Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành Kế toán trường ĐH Tài Chính – Marketing

Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành Kế toán trường ĐH Tài Chính –  Marketing

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về đề tài:

1.1.1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong những năm tháng vừa qua cả thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã bước qua giai đoạn khủng hoảng đại dịch toàn cầu mang tên Covid-19. Chắc chắn rằng trong lịch sử nhân loại đây là giai đoạn đau thương nhất. Nhìn chung bệnh dịch gây ảnh hưởng toàn cầu, gây gián đoạn chuổi cung ứng, đình trệ sản xuất – kinh doanh. Hơn hết các nhà khoa học luôn cố gắng chạy đua với thời gian và virus để nhanh chóng tạo ra vắc – xin giúp người nhân vượt qua đại dịch. Sau đại dịch Việt Nam đã có chính sách khắc phục sau đại dịch. Đến năm 2022 theo số liệu Tổng cục Thống kê, dân số Việt Nam đạt trên 99 triệu người, tăng gần 956 nghìn người so năm 2021. Trong đó dân số thành thị 37 triệu người, chiếm 37,3%; dân số nông thôn trên 62 triệu người, chiếm 62,7%. Qua số liệu trên các chuyên gia cho rằng, sư gia tăng dân số sẽ mang đến nhiều cơ hội cũng như những thách thức với thị trường lao động việc làm tại Việt Nam, đặc biệt dân số Việt Nam đạt 100 triệu dân vào năm 2023. Gia tăng dân số đã tát động rất lớn đến cơ cấu người lao động ở thị trường Việt, sự trẻ hóa độ tuổi lao động mang tới lợi thế khi lao động trẻ hiện nay đông có đủ sức khỏe, khả năng tiếp thu công nghệ khoa học tốt,… để đáp ứng những tiêu chí của doanh nghiệp trong và ngoài nước. Đây vừa là điểm mạnh cũng là nổi lo của cách nhà quản lý, hoạch định chính sách với câu hổi đặt ra là: Làm sao để tận dụng tối đa thời kỳ cơ cấu dân số vàng góp phần xây dựng đất nước.

Nhận biết được điều đó, ngay từ đầu nhóm nghiên cứu của chúng em đã nhận biết được với chuyên ngành là Kế toán cần phải tìm câu trả lời cho câu hỏi “ Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành Kế toán trường ĐH Tài Chính – Marketing.”

Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành Kế toán trường ĐH Tài Chính -  Marketing
Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành Kế toán trường ĐH Tài Chính – Marketing

Hình 1: Lực lượng lao động giai đoạn 2019 – 2022 (Triệu người)

Theo Liên hợp quốc (UNDESA) thị trường lao động ở các nền kinh tế phát triển có dấu hiệu ổn định.

Trong ba quý đầu năm 2023, thị trường lao động nền kinh tế toàn cầu năm 2023 tăng nhẹ. Phục hồi việc làm sau đại dịch ở các nền kinh tế này diễn ra nhanh hơn nhiều so với phục hồi kéo dài của thị trường lao động sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009. Mặc dù có dấu hiệu tăng trưởng trong lao động nhưng kinh tế thế giới vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn với kinh tế biến động.

Dẫn chứng trong khảo sát tiêu dùng 2023 của PwC, người tiêu dùng Việt Nam đang cắt giảm các khoản chi tiêu không cần thiết, giảm chi tiêu cho những mặc hàng xa xỉ,…PwC đưa ra nhận xét người tiêu dùng đang thận trọng hơn trong thói quen chi tiêu. Cụ thể, 62% người tiêu dùng có xu hướng giảm tiêu thụ các mặt hàng không thiết yếu, thấp hơn so với trung bình toàn cầu (69%). Dẫn đến hàng loạt các của hàng cắt giảm nhân viên, trả mặt bằng kinh doanh thay vào đó kinh doanh với hình thức mua sắm trực tuyến để phù hợp với xu hướng tiêu dùng.

Lực lượng lao động, số người có việc làm quý III năm 2023 tiếp tục tăng so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên lao động phi chính thức chiếm tỷ trọng lớn, khoảng ba phần năm tổng số lao động có việc làm của cả nước. Thu nhập bình quân tháng của người lao động tăng so với quý trước và tăng so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm và thất nghiệp trong độ tuổi lao động không thay đổi so với quý trước và tăng so với cùng kỳ năm trước. Tình trạng hàng trăm nghìn lao động buộc nghỉ giãn việc, thôi việc, mất việc ở các doanh nghiệp diễn ra từ quý IV năm 2022 đã giảm nhiệt trong quý này.

Đối mặt với sự diễn biến phức tạp của nền kinh tế hiện nay nhóm nghiên cứu quyết định lựa chọn chủ đề này để có thể nghiên cứu sâu hơn. Hi vọng sau bằng nghiên cứu này có thể cung cấp thông tin, kiến thức cho tất cả mọi người đặc biệt là thầy cô và sinh viên.

  1. 1.1.2 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu chung:

  • Nghiên cứu Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành Kế toán trường ĐH Tài Chính – Marketing.

Mục tiêu cụ thể:

  • Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành Kế toán của trường ĐH Tài Chính – Marketing.
  • Đo lường mức độ ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành Kế toán của trường ĐH Tài Chính – Marketing.
  • Đề xuất, đóng góp các ý kiến chính sách giúp làm tăng tỷ lệ sinh viên ngành Kế toán sau khi ra trường có được việc làm.
  1. 1.1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
  • Đối tượng nghiên cứu:

– Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học ở Trường Đại học Tài chính – Marketing.

– Đối tượng khảo sát: Sinh viên khoa Kế toán – Kiểm toán Trường Đại học Tài chính – Marketing.

  • Phạm vi nghiên cứu:

– Không gian: Nghiên cứu này được thực hiện bởi các sinh viên thuộc khoa Kế toán – Kiểm toán tại các cơ sở của Trường Đại học Tài chính – Marketing. Nghiên cứu tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học mà không nghiên cứu các yếu tố khác của sinh viên trường Đại học này.

– Dữ liệu sơ cấp: Nguồn dữ liệu chính được thu thập từ việc khảo sát các sinh viên khoa Kế toán – Kiểm toán của Trường Đại học Tài chính – Marketing dựa trên bảng câu hỏi thiết kế sẳn.

– Dữ liệu thứ cấp: Các bài báo, tạp chí, nghiên cứu cả trong và ngoài nước về những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học ở Trường Đại học Tài chính – Marketing.

  1. 1.1.4 Phương pháp nghiên cứu:

– Nghiên cứu này được thực hiện bằng việc khảo sát các sinh viên Chương trình Chất lượng cao (sao nhóm giới hạn sv chương trình chất lượng cao??? Không khảo sát cho tất cả cựu sinh viên tốt nghiệp ngành Kế toán của trường?) Trường Đại học Tài chính – Marketing. Nhóm sử dụng phương pháp khảo sát từ bảng câu hỏi thiết kế sẵn được in ra và gửi thư điện tử, khảo sát qua công cụ Google.docs.

– Số liệu thu thập được qua kết quả nghiên cứu sử dụng phần mềm xử lý số liệu SPSS 20.0 để tổng hợp toàn bộ thông tin dữ liệu, tiến hành làm sạch dữ liệu và chạy mô hình, các kiểm định và tiến hành phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc được tuyển dụng của sinh viên.

1.2. Tổng quan về nghiên cứu:

CHƯƠNG 2 :CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Lý thuyết về cung – cầu lao động:

  1. 2.1.1 Cung lao động và các nhân tố ảnh hưởng

Cung lao động

  • Khái niệm:

– Cung lao động được hiểu là số lượng lao động mà người lao động có khả năng và sẵn sàng cho doanh nghiệp thuê theo các mức tiền công khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định.

– Bên cạnh đó, cung về lao động còn được xem xét từ giác độ chất lượng lao động, tức là các phẩm chất cá nhân của người lao động. Trong đó, trình độ học vấn, trình độ đào tạo, các kỹ năng chuyên môn, kỷ luật lao động…là những yếu tố chính, quyết định chất lượng của loại hàng hóa đặc biệt này.

– Từ đó có thể thấy rằng các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến cung lao động là: quy mô và tốc độ tăng dân số; quy định pháp lý về độ tuổi lao động; tỷ trọng cư dân trong độ tuổi lao động và tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao động; tỷ lệ tham gia của lực lượng lao động vào thị trường lao động; tình trạng tự nhiên của người lao động; các phẩm chất cá nhân về học vấn, trình độ tay nghề, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người lao động, và một số các chỉ số khác.

  • Các nhân tố ảnh hướng tới cung lao động:

– Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến cung lao động của người lao động, trong đó có một số nhân tố cơ bản sau đây:

+ Mức tiền công trả cho một đơn vị lao động: Nếu các yếu tố khác được giả thiết cố định thì khi mức tiền công trả cho một đơn vị lao động càng cao, khả năng và tính sẵn sàng cung ứng sức lao động của người lao động càng lớn và ngược lại.

+ Nhu cầu lao động thực sự của con người: Con người có một đặc điểm đặc thù là có nhu cầu lao động thực sự ngay cả khi họ không có những ấp lực kinh tế hay những áp lực xã hội đáng kể. Từ đặc điểm này, con người vẫn có thể sẵn sàng cung ứng sức lao động của mình ngay cả khi tiền công thấp thậm chí không có.

+ Các áp lực tâm lí xã hội: Khả năng cung ứng sức lao động của con người cho doanh nghiệp trong nhiều trường hợp phụ thuộc vào các ấp lực tâm lí xã hội. Dư luận xã hội thường lên án những người có sức lao động mà không lao động, điều đó đã tác động vào tâm lí con người tạo nên khả năng và tính sẵn sàng cung ứng sức lao dộng ngay cả khi họ không có những áp lực kinh tế đáng kể.

+ Các áp lực kinh tế: Nhu cầu của con người ngày càng tăng lên vô hạn cả về mặt lượng lẫn mặt chất. Để thỏa mãn những nhu cầu ấy, con người phải có thu nhập và cần có thu nhập ngày càng nhiều để không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thường xuyên mà còn cần đáp ứng cả nhu cầu dự trữ đề phòng rủi ro trong cuộc sống hằng ngày.

+ Các nhân tố khác: Ngoài các nhân tố nói trên, ảnh hưởng tới cung lao động còn có nhiều nhân tố khác có thể ví dụ như thời tiết, khí hậu, điều kiện lao động, môi trường lao động,…

  1. 2.1.2 Cầu lao động và các nhân tố ảnh hưởng

Cầu lao động:

  • Khái niệm:

– Cầu lao động là một khái niệm mô tả lượng nhu cầu lao động mà một nền kinh tế hoặc công ty sẵn sàng sử dụng tại một thời điểm nhất định.

* Cơ sở xác định cầu lao động:

– Theo qui luật hiệu suất giảm dần, trong hầu hết các lĩnh vực, cuối cùng sản phẩm cận biên của lao động sẽ giảm.

– Một lưu ý khác là doanh thu sản phẩm cận biên của lao động, đó là sự thay đổi trong doanh thu do sử dụng một đơn vị lao động bổ sung. Nó có thể được sử dụng để xác định số lượng lao động tối ưu để sử dụng với mức lương thị trường nhất định. Theo lí thuyết kinh tế, các công ty tối đa hóa lợi nhuận sẽ thuê nhân công đến mức doanh thu sản phẩm cận biên bằng mức lương vì công ty không trả lương cho công nhân nhiều hơn số tiền họ kiếm được từ lao động.

  • Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu lao động:

– Thay đổi năng suất biên của lao động, chẳng hạn như tiến bộ công nghệ do máy tính mang lại.

– Thay đổi giá của các yếu tố sản xuất khác, bao gồm cả sự thay đổi về giá tương đối của lao động và vốn cổ phần.

– Khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh hay dịch vụ của doanh nghiệp.

– Việc nâng cao chất lượng sản phẩm hay chất lượng dịch vụ

2.2 Thông tin bất cân xứng:

  1. 2.2.1 Khái niệm:

– Bất đối xứng thông tin là tình huống phát sinh khi một bên không nhận biết đầy đủ về đối tâc của mình, dẫn đến những quyết định không chính xác trong quá trình giao dịch. Nói cách khác, thông tin bất cân xứng là tình trạng trong một giao dịch có một bên có thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn bên còn lại.

Chênh lệch thông tin bao gồm những vấn đề chủ yếu như sau:

– Thông tin không đầy đủ, không chính xác.

– Thông tin không thể thu nhập được, thông tin bị che giấu.

  1. 2.2.2 Hệ quả của thông tin bất cân xứng:

– Đúng với nhận định của R. S. Pindyck và D. L. Rubinfeld, thông tin bất cân xứng là một vấn đề phổ biến trong nhiều lĩnh vực, bao gồm cả thị trường lao động. Trong ngữ cảnh của thị trường lao động, thông tin bất cân xứng xuất phát từ sự chênh lệch thông tin giữa người lao động và nhà tuyển dụng. Người lao động (trong trường hợp này là sinh viên mới tốt nghiệp) thường có thông tin chi tiết về kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm của bản thân. Họ có thể sử dụng bằng cấp và các hoạt động ngoại khóa như làm thêm, tham gia các hoạt động xã hội để phản ánh khả năng làm việc của mình. Ngược lại, nhà tuyển dụng thường chỉ nhìn thấy phần nhỏ của thông tin này thông qua hồ sơ ứng viên và cuộc phỏng vấn. Họ không thể hiểu rõ toàn bộ khả năng và kinh nghiệm của mỗi ứng viên. Do đó, để có được một công việc phù hợp, sinh viên cần phải làm việc để nắm bắt thông tin từ nhà tuyển dụng về nhu cầu và yêu cầu công việc, từ đó điều chỉnh và trình bày thông tin về kỹ năng và kinh nghiệm của mình một cách phù hợp. Điều này có thể thể hiện thông qua việc cải thiện hồ sơ cá nhân, chuẩn bị kỹ càng cho cuộc phỏng vấn, và tìm hiểu sâu về doanh nghiệp và ngành nghề mình quan tâm.Tóm lại, thông tin bất cân xứng đặt ra thách thức cho sinh viên trong việc tìm kiếm việc làm, và để vượt qua thách thức này, họ cần phải tích lũy kỹ năng và kiến thức cần thiết, cùng với khả năng hiểu biết và tương tác tốt với nhà tuyển dụng.

2.3 Lý thuyết phát triển nghề nghiệp:

  1. 2.3.1 Khái niệm

– Lý thuyết phát triển nghề nghiệp nghiên cứu về sự phát triển và tiến triển trong sự nghiệp của từng cá nhân. Nó tập trung vào các yếu tố như sở thích, giáo dục, kinh nghiệm làm việc, và giúp hiểu rõ hơn về quá trình người ta chọn nghề, phát triển trong sự nghiệp, và tìm kiếm ý nghĩa trong công việc.

– Lý thuyết mật mã Holland (Holland codes) thuộc nhóm Lý thuyết đặc tính cá nhân và đặc điểm nghề, được phát triển bởi nhà tâm lý học John Holland (1919-2008). Học thuyết của Holland đã lập luận rằng: “Thiên hướng nghề nghiệp chính là sự biểu hiện cá tính của mỗi con người” và nó được phân loại thành 6 nhóm và được diễn tả ở hai phương diện: tính cách con người và môi trường làm việc.

– Nội dung cơ bản Lý thuyết mật mã Holland đưa ra một số luận điểm rất có giá trị trong hướng nghiệp:

  • Nếu một người chọn được công việc phù hợp với tính cách của họ thì họ sẽ dễ dàng phát triển và thành công trong nghề nghiệp. Nói cách khác, những người làm việc trong môi trường tương tự như tính cách của mình hầu hết sẽ thành công và hài lòng với công việc.
  • Hầu như ai cũng có thể được xếp vào 1 trong 6 kiểu tính cách và có 6 môi trường hoạt động tương ứng với 6 kiểu tính cách, đó là: Nhóm kĩ thuật; Nhóm nghiên cứu; Nhóm nghệ thuật; Nhóm xã hội; Nhóm quản Lý; Nhóm nghiệp vụ.
  1. 2.3.2. Mô hình phát triển nghề nghiệp

– Lý thuyết mật mã của John Holland, còn được biết đến là Mô hình sáu loại nghề nghiệp, xác định sự tương quan giữa sở thích cá nhân và môi trường làm việc. Theo mô hình này, có sáu loại nghề nghiệp chính

Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành Kế toán trường ĐH Tài Chính -  Marketing
Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành Kế toán trường ĐH Tài Chính – Marketing

Hình 2: Mô hình sáu loại nghề nghiệp

  1. 2.3.3. Đặc tính cá nhân và đặc điểm nghề.

1. Nghệ thuật : Người thích sáng tạo, nghệ thuật, thích làm việc trong các tình huống không có kế hoạch, có trí tưởng tượng phong phú.

– Đối với nhóm nghệ thuật:

  • Là người khá nhạy cảm, duy tâm, phức tạp
  • Coi trọng về thẩm mỹ
  • Làm việc không theo khuôn phép mà thiên về sự tự do sáng tạo.

2. Nghiên cứu : Người thích nghiên cứu,quan sát, tìm tòi, phân tích thông tin, và giải quyết vấn đề.

– Đối với nhóm nghiên cứu:

  • Là người trí tuệ, tò mò, thích phân tích, kín đao…
  • Là người rất thông minh nhưng thường thiếu khả năng lãnh đạo.
  • Coi trọng những gì liên quan đến khoa học.

3. Xã hội : Người thích giúp đỡ, chăm sóc, huấn luyện cho người khác, thích làm việc cung cấp hoặc sáng tỏ thông tin, có khả năng về ngôn ngữ.

– Đối với nhóm xã hội:

  • Là người khá rộng rãi, kiên nhẫn,
  • Là những người có ích, thông hiểu và có thể truyền kiến thức cho người khác
  • Coi trọng những hoạt động xã hội

4. Quản lý : Người thích làm việc với những người khác, có khả năng lãnh đạo, tác động, thuyết phục người xung quanh.

– Đối với nhóm quản lý:

  • Là người hướng ngoại, thích phiêu luu, lạc quan, tham vọng.
  • Có khả năng lãnh đạo, tài hùng biện.
  • Coi trọng những thành tựu về chính trị, kinh tế..

5. Nghiệp vụ : Người thích công việc có quy tắc, sắp xếp, và làm theo các quy định. Họ đòi hỏi phải xử lý dữ liệu rõ ràng, có trật tự, có hệ thống.

Đối với nhóm nghiệp vụ:

  • Là người tỉ mỉ, thực tế, ngăn nắp, không linh hoạt.
  • Là người có khả năng tính toán.
  • Coi trọng những thành tựu về kinh doanh, kinh tế..
  • Tránh những hoạt động không có quy luật hoặc mang tính nghệ sĩ.

6. Kĩ thuật : Người thích làm việc với những vật cụ thể, máy móc, dụng cụ, cây cối,… và thích các hoạt động ngoài trời.

– Đối với nhóm kĩ thuật:

  • Là người bướng bỉnh, không linh hoạt, thiên về vật chất.
  • Họ nhận thức tài năng của mình một cách máy móc
  • coi trọng những điều cụ thể như tiền bạc
  • hầu như không có mối quan hệ tốt với những người xung quanh.

Mô hình này giúp mọi người hiểu về sở thích nghề nghiệp của mình và chọn lựa môi trường làm việc phù hợp. Nó cũng có thể hỗ trợ trong việc lên kế hoạch nghề nghiệp và phát triển sự nghiệp dựa trên tính cách và sở thích cá nhân.

Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành Kế toán trường ĐH Tài Chính -  Marketing
Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành Kế toán trường ĐH Tài Chính – Marketing

Hình 3: Mô hình sáu loại nghề nghiệp

    1. Các nghiên cứu trước có liên quan:

Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành kế toán. Những nghiên cứu này đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế xã hội ở nhiều trường đại học và quốc gia. Mặc dù sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau, kết quả chung cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành kế toán có thể được chia thành hai nhóm chính:

  • Yếu tố thuộc về sinh viên:
  • Kỹ năng chuyên môn: Kiến thức chuyên môn về kế toán, kiểm toán, tài chính, luật thuế… là yếu tố quan trọng nhất quyết định khả năng được tuyển dụng của sinh viên.
  • Kỹ năng mềm: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng sử dụng công nghệ… là những yếu tố bổ trợ giúp sinh viên tự tin và thành công trong công việc.
  • Kinh nghiệm thực tế: Kinh nghiệm thực tập, làm thêm hay tham gia các dự án liên quan đến ngành kế toán sẽ giúp sinh viên có lợi thế cạnh tranh hơn so với các ứng viên khác.
  • Thái độ và phẩm chất cá nhân: Chăm chỉ, trách nhiệm, cẩn thận, trung thực… là những phẩm chất cần thiết giúp sinh viên thành công trong ngành kế toán.
  • Kết quả học tập: Điểm số và xếp loại tốt nghiệp là những tiêu chí mà nhà tuyển dụng thường quan tâm.
  • Yếu tố thuộc về thị trường lao động:
  • Nhu cầu tuyển dụng: Nhu cầu tuyển dụng nhân lực cho ngành kế toán sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tìm việc làm của sinh viên.
  • Mức độ cạnh tranh: Ngành kế toán là một ngành học phổ biến, do đó, sinh viên sẽ phải cạnh tranh với nhiều ứng viên khác để có được một công việc tốt.
  • Chính sách của nhà nước: Các chính sách hỗ trợ việc làm cho sinh viên mới tốt nghiệp cũng có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành kế toán.
  • Sự phát triển của công nghệ: Việc ứng dụng công nghệ vào ngành kế toán cũng đòi hỏi sinh viên phải có khả năng thích ứng và học hỏi những kiến thức mới.
  • Các nối quan hệ: Việc có được công việc từ nối quan hệ là điều không mấy xa lạ. Sinh viên ngoài việc học các kiến thức nền tảng. Nhà trường luôn phát động phong trào giúp cho sinh viên học tập, trao đổi, kết bạn,…

Ngoài hai nhóm yếu tố chính trên, một số nghiên cứu còn chỉ ra rằng các yếu tố như giới tính, tuổi tác, ngoại hình, nơi sinh sống… cũng có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành kế toán. Tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành kế toán phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Do đó, sinh viên cần rèn luyện cho mình những kỹ năng và phẩm chất cần thiết để đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng. Đồng thời, sinh viên cũng cần cập nhật thông tin về thị trường lao động để có định hướng nghề nghiệp phù hợp. Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành kế toán được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau với những phương pháp nghiên cứu khác nhau. Do đó, kết quả của các nghiên cứu này có thể có sự khác biệt nhất định. Sinh viên cần tham khảo nhiều nguồn thông tin khác nhau để có cái nhìn toàn diện về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của ngành kế toán. Trước đây đã có những nghiên cứu nhầm nhấm vào các vấn đề tồn động trong thực tế của việc theo học ngành nghề kế toán.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024/ Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành Kế toán trường ĐH Tài Chính – Marketing

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *