cùng một thị trường khẳng định năng lực cạnh tranh của NH đó cao hơn các đối thủ và mức đóng góp vốn cho đầu tư trong nền kinh tế nhiều hơn.

+ Dư nợ tín dụng: Chỉ tiêu này phản ánh nguồn vốn cho vay của NHTM được đầu tư vào nền kinh tế tại thời điểm xác định. Hiện nay phân loại dư nợ tại mỗi thời điểm xác định được thể hiện ở nhiều tiêu thức khác nhau như: theo thời gian, theo ngành sản xuất, thành phần kinh kinh tế…Việc xác định dư nợ ở thởi điểm đẻ xác định quy mô, mức độ đầu tư và đa dạng trong hoạt động tín dụng của NH.

+ Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng tín dụng:

Chỉ tiêu này để so sánh sự tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm để đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của NH.

Chỉ tiêu càng cao thì mức độ hoạt động của ngân hàng càng ổn định và có hiệu quả, ngước lại, nếu chỉ tiêu này thấp thì ngân hàng đang gặp khó khăn, nhất là trong việc tìm kiếm khách hàng và thể hiện việc thực kế hoạch tín dụng chưa hiệu quả.

          • Hiệu suất sử dụng vốn

Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lê vốn cho vay trong tổng nguồn vốn huy động. Nó xem xét, đánh giá tỷ trọng cho vay đã phù hợp với khả năng đáp ứng về vốn của bản thân ngân hàng hay chưa. Tỷ lệ này trên thực tế giao động từ 30 – 100%. Thông thường vào khoảng trên 80% là tốt, nếu xấp xỉ 100% có thể sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến ngân hàng. Tính thanh khoản của ngân hàng sẽ bị đe dọa do khối lượng dự trữ không được đảm bảo. Còn tỷ lệ này quá thấp, ngân hàng sẽ phải tăng mức dư nợ hoặc giảm nguồn vốn huy động nhằm hạn chế rủi ro.

  1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh an toàn đầu tư tín dụng
          • Hệ số thu nợ

Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả thu nợ của NH hay khả năng trả nợ vay của khách hàng, cho biết số tiền mà Ngân hàng thu được trong thời kỳ kinh doanh nhất định từ một đồng doanh số cho vay. Hệ số này càng lớn thì công tác thu hồi vốn của NH càng hiệu quả, hoạt động của NH càng an toàn và ngược lại.

          • Nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá CLTD của NH, nó phản ánh những rủi ro TD mà NH phải đối mặt. Nếu chỉ tiêu này cao, ngân hàng sẽ bị đánh giá là có CLTD thập và ngược lại. Tuy nhiên, nợ xấu là một vấn đề khó tránh khỏi trong hoạt động tín dụng tại NH, do đó điều quan trọng là NHTM cần duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp thấp là có thể chấp nhận được. Theo NH thế giới, tỷ lệ này ở mức dưới 5% là có thể chấp nhận được, tốt ở mức 1 – 3%.

  1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh lợi nhuận
          • Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng

Mục tiêu cuối cùng của NH là lợi nhuận, là phần thặng dư mà mình tao ra được lớn nhất. Khi tốc độ tăng doanh thu chậm hơn tốc độ tăng chi phí sẽ dẫn đến lợi nhuận giảm sút. Trong hoạt động tín dụng thì lợi nhuận từ hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Chất lượng tín dụng không thể nói là tốt nếu tỷ trọng thu nhập từ hoạt động cho vay là thấp.

          • Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động tín dụng

Chỉ tiêu này dùng để đo lường khả năng sinh lời của NH do hoạt động tín dụng mang lại. Nó dùng để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tài chính của NH, đánh giá khả năng đôn đốc, thu hồi lãi và tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu của NH từ việc cho vay

Chỉ tiêu càng cao thì tình hình thì tình hình thực hiện kế hoạch tài chính cũng như tình hình tài chính của ngân hàng càng tốt. Ngược lại ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc thu lãi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh thu của NH, chỉ tiêu này cũng thể hiện tình hình bất ổn trong hoạt động cho vay của NH, có thể nợ xấu trong NH tăng cao nên ảnh hưởng đến khả năng thu hồi lãi của NH và có thể ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ trong tương lai.

          • Tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động tín dụng

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản tín dụng của NH. Chỉ tiêu này phản ánh một đồng dư nợ thì tạo được bao nhiêu thu nhập thuần từ hoạt động cho vay. Tỷ lệ cao tức là lợi nhuận tín dụng lớn, chất lượng tín dụng cao và ngược lại.

          • Thời hạn hoàn vốn và vòng quay vốn tín dụng

+ Thời hạn hoàn vốn là một quá trình từ lúc vay đến khi thu hồi hết nợ. Do đó, việc xác định thời hạn hoàn vốn là rất quan trọng. Nếu xác định thời hạn hoàn vốn chính xác và hợp lý, doanh nghiệp sẽ tiến hành sản xuất kinh doanh một cách thuận lợi và đảm bảo hoàn trả được ngân hàng đúng kỳ hạn. Nếu thời hạn hòa vốn xác định lớn hơn tốc độ luân chuyển vốn của DN sẽ dẫn đến việc DN sử dụng vốn sang mục đích khác, gây khó khăn cho việc NH thu nợ đến hạn, thâm chí có thể gây mất vốn vì DN sử dụng vốn ngoài tầm kiểm soát của NH. Ngược lại, thời hạn cho vay ngắn hơn tốc độ luânchuyển vốn sẽ gây ra căng thẳng cho DN khi không thể trả được gốc và lãi cho NH đúng kỳ hạn.

Vì vậy việc xác định thời hạn cho vay phải dựa trên cơ sở khoa học, đảm bảo số tiền cho vay được sử dụng đúng mục đích, phát huy có hiệu quả để NH thu được gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn.

+ Vòng quay vốn tín dụng là chỉ tiêu thường được các ngân hàng tính toán hàng năm để đánh giá khả năng mở rộng cho vay cũng như hiệu quả công tác thu nợ của ngân hàng.

Đối với khách hàng, chỉ tiêu này càng tăng thì tình hình sản xuất kinh doanh càng tốt, đây là cơ sở để khách hàng thực hiện cam kết trong hợp đồng tín dụng với NH.

Đối với NH, chỉ tiêu này thể hiện khả năng thu hồi vốn của NH cao hay thấp, chất lượng quản lý vốn tín dụng tốt hay kém. Vòng quay tín dụng chậm chứng tỏ chất lượng tín dụng không tốt, thu nợ kém, vốn bị đóng băng.

1.2.3. Khái quát về tín dụng ngân hàng

1.2.3.1. Khái niệm phát triển hoạt động tín dụng

Phát triển hoạt động tín dụng là việc ngân hàng sử dụng các
biện pháp khác nhau để gia tăng quy mô và chất lượng hoạt động tín dụng. Nói cách khác, phát triển hoạt động tín dụng dành được phản ánh thông qua phát triển chiều rộng – quy mô hoạt động tín dụng dành cho các DN và phát triển theo chiều sâu – chất lượng hoạt động tín dụng dành cho các DN. Cụ thể:

Phát triển tín dụng về chiều rộng hay sự gia tăng quy mô hoạt
động phản ánh thông qua việc số lượng khách hàng doanh nghiệp gửi
hồ vay vốn tại ngân hàng, dư nợ tín dụng của các DN gia tăng…

Để phát triển hoạt động tín dụng cho bền vững, các NHTM không
những chỉ quan tâm đến quy mô mà còn phải quan tâm đến phát triển về chiều sâu, hay là chất lượng của hoạt động tín dụng. Chất lượng hoạt động tín dụng DN được phản ánh thông qua: (1) cơ cấu dư nợ tín dụng; (2) nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn; (3) nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu và (4) thu nhập từ tín dụng dành cho DN.

1.2.3.2. Nội dung phát triển hoạt động tín dụng:

Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau, có thể phân loại phát triển hoạt động tín dụng NH như sau:

+ Căn cứ theo khách hàng vay vốn

Hoạt động tín dụng có thể chia thành hai loại: tín dụng đối với doanh nghiệp và tín dụng đối với cá nhân.

+ Căn cứ vào thời gian vay

– Tín dụng ngắn hạn: Hoạt động tín dụng có thời hạn dưới một năm. Đôi với khỏan tín dụng này thường được dùng để bù đắp sự thiếu hụt nhu cầu vốn lưu động và nhu cầu chi tiêu cá nhân

– Tín dụng trung hạn: Hoạt động TD có thời hạn từ 1 năm đến 3 năm, được sử dụng chủ yếu đầu tư tài sản cố định, mở rộng SXKD, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Bên cạnh đầu tư tài sản cố định, nó còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các DN và nhu cầu tiêu dùng cá nhân như: mua sắm các tài sản có giá trị lớn hay đầu tư bất động sản…

– Tín dụng dài hạn: Hoạt động tín dụng có thời hạn trên 3 năm, được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu đầu tư SXKD hay dự án dài hạn như: xây dựng nhà ở, phương tiện vận tải, xây dựng nhà xưởng mới…

+ Căn cứ theo đảm bảo

– Tín dụng có đảm bảo: Trong hợp đồngtín dụng khách hàng đi vay cam kết đảm bảo về việc dùng tài sản mà mình đang sở hữu hoặc đang sử dụng để trả nợ cho NHTM như: Nhà của, quyền sử dụng đất, máy móc thiết bị, ô tô, tài sản cố định khác… hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba khi không thực hiện việc trả nợ gốc và lãi theo đúng thời hạn quy định trong hợp đồng. NHTM sẽ phát mãi những tài sản đảm bảo đó trên thị trường nhằm thu hồi vốn và lãi.

– Tín dụng không có đảm bảo: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của KH. Đối với những KH có uy tín, có tài chính lành manh, quản lý có hiệu quả, làm ăn thường xuyên có lãi, không xảy ra tình trạng nợ nần thì NH có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân KH mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung.

+ Căn cứ theo hình thức tài trợ tín dụng

Cho vay: Là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho KH một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi. Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng

* Cho vay từng lần: Áp dụng cho các trường hợp KH vay vốn bổ sung vốn lưu động không thường xuyên hoặc KH có vòng quay vốn kinh doanh dài

* Cho vay theo hạn mức tín dung: Áp dụng trong các trường hợp khách hàng có nhu cần bổ dung vốn lưu động thường xuyên, có mục đích sử dụng vốn rõ ràng và có uy tín với NH. Khi hợp đồng tín dụng theo hạn mức có hiệu lực, KH cần rút vốn sẽ không cần phải ký thêm hợp đồng tín dụng mà chỉ cần lập giấy nhận nợ kèm bảng kê và bản sao chứng từ tài liệu chứng minh mục đích sử dụng tiền vay.

* Cho vay theo dự án đầu từ: NH cho KH vay vốn để thực hiên các dự án đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.

* Cho vay hợp đồng (đồng tài trợ): Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của KH; trong đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác để thực hiện.

* Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay và phải cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.

* Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: NH cam kết đảm bảo sẵn sàng cho KH vay vốn trong phạm vi hạn mức TD nhất định. NH và KH thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức TD dự phòng, mức phí trả cho hạn mức TD dự phòng.Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dung: NH chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng đẻ thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của ngân hàng.

* Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà NH thỏa thuận cho KH chi vượt số tiền có trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng trong phạm vi hạn mức tín dụng.

– Cho thuê tài chính: Là NH bỏ tiền mua tài sản cho khách hàng thuê, dựa trên hợp đồng thuê tài sản được ký kết với điều kiện thoản thuận nhất định.

– Chiết khấu thương phiếu: là việc KH được NH ứng trước một số tiền tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của NH để sở hữu một thương phiếu (giấy tờ có giá khác) chưa đến hạn thanh toán.

– Bảo lãnh: Là việc NHTM cam kết thực hiên các nghĩa vụ tài chính hộ cho khách hàng. Nghiệp vụ này NHTM chưa phải xuất tiền ra song ngân hàng đã cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu phí.

1.2.3.3. Vai trò của tín dụng

Tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế. Hoạt động tín dụng có chất lượng sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tạo ra sự ổn định trong lưu thông tiền tệ. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, vai trò của tín dụng ngân hàng cũng ngày một tăng lên, thể hiện:

Thứ nhất, tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ có hiệu quả cho nền kinh tế. Trong nền kinh tế các doanh nghiệp hoạt động SXKD dựa trên nguồn vốn tự có và vốn tài trợ từ bên ngoài như: ngân hàng, doanh nghiệp khác. Trong đó vốn tín dụng ngân hàng vẫn là nguồn tài trợ có hiệu quả hơn cả, bởi vì nó thoả mãn nhu cầu về số lượng và thời hạn, đồng thời chi phí sử dụng vốn tín dụng ngân hàng thường thấp hơn chi phí sử dụng các nguồn vốn khác.

Thứ hai, tín dụng ngân hàng là công cụ để giải quyết mâu thuẫn giữa người thừa vốn và người thiếu vốn. Vì ngân hàng luôn thu hút tập trung mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của tổ chức kinh tế, dân cư để đầu tư cho quá trình mở rộng sản xuất, tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững. Trong quá trình hoạt động đó, ngân hàng thu được lợi tức từ hoạt động cho vay để duy trì phát triển hoạt động của chính bản thân mình. Tuy vậy, trong cơ chế thị trường hiện nay, huy động và cho vay bao nhiêu, có đáp ứng được hay không đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế, thu hồi vốn có đúng hạn hay không là vấn đề được đặt lên hàng đầu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Do đó, mỗi ngân hàng cần phải có nghệ thuật trong kinh doanh, phải tìm mọi biện pháp hữu hiệu nhằm thu hút tối đa nguồn vốn với chi phí thấp nhất để cho vay. Có thể nói, tín dụng ngân hàng góp phần quan trọng vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển tiền tệ trong xã hội.

Thứ ba, tín dụng ngân hàng góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ và thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Trong mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ để tái sản xuất, mở rộng hoạt động, mọi chu kỳ đều phải bắt đầu bằng tiền và kết thúc bằng tiền. Do đó, để tăng nhanh vòng quay vốn, mỗi chủ thể kinh doanh phải tìm kiếm và thực hiện nhiều biện pháp như cải tiến kỹ thuật, tìm kiếm thị trường mới…Tất cả những công việc trên đòi hỏi phải có nhiều vốn mà tín dụng ngân hàng là nguồn cung ứng vốn cho các nhu cầu đó một cách đầy đủ và kịp thời nhất. Mặt khác, vốn ngân hàng cung ứng cho các nhà kinh doanh bằng việc cho vay với đều kiện phải hoàn trả cả gốc và lãi theo thời hạn quy định. Vì vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp phải tìm nhiều biện pháp để sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay của vốn, trả nợ gốc và lãi đúng hạn. Chính quá trình này đã góp phần tạo cho nền kinh tế hàng hoá ngày càng phát triển.

Thứ tư, tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế. Trong điều kiện hiện nay, việc phát triển kinh tế của một nước phải luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Trong đó, đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá là hai lĩnh vực hợp tác thông dụng và phổ biến giữa các nước.Vốn là nhân tố quyết định đầu tiên cho việc thực hiện quá trình này. Nhưng trên thực tế không phải một tổ chức kinh tế nào, một nhà kinh doanh nào cũng đủ vốn để hoạt động. Ngân hàng với tư cách là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, thông qua hoạt động tín dụng sẽ là “nhà tài trợ” đắc lực về vốn cho các nhà đầu tư kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá.

Thứ năm, tín dụng ngân hàng là công cụ để Nhà nước điều tiết khối lượng tiền tệ lưu thông trong nền kinh tế, kiểm soát tiền vào kênh lưu thông qua kênh tín dụng. Bởi vì, ngân hàng là một chủ thể quan trọng tham gia vào quá trình tạo tiền thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán. Khi ngân hàng mở rộng hoặc thắt chặt tín dụng sẽ tác động đến lượng tiền trong lưu thông. Do đó, khi Nhà nước muốn tăng khối lượng tiền trong lưu thông thì NHNN có thể tăng hạn mức tín dụng của các NHTM đối với nền kinh tế và ngược lại.

Thứ sáu, tín dụng ngân hàng góp phần thoả mãn nhu cầu tiết kiệm và mở rộng đầu tư của nền kinh tế. Qua việc cung ứng vốn sẽ góp phần mở rộng đầu tư bằng việc cấp vốn cho các doanh nghiệp đồng thời thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường chế độ hạch toán kinh tế, tiết kiệm trong hoạt động kinh doanh.

Như vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nó giải quyết mâu thuẫn nội tại của nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững. Tuy nhiên, để tín dụng ngân hàng phát huy được hết vai trò của nó thì các nhà quản lý ngân hàng, các cơ quan chức năng phải tạo ra một hành lang pháp lý cũng như các quy định chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho cả người vay và người đi vay trong nền kinh tế.

1.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá phát triển hoạt động tín dụng

1.2.4.1. Các chỉ tiêu phát triển tín dụng theo chiều rộng:

* Chỉ tiêu phát triển khách hàng: Để đo lường phát triển tín dụng theo chiều rộng, chỉ tiêu được sử dụng trong các nghiên cứu là chỉ tiêu phát triển khách hàng thể hiện qua mức tăng số lượng khách hàng và tỷ lệ tăng số lượng khách hàng. Trong đó:

– Mức tăng số lượng khách hàng DN:

Công thức tính:

Mức tăng số lượng khách hàng DN = Số lượng khách hàng DN
năm (t) – Số lượng khách hàng DN năm (t-1)

Chỉ tiêu này nếu dương cho thấy số lượng DN vay vốn tại ngân hàng tăng lên, góp phần thể hiện quy mô hoạt động tín dụng dành cho DN của ngân hàng tăng lên. Ngược lại, nếu hiệu số có kết quả âm, có nghĩa là số lượng DN vay vốn tại NHTM giảm xuống, không phù hợp với định hướng phát triển tín dụng dành cho DN.

  • Tỷ lệ tăng số lượng khách hàng DN:

Công thức tính:

Tỷ lệ tăng số lượng khách hàng DN = mức tăng số lượng khách hàng DN năm (t) / số lượng khách hàng DN năm (t-1) * 100%

Chỉ tiêu này cho thấy tốc độ tăng số lượng khách hàng qua nhiều thời điểm khác nhau, cho thấy xu hướng mở rộng cho vay khách hàng DN của ngân hàng nghiên cứu.

  • Chỉ tiêu phản ánh phát triển thị phần:

Công thức tính:

Tỷ lệ DN có quan hệ tín dụng = Số lượng DN vay vốn năm (t) / Số lượng DN năm (t) * 100%

Chỉ tiêu này đánh giá dựa trên tỷ lệ DN được vay vốn trên tổng
số DN trên địa bàn huyện Tây Giang. Tỷ lệ này cao và ngày càng tăng cho thấy NHTM đã phát triển theo chiều rộng, tiếp cận và cho vay được nhiều DN trên địa bàn. Điều này mang lại lợi ích cho cả ngân hàng và DN. Đối với việc gia tăng DN được vay vốn, NHTM sẽ tăng thu nhập lãi, tận dụng bán chéo sản phẩm dịch vụ. Đối với DN, việc được vay vốn sẽ giúp DN có nguồn vốn để sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này cao cũng phần nào thể hiện thị phần mà NHTM đang chiếm giữ trên thị trường trong hoạt động cấp tín dụng cho các DN.

  • Chỉ tiêu phát triển dư nợ tín dụng DN trên địa bàn huyện Tây Giang:
  • Mức tăng dư nợ tín dụng DN

Công thức tính:

Mức tăng dư nợ tín dụng DN = Dư nợ tín dụng DN năm (t) – Dư nợ tín dụng DN năm (t-1)

Bên cạnh gia tăng số lượng khách hàng DN vay vốn, một trong những chỉ tiêu khác phản ánh quy mô hoạt động tín dụng cho các DN gia tăng chính là sự tăng lên trong dư nợ tín dụng dành cho DN của ngân hàng. Mức tăng dư nợ tín dụng của DN càng cao càng cho thấy ngân hàng đã mở rộng được quy mô hoạt động tín dụng cho DN. Ngược lại, chỉ tiêu này âm cho thấy chi nhánh đang có xu hướng giảm quy mô hoạt động tín dụng DN.

– Tốc độ tăng dư nợ tín dụng DN

Công thức tính:

Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng DN trong các KCN = [Dư nợ tín dụngDN trong các KCN năm (t) – Dư nợ tín dụng DN trong các KCN năm (t-1)] / Dư nợ tín dụng DN trong các KCN năm (t-1) * 100%

Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm để đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng. Chỉ tiêu này càng cao thì quy mô hoạt động tín dụng DN của ngân hàng càng được mở rộng. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này thấp hoặc giảm dần theo thời gian cho thấy xu hướng tín dụng cho DN bị thu hẹp.

* Chỉ tiêu cơ cấu (tỷ trọng) dư nợ DN

Công thức tính:

Cơ cấu dư nợ DN = [Dư nợ tín dụng DN năm (t) /Dư nợ tín dụng năm (t)] *100%

Chỉ t­iêu này cho thấy sự phát triển về chiều rộng của hoạt động tín dụng của NHTM. Nếu tỷ trọng dư nợ DN ngày càng cao càng cho thấy quy mô tín dụng DN ngày càng được mở rộng. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này giảm có thể thấy được xu hướng giảm dần của trong mở rộng tín dụng của NHTM.

1.2.4.2. Các chỉ tiêu phát triển tín dụng theo chiều sâu

Để đánh giá phát triển tín dụng theo chiều sâu, nghiên cứu tập trung vào chất lượng hoạt động tín dụng DN như (1) cơ cấu dư nợ tín dụng; (2) tỷ lệ nợ quá hạn; (3) tỷ lệ nợ xấu.

  1. Cơ cấu dư nợ tín dụng theo các tiêu chí:
  • Cơ cấu dư nợ tín dụng DN theo nhóm nợ: Đây là chỉ tiêu quan trọng
    để đánh giá chất lượng tín dụng. Nếu không tồn tại dư nợ DN từ nhóm 2 trở
    lên cho thấy CN kiểm soát tốt chất lượng hoạt động tín dụng DN.
    Ngược lại, nếu tỷ lệ này tập trung cao ở các nhóm nợ quá hạn, nợ xấu thì cho thấy rủi ro tín dụng trong hoạt động tín dụng DN tại CN ở mức cao.
  • Cơ cấu dư nợ tín dụng DN theo mục đích sử dụng vốn: Đa dạng mục
    đích sử dụng vốn giúp NHTM phân tán rủi ro, hay nói cách khác là hạn chế rủi ro tập trung trong danh mục cấp tín dụng.

Các DN có nhu cầu vay bổ sung vốn lưu động, mua sắm tài sản cố định hoặc thực hiện các dự án đầu tư. Việc tính tỷ lệ dư nợ cho vay theo mục đích sử dụng vốn giúp đánh giá mức độ phân tán rủi ro theo mục đích vay vốn của NHTM.

  • Cơ cấu dư nợ tín dụng DN theo thời gian: Thời gian cho vay càng dài thì rủi ro càng cao. Việc cấp tín dụng thời gian dài đòi hỏi NHTM phải có cơ chế quản trị rủi ro tín dụng phù hợp.
  • Cơ cấu dư nợ tín dụng DN theo tài sản bảo đảm: Cấp tín dụng không
    có bảo đảm làm cho NHTM không có nguồn thu nợ thứ hai để thu hồi nợ khi khách hàng vay không trả được nợ. Do đó, phân tích cơ cấu dư nợ tín dụng DN theo tài sản bảo đảm giúp đánh giá được mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng DN của NHTM.
  1. Tỷ lệ nợ quá hạn

Công thức tính:

Tỷ lệ nợ quá hạn DN = Nợ quá hạn DN năm (t) / dư nợ DN năm (t)

Nợ quá hạn là một chỉ số quan trọng để đo lường chất lượng nghiệp vụ tín dụng. Nợ quá hạn là các khoản nợ mà người vay chậm trả cho ngân hàng từ 10 ngày trở lên. Các ngân hàng có chỉ số này thấp đã chứng minh được chất lượng tín dụng cao của mình và ngược lại. Tỷ lệ nợ quá hạn càng chiếm tỷ trọng thấp càng cho thấy chất lượng tín dụng trong cho vay DN được kiểm soát chặt chẽ, hạn chế rủi ro, tổn thất cho ngân hàng.

Ngoài ra, để đánh giá mức độ nghiêm trọng của RRTD nhiều nghiên cứu còn sử dụng tỷ lệ nợ xấu.

  1. Tỷ lệ nợ xấu:

Công thức tính:

Tỷ lệ nợ xấu DN = nợ xấu DN năm (t) / Dư nợ DN năm (t)

Nợ xấu là các khoản nợ khách hàng chậm trả từ 90 ngày trở lên, bao gồm nợ được phân loại vào nợ nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5. Nếu tỷ lệ nợ xấu DN gia tăng cho thấy trong mức độ nghiêm trọng, có rủi ro cao của chi nhánh
đang ngày càng tăng. Nếu mở rộng cho vay DN mà chất lượng cho vay DN không được kiểm soát sẽ tạo ra nhiều rủi ro cho ngân hàng, vừa không đảm bảo thu nhập, chi phí, trong đó có dự phòng rủi ro tín dụng tăng lên sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Việc phát triển tín dụng không chỉ giúp doanh nghiệp kinh doanh có lãi mà còn đảm bảo cho ngân hàng phát triển và tồn tại. Do đó, cần phải phân tích sự phát triển về hiệu quả mà hoạt động tín dụng dành cho DN mang lại cho ngân hàng. Chỉ tiêu được sử dụng trong nghiên cứu là tốc độ tăng trưởng thu nhập lãi từ tín dụng DN.

* Chỉ tiêu phản ánh phát triển về hiệu quả

Công thức tính:

Tốc độ tăng trưởng thu nhập lãi từ tín dụng DN = [Thu nhập
lãi từ tín dụng DN năm (t) – Thu nhập lãi từ tín dụng DN năm (t-1)] / Thu nhập từ lãi từ tín dụng DN năm (t-1)

Chỉ tiêu này cho thấy hiệ­u quả của việc mở rộng quy mô cho vay DN đối với việc gia tăng thu nhập lãi từ cho vay DN của ngân hàng.

1.3. Một số kinh nghiệm trong phát triển hoạt động tín dụng của một số ngân hàng lớn

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra sức ép ngày càng lớn hơn cho hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Sự cạnh tranh không chỉ diễn ra ở nước ngoài mà còn diễn ra ngay tại thị trường trong nước. Trước áp lực cạnh tranh gay gắt với các ngân hàng và tổ chức tài chính nước ngoài trên thị trường Việt Nam đang ngày càng mở rộng, một yêu cầu tất yếu đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam là phải nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay, bởi đây là hoạt động chính mang lại lợi nhuận chủ yếu cho Ngân hàng, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng. Bên cạnh các ưu thế, cơ hội sẵn có của các NHTM Việt Nam, các NHTM Việt Nam cần tìm hiểu và học hỏi kinh nghiệm của các NHTM trên thế giới. Sau đây là kinh nghiệm của một số ngân hàng Hàn Quốc, Mỹ.

1.3.1. Kinh nghiệm của một số ngân hàng nước ngoài:

  • Kinh nghiệm của ngân hàng công nghiệp quốc doanh Hàn Quốc (IKB):

Ngay từ khi mới ra đời cho đến nay, hệ thống ngân hàng Hàn Quốc vẫn đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của chính phủ, nhằm đạt được mục tiêu ngân hàng trở thành kênh cung ứng vốn quan trọng cho nền kinh tế. Ngân hàng IKB do chính phủ Hàn Quốc thành lập vào năm 1961 nhằm cung cấp dịch vụ tài chính – ngân hàng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hàn Quốc. Theo kinh nghiệm của ngân hàng quốc doanh Hàn Quốc IBK, để nâng cao hiệu quả trong hoạt động cho vay ngân hàng IBK Hàn Quốc đã thực hiện như sau:

+ Để giảm chi phí huy động vốn cần tăng cường đầu tư cho hoạt động kinh doanh của các hộ gia đình, thiết lập các hoạt động liên quan đến nhượng quyền thương mại, quản lý các khoản tiền thanh toán trong quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp.

+ Để giảm thiểu chi phí quản lý, cần tăng cường đầu tư vào công nghệ thông tin, đặc biệt là việc tự phát triển hệ thống công nghệ thông tin sẽ giúp tiết giảm chi phí và hiệu quả hơn, tăng quy mô tài sản lên một mức độ nhất định vẫn duy trì được các chi phí theo tỷ lệ tương ứng một cách tiết kiệm.

+ Để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho vay, cần phải có một hệ thống xếp hạng tín dụng hiệu quả; phải duy trì được đủ cán bộ tín dụng có năng lực, làm thẩm định tín dụng phải độc lập và có hiệu quả; các khoản vay phải có tài sản bảo đảm. Một số sản phẩm cho vay đặc biệt được áp dụng đối với doanh nghiệp là:

– Cho vay với lãi suất tăng dần, có quyền lựa chọn vốn hóa khoản vay trong doanh nghiệp: Sản phẩm cho vay này chỉ áp dụng dối với các doanh nghiệp thiếu vốn lưu đông và ngân hàng dự đoán tình hình tài chính của doanh nghiệp có xu hướng phát triển. Lãi suất của khoản vay tăng dần trong ba năm, từ khi cho vay và ngân hàng có quyền chuyển đổi khoản vay thành vốn góp hoặc trái phiếu chuyển đổi của chính doanh nghiệp vay vốn.

– Cho vay theo mạng lưới: trên cơ sở cam kết thanh toán và thư giới thiệu của nhà thầu chính, ngân hàng sẽ cấp vốn cho các nhà thầu phụ, các nhà thầu phụ này sẽ mở tài khoản tại ngân hàng. Nhà thầu chính sẽ thanh toán cho nhà thầu phụ để trả nợ ngân hàng, ngân hàng sẽ thu nợ trên cơ sở xem xét dòng tiền của phương án, kế hoạch vay vốn.

  • Khoản vay cho các doanh nghiệp công nghệ cao: Khoản vay này được tài trợ cho các doanh nghiệp thiếu vôn và chỉ xem xét khi được bảo đảm bằng sụ định giá từ quỹ bảo lãnh tín dụng công nghệ.
  • Cho vay thanh toán: Cho vay ngắn hạn đáp ứng các nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp, làm giảm các gánh nặng tài chính cho người cung cấp.
  • Kinh nghiệm của ngân hàng Citi Bank – Mỹ:

Citi Bank là một ngân hàng lớn và có lịch sử lâu đời trong hệ thống ngân hàng thương mại Mỹ, trong hoạt động cho vay các khoản nợ tín dụng về cơ bản được CitiBank xếp thành bốn loại: Những khoản tín dụng chú ý, những khoản nợ kém tiêu chuẩn; những khoản tín dụng có nghi ngờ và những khoản tín dụng mất trắng.

Trong hoạt động cho vay, để tránh rủi ro và có được hiệu quả cao nhất, CitiBank đặt ra nguyên tắc: Sàng lọc, giám sát và thiết lập mối quan hệ lâu dài với khách hàng. Thực hiện đa dạng hóa khách hàng cho vay và đa dạng hóa cho vay ở những ngành nghề khác nhau để giảm bớt rủi ro, nâng cao hiệu quả cho vay. Cụ thể các biện pháp đã được Citibank áp dụng thành công mang lại hiệu quả cao trong hoạt động cho vay như sau:

+ Nuôi dưỡng một mối quan hệ lâu dài và tổng hợp với bên đi vay và phục vụ mọi nhu cầu về tài chính của họ. Kết quả là những người cho vay sẽ hiểu nhiều hơn về tình hình tài chính của khách hàng và có được lợi nhuận khi bán các sản phẩm tài chính đa dạng, trong khi đó bên vay sẽ có được một nguồn hỗ trợ lâu dài cùng với dịch vụ cho vay.

+ Nhấn mạnh việc thẩm định khoản vay hơn là việc kiểm soát khoản vay. Việc cắt giảm hoặc làm tắt trong quá trình thẩm định sẽ dẫn đến khoản nợ xấu. Thêm vào đó, cho vay các khoản nợ có rủi ro sẽ không đáng nếu tính đến khối lượng công việc phải thực hiện để khoản vay không bị quá hạn. Hơn nữa, cần đánh giá đúng tình trạng của từng bên vay hơn là câu nệ vào các phương pháp và công thức tự động, ví dụ như chấm điểm tín dụng.

+ Tránh sử dụng những đơn vị môi giới, vì các đơn vị môi giới không có động cơ để đem lại các khoản vay có chất lượng cao hơn do họ được trả không căn cứ vào chất lượng khoản vay.

+ “Thực chứng hơn thực cung”, nghĩa là cần yêu cầu bên vay phải chứng tỏ được kinh nghiệm của mình trong kinh doanh, yêu cầu bên vay cung cấp thế chấp cả tài sản cá nhân và tài sản doanh nghiệp cho dù là tài sản đảm bảo có cần thiết hay không để tạo ra động lực về tâm lý cho bên vay đối với khoản vay.

+ Tập trung quyết định cho vay để bảo đảm tính thống nhất và kiểm soát. Mặc dù các bên cho vay nhỏ hoặc lớn có thể khác nhau về phương pháp xem xét khoản vay, cả 2 đều yêu cầu có ít nhất một cán bộ, không phải là cán bộ thẩm định khoản vay, để xem xét lại khoản vay và đưa ra quyết định phê duyệt cuối cùng. Kết cấu này loại bỏ việc ra quyết định phê duyệt cuối cùng từ nhiều cán bộ rải rác mà tập trung việc phê duyệt vào một cán bộ hoặc một nhóm để đảm bảo tính thống nhất, kiểm soát và hiệu quả trong thẩm định khoản vay.

+ Yêu cầu cán bộ cho vay phải có trách nhiệm với khoản vay họ cho vay. Quyết định tín dụng chỉ tốt khi thông tin trình bày, việc phân tích phải đầy đủ, đa số các đơn vị cho vay đều tin vào trách nhiệm của cán bộ cho vay. Mặc dù không có đơn vị nào nhấn mạnh về việc phạt các cán bộ khi có nợ khó đòi, trong đa số trường hợp các cán bộ cho vay phải hỗ trợ việc thu hồi các khoản vay khó đòi.

+ Áp dụng hệ số tín nhiệm cho các khoản vay mới và thẩm định lại hệ số này theo định kỳ trong suốt thời hạn của khoản vay. Ngân hàng cần có một hệ thống chấm hệ số tín nhiệm hoặc có kế hoạch để tạo ra một chương trình chấm điểm. Trong một chương trình điển hình, một khoản vay mới sẽ được áp dụng một giá trị bằng số thể hiện mức rủi ro vào thời điểm thẩm định khoản vay. Trong suốt thời gian vay vốn, con số này có thể được duyệt lại căn cứ vào lịch sử trả nợ của bên vay và các yếu tố khác.

+ Xác định nợ xấu sớm và tăng cường các nỗ lực thu hồi nợ rất mạnh mẽ; luôn theo dõi để xác định sớm những dấu hiệu của khoản vay xấu trong tương lai. Cách tốt nhất để xác định sớm các dấu hiệu là luôn giữ mối liên hệ với khách hàng, không đợi cho đến khi khoản vay trở nên quá hạn. Sự tích cực xác định và tìm kiếm khả năng thu hồi các khoản nợ chỉ trong vài ngày kể từ khi khoản vay bị trễ có thể làm giảm thời gian cần có tiêu tốn vào các động tác thu hồi nợ và cho phép các bên cho vay điều chỉnh thời hạn trả nợ hoặc giải quyết các vấn đề khác của bên vay sớm.

+ Tuy nhiên, thực tế ngân hàng Mỹ cho thấy, việc đề xuất đúng lối ra cho các khoản nợ xấu là quan trọng hơn việc thu hồi nợ. Việc tất toán khoản nợ xấu chỉ nên xem xét khi đó là cách cuối cùng để thu hồi khoản vay có vấn đề, vì thu hồi có thể hiệu quả hơn thông qua việc tiếp tục trả nợ của một doanh nghiệp vẫn đang hoạt động hơn là phải tất toán tài sản.

1.3.2. Kinh nghiệm của một số ngân hàng trong nước

* Kinh nghiệm của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.

+ Tiến hành lựa chọn, phân loại, sàng lọc khách hàng, xây dựng các tiêu thức xếp hạng khách hàng ngay khi ngân hàng tiến hành thẩm định cho vay với khách hàng. Ưu tiên các khách hàng có tình hình tài chính tốt, phương án sử dụng vốn khả thi, có viễn cảnh hoạt động tốt.

+ Đa dạng hóa các hình thức tín dụng, phát triển các sản phẩm tín dụng mới, bắt buộc khách hàng tham gia vào các dự án tối thiểu phải có 15% đến 30% vốn tự có.

+ Tăng cường công tác kiểm tra giám sát cho vay, quá trình khách hàng sử dụng vốn vay và thu hồi vốn của ngân hàng.

+ Các khoản tín dụng có tài sản bảo đảm phải được coi là yêu cầu bắt buộc, đồng thời ngân hàng cũng thực hiện đa dạng các hình thức bảo đảm như thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh.

+ Phối hợp giải quyết nợ đến hạn cùng với khách hàng vay vốn. Nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trong thu hồi các khoản nợ xấu, mất khả năng thu hồi đã được xử lý.

+ Phân loại nợ để có thể kịp thời trích lập quỹ dự phòng rủi ro tránh ảnh hưởng đến các kế hoạch tài chính của ngân hàng, xử lý triệt để nợ tồn đọng và giám sát thu hồi các khoản nợ quá hạn đã đưa ra theo dõi ngoại bảng.

+ Xây dựng chính sách cho vay có đa dạng các ngành hàng, lĩnh vực, các khu vực của nền kinh tế. Thiết lập cơ cấu cho vay theo thời hạn ổn định và hợp lý.

+ Xây dựng kênh thu thập thông tin về khách hàng phục vụ cho công tác thẩm định, hoạt động kiểm tra giám sát khoản tín dụng

+ Bồi dưỡng trình độ đội ngũ cán bộ tín dụng nhằm nâng cao khả năng thẩm định, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và mức độ rủi ro của khách hàng. Tổ chức công tác cho vay nhanh gọn, linh hoạt, gắn chặt quyền quyết định cho vay với trách nhiệm về chất lượng các khoản vay.

* Kinh nghiệm của Ngân hàng TMCP Quân đội:

+ Đảm bảo sự bình đẳng giữa các khách hàng vay vốn. Việc xét duyệt cho vay của ngân hàng cần thiết phải dựa trên hiệu quả sản xuất kinh doanh, tiềm năng phát triển của doanh nghiệp và các điều kiện khách quan khác nữa để không ngừng mở rộng cho vay đến các khách hàng mới, tiềm năng chứ không chỉ cho vay các khách hàng truyền thống.

+ Đẩy mạnh hoạt động marketing ngân hàng. Cần lập ra một chiến lược marketing cụ thể, từ đó đẩy mạnh quá trình tiếp cận khách hàng, tìm hiểu nhu cầu và đặc điểm khách hàng, từ đó có các giải pháp thu hút khách hàng.

+ Nhanh chóng củng cố và hoàn thiện việc thu thập, lưu trữ, xử lý và cung cấp thông tin nhằm phục vụ cho công tác thẩm định và cả quá trình cấp tín dụng.

+ Đảm bảo và nâng cao chất lượng thẩm định theo đúng quy trình. Trong đó cần giải quyết tốt các vấn đề: năng lực và trình độ của cán bộ thẩm định; tổ chức và quản lý hoạt động thẩm định.

+ Xây dựng chính sách lãi suất linh hoạt để thu hút khách hàng.

+ Tăng cường các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro khi cung cấp hoạt động tín dụng, Cụ thể là cải tiến quy trình và thủ tục tín dụng; nâng cao khả năng phòng ngừa và kiểm soát các rủi ro trong hoạt động kinh doanh, . . ..

+ Kiên quyết xử lý nợ tồn động, nợ xấu xuống mức thấp nhất có thể. Cần nhìn nhận đúng thực trạng khách hàng để có biện pháp tích hợp xử lý nợ quá hạn phát sinh, vừa tránh tổn thất cho ngân hàng, đồng thời giúp khách hàng tháo gỡ khó khan. Cần tìm hiểu nguyên nhân khách hàng vay vốn không trả nợ đúng hạn để từ đó có biện pháp xử lý thích hợp.

+ Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ, việc kiểm tra phải được tiến hành trước, trong và sau khi cho vay để nâng cao chất lượng cho vay nói riêng và chất lượng kinh doanh của ngân hàng nói chung.

1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam

Từ kinh nghiệm của một số ngân hàng ở nước ngoài và trong nước, có thể rút ra một số bài học cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam để nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay như sau:

+ Nâng cao trình độ cho cán bộ của ngân hàng. Đối với hoạt động cho vay cần tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thẩm định cho vay, đặc biệt là thẩm định tư cách của khách hàng vì điều này có ảnh hưởng có rất lớn đến thiện chí hoàn trả tiền vay của khách hàng. Việc cắt giảm hoặc làm tắt trong quá trình thẩm định sẽ dẫn đến khoản nợ xấu. Bên cạnh đào tạo về trình độ nghiệp vụ, đạo đức cán bộ thẩm định cho vay cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của khoản vay.

+ Bên cạnh việc thẩm định khoản vay, việc kiểm soát sau cho vay cũng rất quan trọng để kịp thời có biện pháp xử lý nếu khách hàng sử dụng vốn sai mục đích.

+ Để nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay, ngoài các khách hàng lớn trong khu công nghiệp, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam cũng cần chú trọng phát triển đa dạng các đối tượng khách hàng như khách hàng cá nhân, khách hàng vừa và nhỏ nhằm phân tán rủi ro và phát triển đa dạng hóa các sản phẩm cho vay.

+ Cần có những đổi mới mạnh mẽ trong quản trị kinh doanh, năng lực tài chính và xây dựng những điều kiện cho vay mới phù hợp với đặc thù của các đối tượng khách hàng tạo khả năng tiếp cận được với nhiều đối tượng khách hàng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn và những dịch vụ tài chính của nền kinh tế. Điều này vừa nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay của chi nhánh, vừa điều chỉnh được cấu trúc thị trường tài chính.

+ Giảm thiểu các chi phí quản lý thông qua ứng dụng công nghệ thông tin góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả.

+ Cần phải sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng có hiệu quả, xây dựng một hệ thống quản lý hoạt động cho vay đồng bộ theo chuẩn quốc tế.

+ Hoạt động cho vay của ngân hàng đóng vai trò quan trọng hàng đầu giải quyết nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Từ đặc điểm kinh tế xã hội Việt Nam cùng với việc phát huy những kinh nghiệm quý báu, là những bài học cần thiết để phát triển hệ thống ngân hàng.

1.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp

Các nhân tố chủ quan:

    • Quy mô của Ngân hàng thương mại: ảnh hưởng tới việc phát triển hoạt động tín dụng nói chung và việc phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp lớn nói riêng. Ngân hàng thương mại có quy mô lớn, địa bàn hoạt động rộng, có danh tiếng và uy tín cao trong nền kinh tế sẽ thu hút khách hàng gửi và vay tiền, tạo điều kiện cho Ngân hàng thương mại phát triển hoạt động tín dụng.
    • Chính sách tín dụng của ngân hàng: mỗi ngân hàng có một chính sách tín dụng riêng đối với từng loại khách hàng khác nhau. Các đối tượng khách hàng của ngân hàng có khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp. Với khách hàng là các doanh nghiệp lại được phân theo từng ngành nghề, lĩnh vực, khu vực hoạt động, theo quy mô thì có doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ.
    • Nguồn vốn của ngân hàng: là yếu tố tiền đề để phát triển hoạt động tín dụng, nguồn vốn của một ngân hàng càng lớn càng ổn định thì việc phát triển hoạt động tín dụng sẽ dễ dàng hơn so với 1 ngân hàng có nguồn vốn hạn hẹp ít ổn định, trong đó:
    • Lãi suất cho vay của ngân hàng: Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng vốn vay, lãi suất luôn được coi là biến số nhạy cảm đối với đời sống kinh tế – xã hội, nó là nhân tố tác động tích cực đối với việc phát triển hoạt động tín dụng đồng thời nó cũng sẽ là yếu tố kìm hãm sự phát triển hoạt động tín dụng nếu như ngân hàng không có chính sách lãi suất hợp lý.
    • Công tác marketing của ngân hàng: cũng có tác động tới việc phát triển hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Marketing sẽ thu thập thông tin, phân tích nhu cầu của thị trường để tìm kiếm các cơ hội kinh doanh, đó còn là chiếc cầu nối giữa người làm marketing với khách hàng và thị trường. Hơn thế nữa qua quá trình Marketing sẽ giúp cho ngân hàng có thể cung cấp các sản phẩm của mình một cách có hiệu quả nhất và qua đó xây dựng các chính sách sản phẩm, giá cả, phân phối nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mục tiêu.
    • Trình độ, thái độ phục vụ của nhân viên giao dịch: Cũng tác động tới việc phát triển hoạt động hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Nhân viên giao dịch chính là những người đại diện cho ngân hàng trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, do đó khả năng giao tiếp, thái độ niềm nở lịch sự, trình độ kiến thức tổng hợp về các nghiệp vụ ngân hàng là yếu tố quan trọng tạo cho khách hàng tâm lý thoải mái khi đến với ngân hàng. Điều này làm tăng khả năng phát triển hoạt động tín dụng ngân hàng đối với mọi tầng lớp khách hàng trong đó là các doanh nghiệp lớn.

Các nhân tố khách quan:

– Các nhân tố thuộc về môi trường kinh tế

+ Môi trường kinh tế – xã hội: có tác động tích cực hoặc tiêu cực vào doanh nghiệp. Khi môi trường đầu tư thuận lợi, các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh của mình và ngược lại, và khi doanh nghiệp mở rộng và nâng cao chất lượng đầu tư sẽ củng cố và hoàn thiện hơn môi trường đầu tư, đồng thời tạo điều kiện cho Ngân hàng thương mại phát triển hoạt động tín dụng.

+ Hệ thống pháp luật đồng bộ: sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong đó có các Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh thuận lợi, dễ dàng trong việc cấp tín dụng cũng như các hoạt động khác. Hệ thống pháp luật đồng bộ sẽ tạo ra khả năng xử lý tài sản làm đảm bảo cho nợ vay và khả năng thu hồi vốn của Ngân hàng thương mại nhanh hơn, rủi ro trong hoạt động ngân hàng thấp hơn và Ngân hàng thương mại có khả năng thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng.

– Các nhân tố thuộc về các doanh nghiệp:

+ Động cơ đầu tư của doanh nghiệp: là điều kiện để phát triển hoạt động tín dụng của ngân hàng. Động cơ đầu tư của doanh nghiệp bắt nguồn từ lợi nhuận. Mục tiêu đầu tiên và cuối cùng của các doanh nghiệp là lợi nhuận. Lợi nhuận do đầu tư mang lại càng cao và có độ rủi ro càng thấp thì nhu cầu đầu tư càng lớn. Động cơ đầu tư của doanh nghiệp có được thực hiện hay không còn phụ thuộc vào vốn đầu tư. Trong khi đó dự án, phương án đầu tư đòi hỏi khối lượng vốn lớn mà chỉ một mình doanh nghiệp sẽ khó thực hiện được. Điều này tạo điều kiện cho các Ngân hàng thương mại tham gia đầu tư vốn vào doanh nghiệp. Như vậy động cơ đầu tư của các doanh nghiệp quyết định việc phát triển hoạt động cho vay của ngân hàng. Nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp càng lớn, các ngân hàng càng có điều kiện để phát triển hoạt động tín dụng.

+ Năng lực tài chính của doanh nghiệp: Khả năng tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở khối lượng vốn tự có và tỷ trọng vốn tự có trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp sử dụng. Điều kiện tín dụng thường quy định một tỷ lệ cụ thể, tối thiểu của vốn tự có trong tổng nguồn vốn hoạt động hay một tỷ lệ vốn tự có tham gia phương án, dự án vay vốn. Năng lực tài chính của doanh nghiệp còn thể hiện ở khả năng thanh toán của doanh nghiệp, việc đáp ứng các yêu cầu thanh toán còn lệ thuộc khá lớn vào kết cấu tài sản của doanh nghiệp như khả năng chuyển hoá thành tiền của tài sản. Năng lực tài chính của doanh nghiệp càng cao, khả năng đáp ứng điều kiện tín dụng càng lớn, càng làm cho ngân hàng có điều kiện phát triển hoạt động và nâng cao chất lượng tín dụng.

+ Tài sản bảo đảm tiền vay: Mặc dù tài sản bảo đảm tiền vay không là yếu tố quyết định đến việc có cho vay hay không mà điều quyết định ở đây là phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Song đối với các doanh nghiệp lớn thì biện pháp bảo đảm bằng tài sản vẫn là nhân tố quan trọng để quyết định có cho vay hay không. Hoạt động ngân hàng là một lĩnh vực nhạy cảm đối với sự tác động từ bên ngoài. Một sự thay đổi dù nhỏ của môi trường xung quanh hay nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế cũng tác động không nhỏ tới toàn bộ hoạt động kinh doanh, khả năng phát triển hoạt động tín dụng của ngân hàng.

Kết luận chương 1

Trong chương 1, luận văn đã khái quát được những vấn đề cơ bản nhất về NHTM, hiệu quả cho vay của NHTM. Luận văn đã đưa ra hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay của NHTM, đây là cơ sở lý luận để đánh giá thực trạng hoạt động cho vay và hiệu quả hoạt động cho vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam. Bên cạnh đó luận văn cũng đã nghiên cứu kinh nghiệm trong việc nâng cao hiệu quả cho vay của một số NHTM trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong việc nâng cao hiệu quả cho vay đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH HUYỆN TÂY GIANG TỈNH QUẢNG NAM

2.1. Tổng quan về chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Nam và Chi nhánh Tây Giang

2.1.1. Giới thiệu sơ lược về Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Nam.

Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng nam (gọi tắt là Agribank Quảng Nam) là một chi nhánh ngân hàng thương mại quốc doanh đóng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, trực thuộc hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Được thành lập vào ngày 01/01/1997, trên cơ sở tách ra từ Sở Giao dịch III-NHNo&PTNT Việt Nam tại Đà Nẵng thành 2 chi nhánh: Chi nhánh Agribank Đà Nẵng và Chi nhánh Agribank Quảng Nam, theo Quyết định số 515/NHNo-02, ngày 16/12/1996 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Agribank Việt Nam.

2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Tây Giang – Quảng Nam

Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Tây Giang được thành lập theo quyết định số:225/QĐ/HĐQT-TCCB ngày 01 tháng 08 năm 2003 của Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam trên cơ sở chi tách từ Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT huyện Hiên và có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 08 năm 2003. Chi nhánh hoạt động theo mô hình chi nhánh cấp 2 loại 4 trực thuộc Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Nam và chính thức đi vào hoạt động kinh doanh từ giữa tháng 08 năm 2003.

Vào ngày 24 tháng 12 năm 2007 Hội đồng quản trị Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam ban hành Quyết định số 1377/QĐ/HDQT-TCCB, với nội dung “Ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam” trong đó phân loại chi nhánh của Ngân hàng nông nghiệp thành 03 chi nhánh là: Chi nhánh loại 1, loại 2 và loại 3. Theo Quyết định này thì Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Tây Giang là chi nhánh loại 2 (tương đương với chi nhánh Quận/Huyện) phụ thuộc trực tiếp vào Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Nam.

Sự ra đời của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Tây Giang nhằm mục đích mở rộng mạng lưới kinh doanh của Hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam nói chung và của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Nam nói riêng nhằm tiếp cận đến các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư trong xã hội cũng như phối hợp với các cơ quan chức năng nhất là với chính quyền, đoàn thể tại địa phương để khai thác các thông tin về khách hàng.

Chi nhánh ra đời nhằm chuyển tải được vốn đến tận tay người dân có nhu cầu vay vốn để sản xuất, kinh doanh cũng như tiêu dùng một cách có hiệu quả và thuận tiện nhất.

2.1.3. Chức năng và nhiệm vụ

Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Tây Giang hoạt động theo quy chế của Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam và theo quy định của pháp luật. Cũng như các Ngân hàng chuyên doanh khác, Chi nhánh có chức năng là kinh doanh và quản lý trực tiếp đồng Việt Nam và ngoại tệ.

Với những chức năng đó Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Tây Giang đảm nhiệm những nhiệm vụ chính:

– Cho vay đến tất cả các thành phần kinh tế.

– Nhận tiền gửi và phát hành kỳ phiếu các loại.

– Dịch vụ chuyển tiền nhanh qua mạng vi tính.

– Bảo lãnh các khoản vay và thanh toán cho các pháp nhân trong nước.

– Thanh toán quốc tế.

– Dịch vụ phát hành thẻ Success (ATM) và thẻ tín dụng nội địa.

– Dịch vụ chi trả kiều hối

– Đại diện cho chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Nam trong những vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của ngành tại địa phương.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE CUONG CHI TIET/ Phát triển hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *