Các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
Chúng ta đang sống trong sự phát triển và hội nhập nền kinh tế Việt Nam vì vậy việc giáo dục con người ngày càng hoàn thiện để theo kịp xã hội là điều rất cần thiết. Trong đời sống, các ngành nghề nói chung và ngành kế toán nói riêng đòi hỏi phẩm chất đạo đức nghề nghiệp. Những người tự giác và triệt để tuân thủ đạo đức nghề nghiệp thường gặt hái được nhiều thành công và có nhiều uy tín trong quá trình hành nghề. Điều này tạo ra tầm ảnh hưởng tích cực để phát triển bản thân trong sự nghiệp nhiều hơn. Song song với mặt tích cực phát triển nhanh chóng của thế giới mặt trái của thị trường hiện nay đó chính là đồng tiền, địa vị, danh vọng và lợi ích của bản thân. Chính những yếu tố trên đã ảnh hưởng rất lớn đến đạo đức nghề nghiệp của con người và kế toán cũng không ngoại lệ. Là người kế viên hành nghề chuyên nghiệp cần phải tuân thủ nghiêm khắc chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, tạo niềm tin cho doanh nghiệp cũng như bản thân mình.
Gian lận kế toán quy mô lớn không thể không kể đến là công ty khí đốt Eron ở Mỹ vì mô hình kinh doanh phức tạp và các hoạt động phi đạo đức yêu cầu công ty phải sử dụng các hạn chế kế toán để thể hiện thu nhập sai và sửa đổi bảng cân đối kế toán dẫn đến sự phá sản công ty với tổng giá trị tài sản lên đến 63,4 tỷ Đô la Mỹ. Bên cạnh đất nước phát triển như Mỹ, Anh thì Nhật Bản – một đất nước với các Bộ luật nghiêm khắc – cũng đã từng xảy ra vụ gian lận kế toán gây nên chấn động lớn trong lịch sử của đất nước Nhật. Tập đoàn Toshiba phải đối mặt với mức phạt từ 300 tỉ yên đến 400 tỉ yên Nhật, tương đương 2,4 tỉ đến 3,2 tỉ USD vì những sai lệch trong hoạt động kế toán, gian lận tài chính lên tới 170 tỉ yên (tương đương 1,22 tỉ USD). Còn rất nhiều bê bối kế toán ngày càng được phanh phui với nhiều hành vi gian lận khó lường hơn…
Ở Việt Nam, việc gian lận trong kế toán cũng là một vấn đề vô cùng nhạy cảm: công ty Cổ phần y tế Việt Nhật JVC (năm 2015) với tổng tài sản của giảm từ 1.600 tỷ đồng còn hơn 700 tỷ đồng, lỗ lũy kế hơn 1.000 tỷ đồng tính tới cuối năm 2018, hay là Sự kiện rầm rộ của Công ty Cổ Phần Dược phẩm Cửu Long đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, cố ý không báo cáo Bộ Y tế, Bộ Tài chính về thực hiện, quyết toán hợp đồng đặt hàng, giữ lại hơn 3,848 triệu USD tiền giảm giá mua nguyên liệu có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước, gây thiệt hại tài sản. Từ đó liên kết tại sao cần phải hiểu rõ về các nhân tố tác động về vấn đề đạo đức kế toán.
Để hiểu rõ các nhân tố tác động về vấn đề đạo đức thì kế toán cần phải có đủ kiến thức về chuyên ngành của mình. Về mặt cơ bản, thông tin kế toán cần phải đạt những yêu cầu sau: (1) Trung thực, các số liệu và thông tin được ghi chép trên báo cáo tài chính. (2) Khách quan, các thông tin được báo cáo phải đúng với thực tế. (3) Đầy đủ, mọi nghiệp vụ phát sinh phải được ghi chép tất cả, không bỏ sót. (4) Kịp thời, các phát sinh ghi đúng thời điểm, kịp thời, không chậm trễ. (5) Dễ hiểu, các dữ liệu báo cáo phải trình bày rõ ràng, giúp cho người sử dụng dễ hiểu. Khi thông tin kế toán đáp ứng đủ các yêu cầu trên chúng ta sẽ có được một bài báo cáo tài chính chất lượng sẽ làm tăng đầu tư, giúp cho thị trường ngày càng phát triển.
Với bản thân đang là sinh viên của Khoa Kế toán – Kiểm toán tại Trường Đại học Tài chính – Marketing nhận thức được rằng đây là chủ đề quan trọng, nhưng đến nay, quan niệm và các nhân tố tác động còn rời rạc và chưa được thống nhất với nhau. Hơn thế nữa, có rất ít nghiên cứu thực hiện về vấn đề này tại Trường Đại học Tài chính – Marketing, nhóm em chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh” với mục đích tìm hiểu thực trạng đạo đức nghề nghiệp của sinh viên hiện nay và từ đó đưa ra biện pháp để nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên.
Ước lượng mức độ tác động của các yếu tố tác động đến đạo đức nghề nghiệp Kế toán của kế toán viên tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, qua đó đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao đạo đức nghề nghiệp trong ngành Kế toán – Kiểm toán.
- Xác định các yếu tố tác động đến đạo đức nghề nghiệp kế toán.
- Ước lượng mức độ tác động của các yếu tố trên đối với đạo đức nghề nghiệp kế toán.
- Một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao đạo đức nghề nghiệp của sinh viên trong ngành Kế toán – Kiểm toán.
Câu 1: Yếu tố nào tác động đến đạo đức nghề nghiệp kế toán?
Câu 2: Mức độ tác động của các yếu tố đến đạo đức nghề nghiệp kế toán như thế nào?
Câu 3: Những giải pháp nào có thể nâng cao đạo đức nghề nghiệp kế toán?
Các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
- Về không gian nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các kế toán viên tại các doanh nghiệp trên đại bàn TP. Hồ Chí Minh, trên quy mô 250 – 280 kế toán viên tại các Quận, Huyện trọng điểm để khai thác các đặc điểm ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp kế toán.
- Về thời gian: Nghiên cứu thu thập thông tin thông qua các bài khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp kế toán online và offline từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2024.
- Nghiên cứu định lượng: được tiến hành trong giai đoạn đầu nhằm xác định mô hình cà các biến số đo lương cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu. Thông qua cơ sở lý thuyết, tiến hành thảo luận nhóm, phỏng vấn chuyên gia kế toán để khám phá nhằm xây dựng thang đo, điều chỉnh và bổ sung các thang đo về mức độ nhận thức về đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên. Sau đó tiến hành khảo sát thử để điều chỉnh thang đo.
- Nghiên cứu định lượng: được thực hiện dựa trên nguồn thông tin có được từ việc khảo sát bằng câu hỏi để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Thang đo Likert năm mức độ được sử dụng để đo lường giá trị các biến số. Vì đây là nghiên cứu định lượng, cách thức lấy mẫu là thiết kế chọn mẫu phi xác suất với hình thức chọn mẫu thuận tiện. Bảng câu hỏi sẽ được sử dụng để làm công cụ thu thập thông tin, dữ liệu cần thiết phục vụ cho phân tích định lượng nói trên. Mô hình hệ số tương quan Alpha của Cronbach (Cronbach’s Alpha) và phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA được dùng để đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo, kiểm định mô hình nghiên cứu thông qua hệ số tương quan Pearson. Diễn giải số liệu thông qua một số công cụ thống kê mô tả và thống kê suy luận và được thực hiện nhờ vào phần mềm xử lý số liệu thống kê SPSS 22.0.
- Phương pháp thu thập mẫu: sử dụng phần mềm Google Form để tạo các câu hỏi khảo sát và gửi online đến các kế toán viên đang làm việc tại các doanh nghiệp ở các Quận, Huyện trọng điểm của TP. Hồ Chí Minh.
- Về mặt nghiên cứu: Kết quả nghiên cứu bổ sung cho những định nghĩa về đạo đức nghề nghiệp kế toán, Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực kế toán người hành nghề thực hiện nhiệm vụ của mình với chất lượng tốt, tuân thủ các qui định của pháp luật, tạo niềm tin cho cộng đồng về chất lượng dịch vụ cung cấp. Đạo đức nghề nghiệp là một trong những yêu cầu quan trọng nhất đối với người hành nghề trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán, xuất phát từ tầm quan trọng của thông tin kế toán tài chính của các doanh nghiệp.
- Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp kế toán là cần thiết để từ đó các kế toán viên đang làm việc tại các doanh nghiệp có định hướng phù hợp trong việc đề ra các biện pháp tăng cường đạo đức nghề nghiệp cho lực lượng lao động chuyên cung cấp thông tin kinh tế tài chính. Hơn nữa những người sử dụng kết quả kế toán yêu cầu phải có những báo cáo kế toán chất lượng cao đòi hỏi những kế toán viên không chỉ liên tục trau dồi kiến thức, luôn cập nhật, tuân thủ các quy định pháp lý, chuẩn mực nghề nghiệp mà còn đòi hỏi phải có đạo đức nghề nghiệp thích đáng. Có như vậy các báo cáo kế toán đạt được chất lượng cao, những người sử dụng thông tin mới có được những thông tin bổ ích.
Bài nghiên cứu gồm 4 chương:
- Chương 1: Giới thiệu về nghiên cứu
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực tiễn
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Chương 5: Giải pháp

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC HIỆN VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP ĐỐI VỚI CÁC KẾ TOÁN VIÊN TẠI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
Theo Từ điển tiếng Việt: “Đạo đức là những phép tắc căn cứ vào chế độ kinh tế và chế độ chính trị mà đặt ra để quy định quan hệ giữa người và người, giữa cá nhân và xã hội, cốt để bảo vệ chế độ kinh tế, chế độ chính trị”. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam:“Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ với toàn xã hội. Theo Hội Y học thế giới thì: “Đạo đức là một phạm trù đề cập đến giáo lý – sự phản ánh một cách thận trọng, hệ thống và sự phân tích các quyết định của lương tâm và hành vi trong quá khứ, hịên tại hoặc tương lai”.
Đạo đức là bộ tiêu chuẩn và nguyên tắc xác định hành vi và quyết định của con người, dựa trên nhận thức về đúng và sai, tốt và xấu. Nó thể hiện lòng nhân ái, tôn trọng, trách nhiệm, và sự tự giác trong các mối quan hệ và hành động hàng ngày.
Một số khía cạnh quan trọng của đạo đức bao gồm: “Chân thành và trung thực”, “Tính công bằng và bình đẳng”, “Tính nhân ái và lòng từ bi”, “Tính trách nhiệm”, “Tính tự lập và độc lập tư duy”, “Tính kiên nhẫn và khoan dung”, “Tính tôn trọng và sự thấu hiểu”, “Tính tự giác và liêm chính”. Như vậy có thể hiểu, đạo đức là một hệ thống giá trị và nguyên tắc xã hội, được tạo dựng bởi niềm tin cá nhân, truyền thống và ảnh hưởng từ cộng đồng, để điều chỉnh hành vi và đánh giá mối quan hệ của con người với nhau. Nó đặt ra tiêu chuẩn về thái độ, nghĩa vụ và trách nhiệm của cá nhân đối với bản thân và cộng đồng, làm nền tảng cho lối sống và lí tưởng của mỗi người và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội.
Fisher (2004), nhấn mạnh khái niệm về đạo đức của một cá nhân là về điều gì đúng hay sai, tốt hay xấu. Điều đó là “trọng tài” để đánh giá về sự “đúng đắn” hoặc mặt khác cho hành động của mình.
Dr.Vikram V.Shete (Seminar Report 2021) đã nhấn mạnh rằng tính chuyên nghiệp đạo đức là sự mở rộng của đạo đức cá nhân. Ông cũng đã đề cập việc đạo đức sẽ thay đổi theo thời gian, từ tình huống này sang tình huống khác tuỳ thuộc vào hệ quy chiếu.
Mintz and Morris (2007), đã lưu ý rằng đạo đức là tiêu chuẩn hành vi có thể chấp nhận được xác định cách mọi nguời phải hành động (mang tính quy định) chứ không phải cách mọi người thực sự hành động (mang tính mô tả).
Khái niệm đạo đức nghề nghiệp là nguyên tắc và giá trị đạo đức được áp dụng trong các hoạt động và quyết định liên quan đến nghề nghiệp hoặc công việc của một người. Nó bao gồm trách nhiệm, tôn trọng, trung thực và minh bạch, cũng như sự chuyên nghiệp và sự tự giác trong cải thiện bản thân để phục vụ khách hàng và cộng đồng một cách tốt nhất.
Đạo đức nghề nghiệp là những phẩm chất mà mỗi người cần phải có tuân theo đúng những chuẩn mực quy tắc của một nghề nghiệp nhất định được cộng đồng và xã hội công nhận, để từ đó điều chỉnh thái độ, hành vi của một con người trong các mối quan hệ với con người với nhau, trong môi trường tự nhiên, xã hội khi hành nghề. Đạo đức nghề nghiệp là những chuẩn mực, nguyên tắc chi phối hành vi của một người hay một nhóm người trong công việc. Vậy nên đạo đức nghề nghiệp là những nguyên tắc , tiêu chuẩn để điều chỉnh hành vi của những người làm việc trong một lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể, để đảm bảo rằng người hành nghề sẽ thực hiện công việc, nhiệm vụ của mình với chất lượng tốt nhất, luôn tuân theo các quy định của pháp luật đề ra, tạo sự tin tưởng cho xã hội cộng đồng về chất lượng cung cấp dịch vụ. Riêng mỗi ngành nghề đều có những nguyên tắc đạo đức riêng , ví dụ đạo đức nghề nghiệp của ngành kế toán , ngành luật ,ngành y,….Đạo đức nghề nghiệp là sự phát triển đi lên của những nguyên tắc đạo đức chung trong một nghề nghiệp cụ thể nào đó và được các tổ chức hay cá nhân hành nghề trong các lĩnh vực đó được thừa nhận, từ đó là cơ sở để đánh giá, kiểm tra và điều chỉnh các hành vi trong từng lĩnh vực.
Đạo đức nghề nghiệp kế toán là một hệ thống những nguyên tắc đạo đức được áp dụng cho các đối tượng là cá nhân hay tổ chức hành nghề trong lĩnh vực kế toán.. Đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực kế toán không chỉ là một khía cạnh quan trọng mà còn là đề tài được quan tâm nghiên cứu sâu rộng bởi những ảnh hưởng to lớn mà nó mang lại cho cả xã hội và thị trường tài chính. Đạo đức nghề nghiệp là một trong những yêu cầu cần thiết và quan trọng nhất đối với những người làm nghề kế toán từ đó tăng cường tính minh bạch, trung thực và tính tin cậy của thông tin tài chính.
Một trong những lý do quan trọng khiến việc nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp kế toán trở nên cần thiết là vì vai trò quan trọng của thông tin tài chính đối với quyết định của các bên liên quan. Thông tin tài chính không chỉ ảnh hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư và người sử dụng mà còn là cơ sở cho quyết định của các cơ quan quản lý và chính phủ. Do đó, tính chính xác và đáng tin cậy của thông tin này đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của hệ thống tài chính và nền kinh tế.
Nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp kế toán cũng tập trung vào việc phân tích các tình huống đạo đức phức tạp mà các kế toán viên có thể gặp phải trong quá trình làm việc. Điều này bao gồm việc đối mặt với áp lực từ các bên liên quan, đối tác kinh doanh và thậm chí là từ bản thân mình, có thể dẫn đến việc đưa ra quyết định mâu thuẫn với nguyên tắc đạo đức. Nghiên cứu này đặt ra câu hỏi về cách các kế toán viên có thể giải quyết những tình huống đạo đức này một cách hiệu quả nhất, đồng thời thể hiện tính chuyên nghiệp và trách nhiệm đạo đức trong công việc.
Các nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực này cũng nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục và đào tạo trong việc xây dựng ý thức đạo đức cho các kế toán viên tương lai. Việc tích hợp các chương trình đào tạo về đạo đức nghề nghiệp kế toán vào các khoa học kế toán không chỉ giúp trang bị kiến thức chuyên môn mà còn giúp phát triển ý thức trách nhiệm và đạo đức từ giai đoạn đào tạo.
Kế toán là thực hiện những công việc như tổng hợp, ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lập báo cáo tài chính để cung cấp cho những người muốn sử dụng thông tin của doanh nghiệp. Nhận thức và áp dụng các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực kế toán đóng vai trò quan trọng không chỉ trong việc bảo đảm tính minh bạch và tin cậy của thông tin tài chính, mà còn trong việc duy trì sự ổn định và phát triển của thị trường tài chính. Một nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này cần phải xem xét cả các khía cạnh về cơ sở lý luận và thực tiễn của đạo đức nghề nghiệp kế toán.
Đầu tiên, trong phạm vi lý luận, việc nghiên cứu phải tập trung vào việc xác định các nguyên tắc đạo đức cơ bản và mối liên hệ giữa chúng với quy trình kế toán và báo cáo tài chính. Các nguyên tắc như tính minh bạch, trung thực, tính chính xác và tính công bằng không chỉ là các khái niệm trừu tượng mà còn là hệ thống quy định cụ thể, định hình hành vi của các kế toán viên trong thực tế.
Tiếp theo, việc nghiên cứu cần phải phân tích các tình huống thực tế mà các kế toán viên thường gặp phải và cách họ đối phó với những thách thức đạo đức. Các tình huống này có thể bao gồm việc xử lý thông tin không chính xác từ phía khách hàng hoặc việc đối mặt với áp lực từ bên ngoài để thay đổi thông tin tài chính. Việc nghiên cứu các tình huống này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về bản chất của đạo đức nghề nghiệp kế toán mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể để giúp các kế toán viên vượt qua những tình huống một cách chuyên nghiệp.
Nghiên cứu của Jones, J., Massey, D. W. & Thorne, L. (2003) đã tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm về lý luận đạo đức của kiểm toán viên trong khuôn khổ xem xét sự phát triển nhận thức, đặc điểm cá nhân và các yếu tố bối cảnh. Khi làm như vậy, nó mong muốn tạo điều kiện cho sự hiểu biết về các tài liệu hiện có và cung cấp cơ sở để cải thiện lý luận đạo đức của kiểm toán viên. Lý luận đạo đức của kiểm toán viên bao gồm các khái niệm nền tảng của nghề kiểm toán, chẳng hạn như: tính cẩn trọng, tính độc lập, tính khách quan, thái độ hoài nghi nghề nghiệp và tính chính trực. Nó phản ánh khả năng của kiểm toán viên trong việc đưa ra phán đoán không bị thay đổi bởi lợi ích cá nhân và nhận ra tác động tiềm tàng của phán đoán đó đối với phúc lợi của người khác.
Theo Nghiên cứu của Cletus Akenbor: Ethics of Accounting Profession in Nigeria (2014) Nghề kế toán có vai trò quan trọng trong xã hội. Các nhà đầu tư, chủ nợ, người sử dụng lao động và những người khác các lĩnh vực của cộng đồng doanh nghiệp, cũng như chính phủ và công chúng chủ yếu dựa vào kế toán chuyên môn về kế toán và báo cáo tài chính hợp lý, quản lý hiệu quả các nguồn tài chính và hoạt động kinh doanh và dịch vụ tư vấn thuế.
Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán – kiểm toán là những quy định, nguyên tắc cơ bản về đạo đức nghề nghiệp, do cơ quan quản lý hoặc hiệp hội nghề nghiệp ban hành, nhằm hướng dẫn hành vi cho các kế toán viên, kiểm toán viên và tổ chức hành nghề kế toán, kiểm toán trong việc xử lý các vấn đề đạo đức phát sinh trong quá trình hành nghề. Việc ban hành và áp dụng các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán, đảm bảo tính trung thực và hợp lý của các thông tin kế toán, từ đó củng cố niềm tin của công chúng đối với các thông tin tài chính của doanh nghiệp cũng như đối với nghề nghiệp kế toán, kiểm toán.
Nghiên cứu của Gabriel Sam Ahinful1, Sheila Addo2, Felix Obeng Boateng3, Jeff Danquah Boakye4 (2017) đề xuất rằng việc các kế toán viên áp dụng các chuẩn mực đạo đức kế toán khi làm việc sẽ giúp giải quyết các sai phạm của doanh nghiệp và nâng cao uy tín của doanh nghiệp. Trong tất cả các trường hợp, không phải là do năng lực chuyên môn của các kế toán viên bị nghi ngờ mà là do đạo đức của những kế toán viên này trước và sau quá trình đào tạo (West, 2017). Để giải quyết thiếu sót này, nghiên cứu ngày nay tích cực đánh giá mối quan hệ giữa những chuẩn mực đạo đức kế toán, đó là các yếu tố dẫn đến những gian lận trong kế toán và là những thách thức mà các kế toán viên phải đối mặt khi cố gắng tuân thủ các chuẩn mực đạo đức này. Những cái nhìn được cung cấp trong bài nghiên cứu giúp ta hiểu được tầm quan trọng của các chuẩn mực kế toán đối với các kế toán viên.
Về mặt quốc tế, chuẩn mực đạo dành cho kế toán viên chuyên nghiệp IFAC (The code of ethics for professional accountants) do Liên đoàn kế toán quốc tế xây dựng và ban hành năm 2009. Bộ chuẩn mực được chia thành 3 phần chính: Phần A bao gồm các nguyên tắc chung cho kế toán viên chuyên nghiệp; Phần B bao gồm các hướng dẫn cho kế toán viên, kiểm toán viên hành nghề trong các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán; Phần C áp dụng cho các kế toán viên chuyên nghiệp trong các doanh nghiệp khác.
Theo bài nghiên cứu của West, Andrew (2017), IFAC (tính đến năm 2014) khoảng 2,5 triệu kế toán viên chuyên nghiệp, đến từ 130 quốc gia hoặc khu vực pháp lý khác nhau trên thế giới (IFAC, 2015). IFAC cung cấp các tiêu chuẩn và hướng dẫn cụ thể cho các kế toán viên, các doanh nghiệp và các tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán và bảo hiểm, giáo dục, đạo đức và kế toán công. Do đó, để trở thành một kế toán viên chuyên nghiệp cần tối thiểu tuân thủ theo các tiêu chuẩn này, cho dù chúng có liên quan đến các vấn đề về chuyên môn hay đạo đức hay không.
Theo chuẩn mực đạo đức kế toán viên chuyên nghiệp, các kế toán viên chuyên nghiệp phải đảm bảo tuân thủ theo năm nguyên tắc đạo đức cơ bản:
- Tính chính trực: Yêu cầu kế toán viên thẳng thắn, trung thực trong tất cả các mối quan hệ chuyên môn và kinh doanh.
- Tính khách quan: Kế toán viên không để sự thiên vị, xung đột lợi ích hoặc bất cứ ảnh hưởng không hợp lý nào chi phối các xét đoán chuyên môn và kinh doanh.
- Năng lực chuyên môn và tính thận trọng: được hiểu là Kế toán viên cần duy trì và thể hiện các kiến thức cũng như các kỹ năng chuyên môn cần thiết để có thể đảm bảo cung cấp các dịch vụ chất lượng cho khách hàng; đồng thời làm việc một cách thận trọng và phù hợp với các chuẩn mực nghề nghiệp.
- Tính bảo mật: Kế toán viên phải bảo mật thông tin thu được từ các mối quan hệ chuyên môn và kinh doanh, không tiết lộ bất cứ thông tin nào cho bên thứ ba khi chưa có sự đồng ý của bên có thẩm quyền hoặc được sự yêu cầu cung cấp thông tin từ cơ quan quản lý, tổ chức nghề nghiệp cũng như không được sử dụng thông tin vì lợi ích cá nhân.
- Tư cách nghề nghiệp: Phải tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan, tránh bất kỳ hành động nào làm giảm uy tín nghề nghiệp của mình.
Nghiên cứu của Adekoya và cộng sự (2020) sử dụng phương pháp kiểm định bảng chi bình phương để chứng minh các yếu tố tôn giáo (+) giáo dục (+) lương tâm (+) giới tính (+) độ tuổi (+) nỗi sợ bị chỉ trích từ mọi người (+) giá trị cá nhân ảnh hưởng đến hành vi đạo đức nghề nghiệp của Kế toán viên tại Nigeria.
Theo nghiên cứu của Tennyson và cộng sự (2014) đã chứng minh các yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên tại Nigeria bằng phương pháp kiểm định chi bình phương bao gồm sự tham lam và tư lợi (+) áp lực từ nhà tuyển dụng/ khách hàng (+) hành vi đạo đức (+) giá trị xã hội (+) thiếu kiến thức về thông tin (+) thiếu hành vi đạo đức xác định rõ ràng.
Theo nghiên cứu của Sarapaivanicha và cộng sự (2019) đã sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến để chứng minh các yếu tố kiến thức phân tích nghề nghiệp (+) kỹ năng chuyên môn (+) giá trị đạo đức và thái độ có ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên tại Thái Lan.
Jinhua Ha và cộng sự (2018) đã viết bài nghiên cứu các yếu tố hành vi giáo dục và ý định đạo đức (+) yếu tố cá nhân (+) yếu tố ngẫu nhiên (+) các yếu tố môi trường làm việc có ảnh hưởng cùng chiều đến việc đưa ra quyết định đạo đức trong nghề nghiệp của kế toán viên.
Lê Thị Thu Hà (2021) đã chứng minh yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên được chia làm 2 nhóm lớn: nhân tố thuộc về cá nhân (độ tuổi, giới tính) và nhân tố thuộc về môi trường (chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, giá trị đạo đức doanh nghiệp, văn hóa quốc gia).
Trần Phước và cộng sự (2022) đã sử dụng phương pháp hàm hồi quy tuyến tính để chứng minh các yếu tố nhận thức về hành vi đạo đức (+) thu nhập (+) kinh nghiệm làm việc (+) bối cảnh văn hóa (+) giá trị đạo đức doanh nghiệp (+) chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp có ảnh hưởng cùng chiều với đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên.
Bảng – 1: Lược khảo nghiên cứu nước ngoài và trong nước
| Tên đề tài | Tên tác giả | Biến tác động |
| Nhận thức của kế toán viên về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đạo đức của kiểm toán viên ở Nigeria | Adekoya và cộng sự (2020) | tôn giáo (+) giáo dục (+) lương tâm (+) giới tính (+) độ tuổi (+) nỗi sợ bị chỉ trích từ mọi người (+) giá trị cá nhân |
| Đạo đức nghề nghiệp kế toán ở Nigeria | Tennyson và cộng sự (2014) | sự tham lam và tư lợi (+) áp lực từ nhà tuyển dụng/ khách hàng (+) hành vi đạo đức (+) giá trị xã hội (+) thiếu kiến thức về thông tin (+) thiếu hành vi đạo đức xác định rõ ràng |
| Các yếu tố ảnh hưởng đến sự cần thiết phải có năng lực kỹ thuật kế toán, kỹ năng chuyên môn và giá trị nghề nghiệp, đạo đức và thái độ tại Thái Lan | Sarapaivanicha và cộng sự (2019) | kiến thức phân tích nghề nghiệp (+) kỹ năng chuyên môn (+) giá trị đạo đức và thái độ có ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp |
| Nghiên cứu cơ chế, chức năng ảnh hưởng của môi trường kế toán đến việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên | Jinhua Ha và cộng sự (2018) | hành vi giáo dục và ý định đạo đức (+) yếu tố cá nhân (+) yếu tố ngẫu nhiên (+) các yếu tố môi trường làm việc |
| Tổng quan nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp kế toán – kiểm toán | Lê Thị Thu Hà (2021) | Độ tuổi (+) giới tính (+) chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp (+) giá trị đạo đức doanh nghiệp (+) văn hóa quốc gia |
| Các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp người làm kế toán kiểm toán – nghiên cứu thực nghiệm tại TP. Hồ Chí Minh | Trần Phước và cộng sự (2022) | Hành vi đạo đức (+) thu nhập (+) kinh nghiệm làm việc (+) bối cảnh văn hóa (+) giá trị đạo đức doanh nghiệp (+) chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp |
Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của Kế toán viên. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khía cạnh chưa được giải đáp và có tiềm năng cho các nghiên cứu trong tương lai. Các nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào các yếu tố như giá trị đạo đức, thu nhập và văn hóa doanh nghiệp. Tuy nhiên, cần nghiên cứu sâu hơn về tác động của các yếu tố kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn và cơ hội thăng tiến trong ngành, cũng như môi trường làm việc tại các công ty Kế toán, để có cái nhìn toàn diện hơn về quyết định nghề nghiệp của sinh viên.
Nhìn chung, việc đánh giá tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp trong nghành Kế toán đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số hiện nay. Các yếu tố như giá trị văn hóa doanh nghiệp, xã hội có thể ảnh hưởng đáng kể đến quyết định nghề nghiệp của Kế toán viên. Việc nghiên cứu và đưa ra giải pháp về những yếu tố tác dộng đến đạo đức nghề nghiệp là sự cần thiết cho kế toán viên trong thời đại hiện nay.
2.2.1.1. Khái niệm về đạo đức
Theo từ điển Cambridge, đạo đức là “hệ thống các tiêu chuẩn cá nhân hay xã hội về các hành vi và tính cách tốt hay xấu”.
Theo Wikipedia, đạo đức là “hệ thống quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự nguyện điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng, xã hội”.
Theo Beekun và cộng sự, 2003; Beu và Buckley, 2001; Christie và cộng sự, 2003 thì đạo đức còn được hiểu là các hành vi đúng đắn của các cá nhân; các nguyên tắc về các hành vi tốt và xấu; là sự phân biệt giữa cái tốt và cái xấu, cái đúng và cái sai, và điều gì nên làm và không nên làm.
Như vậy có thể hiểu đạo đức là hệ thống các tiêu chuẩn, nguyên tắc về các mối quan hệ và các hành vi được xã hội thừa nhận, dựa trên đó các thành viên của xã hội điều chỉnh cách thức ứng xử của mình để phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống những nguyên tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá hành vi của con người trong quan hệ giữa con người với con người, được hình thành thông qua niềm tin cá nhân, các giá trị truyền thống và tác động của cộng đồng. Đạo đức qui định thái độ, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người đối với bản thân cũng như đối với các cá nhân khác và cộng đồng. Vì thế đạo đức là khuôn mẫu, tiêu chuẩn để xây dựng lối sống, lí tưởng mỗi người, đạo đức có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội.
2.2.1.2. Mối quan hệ của đạo đức đối với đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên
Theo nghiên cứu của Elango và cộng sự (2010); hay của Suar và Khuntia (2010) ;Ji và cộng sự (2013) đã chỉ ra rằng yếu tố đạo đức gần như là yếu tố có tầm ảnh hưởng quan trọng nhất đến đạo đức nghề nghiệp của mỗi người không chỉ riêng những người làm kế toán viên. Một số nghiên cứu đã chỉ ra giá trị đạo đức cá nhân ảnh hưởng lớn đến đạo đức nghề nghiệp kế toán. Trong đó, bài viết của Elango và cộng sự đã chứng minh rằng giá trị đạo đức cá nhân có thể ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của họ. Có thể chia giá trị đạo đức cá nhân thành quan điểm tương đối và quan điểm tuyệt đối.
Cùng với đó, theo nghiên cứu của Barnett và cộng sự (1998) đã chỉ ra rằng quan điểm tuyệt đối chắc chắn sẽ có quan hệ chặt chẽ với kết quả đánh giá hơn so với quan điểm tương đối.
2.2.1.3. Lược khảo các nghiên cứu có liên quan đến tác động của yếu tố đạo đức đối với đạo đức nghề nghiệp kế toán viên
Theo bài viết Lee và Sirgy (1999) về Tác động của triết lý đạo đức và chủ nghĩa dân tộc làm trung tâm đối với định hướng chất lượng cuộc sống trong tiếp thị quốc tế: So sánh xuyên văn hóa. Tạp chí Đạo đức Kinh doanh, 18, 73-89. Những cá nhân có xu hướng đạo đức cá nhân theo quan điểm tương đối thường sẽ dựa trên văn hóa, lối sống và chế độ của họ.
Theo bài viết “Những khác biệt cá nhân trong khả năng chấp nhận các hoạt động công nghệ thông tin phi đạo đức: Trường hợp chủ nghĩa Machiavellian và hệ tư tưởng đạo đức”. Tạp chí Đạo đức Kinh doanh, 54, 273-301 của Winter (2004), quan điểm tương đối sẽ gây bất lợi, khó khăn khi sử dụng yếu tố này để đánh giá yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp. Bởi vì họ có thể biện minh cho hành động của mình bằng cách đổ lỗi cho hoàn cảnh và điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến trách nhiệm xã hội.
Theo nghiên cứu của Lee và Sirgy (1999) – trích dẫn bởi Ji và cộng sự 2013), quan điểm tuyệt đối sẽ có ảnh hưởng quan trọng trong việc duy trì các tiêu chuẩn đạo đức trong mọi tình huống bởi vì họ sẽ tạo riêng cho mình những tiêu chuẩn lý tưởng để áp dụng nhất quán cho mọi tình huống thay vì những tiêu chuẩn dựa trên lối sống văn hóa
Tổng kết lại, yếu tố đạo đức ảnh hưởng quan trọng đến đạo đức nghề nghiệp kế toán.
Từ đó đưa ra giả định đầu tiên:
H1: Nhận thức về hành vi đạo đức sẽ có ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên
2.2.2.1. Khái niệm về thu nhập
Theo Ngân hàng Thế giới, thu nhập là “tổng thu nhập ròng mà một cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong một khoảng thời gian nhất định, bao gồm tiền lương, tiền thuê nhà, lợi nhuận kinh doanh, lãi suất và các khoản chuyển nhượng”.
Theo tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa thu nhập là “tổng thu nhập mà một người lao động nhận được từ công việc của họ trong một khoảng thời gian nhất định, bao gồm tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp và các khoản lợi ích khác”.
Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) định nghĩa thu nhập là “tổng giá trị của tất cả các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định”.
2.2.2.2. Mối quan hệ giữa thu nhập đối với đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên
Yếu tố thu nhập ảnh hưởng lớn trong việc thay đổi nhận thức về đạo đức của người lao động nói chung và người làm công việc kế toán nói riêng, cụ thể:
Theo nghiên cứu khảo sát về “Giáo dục đạo đức và ảnh hưởng của nó đối với gian lận kế toán. Giấy làm việc. Đại học Christopher Newport” của Henry và Dodson (2009) đã chỉ ra dựa trên cảm nhận những người được khảo sát đã cho rằng sự giàu nghèo từ cộng đồng và hoàn cảnh gia đình có ảnh hưởng lớn trong việc thay đổi nhận thức về đạo đức.
Đặc biệt, thu nhập từ công việc kế toán, kiểm toán là công việc làm công lãnh lương khó trở thành người giàu có. Từ đó càng dễ dẫn đến việc để đạt được lợi ích cá nhân của bản thân, một số cá nhân lạm dụng các quy tắc đạo đức một cách trắng trợn, đặc biệt khi họ có cơ hội đưa ra nhận định chuyên môn của mình theo tác giả Frenchman (1998)
2.2.2.3. Lược khảo các nghiên cứu có liên quan đến tác động của yếu tố thu nhập đối với đạo đức nghề nghiệp kế toán viên
Minh chứng khác theo Nigam (2008) cho rằng những nhân viên quen với tình trạng khó khăn lâu năm trong ngành ngân hàng Nigeria đều được biết rằng một nguyên nhân chính là hoạt động giao dịch và giao dịch trái luật đáng nghi ngờ và thường là bất hợp pháp, chưa kể đến sự gian lận trắng trợn của nhiều kế toán viên chuyên nghiệp, những người đã làm tổn hại một cách trắng trợn đến đạo đức nghề nghiệp “thiêng liêng” một thời của họ. Có thể nói gì về những ngân hàng được các kế toán viên chuyên nghiệp ban hành một danh sách chứng minh sức khỏe trong sạch chỉ để rồi lâm vào cảnh khốn cùng và phá sản chỉ trong nháy mắt? Có thể kế toán viên không nhìn thấy dấu hiệu thất bại nào không? Vậy có phải chăng mức thu nhập tương đối đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới hành vi, cách đưa ra quyết định của các kế toán – kiểm toán viên trong những tình huống nêu trên? Những điều này sẽ không chỉ gây nguy hiểm cho chất lượng độc lập được đảm bảo mà còn làm trầm trọng thêm những cuộc khủng hoảng niềm tin hiện có đối với nghề kế toán cao quý được tôn kính.
Bên cạnh đó, còn có luận điểm khác cho rằng kể từ khi bắt đầu dịch vụ kiểm toán bên ngoài, nhiều nhà đầu tư, cơ quan quản lý và học giả đã lập luận rằng kiểm toán viên không thể thực sự độc lập với khách hàng của họ, bởi vì kiểm toán viên được thuê và trả lương bởi những người mà họ đang kiểm toán. Tuy nhiên trong nghiên cứu của Talmi, D., & McGarry, L. M. (2012) về “Kế toán để tăng cường trí nhớ cảm xúc ngay lập tức. Tạp chí Trí nhớ và Ngôn ngữ, 66(1), 93-108” cho rằng điều này không đúng về mặt kỹ thuật; theo SOX, việc tuyển dụng, sa thải và trả lương cho kiểm toán viên được kiểm soát bởi ủy ban kiểm toán của ban giám đốc mỗi công ty (chứ không phải ban quản lý công ty), một cơ quan đại diện cho lợi ích của các nhà đầu tư. Hơn nữa, việc bổ nhiệm kiểm toán viên phải mang tính quyết định vì ban quản lý là người làm việc hàng ngày với kiểm toán viên. được đa số cổ đông thông qua hàng năm. Tuy nhiên, trên thực tế, các ủy ban kiểm toán thường phụ thuộc nhiều vào ban quản lý để thông báo cho họ. Vì lý do tương tự, việc các cổ đông phê chuẩn kiểm toán viên được coi là một cuộc bỏ phiếu thông thường và khuyến nghị của ban quản lý hiếm khi bị phản đối. Do đó, ban quản lý được coi là có ảnh hưởng đáng kể đến việc bổ nhiệm và trả thù lao cho các kiểm toán viên được thuê từ bên ngoài.
Từ những luận điểm nêu trên càng ủng hộ việc phát triển giả thiết thứ 2:
H2: “Đạo đức nghề nghiệp người làm kế toán, kiểm toán có thể bị ảnh hưởng bởi mức thu nhập cá nhân”.
2.2.3.1. Khái niệm về sự khen thưởng/xử phạt của tổ chức đối với hành vi đạo đức/phi đạo đức
Theo nghiên cứu của Wittmer, 1994 – được trích dẫn bởi Ji và cộng sự, 2013, sự ghi nhận khen thuởng hay xử phạt của một tổ chức đối với hành vi đạo đức hay phi đạo đức có ảnh hưởng đến sự phán xét đạo đức của nhân viên trong việc đưa ra quyết định.
Khen thưởng theo thành tích là một hình thức khen thưởng cá nhân có thành tích xuất sắc hoặc có hành vi đạo đức tốt được cấp trên hay tổ chức trao tặng. Đồng thời cũng có những quy chế phạt hợp lí đối với những hành vi phi đạo đức nhằm đảm bảo hiệu quả công việc.
Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng nhiều hình thức như giấy khen, vật chất lợi ích đối với cá nhân có hành vi đạo đức tốt. Ngược lại, sẽ có xử phạt để răng đe, khắc phục hạn chế những hành vi phi đạo đức.
2.2.3.2. Mối quan hệ của sự khen thưởng/xử phạt của tổ chức đối với hành vi đạo đức/phi đạo đức đối với đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên.
Theo nghiên cứu của Laczniak và Inderrieden (1986) các tổ chức cần áp dụng các biện pháp xử phạt đối với các hành vi phi đạo đức. Trong một công ty nếu có hành vi vi phạm đạo đức thì lòng tin từ các nhà đầu tư sẽ bị giảm sút trầm trọng, lợi nhuận cũng bị sụt giảm. Vì vậy, khi các nhà quản lý đưa ra các mức xử phạt tương ứng với từng hành vi gian lận có thể sẽ giảm thiểu các hành vi phi đạo đức. Nếu không đưa ra các hình thức xử phạt thì các hành vi xấu này sẽ lan rộng khắp tổ chức. Gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp.
Nhằm khuyến khích các kế toán viên thực hiện đúng các quy tắc, hành vi đạo đức nghề nghiệp, cấp trên sẽ đưa ra những khen thưởng cho kế toán viên giúp nâng cao tinh thần làm việc. Mức độ khen thưởng có nhiều mức như giấy khen, giá trị về mặt tinh thần, kỉ niệm chương hoặc tiền.
Tóm lại, sự khen thưởng/xử phạt của tổ chức đối với hành vi đạo đức/phi đạo đức có sự ảnh hưởng đối với đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên.
2.2.3.3. Lược khảo các nghiên cứu liên quan đến tác động của sự khen thưởng/xử phạt của tổ chức đối với hành vi đạo đức/phi đạo đức đối với đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên.
Sự phán xét trong việc đưa ra quyết định có thể bị ảnh hưởng bởi sự xử phạt của tổ chức (Wittmer, 1994 – được trích dẫn bởi Ji và cộng sự, 2013). Ngoài ra mức độ xử phạt cũng ảnh hưởng đến hành vi đạo đức (Trevino và Ball, 1992; Ji và cộng sự, 2013).
Những hành vi phi đạo đức tại nơi làm việc đang dần trở nên nghiêm trọng và tốn kém trong xã hội, điều này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến tổ chức như giảm sút lòng tin của cộng đồng hay danh tiếng tổ chức bị hoen ố. (Simpson, 1987 và được trích dẫn bởi Trevino, 1992).
Tương tự, nghiên cứu Hegarty và Sims (1987) – được trích dẫn bởi Ji và cộng sự (2013) ngoài các biện pháp xử phạt hành vi phi đạo đức, chúng ta cũng cần đưa ra phần khen thưởng cho các hành vi đạo đức, khen thưởng về mặt tinh thần, giấy khen hoặc giá trị khác nhằm khuyến khích kế toán viên thực hiện đúng các quy tắc đạo đức nghề nghiệp. Xây dựng công ty có thông tin về báo cáo tài chính đáng tin cậy.
Do đó, việc quản lý hành vi đạo đức và phi đạo đức là quan trọng và có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của tổ chức.
H3: Sự khen thưởng hoặc sự xử phạt của tổ chức về những hành vi đạo đức/ phi đạo đức sẽ ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của người làm kế toán viên.
2.2.4.1. Khái niệm về hành vi đạo đức của đồng nghiệp
Đạo đức nghề nghiệp kế toán viên là một quy tắc đạo đức, trách nhiệm của một kế toán viên hay 1 tổ chức hành nghề trong lĩnh vực kế toán viên. Đạo đức nghề nghiệp là một trong những yêu cầu quan trọng đối với người hành nghề trong lĩnh vực kế toán. Kế toán thực hiện ghi chép, tổng hợp các nghiệp vụ phát sinh lập báo cáo tài chính cung cấp thông tin cho những người bên trong lẫn bên ngoài công ty.
Hành vi đạo đức của đồng nghiệp là là người cùng làm việc trong một công ty hay tổ chức liên quan đến lịch vực kế toán cónhững thói quen, hành vi liên quan đến đạo đức nghề nghiệp kế toán viên. Trong quá trình làm việc, mỗi cá nhân sẽ có cách xử lý riêng khi phải chọn 1 bên là đúng đắn về đạo đức hai là lợi ích riêng của cá nhân.
2.2.4.2. Mối quan hệ của hành vi đạo đức của đồng nghiệp đối với đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên
Hành vi đạo đức nghề nghiệp của đồng nghiệp có ảnh hưởng đáng kể đến ĐĐNN. Theo nhóm nghiên cứu, các nhân viên kế toán khi đi làm sẽ tiếp xúc nhiều nhất là các đồng nghiệp, vì vậy không thể tránh khỏi sự chịu ảnh hưởng lớn các hành vi phi đạo đức từ họ.
Đồng nghiệp có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi đạo đức hay phi đạo đức của một nhân viên (Bvàura, 1986; Kohlberg, 1969; Robinson và O’Leary-Kelly, 1998). Nếu là đồng nghiệp mới vào công ty, còn trong quá trình học hỏi sẽ dễ dàng điều chỉnh theo hướng đi tốt. Còn đối với đồng nghiệp kì cựu lâu năm sẽ có nhiều trở ngại vì bản thân họ đã quen với các hành vi cũ khó mà thay đổi tư tưởng của họ được.
Đồng nghiệp góp phần thiết lập các tiêu chuẩn về hành vi đạo đức thông qua những việc họ làm hoặc không làm (Moore và Gino, 2013). Kết quả hoạt động của tổ chức có thể bị tác động nhiều bởi các hành vi phi đạo đức của một nhân viên trong công ty xảy ra với đồng nghiệp (Gino và cộng sự, 2009).
Tóm lại, hành vi đạo đức của đồng nghiệp có ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên. Vì nếu trong môi trường làm việc mà các nhân viên đều có những hành vi đạo đức tốt sẽ nâng cao sự phát triển nhận thức đạo đức của các thành viên và giúp các thành viên xác định điều gì là đúng hay sai trong một hoàn cảnh cụ thể.
2.2.4.3. Lược khảo các nghiên cứu liên quan đến tác động hành vi đạo đức của đồng nghiệp đối với đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên.
Đầu tiên, theo Zey-Ferrell và cộng sự (1979) – được trích dẫn bởi Ji và cộng sự (2013); Jones và Kavanagh (1996) sự nhận thức về hành vi đạo đức của đồng nghiệp bởi một cá nhân có thể bị ảnh hưởng bởi quyết định về vấn đề đạo đức cá nhân của họ. Theo đó, Ji và cộng sự 2013, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hành vi của đồng nghiệp đang có ảnh hưởng quan trọng tới hành vi ĐĐNN.
Thứ hai, theo nghiên cứu của Gunia và cộng sự (2012) đã chỉ ra kết luận cần được khuyến khích các cá nhân có cuộc đối thoại về đạo đức trực tiếp với đồng nghiệp nhiều hơn, bởi vì điều này sẽ giúp họ xuất hiện những quyết định có đạo đức hơn.
Cuối cùng, các bằng chức thực nghiệm cũng chỉ ra rằng, bên cạnh văn hóa làm việc, hành vi từ đồng nghiệp là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên. Đóng vai trò trong việc hình thành thói quen, giá trị, niềm tin và thái độ định hướng cho mỗi cá nhân đưa ra quyết định mỗi khi làm việc.
H4: Đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên sẽ bị ảnh hưởng bởi nhận thức về hành vi đạo đức của đồng nghiệp.
2.2.5.1. Khái niệm về sự thiếu chính trực của cấp trên
Theo Werhane và Freeman, 1997 – được trích dẫn bởi Petrick và Quimm, 2000, chất lượng của việc tự kiểm soát đạo đức ở cấp độ cá nhân và tập thể được xem như tiêu chí để đánh giá sự chính trực. Điều này thể hiện qua việc hành động và quyết định của mỗi người, cũng như của toàn bộ cộng đồng. “Sự chính trực” có nguồn gốc từ tiếng Latin, có nghĩa là toàn vẹn, đầy đủ, tận tâm, hay trách nhiệm đã cam kết (Petrick và Quinn, 2000).
Chính trực là một đức tính không thể thiếu trong ĐĐNN, thể hiện sự tuân thủ các quy tắc theo chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, nghiêm khắc với bản thân và không cho phép bản thân làm những điều trái pháp luật.
Đối với người lãnh đạo khi thiếu đi sự chính trực không chỉ ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, phẩm chất của cá nhân mà còn liên lụy đến cả một tổ chức lớn. Chính trực không chỉ là sự trung thực và can đảm trước sự thật mà còn là việc giữ vững chữ tín và cam kết thực hiện các kỳ vọng.
2.2.5.2. Mối quan hệ của sự thiếu chính trực của cấp trên đối với đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên
Lãnh đạo có đạo đức sẽ nhận được sự hài lòng về công việc và tiếng nói của cấp dưới; đồng thời điều này còn giúp làm giảm đáng kể sự lệch lạc và hành vi phi đạo đức (Trevino và cộng sự, 2013).
Khi cấp trên hoặc nhà lãnh đạo có các hành vi đạo đức tích cực sẽ trực tiếp ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng của nhân viên cấp dưới, ngoài ra tiếng nói của họ của mang giá trị cao hơn, nhân viên sẽ có sự tôn trọng đáng kể đối với họ. Không những vậy, nó còn làm giảm những suy nghĩ lệch lạc và những hành vi phi đạo đức của nhân viên. Có thể dễ thấy rằng nhận thức của kế toán viên về sự chính trực, ngay thẳng đều được quyết định từ cấp trên.
Do đó, nhận thức về đạo đức của các kế toán viên trong doanh nghiệp sẽ bị tác động trực tiếp và gián tiếp bởi sự chính trực về quyết định của ban lãnh đạo cấp cao trong công ty (Ji và cộng sự, 2013).
2.2.5.3. Lược khảo các nghiên cứu liên quan đến tác động sự thiếu chính trực của cấp trên đối với đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên.
Thông qua những việc làm thực tiễn, những giá trị được các nhà lãnh đạo cấp cao thừa nhận đã nhấn mạnh tầm quan trọng sự ảnh hưởng của sự chính trực của cấp trên đối với môi trường trong tổ chức (Douglas và cộng sự, 2001).
Tương tự, theo Kemper (1966 – được trích dẫn bởi Jones và Kavanagh, 1996), hành vi phi đạo đức của một bộ phận nhà quản lý có thể ảnh hưởng đến hành vi phi đạo đức của cấp dưới, điều đó được gọi là “sự lệch lạc tương đương”.
Theo nghiên cứu của Ji và cộng sự (2013), đã được chỉ ra rằng, khi một CEO có nhận thức cao về sự chính trực thì hành vi của những người làm trong bộ phận PR của tổ chức (in-house practitioners) đối với lợi ích của khách hàng được biểu hiện nhiều hơn. Trong khi đó, những người làm trong các tổ chức chuyên về PR (agency practitioners) lại thể hiện hành vi đạo đức đối với lợi ích cộng đồng ở mức cao hơn.
Vì vậy, các quản lý có khả năng ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi đạo đức của nhân viên thông qua các hành động thiếu chính trực của họ.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024/ Các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên tại doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh Các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh Các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh Các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh Các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

