Ảnh hưởng của nhận thức tài chính đến hành vi tiết kiệm của người cao tuổi – Vai trò trung gian của dân trí tài chính số
LỜI MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong một báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), từ năm 2015 đến năm 2050, tỷ lệ người cao tuổi (60 tuổi trở lên) dự kiến sẽ tăng gấp đôi từ khoảng 12% lên đến 22% của dân số toàn cầu, một xu hướng đặc biệt đáng chú ý trong bối cảnh dân số toàn cầu đang dần già hóa. Trước tình hình này, việc nghiên cứu về hành vi tiết kiệm của người cao tuổi trở nên cực kỳ cấp thiết và mang ý nghĩa quan trọng đối với xã hội. Điều này bởi vì người cao tuổi thường tích lũy được một lượng tiền tiết kiệm đáng kể qua nhiều năm, và hành vi tiết kiệm của họ không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống cá nhân mà còn có tác động đến sự ổn định tài chính của cả gia đình và xã hội. Hành vi tiết kiệm của người cao tuổi không chỉ đơn thuần là vấn đề cá nhân mà còn liên quan đến sự ổn định tài chính và sự chuẩn bị cho tương lai. Hiểu rõ về hành vi tiết kiệm của họ sẽ giúp chúng ta phát triển các chiến lược tài chính đúng đắn và bền vững, đồng thời cũng cung cấp thông tin quý giá để nâng cao chất lượng cuộc sống của họ trong giai đoạn tuổi già.
Nhận thức tài chính là một trong những nhân tố hàng đầu ảnh hưởng đến hành vi tiết kiệm của người cao tuổi. Khi quyết định mua sản phẩm hoặc sử dụng dịch vụ ngân hàng, người tiêu dùng áp dụng nhiều chiến lược khác nhau, trong đó việc vận dụng kiến thức hiểu biết của bản thân là một trong những chiến lược phổ biến nhất (Brucks, 1985). Để có thể đưa ra lựa chọn mua một sản phẩm, khách hàng buộc phải có mức độ hiểu biết nhất định. Chẳng hạn, để quyết định mua các sản phẩm có giá trị cao, khách hàng cần phải có kiến thức tốt (Vigneron và Johnson, 1999). Tương tự, khi gửi tiết kiệm hay mua trái phiếu, khách hàng cũng cần có kiến thức và hiểu biết về các sản phẩm, dịch vụ tài chính liên quan. Mặc dù công nhận vai trò quan trọng của hiểu biết tài chính và ảnh hưởng của nó tới hành vi tiết kiệm nói chung và đối với người cao tuổi nói riêng, nhưng tại Việt Nam, việc phổ biến kiến thức tài chính và nâng cao nhận thức tài chính cho người dân vẫn chưa được chú trọng và còn khá đơn giản, thiếu sự tương tác với công chúng. Đây chính là rào cản dẫn đến việc người dân chưa thay đổi được nhận thức và hành vi trong tiếp cận được các sản phẩm, dịch vụ tài chính, ngân hàng.
Một yếu tố khác cũng cần được xem xét là vai trò của dân trí tài chính số trong việc ảnh hưởng đến hành vi tiết kiệm của người cao tuổi. Hiện nay, ngành ngân hàng đang chứng kiến một cuộc cách mạng số hóa đầy mạnh mẽ. Sự phổ biến của ứng dụng di động và dịch vụ trực tuyến đã thay đổi cách mà khách hàng tương tác và quản lý tài chính của họ. Các kênh ngân hàng số hiện đại như ngân hàng điện tử, ngân hàng di động, ứng dụng thanh toán số đã ra đời, tạo điều kiện để người dùng thực hiện các giao dịch liên quan đến tài chính. nhanh chóng, thuận tiện mà không cần phải đến quầy giao dịch truyền thống (Shaikh và cộng sự, 2020). Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng đã số hóa hầu hết các quy trình vận hành nội bộ nhằm tối ưu hóa hiệu quả và giảm thiểu rủi ro hoạt động. Theo thống kê từ Merchant Machine vào năm 2021, Việt Nam xếp thứ hai trên toàn thế giới với 69% dân số chưa tiếp cận được dịch vụ tài chính, chưa có tài khoản ngân hàng. Trong đó, đa số người cao tuổi vẫn chưa có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng số. Trong khi người cao tuổi vẫn duy trì thói quen thanh toán bằng tiền mặt thì việc các ngân hàng chưa cung cấp dịch vụ số riêng biệt để người cao tuổi dễ dàng tiếp cận, trong khi nhóm đối tượng này khó làm quen với công nghệ hiện đại và ít sử dụng điện thoại thông minh hay máy tính – càng làm tăng sự cách biệt giữa ngân hàng số với người cao tuổi.
Chính vì lý do đó, chúng tôi quyết định thực hiện bài nghiên cứu với đề tài: “Ảnh hưởng của nhận thức tài chính đến hành vi tiết kiệm của người cao tuổi – Vai trò trung gian của dân trí tài chính số”
1.2. Tổng quan nghiên cứu
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm trả lời các câu hỏi: Có tồn tại sự tác động của nhận thức tài chính đến hành vi tiết kiệm của người cao tuổi hay không? Tác động của nhận thức tài chính đến hành vi tiết kiệm của người cao tuổi được thực hiện một cách trực tiếp hay thông qua biến trung gian là dân trí tài chính số?
1.3.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của nhận thức tài chính vào hành vi tiết kiệm cá nhân của người cao tuổi với vai trò trung gian của dân trí tài chính số trên địa bàn TP Hà Nội. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nâng cao nhận thức tài chính, dân trí tài chính số để tăng cường hành vi tiết kiệm cá nhân và tạo ra tác động tích cực đối với phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam.
1.3.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
– Hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận về nhận thức tài chính, dân trí tài chính số và hành vi tiết kiệm của người cao tuổi; Nghiên cứu kinh nghiệm về nâng cao dân trí tài chính, dân trí tài chính số của người cao tuổi của Chính phủ và tại một số NHTM trên thế giới để rút ra bài học cho Việt Nam.
– Tiến hành thu thập mẫu khảo sát và thực hiện nghiên cứu định lượng để đánh giá tác động của nhận thức tài chính đến hành vi tiết kiệm của người cao tuổi với vai trò trung gian của dân trí tài chính số.
– Đề xuất một số khuyến nghị về việc triển khai các chính sách, chiến lược cho Nhà nước và các NHTM trong việc nâng cao nhận thức tài chính và dân trí tài chính số, từ đó thúc đẩy hành vi tiết kiệm của người cao tuổi ở Việt Nam.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào người cao tuổi ở Việt Nam, đặc biệt là những người trên 55 tuổi, với mục tiêu là khám phá sâu hơn về sự tương quan giữa nhận thức tài chính và hành vi tiết kiệm của họ. Đối tượng nghiên cứu bao gồm cả nam và nữ, từ mọi tầng lớp xã hội và mọi nền văn hóa.
Tiêu chí xác định:
1. Độ tuổi: Người tham gia nghiên cứu phải trên 55 tuổi.
2. Trình độ giáo dục: Không yêu cầu trình độ giáo dục cụ thể, mọi trình độ từ tiểu học đến đại học đều được chấp nhận.
3. Sự đồng ý tham gia: Người tham gia phải có ý định tham gia tự nguyện vào nghiên cứu.
Những tiêu chí này sẽ giúp định rõ người tham gia vào nghiên cứu và tạo điều kiện cho việc thu thập dữ liệu một cách chi tiết và đáng tin cậy.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện bằng cách tổng hợp, phân tích thông tin, kết quả khảo sát của các đối tượng trên 55 tuổi hiện đang sinh sống tại TP.Hà Nội trong khoảng thời gian từ 01/4/2024 đến 30/4/2024.

1.5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu định lượng sẽ được sử dụng trong đề tài.
- Nhóm nghiên cứu sẽ áp dụng mô hình cấu trúc bình phương nhỏ nhất từng phần PLS-SEM trên phần mềm SmartPLS 4 để đánh giá tác động của Nhận thức tài chính đến hành vi tiết kiệm của người cao tuổi với biến số trung gian là dân trí tài chính số. Về mặt thực nghiệm, đề tài hướng đến giải quyết hai mục tiêu (1) tác động của nhân thức tài chính đến hành vi tiết kiệm của người cao tuổi (2) vai trò trung gian của dân trí tài chính số trong việc truyền tải tác động của nhận thức tài chính đến hành vi tiết kiệm của người cao tuổi ở Việt Nam. Cụ thể, thông qua kỹ thuật kiểm định biến trung gian (mediation test) thực hiện trên SmartPLS 4, đề tài sẽ đánh giá vai trò của biến trung gian (dân trí tài chính số) trong việc truyền tải tác động của nhận thức tài chính đến hành vi tiết kiệm của người cao tuổi. Do đó, các giả thuyết của mô hình nghiên cứu là (1) Có tồn tại mối quan hệ giữa nhận thức tài chính và hành vi tiết kiệm của người cao tuổi ở Việt Nam, (2) Có tồn tại mối quan hệ giữa dân trí tài chính số và hành vi tiết kiệm của người cao tuổi ở Việt Nam và (3) Dân trí tài chính số làm trung gian mối quan hệ giữa nhận thức tài chính và hành vi tiết kiệm của người cao tuổi.
1.6. Kết cấu bài nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận về nhận thức tài chính, dân trí tài chính số và hành vi tiết kiệm của người cao tuổi
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả mô hình và khuyến nghị chính sách
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC TÀI CHÍNH, DÂN TRÍ TÀI CHÍNH SỐ VÀ HÀNH VI TIẾT KIỆM CỦA NGƯỜI CAO TUỔI
1.1. Tổng quan về nhận thức tài chính
Tài chính là một khái niệm thuộc phạm trù kinh tế, thể hiện quan hệ việc quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính của mình một cách khoa học, đáp ứng nhu cầu của các chủ thể kinh tế – xã hội như đầu tư, gửi tiết kiệm, vay, cho vay,…
Cụm từ nhận thức tài chính hay dân trí tài chính xuất phát từ thuật ngữ gốc tiếng Anh là Financial Literacy. Đây là sự hiểu biết mang tính nhận thức về các thành phần và kỹ năng tài chính như lập ngân sách, đầu tư, vay mượn, thuế và quản lý tài chính cá nhân. Việc thiếu những kỹ năng như vậy được coi là thiếu nhận thức về tài chính. Hiểu biết về tài chính cho phép một cá nhân được chuẩn bị tốt hơn cho những trở ngại tài chính cụ thể, từ đó làm giảm nguy cơ gặp khó khăn về kinh tế cá nhân.
Nhận thức tài chính bao gồm các thành phần và kỹ năng tài chính cho phép một cá nhân có được kiến thức về quản lý tiền và nợ hiệu quả. Thứ nhất là lập ngân sách, trong lập ngân sách, tiền có bốn cách sử dụng chính để xác định ngân sách đó là chi tiêu, đầu tư, tiết kiệm và cho đi. Điều này tạo ra sự cân bằng trong quá trình sử dụng tiền cho phép các cá nhân phân bổ thu nhập của mình tốt hơn, mang lại sự an toàn và thịnh vượng tài chính. Nói chung, ngân sách nên được lập theo cách có thể trả hết các khoản nợ hiện có đồng thời để lại tiền để tiết kiệm và đầu tư sinh lời. Thứ hai, để hiểu biết về tài chính, cá nhân phải tìm hiểu về các thành phần chính liên quan đến đầu tư. Một số thành phần cần phải học để đảm bảo đầu tư thuận lợi là lãi suất, mức giá, đa dạng hóa, giảm thiểu rủi ro và chỉ số. Tìm hiểu về các thành phần đầu tư quan trọng sẽ giúp các cá nhân đưa ra quyết định tài chính thông minh hơn có thể dẫn đến tăng thu nhập. Thứ ba là đi vay, trong hầu hết các trường hợp, hầu hết mọi cá nhân đều phải vay tiền tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời. Để đảm bảo việc vay được thực hiện hiệu quả, sự hiểu biết về lãi suất, lãi kép, giá trị thời gian của tiền , thời hạn thanh toán và cơ cấu khoản vay là rất quan trọng. Nếu hiểu được một cách đầy đủ, nhận thức về tài chính của một cá nhân sẽ tăng lên, điều này sẽ làm cho việc vay mượn trở nên thiết thực và giảm căng thẳng về tài chính trong dài hạn. Thứ tư, có được kiến thức về các hình thức thuế khác nhau và cách chúng tác động đến thu nhập ròng của một cá nhân là rất quan trọng để có được nhận thức tài chính. Nhận thức về các mức thuế thu nhập khác nhau cho phép ổn định kinh tế và tăng hiệu quả tài chính thông qua quản lý thu nhập. Thứ năm là quản lý tài chính cá nhân, đây là tiêu chí quan trọng nhất khi nó bao gồm toàn bộ sự kết hợp của tất cả các phần được liệt kê ở trên. Việc quản lý bằng cách cân bằng hợp lý các nguồn tài chính trên sẽ giúp củng cố và tăng cường đầu tư và tiết kiệm đồng thời các khoản vay nợ
Trong xã hội ngày nay, khi mà người dân chủ yếu sống bằng tiền lương, số lượng người sở hữu thẻ tín dụng cũng trở nên gia tăng, nhu cầu đầu tư và tiết kiệm của mỗi cá nhân càng trở nên đa dạng thì đạt được hiểu biết về tài chính vô cùng quan trọng. Hiểu biết tài chính cá nhân giúp người tiêu dùng lập kế hoạch ngân sách và quản lý thu nhập, tiết kiệm và đầu tư hiệu quả hơn, cũng giúp họ tránh được các hành vi lừa đảo (OECD, 2005).
Nhận thức về tài chính là một yếu tố mang lại nhiều lợi ích, có thể cải thiện mức sống cho các cá nhân thông qua sự ổn định tài chính. Việc trang bị nhận thức tài chính sẽ giúp người dùng đủ khả năng đưa ra quyết định tài chính tốt hơn, quản lý tiền bạc và nợ một cách hiệu quả, cũng như được trang bị tốt hơn để đạt được các mục tiêu tài chính của mình. Như Lusardi và Mitchell (2014) đã trình bày một bài đánh giá toàn diện và hiện nay ngày càng phát triển đó là tài liệu về tác động độc lập mạnh mẽ của nhận thức tài chính được đo lường đối với việc đưa ra những quyết định tài chính thông minh, giúp tối đa hóa lợi ích và hạn chế rủi ro. Ví dụ, Hilgert, Hogarth và Beverly (2003) phát hiện rằng các điểm số về nhận thức tài chính cao dự đoán việc thanh toán dư nợ tín dụng đúng hạn, đa dạng hóa đầu tư và tái cấu trúc thế chấp. Hiểu biết tài chính thấp liên quan đến việc phải trả các loại phí cao hơn trên thẻ tín dụng, đặc biệt là các loại phí đòi hỏi sự nhận thức phức tạp hơn về các điều khoản tín dụng (Lusardi và Tufano, 2009). Hơn nữa, các nghiên cứu cho thấy các nhà đầu tư hiểu biết tài chính hơn thường giữ các danh mục đầu tư đa dạng hơn (Von Gaudecker, 2015) và ít có khả năng bán cổ phiếu sau khi thị trường chứng khoán giảm (Bucher-Koenen và Ziegelmeyer, 2013). Những phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của hiểu biết tài chính trong việc đưa ra các quyết định tài chính có trách nhiệm qua các khía cạnh khác nhau của tài chính cá nhân. Đó là lí do mà nhận thức về tài chính giúp giảm thiểu chi phí không cần thiết, giảm căng thẳng và lo lắng về tài chính, cũng như tăng khả năng ra quyết định khi lựa chọn các sản phẩm tài chính như bảo hiểm, khoản vay, đầu tư và sử dụng thẻ tín dụng. Ngoài ra, việc xây dựng một ngân sách có cấu trúc hiệu quả cũng là một yếu tố không thể thiếu của việc quản lý tài chính cá nhân. Tất cả những lợi ích trên có được qua ba chức năng chủ yếu của nhận thức tài chính. Thứ nhất là theo dõi, kiểm soát sự biến động của các nguồn tài chính khi hình thành quỹ tiền tệ nhằm đánh giá sự phù hợp của cơ chế tài chính do Nhà nước quy định và có sự điều tiết hợp lý. Thứ hai là phản hồi – chức năng này được ứng dụng nhằm điều chỉnh việc phân phối của cải xã hội theo mô hình giá trị. Cuối cùng là chức năng huy động, khả năng khai thác và tổ chức vốn đáp ứng nhu cầu phát triển nền kinh tế. Tuy nhiên, phải tuân theo quan hệ cung – cầu của thị trường.
Nhận thức tài chính là khái niệm đề cập đến kiến thức và hiểu biết về cách vận hành, quản lý dòng tiền tệ một cách hiệu quả. Đối với doanh nghiệp, nhận thức tài chính hỗ trợ các nhà quản lý trong việc kiểm soát, đưa ra chiến lược điều hành hoạt động tài chính của tổ chức, đồng thời giảm thiểu rủi ro tài chính có thể phát sinh. Nhận thức này đóng vai trò vô cùng quan trọng vì trên cơ sở đó, các nhà quản lý có thể đưa ra những quyết định sáng suốt, tối ưu hóa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Không chỉ mang lợi ích cho doanh nghiệp, nhận thức tài chính còn giúp cá nhân có khả năng lập kế hoạch, quản lý chi tiêu cá nhân hoặc gia đình một cách khôn ngoan, hợp lý. Người dân có thể tích lũy được một khoản tiết kiệm dự phòng hoặc đầu tư sinh lời để tạo nguồn thu nhập thụ động bổ sung. Việc am hiểu về nhận thức tài chính sẽ giúp cá nhân tránh được những quyết định tài chính thiếu thận trọng, đồng thời bảo vệ họ khỏi rủi ro thiệt hại về tài chính. Nhìn chung, khi các chức năng của nhận thức tài chính được vận dụng một cách đầy đủ và hỗ trợ lẫn nhau, điều này sẽ giúp cá nhân và tổ chức/doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh tế cao, tối đa hóa lợi nhuận, đồng thời quản lý rủi ro tài chính hiệu quả.
Người cao tuổi là một nhóm đối tượng có những đặc điểm riêng cần được xem xét khi xây dựng và triển khai các chính sách, chương trình giáo dục tài chính. Phần lớn người cao tuổi phụ thuộc vào lương hưu, tiết kiệm cá nhân hoặc hỗ trợ từ con cái sau khi nghỉ hưu. Tuy nhiên, mức lương hưu thường khá khiêm tốn và chỉ đủ để trang trải các nhu cầu thiết yếu như chi phí sinh hoạt, y tế. Chính vì thế, việc kiểm soát chi tiêu và dành nguồn lực cho đầu tư trở nên khó khăn hơn do mức thu nhập eo hẹp. Thứ hai, sự suy giảm về thể chất và tinh thần là một trong những trở ngại lớn đối với khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin tài chính của người cao tuổi. Theo các nghiên cứu y tế, quá trình lão hóa tự nhiên làm suy giảm dần các chức năng thể chất và tinh thần của con người. Cụ thể, suy giảm thị lực là một hiện tượng phổ biến ở người cao tuổi, đây là một trở ngại lớn ảnh hưởng ảnh hưởng đến khả năng đọc và tiếp nhận thông tin bằng văn bản. Bên cạnh đó, các vấn đề về trí nhớ và nhận thức cũng gia tăng theo tuổi tác. Theo một nghiên cứu của Bệnh viện Lão khoa Trung ương, 4,6% người cao tuổi tại cộng đồng bị sa sút trí tuệ, ảnh hưởng đến khả năng tập trung, ghi nhớ và xử lý thông tin phức tạp. Ngoài ra, người cao tuổi thường phải đối mặt với nhiều vấn đề sức khỏe khác như bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư, khớp… Các tình trạng bệnh lý này không chỉ gây ra sự khó khăn về thể chất mà còn ảnh hưởng đến tinh thần, từ đó làm giảm khả năng tiếp thu và áp dụng các nhận thức tài chính. Thứ ba, người cao tuổi thường dễ trở thành nạn nhân của các hành vi lừa đảo và lạm dụng tài chính hơn so với người trẻ tuổi, và nguyên nhân chính là do niềm tin dễ dàng và thiếu kiến thức, cảnh giác về những chiêu trò, thủ đoạn lừa đảo.
Có thể thấy rằng, việc quản lý các vấn đề về tài chính là điều quan trọng ở mọi giai đoạn của vòng đời, tuy nhiên việc đưa ra quyết định tài chính đúng đắn có thể trở nên khó khăn hơn khi con người già đi. Khi nghiên cứu về Sức khỏe and Nghỉ hưu, Lusardi và Mitchell (2011) nhận thấy rằng chỉ một nửa số người Mỹ trên 50 tuổi có thể trả lời chính xác hai câu hỏi đơn giản về lãi suất kép và lạm phát , và chỉ một phần ba có thể trả lời đúng hai câu hỏi đó cùng với một câu hỏi khác về rủi ro, đa dạng hóa. Những câu hỏi tương tự sau đó đã được đưa ra ở một số quốc gia phát triển khác bao gồm Đức, Hà Lan, Ý, Thụy Điển, Nga, Nhật Bản và New Zealand. Kết quả cho thấy không chỉ các kiến thức về tài chính còn rất hạn chế ở nhiều quốc gia mà những người lớn tuổi cũng có trình độ kiến thức tài chính thấp hơn so với các nhóm có độ tuổi trẻ hơn. Điều này là rất quan trọng vì người lớn tuổi có xu hướng có nhiều của để dành và nguồn lực để quản lý hơn trong thời gian làm việc của họ. Các nghiên cứu trước đây cũng đã cho thấy khả năng tiếp thu về tài chính có thể bị suy giảm ở tuổi già. Lusardi, Mitchell và Curto (2014) xác định sự khác biệt về mức độ hiểu biết tài chính giữa những người trả lời lớn tuổi trong một mẫu phụ của bài nghiên cứu về Sức khỏe và Hưu trí năm 2008. Khi tác giả tập trung vào cách nhân khẩu học tác động đến kiến thức, tác giả đã nhận thấy rằng những người trả lời trên 75 tuổi ít có khả năng hiểu các khái niệm đầu tư cơ bản như đa dạng hóa cổ phiếu và tầm quan trọng của phí quỹ tương hỗ. Điều này là hợp lý vì họ đã có sự suy giảm về trí thông minh linh hoạt, những người trả lời trên 75 tuổi cũng đạt điểm thấp hơn trong các câu hỏi về số học. Lusardi và cộng sự (2014) không điều tra tốc độ suy giảm ở tuổi già cũng như không điều tra xem liệu sự suy giảm này có liên quan đến nhân khẩu học hay không sự khác biệt giữa các nhóm tuổi lớn hơn. Kết quả mô tả từ van Rooij, Lusardi và Alessie (2011) cho thấy rằng tỷ lệ người trả lời thuộc nhóm có kiến thức tài chính cơ bản cao nhất đạt đỉnh điểm ở độ tuổi 41-50 và thấp nhất ở những người từ 71 tuổi trở lên. Mối quan hệ hình chữ U ngược giữa các giai đoạn tuổi tác và khả năng đọc viết là điều không mong muốn bởi vì tỷ lệ sở hữu cổ phiếu và giá trị tài sản ròng đều có quan hệ đến điểm hiểu biết tài chính cao hơn và tăng theo độ tuổi.
Như vậy, thông quá các nghiên cứu trên, ta có thể thấy nhận thức tài chính chủ yếu được phản ánh và đánh giá thông qua các hiểu biết về các yếu tố như các khái niệm, thuật ngữ tài chính, tổ chức hoạt động các tổ chức tài chính cũng như sản phẩm tài chính như: Lãi suất, lạm phát, trái phiếu, cổ phiếu, ngân hàng, tổ chức tín dụng… Theo OECD (2013) – tổ chức đã có các đợt khảo sát đánh giá định kỳ ở rất nhiều nước trên thế giới cho biết rằng hiểu biết tài chính là tổng hợp nhận thức, kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi tài chính cần thiết có thể đưa ra các quyết định tài chính lành mạnh và cuối cùng đạt được lợi ích tài chính. Cũng theo Theo Remund (2010), nhận thức tài chính được hiểu là đại lượng dùng để đo lường mức độ hiểu biết về các khái niệm tài chính cơ bản và khả năng quản lý tài chính cá nhân thông qua việc đưa ra các quyết định tài chính phù hợp trong ngắn hạn dựa trên cơ sở vững chắc, lập kế hoạch tài chính dài hạn, sống có trách nhiệm, cũng như chú ý đến các thay đổi trong điều kiện kinh tế và cuộc sống.
1.2. Tổng quan về hành vi tiết kiệm của người cao tuổi
Trong những năm gần đây, tiết kiệm và các vấn đề liên quan đến tiết kiệm đã là chủ đề của nghiên cứu trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội học và tâm lý học. Tầm quan trọng của những vấn đề này đã được thể hiện và nhấn mạnh trong thực tế bởi các học giả đã nghiên cứu về hành vi này từ các khía cạnh khác nhau và dưới lý thuyết khác nhau. Như Keynes (1978) đã xác định về động cơ tiết kiệm hay “giả thiết thu nhập thường trực” (Permanent Income Hypothesis) của Friedman và “Mô hình vòng đời” (Life Cycle Model) của Ando và Modigliani đã giải quyết một số nghịch lý hiển nhiên trong mối quan hệ giữa thu nhập và tiêu dùng, và cho đến nay vẫn là cơ sở cho những suy nghĩ của nhà kinh tế về tiêu dùng và tiết kiệm.
Khái niệm tiết kiệm được hiểu là việc sử dụng một cách hợp lý các nguồn lực vật chất, thời gian và sức lao động của bản thân và người khác. Trong lĩnh vực kinh tế, tiết kiệm được định nghĩa là phần thu nhập được dành lại thay vì chi tiêu cho tiêu dùng. Nguồn gốc của khái niệm tiết kiệm bắt nguồn từ mô hình tuần hoàn thu nhập quốc gia. Trong mô hình tuần hoàn thu nhập đơn giản, các hộ gia đình là đối tượng thực hiện tiết kiệm. Tuy nhiên, trong mô hình mở rộng, các doanh nghiệp (thông qua lợi nhuận giữ lại) và chính phủ (thông qua thặng dư ngân sách) cũng tham gia vào quá trình tiết kiệm. Trên thực tế, tiết kiệm đóng một vai trò quan trọng bởi nguồn tiết kiệm này sẽ được sử dụng để tài trợ cho các khoản đầu tư vật chất. Do đó, tiết kiệm được xem là sự hy sinh tiêu dùng hiện tại nhằm dành nguồn lực để tăng trữ lượng vốn của quốc gia, từ đó nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa.
Đối với hành vi tiết kiệm của người cao tuổi hiện nay, có thể thấy rằng trong nền văn hóa của chúng ta, người cao tuổi có xu hướng tập trung vào việc tiết kiệm và họ quen coi tiền là sự đảm bảo cho một kỳ nghỉ hưu thoải mái. Trong suốt những năm làm việc, họ sẽ gửi một phần thu nhập vào ngân hàng để tích lũy của cải và không dễ dàng sử dụng. Thay vì mua các sản phẩm thương hiệu đắt tiền người lớn tuổi chú trọng tính thực tế và giá trị lâu dài hơn. Họ ít bị ảnh hưởng bởi các khái niệm tiêu dùng bên ngoài và quan tâm nhiều hơn đến sự ổn định của gia đình và cá nhân. Người cao tuổi tiết kiệm nhiều hơn, một phần vì họ đã tích lũy được một lượng tài sản nhất định trong suốt những năm làm việc, và một phần vì chi tiêu của họ tương đối nhỏ.
Khi quá trình đô thị hóa tăng tốc và sự phát triển kinh tế tiếp tục tăng trưởng, người cao tuổi dần dần tăng cường các nguồn thu nhập ổn định như lương hưu, cho phép họ tiết kiệm và quản lý tài sản tốt hơn.Nền tảng giáo dục và gia đình cũng có tác động quan trọng đến tình trạng kinh tế của người già . Người cao tuổi thường không nhận được sự giáo dục tài chính tốt trong quá trình học tập trước đây. Hành vi của họ có xu hướng bảo thủ và thận trọng, đồng thời họ có ý thức tiết kiệm cao. Thói quen tiêu dùng và lối sống đó cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự khác biệt giữa tiết kiệm và tiêu dùng. Người cao tuổi chú ý nhiều hơn tới tiết kiệm cuộc sống. Họ sẵn sàng tích lũy tài sản trong ngân hàng và giảm các khoản chi tiêu không cần thiết. Như trong nghiên cứu của về Hoa Kỳ, Bernheim và cộng sự (2001) cho thấy mức tiêu thụ giảm nhanh vào thời điểm nghỉ hưu và thậm chí còn giảm nhiều hơn sau khi nghỉ hưu. Dữ liệu của Vương quốc Anh, Bardasi và cộng sự (2000) báo cáo rằng phúc lợi kinh tế trung bình giảm mạnh trong những năm trước nghỉ hưu, và tiếp tục như vậy cho đến khi nghỉ hưu và những năm tiếp theo. Hay như Banks và Oldfield (2007) cũng báo cáo rằng người cao tuổi phải chịu đựng khoảng cách lớn hơn về nhận thức, giới tính và trình độ học vấn so với các nhóm khác. Kết quả là họ ít có khả năng có tài khoản tiết kiệm, sở hữu cổ phần trong công ty hoặc có lương hưu tư nhân. Lusardi và Mitchell (2011; 2014) báo cáo rằng hiểu biết về tài chính là một yếu tố quyết định quan trọng đến việc lập kế hoạch nghỉ hưu cho mọi lứa tuổi, kể cả người cao tuổi mắc phải tình trạng mù chữ tài chính ở mức độ cao.
1.3. Tổng quan về dân trí tài chính số
Nhận thức tài chính đã được công nhận rộng rãi là một yếu tố quan trọng thúc đẩy người tiêu dùng tham gia vào thị trường tài chính và sử dụng dịch vụ tài chính (Lusardi và Mitchell, 2014). Sự xuất hiện của công nghệ tài chính hay còn gọi là “fintech” cùng với đại dịch Covid-19 đã thúc đẩy sự bành trướng của các sản phẩm và dịch vụ tài chính số, chúng được truy cập và được phân phối độc quyền qua các kênh kỹ thuật số (Lyons, Kass-Hanna, & Fava, 2021), người dùng có thể tiếp cận các dịch vụ tài chính số số một cách vô cùng dễ dàng và thuận tiện trong thời gian giãn cách xã hội. Các công cụ thanh toán số như ví điện tử đã trở thành một “bình thường mới” khi thực hiện các giao dịch hằng ngày. Có thể nói, bối cảnh hiện nay đòi hỏi người tiêu dùng tài chính phải có đủ nhận thức và khả năng sử dụng các dịch vụ tài chính số và phải chịu trách nhiệm lớn hơn về tình hình tài chính của mình (P. Morgan & Trinh, 2019).
Cùng với tuổi tác, tốc độ học và khả năng tiếp thu thông tin của người cao tuổi có thể giảm đi. Điều này khiến họ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tiếp cận và sử dụng các công nghệ mới như điện thoại thông minh, máy tính, và Internet. Theo Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông tình hình lừa đảo trực tuyến tại Việt Nam đang diễn biến ngày càng phức tạp. Đáng chú ý, một trong những mục tiêu mà tội phạm mạng đang hướng tới chính là những người cao tuổi, bằng các phương thức như gọi điện thoại lừa đảo, email hoặc các trang web giả, không chính thống. Bởi đây là đối tượng được xác định là có tài chính sau nhiều năm tích lũy nhưng thường hạn chế về mặt công nghệ, ít cập nhật thông tin hơn và dễ bị thuyết phục. Cùng với đó, do thiếu khả năng nắm bắt thông tin kịp thời, người cao tuổi rất dễ trở thành đối tượng bị lạm dụng tài chính từ các nhà chức trách hoặc các nhà cung cấp dịch vụ, bao gồm việc thu phí không cần thiết, sử dụng thông tin cá nhân một cách không đúng mục đích, hoặc gây ra chi phí không cần thiết đối với dịch vụ y tế hoặc pháp lý. Người cao tuổi cũng có thể trở thành mục tiêu của các kẻ gian từ bên ngoài, bao gồm việc lừa đảo đầu tư, lừa đảo bảo hiểm, hoặc mua bán sản phẩm hoặc dịch vụ không hợp pháp.
Dân trí tài chính số (Digital Financial Literacy) đối với người cao tuổi là một vấn đề đáng được quan tâm trong bối cảnh già hóa dân số và phát triển số hóa mạnh mẽ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Dân trí tài chính số bao gồm hai thuật ngữ, bao gồm nhận thức tài chính và nền tảng kỹ thuật số; để dễ dàng sử dụng tài chính kỹ thuật số, cần có hiểu biết về tài chính (Tony & Desai, 2020). Khái niệm về dân trí tài chính số đã chỉ ra rằng: “Kiến thức, kỹ năng, sự tự tin và năng lực sẽ đảm bảo để người dùng sử dụng các công cụ và dịch vụ tài chính số một cách an toàn và đưa ra các quyết định tài chính sáng suốt” (Liên minh tài chính toàn diện, 2021). Dân trí tài chính số là một khái niệm đa chiều, bao gồm hiểu biết về tài chính, về công nghệ số và các yếu tố bổ sung liên quan đến khả năng truy cập và sử dụng các dịch vụ tài chính số (Lyons và Kass-Hanna, 2021). Vậy có thể nói, dân trí tài chính số đóng một vai trò trung gian tác động đến sự ảnh hưởng của nhận thức tài chính đến hành vi tiết kiệm.
Dân trí tài chính số có thể được đánh giá và đo lường thông qua bốn biến số: Kiến thức về các sản phẩm và dịch vụ tài chính số; Kinh nghiệm về các sản phẩm và dịch vụ tài chính số; Nhận thức về rủi ro tài chính số; và Kỹ năng kiểm soát và quản lý các hoạt động tài chính số (P. Morgan & Trinh, 2019; Prasad và cộng sự, 2018).
Thứ nhất, kiến thức về các sản phẩm và dịch vụ tài chính số: Người có hiểu biết đầy đủ về tính năng và lợi ích các sản phẩm, dịch vụ tài chính số thông dụng hiện tại như ngân hàng số, đầu tư và tiết kiệm trực tuyến, ví điện tử… sẽ có thể đưa ra lựa chọn tối ưu nhất về những sản phẩm phù hợp với nhu cầu và điều kiện của mình. Ví dụ, một cá nhân hiểu rõ cách thức hoạt động, ưu nhược điểm giữa tiền di động và ví điện tử sẽ dễ dàng đưa ra quyết định sử dụng phương thức thanh toán phù hợp với bản thân dựa trên hạn mức giao dịch, tần suất giao dịch hay việc có cần liên kết tài khoản ngân hàng hay không.
Thứ hai, kinh nghiệm về các sản phẩm và dịch vụ tài chính số: Việc sử dụng thành thạo các tính năng trên nền tảng số giúp cá nhân dễ dàng hơn trong việc giao dịch, quản lý tài chính, tiết kiệm và đầu tư, cho thấy mức dân trí tài chính số cao. Theo số liệu cập nhật đến ngày 17/11/2023, cơ quan thuế đã tiếp nhận và xử lý hơn 5,79 tỷ hóa đơn điện tử, trong đó có hơn 1,66 tỷ hóa đơn có mã và 4,12 tỷ hóa đơn không mã. Về triển khai hóa đơn từ máy tính tiền, tính đến tháng 11/2023, có 36.391 doanh nghiệp, hộ kinh doanh đăng ký sử dụng thành công hóa đơn điện tử có mã do cơ quan thuế khởi tạo từ máy tính tiền, với tổng số 62,17 triệu hóa đơn điện tử được khởi tạo (tương đương 3.740 tỷ đồng thuế và 88.636 tỷ đồng doanh thu). Điều này cho thấy, hầu hết các lĩnh vực trong ngành tài chính đã có những bước chuyển đổi mạnh mẽ trong bối cảnh chuyển đổi số. Một mức độ dân trí tài chính số cao sẽ giúp khách hàng, người dùng dễ dàng hòa nhập và tiếp cận hệ sinh thái tài chính số phong phú, hiện đại mà Bộ Tài chính đang nỗ lực xây dựng.
Thứ ba, nhận thức về rủi ro tài chính số: Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực tài chính, ngân hàng thì rủi ro tài chính số là một vấn đề tất yếu xảy ra. Theo báo cáo an toàn thông tin mạng Việt Nam tháng 4/2024, Trung tâm Giám sát an toàn không gian mạng quốc gia (NCSC) đã ghi nhận 124.624 địa chỉ website giả mạo cơ quan, tổ chức, mục tiêu hướng đến của các đối tượng lừa đảo là lừa đảo người dân thông qua giả mạo các website của cơ quan chức năng, các tổ chức tài chính – ngân hàng, các công ty lớn… trong đó có website giả mạo ngân hàng VDB, Vietcombank, MB Bank… Ngày 19/01/2023, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Công văn số 365/NHNN-TT về việc giả nhân viên tín dụng của ngân hàng gọi điện, nhắn tin lừa đảo người dân về dịch vụ rút tiền từ hạn mức thẻ tín dụng với mức phí cạnh tranh hoặc miễn phí để chiếm đoạt tiền của khách hàng. Trước tình hình đó, mỗi cá nhân cần phải biết cách bảo mật thông tin cá nhân và thông tin tài khoản ngân hàng của mình khi sử dụng các dịch vụ tài chính trực tuyến, đồng thời nâng cao nhận thức về những rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra khi tham gia vào lĩnh vực tài chính số và phòng ngừa chúng bằng cách tránh truy cập và cung cấp thông tin cho những trang web giả mạo, không chính thống; thực hiện các biện pháp hoặc sử dụng phần mềm hỗ trợ bảo mật thông tin… Việc nhận thức được rủi ro tài chính số sẽ giúp người dùng thận trọng hơn trong việc chia sẻ thông tin, dễ dàng và kịp thời tìm kiếm sự trợ giúp trong trường hợp thực sự gặp phải rủi ro.
Thứ tư, kỹ năng kiểm soát và quản lý các hoạt động tài chính trên môi trường số là một yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao năng lực tài chính số của người dân. Những kỹ năng này giúp người sử dụng lựa chọn được giải pháp tối ưu, khai thác tối đa tiềm năng của các công cụ tài chính số để đạt được mục tiêu tài chính đã đề ra. Có thể kể đến các kỹ năng như: lập ngân sách và quản lý chi tiêu, đặt ra mục tiêu và lập kế hoạch tiết kiệm, đầu tư và quản lý danh mục đầu tư… tất cả đều được thực hiện trên các nền tảng số. Người dùng trau dồi và thành thạo kỹ năng này sẽ có khả năng điều chỉnh các quyết định tài chính cho phù hợp với tình hình thị trường và phù hợp với các mục tiêu dài hạn, dễ dàng thích ứng với hệ sinh thái tài chính số và thúc đẩy tài chính toàn diện.
1.4. Tác động của nhận thức tài chính đến hành vi tiết kiệm của người cao tuổi
Thứ nhất, người cao tuổi có nhận thức tài chính thường lập kế hoạch tài chính sớm, lâu dài và hiệu quả hơn những người cao tuổi thiếu nhận thức tài chính. Việc có nhận thức tài chính giúp người cao tuổi xác định rõ mục tiêu tiết kiệm của họ, lập ngân sách chi tiêu hợp lý và theo dõi và quản lý chi tiêu hiệu quả hơn. Cụ thể, Lusardi và Mitchell (2011a, b) đánh giá mức độ hiểu biết về tài chính định hình việc lập kế hoạch nghỉ hưu, kết quả của họ cho thấy những người có hiểu biết về tài chính cao hơn có khả năng cố gắng tìm ra nhu cầu tiết kiệm khi nghỉ hưu của họ. Ngược lại, với những người không có nhận thức tài chính nói chung và người cao tuổi không có nhận thức tài chính nói riêng, phần lớn họ thường tiết kiệm theo chu kỳ tiết kiệm cá nhân, tức là gần như không có kế hoạch cụ thể. Năm 1954, Modigliani và Brumberg đã nghiên cứu về hành vi tiết kiệm cá nhân theo lý thuyết về chu kỳ tiết kiệm trong cuộc sống. Theo nghiên cứu này, hành vi tiết kiệm cá nhân của một cá nhân thường tuân theo quy luật: Thường tăng tiết kiệm và giảm dần chi tiêu trong giai đoạn có thu nhập cao và sử dụng số tiền đã tiết kiệm từ trước trong giai đoạn nghỉ hưu. Điều này cho thấy, nếu người cao tuổi không có nhận thức tài chính thường sẽ không lập kế hoạch tài chính cụ thể, không lập kế hoạch chi tiêu và tiết kiệm rõ ràng mà chi tiêu và tiết kiệm dựa trên thu nhập kiếm được ở giai đoạn đó, gây ra khó khăn tài chính trong những năm cuối đời.
Thứ hai, người cao tuổi có nhận thức tài chính thường lập kế hoạch tiết kiệm hiệu quả hơn. T. U. I. Peiris (2021) đã thực hiện nghiên cứu và tìm ra rằng hành vi tiết kiệm bị tác động trực tiếp và mạnh mẽ bởi nhận thức tài chính. Cuối cùng tác giả tóm lược lại rằng khi hiểu biết rõ về tài chính cũng như hệ thống của nó, hành vi tiết kiệm sẽ được thực hiện hiệu quả hơn, và hơn nữa, nó thúc đẩy ý định tiết kiệm càng nhiều hơn. Nghiên cứu của ADBI (2017) cũng củng cố quan điểm này bằng cách đưa ra một số kết luận quan trọng: Nhận thức tài chính tác động trực tiếp và có ý nghĩa thống kê đến việc lập kế hoạch nghỉ hưu, đồng thời tác động gián tiếp đến hành vi tiết kiệm của cá nhân.
Trong một nghiên cứu khác của Luc Arrondel, Majdi Debbich và Frédérique Savignac (2013) về nhận thức tài chính và lập kế hoạch tài chính ở Pháp cho rằng sự khác biệt trong nhận thức tài chính kéo theo sự khác biệt về xu hướng lập kế hoạch. Những người có nhận thức tốt sẽ có xu hướng chuẩn bị kế hoạch tài chính lâu dài.
Thứ ba, người cao tuổi không có nhận thức tài chính có thể đưa ra những quyết định sai lầm khi lựa chọn các sản phẩm và dịch vụ tài chính để tiết kiệm. Người lớn tuổi có nhiều khả năng bị lừa gạt hơn những người trẻ tuổi (Gamble và cộng sự, 2014). Như vậy, những người trả lời lớn tuổi phải đối mặt với nhiều thách thức tài chính, bao gồm cả việc cố gắng bảo toàn tài sản họ đã tích lũy. Một lý do khiến nhiều người lớn tuổi có thể biểu hiện các hành vi tài chính có vấn đề là nhiều người không hiểu biết về tài chính. (Olivia S. Mitchell và Annamaria Lusardi, 2021).
1.5. Tác động của dân trí tài chính số đến hành vi tiết kiệm của người cao tuổi
Ngoài nhận thức tài chính truyền thống, dân trí tài chính số cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong việc tác động đến hành vi tiết kiệm của người cao tuổi. Sự phát triển của công nghệ số đã mở ra nhiều kênh tiết kiệm và đầu tư mới như ví điện tử, tài khoản ngân hàng số. Những người cao tuổi có nhận thức tài chính số tốt sẽ dễ dàng tiếp cận và sử dụng các kênh, ứng dụng tiết kiệm, đầu tư hiện đại như ví điện tử, tài khoản ngân hàng số (Nicolini và cộng sự, 2022). Điều này giúp họ đa dạng hóa các cách thức quản lý tài chính và tối ưu hóa khả năng tiết kiệm của mình. Ngược lại, những người cao tuổi có mức độ kiến thức và kỹ năng về công nghệ số còn hạn chế sẽ gặp nhiều rào cản trong việc tiếp cận các công cụ tài chính hiện đại. Họ thường phụ thuộc hoàn toàn vào các kênh truyền thống như gửi tiết kiệm tại ngân hàng hoặc giữ tiền mặt, những hình thức tiết kiệm ít hiệu quả (Sawadsri & Akaraphanth, 2021). Điều này có thể dẫn đến mức tiết kiệm thấp hơn mong muốn và khó chinh phục được mục tiêu tài chính. Ngoài ra, nhận thức tài chính số cũng giúp người cao tuổi hạn chế được tối đa rủi ro liên quan đến tài chính số như lừa đảo trực tuyến, bảo mật thông tin cá nhân. Những kiến thức về cách nhận biết và xử lý các rủi ro này sẽ giúp họ an tâm hơn khi sử dụng các công cụ tài chính số, từ đó thúc đẩy hành vi tiết kiệm (Patidar & Agrawal, 2021). Do đó, nhận thức tài chính số có thể đóng vai trò trung gian, tạo điều kiện để nhận thức tài chính truyền thống dẫn đến hành vi tiết kiệm thông qua việc sử dụng các công cụ kỹ thuật số.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã nêu lên được một cách hệ thống và tổng quan các yếu tố như nhận thức tài chính, dân trí tài chính số và hành vi tiết kiệm của người cao tuổi. Thông qua các bài nghiên cứu và thực trạng hiện nay, đã cho thấy rằng các yếu tố như nhận thức tài chính và dân trí tài chính số có một tác động cần phải bàn rõ đối với hành vi tiết kiệm của người cao tuổi. Đó là lý do mà thông qua các tổng quan này, chương 1 cũng sẽ đi sâu vào việc phân tích và làm rõ để cho thấy rằng ngoài nhận thức tài chính truyền thống, dân trí tài chính số cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong việc tác động đến hành vi tiết kiệm của người cao tuổi. Đây cũng chính là mục tiêu mà bài nghiên cứu này hướng đến.
Chương tiếp theo sẽ đi vào phương pháp nghiên cứu để làm rõ vấn đề nội dung của bài nghiên cứu.
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về các phương pháp đánh giá ảnh hưởng của nhận thức tài chính đến hành vi tiết kiệm của người cao tuổi
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu là vô cùng quan trọng. Bài nghiên cứu này có kế thừa và học hỏi từ các nghiên cứu đi trước, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để mức độ ảnh hưởng của nhân tố nhận thức tài chính đến biến phụ thuộc, ở đây là biến hành vi tiết kiệm với vai trò trung gian của biến can thiệp – dân trí tài chính số.
2.1.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thực hiện việc thu thập tài liệu từ sách, báo, tạp chí và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài nhằm xây dựng cơ sở lý luận; Thực hiện phân tích nội dung và dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau để có cái nhìn toàn diện về vấn đề; Tổng hợp, phân loại và sắp xếp tài liệu theo thời gian và mức độ một cách có hệ thống để hình thành cơ sở lý luận cho đề tài.
Việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu lý luận sẽ giúp nghiên cứu có được nền tảng vững chắc về mặt lý thuyết, làm rõ được tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu, các khái niệm và lý thuyết liên quan, đồng thời hình thành các giả thuyết khoa học để kiểm nghiệm trong nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo.
2.1.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Là phương pháp khảo sát một số lượng lớn các đối tượng nghiên cứu, vào một hay nhiều thời điểm nhằm thu thập số liệu phục vụ cho mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu. Xây dựng bảng hỏi phù hợp với các đối tượng có liên quan để tiến hành thu thập dữ liệu về nhận thức tài chính cũng như hành vi tiết kiệm của người cao tuổi ở Việt Nam.
Mục đích: Xác định rõ mức độ hiểu biết tài chính, tài chính số của người cao tuổi và hành vi tiết kiệm của họ; tìm hiểu và thu thập thông tin, dữ liệu để đánh giá một cách toàn diện, khách quan và đúng đắn về vấn đề nghiên cứu. Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng phương pháp này để khảo nghiệm tính khả thi và cần thiết đối với các giải pháp mà nhóm nghiên cứu đề xuất thực hiện.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024/ ẢNH HƯỞNG CỦA NHẬN THỨC TÀI CHÍNH ĐẾN HÀNH VI TIẾT KIỆM CỦA NGƯỜI CAO TUỔI
Ảnh hưởng của nhận thức tài chính đến hành vi tiết kiệm của người cao tuổi – Vai trò trung gian của dân trí tài chính số Ảnh hưởng của nhận thức tài chính đến hành vi tiết kiệm của người cao tuổi – Vai trò trung gian của dân trí tài chính số

