Quản lí chuyên môn theo tiếp cận chất lượng tổng thể ở trường trung học phổ thông tại huyện Thanh Ba

Quản lí chuyên môn theo tiếp cận chất lượng tổng thể ở trường trung học phổ thông tại huyện Thanh Ba

Quản lí chuyên môn theo tiếp cận chất lượng tổng thể ở trường trung học phổ thông tại huyện Thanh Ba

1. Lí do chọn đề tài

Chất lượng giáo dục tại các cơ sở giáo dục hiện nay phụ thuộc vào 4 yếu tố, đó là: Đội ngũ, cơ sở vật chất, đầu vào và công tác quản lí; trong đó công tác quản lí giữ vai trò quan trọng vì trong điều kiện đội ngũ, cơ sở vật chất, đầu vào như nhau, nơi đâu quản lí tốt thì nơi đó có chất lượng tốt hơn. Vì vậy, đổi mới quản lí giáo dục tại các nhà trường là vấn đề cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

Hoạt động quản lí của nhà trường có nhiều nội dung, song quản lí hoạt động chuyên môn (CM) là nhiệm vụ trung tâm và luôn được đặt lên vị trí hàng đầu bởi vì hoạt động CM tác động trực tiếp tới chất lượng dạy của GV và chất lượng học tập của học sinh.

Hoạt động CM góp phần quan trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường. Vì vậy, quản lí hoạt động CM là yêu cầu tất yếu và là một trong những nội dung quản lí quan trọng trong quản lí trường học.

Trong các mô hình quản lí chất lượng đã được áp dụng thành công trong công nghiệp và thương mại, mô hình quản lí chất lượng tổng thể (TQM) được cho rằng có thể áp dụng khả thi trong quản lí nhà trường. TQM với phương châm cải tiến liên tục, hướng vào khách hàng sẽ cho ta chất lượng giáo dục đáp ứng theo yêu cầu của xã hội. Hiện nay, vấn đề chất lượng dạy học đang được xã hội rất quan tâm, vì vậy việc tiếp cận TQM là hướng lựa chọn phù hợp cho quản lí hoạt động chuyên môn ở nhà trường THPT.

Trong những năm qua, ở các trường THPT tại huyện Thanh Ba đã sử dụng nhiều phương pháp quản lý chuyên môn như quản lý chuyên môn theo chức năng nhiệm vụ, quản lý chuyên môn theo đánh giá chuẩn đầu ra. Việc quản lý chuyên môn theo các phương pháp quản lý này đã bước đầu đạt được những chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn cho giáo viên của các trường THPT tại huyện Thanh Ba. Tuy nhiên, công tác quản lý chưa đảm bảo mang lại hiệu quả đồng bộ, chất lượng quản lý chưa cao, chưa đồng đều. Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy học và giáo dục của các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện. Do đó, trong thời gian tới, để đáp ứng được yêu cầu đổi mới “căn bản, toàn diện” của giáo dục hiện nay thì công tác quản lý chuyên môn tại các trường này cần phải thay đổi theo hướng quản lý chất lượng tổng thể.

Với mong muốn tìm hiểu sâu sắc hơn về hoạt động CM, phục vụ cho công tác quản lí, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường THPT tại huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ tôi chọn đề tài: “Quản lí chuyên môn theo tiếp cận chất lượng tổng thể ở trường trung học phổ thông tại huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ” làm hướng nghiên cứu luận văn thạc sĩ.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và phân tích thực trạng công tác quản lí hoạt động CM, đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động CM theo tiếp cận quản lí chất lượng tổng thể nhằm nâng cao chất lượng hoạt động CM, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục tại các trường THPT huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

Hoạt động CM ở trường THPT theo định hướng đổi mới giáo dục.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp quản lí hoạt động CM ở trường các THPT huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ theo mô hình quản lí chất lượng tổng thể.

4. Giả thuyết khoa học

Trong thời gian, qua công tác quản lí hoạt động CM ở các trường THPT huyện Thanh Ba đã đạt kết quả nhất định, đáp ứng nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên hiện nay còn nhiều bất cập, chậm đổi mới tư duy và phương thức quản lí. Nếu nhà trường thực hiện các nhóm biện pháp quản lí hoạt động CM theo tiếp cận TQM như: Xây dựng kế hoạch chiến lược TQM của nhà trường; Xây dựng kế hoạch quản lí hoạt động CM; Hình thành môi trường văn hóa chất lượng, làm việc nhóm, hệ thống thông tin, công cụ kiểm soát chất lượng; Tổ chức thực hiện hệ thống QLCL CM… một cách đồng bộ và có hệ thống thì sẽ nâng cao được chất lượng chuyên môn trong nhà trường trung học phổ thông.

Quản lí chuyên môn theo tiếp cận chất lượng tổng thể ở trường trung học phổ thông tại huyện Thanh Ba
Quản lí chuyên môn theo tiếp cận chất lượng tổng thể ở trường trung học phổ thông tại huyện Thanh Ba

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lí hoạt động CM trường THPT theo mô hình quản lí chất lượng tổng thể.

– Nghiên cứu thực trạng hoạt động CM ở các trường THPT huyện Thanh Ba theo mô hình quản lí chất lượng tổng thể, xác định các nguyên nhân và rút ra bài học.

– Đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động CM ở các trường trường THPT huyện Thanh Ba theo mô hình quản lí chất lượng tổng thể.

6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1. Giới hạn đối tượng nghiên cứu

Quản lí hoạt động CM ở các trường THPT huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ theo mô hình quản lí chất lượng tổng thể.

6.2. Giới hạn về đối tượng khảo sát

Cán bộ của Sở GD&ĐT tỉnh Phú Thọ: 6 người

– Lãnh đạo trường: 6 người

– Tổ trưởng CM, tổ phó CM: 14 người

– GV: 80 người.

6.3. Giới hạn địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu thực tiễn được triển khai tại các trường THPT huyện Thanh Ba

6.4. Giới hạn về thời gian nghiên cứu

Các số liệu điều tra, khảo sát thực hiện trong phạm vi thời gian 3 năm học: 2018 – 2019; 2019 -2020; 2020 – 2021.

7. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, nhiều phư­ơng pháp nghiên cứu khác nhau đ­ược sử dụng như:

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

– Thu thập, nghiên cứu, phân tích các tài liệu liên quan đến đề tài;

– Hệ thống hóa các vấn đề lí luận về quản lí, quản lí hoạt động CM trường phổ thông qua các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu.

– Nghiên cứu hệ thống các văn bản pháp quy, những quy chế của Chính phủ, các quy định của ngành Giáo dục liên quan đến công tác quản lí giáo dục, quản lí CM trong nhà trường.

7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Sử dụng các phương pháp: điều tra giáo dục, nghiên cứu sản phẩm hoạt động sư phạm, tổng kết kinh nghiệm, phương pháp chuyên gia để khảo sát và đánh giá thực trạng QLCL dạy học ở trường THPT huyện Thanh Ba, đồng thời kiểm chứng mức độ hợp lí và tính khả thi của các biện pháp quản lí được đề xuất trong luận văn này.

7.3. Nhóm phương pháp bổ trợ

Sử dụng các phép toán cơ bản và ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xử lí các dữ liệu thu thập trong nghiên cứu nội dung đề tài.

8. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí CM ở trường THPT theo tiếp cận quản lí chất lượng tổng thể.

Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động CM ở trường THPT tại huyện Thanh Ba theo tiếp cận quản lí chất lượng tổng thể.

Chương 3: Biện pháp quản lí CM ở trường THPT tại huyện Thanh Ba theo tiếp cận quản lí chất lượng tổng thể.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN THEO TIẾP CẬN TQM TẠI RƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Quản lí

Khái niệm quản lí được xuất hiện và phát triển cùng sự xuất hiện, phát triển của xã hội loài người. Ngày nay, quản lí trở thành một khoa học, nghệ thuật, một nghề phức tạp nhất trong xã hội hiện đại.

Khái niệm quản lí có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tùy vào góc độ tiếp cận.

Theo Harold Koontz, quản lý là “một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được các mục đích của nó với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học” [dẫn qua 28, tr.33].

Theo nhà triết học V.G. Afanetser, quản lý là “nhận thức, phát hiện các quy luật, các khuynh hướng phát triển xã hội và hướng sự vận động xã hội cho phù hợp khuynh hướng ấy, phát hiện và giải quyết kịp thời các mâu thuẫn của sự phát triển, khắc phục trở ngại, duy trì sự thống nhất giữa chức năng và cơ cấu của hệ thống, tiến hành một đường lối đúng đắn dựa trên cơ sở tính toán nghiêm túc những khả năng khách quan, mối tương quan giữa những lực lượng xã hội, một đường lối gắn bó, chặt chẽ với nền kinh tế và sự phát triển xã hội” [dẫn qua 29].

Theo Nguyễn Ngọc Quang, quản lý là “tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [dẫn qua 21, tr.18].

Theo Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, hoạt động quản lý là “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đề ra” [8, tr19].

Theo Phan Văn Kha, khái niệm quản lý trong hoạt động GD là, quản lý là “quá trình lập kế hoạch,tổ chức lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định” [dẫn qua 15, tr.16].

Như vậy, có thể khái quát quản lý là tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt được mục đích đề ra. Sự tác động của quản lý bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn tự giác, phấn khởi mang hết năng lực, trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, tổ chức và xã hội.

1.2.2. Hoạt động chuyên môn

Theo Từ điển Bách khoa, hoạt động là “một phương pháp đặc thù của con người quan hệ với thế giới chung quanh nhằm cải tạo thế giới theo hướng phục vụ cuộc sống của mình. Trong mối quan hệ ấy, chủ thể của hoạt động là con người, khách thể hoạt động là tất cả những gì mà hoạt động tác động vào, qua đó tạo được ra sản phẩm thoả mãn nhu cầu của chủ thể. Mục đích trên đây thể hiện trong nhiều lĩnh vực và trên nhiều dạng hoạt động: kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng, quân sự, lý luận, văn học, tâm lý… Nhưng hình thức cơ bản có ý nghĩa quyết định là thực tiễn xã hội. Hoạt động thường được chia làm hai loại: Hoạt động hướng ngoại nhằm cải tạo thiên nhiên và xã hội. Hoạt động hướng nội nhằm cải tạo bản thân con người. Hai loại hoạt động ấy gắn liền mật thiết với nhau vì con người chỉ có thể cải tạo mình trong quá trình cải tạo thiên nhiên và xã hội. Hoạt động bao giờ cũng mang tính lịch sử qua các thời đại khác nhau” [48, tr.341].

Chuyên môn là lĩnh vực riêng, những kiến thức riêng của một ngành khoa học kỹ thuật.

Hoạt động chuyên môn là toàn bộ hoạt động giảng dạy, giáo dục của người dạy, việc học tập rèn luyện của người học theo nội dung giáo dục toàn diện nhằm thực hiện mục tiêu và đường lối hoạt động giáo dục của Đảng. Hoạt động chuyên môn là hoạt động trọng tâm trong các hoạt động của nhà trường.

1.2.3. Quản lý chất lượng

Chất lượng là kết quả tác động của hàng loạt các yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Muốn đạt được chất lượng như mong muốn, cần quản lý các yếu tố này một cách đúng đắn. Hoạt động quản lý định hướng vào chất lượng được gọi là quản lý chất lượng.

Quản lý chất lượng là một khái niệm được phát triển, hoàn thiện liên tục, thể hiện ngày càng đầy đủ bản chất tổng hợp, phức tạp của vấn đề chất lượng và phản ánh sự thích ứng với điều kiện và môi trường hoạt động mới.

Theo A.V.Feigenbaun. quản lý chất lượng sản phẩm là “một hoạt động thống nhất, có hiệu quả của các bộ phận khác nhau trong một tổ chức, chịu trách nhiệm triển khai những tham số chất lượng, duy trì và nâng cao nó để đảm bảo sản xuất và tiêu dùng một cách kinh tế nhất, thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng” [dẫn qua 50].

Theo K.Ishikawa, chuyên gia chất lượng nổi tiếng Nhật Bản, quản lý chất lượng sản phẩm là “nghiên cứu, thiết kế, triển khai sản xuất, bảo dưỡng sản phẩm có chất lượng, sản phẩm phải kinh tế nhất, có ích nhất và bao giờ cũng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng” [dẫn qua 36].

Theo ISO 8402:1994, quản lý chất lượng là “những hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm xác định chính sách chất lượng, mục đích, trách nhiệm và thực hiện thông qua các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng” [dẫn qua 32].

Như vậy, quản lý chất lượng là quản lý theo hướng chuẩn hóa, duy trì sự vật ở trạng thái ổn định và phát triển, bao hàm các hoạt động như xác lập mục tiêu và thiết lập tiêu chuẩn; đối chiếu thực trạng so với chuẩn và cải tiến thực trạng theo chuẩn.

Có 3 cấp độ quản lý chất lượng chính đó là:

– Kiểm soát chất lượng (quản lý mục tiêu) là công đoạn xảy ra sau quá trình sản xuất, tập trung phát hiện và loại bỏ từng phần hay toàn bộ sản phẩm cuối cùng không đạt các chuẩn mực chất lượng.

– Đảm bảo chất lượng (quản lý quá trình) là quá trình xảy ra trước và trong khi thực hiện, tập trung phòng ngừa sự xuất hiện những sản phẩm chất lượng thấp ngay trong quá trình sản xuất.

– Quản lý chất lượng tổng thể kế thừa những thành tựu của tiêu chuẩn, quy trình hóa của đảm bảo chất lượng, phát huy cao độ yếu tố con người tạo ra nền văn hóa chất lượng để cải tiến liên tục trong quá trình sản xuất, thường xuyên nâng cao chất lượng, làm hài lòng khách hàng.

1.2.4. TQM

Mặc dù được phát triển từ những năm 1940 và 1950 nhưng mãi đến năm 1980, thuật ngữ TQM mới được sử dụng rộng rãi. Có nhiều định nghĩa về tiếp cận TQM, cụ thể như sau:

Giáo sư Nhật Bản Histoshi Kume (1996) khi dựa vào nguyên tắc tất cả vì khách hàng đã định nghĩa TQM là một dụng pháp quản lý đưa đến thành công tạo thuận lợi cho tăng trưởng bền vững của một tổ chức thông qua việc huy động hết tâm trí của tất cả mọi thành viên nhằm tạo ra chất lượng một cách kinh tế theo yêu cầu khách hàng” [dẫn qua 33, tr.320]

Marsh (1992) định nghĩa TQM là “một triết lý được kèm theo các công cụ và quy trình cho việc triển khai thực tiễn nhằm đạt được một văn hóa cải tiến liên tục do tất cả các thành viên của tổ chức thực hiện nhằm đáp ứng và làm hài lòng khách hàng” [dẫn qua 23].

Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO) (1994) lại cho rằng TQM là “cách quản lý của một tổ chức tập trung về chất lượng, dựa trên sự tham gia của tất cả các thành viên nhằm đạt được sự thành công lâu dài thông qua sự hài lòng của khách hàng, đồng thời mang lại lợi ích cho tất cả thành viên của tổ chức cũng như xã hội” [dẫn qua 26].

Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi lựa chọn định nghĩa thể hiện đầy đủ nhất về TQM của giáo sư Mỹ Armand V.Feygenbaum (1991) đó là “TQM là một hệ thống hữu hiệu nhằm thống nhất những nỗ lực của nhiều cá nhân, tổ nhóm trong một tổ chức để triển khai chất lượng, duy trì chất lượng và cải tiến chất lượng, áp dụng khoa học-kỹ thuật vào sản xuất và cung ứng dịch vụ một cách tốt nhất, nhằm thỏa mãn hoàn toàn các yêu cầu của khách hàng” [dẫn qua 53].

1.2.5. Tiếp cận TQM

Tiếp cận là tiến gần đến một ai, một vật gì đó hay “một cách xem xét con người hoặc sự vật” [48, tr.71].

Khi nói đến tiếp cận một vấn đề, tiếp cận được hiểu là sử dụng một phương pháp nhất định để tìm hiểu vấn đề đó. Trong quản lý giáo dục, phương pháp gồm nhiều cấp độ khác nhau, từ duy vật biện chứng đến các biện pháp cụ thể. Tiếp cận là một công cụ của phương pháp luận.

Theo Võ Văn Vĩnh (2014), tiếp cận TQM là tiếp cận nội dung của TQM. Khái niệm nội dung của TQM được sử dụng khá tương đối, bao hàm một cách có hệ thống sự đa dạng của các khía cạnh được phân tích khi xem xét TQM [53]. Đó là triết lý TQM với những tư tưởng, quan điểm, nguyên tắc thống nhất, và có thể coi TQM là một hệ thống với đầy đủ các thành phần hoặc thành tố.

Trong phạm vi luận văn này, tiếp cận TQM được hiểu là một triết lý với các vấn đề cốt lõi như tập trung vào khách hàng, sự tham gia của các thành viên, quản lý theo quá tráình, cải tiến liên tục văn hóa chất lượng trong nhà trường.

1.3. Hoạt động chuyên môn tại trường THPT

1.3.1. Trường THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân

Trường THPT là thiết chế hiện thực hóa sứ mệnh của nền giáo dục trong đời sống KT – XH. Mục tiêu chung của giáo dục THPT là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [dẫn theo 36].”

Luật Giáo dục (2019), Điều 2 chỉ rõ: “Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế” [38].

Luật Giáo dục (2019), Điều 29 chỉ ra mục tiêu riêng của “Giáo dục trung học phổ thông nhằm trang bị kiến thức công dân; bảo đảm cho học sinh củng cố, phát triển kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có hiểu biết thông thường về kỹ thuật, hướng nghiệp; có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [38].

“Tổ chức, hoạt động của trường THPT theo Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học.

Trường THPT là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục Quốc dân. Trường có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng, có những nhiệm vụ và quyền hạn sau [38]:

– Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác của Chương trình giáo dục phổ thông.

– Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều động giáo viên, cán bộ, nhân viên.

– Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh, vận động học sinh đến trường, quản lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

– Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi cộng đồng.

– Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục. Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.

– Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước.

– Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội.

– Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục.

– Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Trường THPT thuộc cấp học cuối cùng trong bậc học phổ thông. Nó là đơn vị cơ sở của hệ thống giáo dục đồng thời là một tổ chức xã hội trong cộng đồng vì thế ta nói: trường THPT là một tổ chức sư phạm – xã hội.”

1.3.2. Hoạt động chuyên môn tại trường THPT

Ở trường THPT, hoạt động dạy – học chiếm phần lớn thời gian và khối lượng công việc của GV và HS trong một năm học và hoạt động này cũng quyết định kết quả đào tạo của nhà trường.

Đầu năm học, dựa vào nhiệm vụ năm học và kế hoạch thời gian của Sở giáo dục và đào tạo, nhà trường THPT xây dựng kế hoạch năm học của trường và triển khai trong kỳ họp hội đồng sư phạm.

Dựa vào kế hoạch của trường, bộ phận chuyên môn xây dựng kế hoạch chuyên môn cho năm học và triển khai đến các tổ chuyên môn. Các tổ chuyên môn dựa vòa kế hoạch của trường và kế hoạch chuyên môn họp thảo luận thống nhất các chỉ tiêu của năm học mà nhà trường đưa ra như duy trì sĩ số, HS hoàn thành chương trình lớp học, chỉ tiêu về năng lực, phẩm chất; các phong trào thi đua, HS tham gia các hội thi của ngành, trải nghiệm,…; chọn chuyên đề, thao giảng, dự giờ, kiểm tra hồ sơ sổ sách, đăng ký danh hiệu cuối năm của GV, biện pháp thực hiện,… và dựa vào đó để xây dựng kế hoạch năm học của tổ.

Kế hoạch của trường, của chuyên môn được cụ thể hóa theo từng tháng và được bàn bạc, thống nhất trong lần họp liên tịch của trường trước khi triển khai đến hội đồng sư phạm. Các tổ trưởng dựa vào đó để lên kế hoạch hoạt động của tổ theo tháng, tuần trong kì sinh hoạt chuyên môn đầu tháng.

Các hoạt động chuyên môn của trường THPT gồm:

1.3.2.1. Thực hiện một số hoạt động đầu năm học

– Bàn giao HS: xem số theo dõi chất lượng giáo dục, sổ chủ nhiệm, học bạ, bài kiểm tra cuối năm học trước, trao đổi về tình hình HS. Đây là công việc rất quan trọng để GV nắm được tình hình của HS, từ đó xây dựng kế hoạch chủ nhiệm.

– Huy động HS ra lớp

– Cho HS làm quen với thầy (cô), bạn bè, tìm hiểu nhà trường, sinh hoạt nội quy trường lớp, bầu ban cán sự lớp, hướng dẫn HS trang trí lớp học,…

– Rà soát HS khó khăn thiếu điều kiện học tập để nhà trường giúp đỡ.

1.3.2.2. Quy định nề nếp chuyên môn

– Ra, vào lớp đúng giờ.

– Thời gian chuyển tiết.

– Thực hiện đúng chương trình giảng dạy.

– Quy định hồ sơ sổ sách.

– Quy định tập vở HS, cách ghi chép.

Tất cả quy định trên sẽ tạo được nề nếp giảng dạy cho GV.

1.3.2.3. Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ

Đầu năm học, BGH sinh hoạt ôn lại phương pháp dạy học và các kiến thức dạy học tiêu chuẩn.

– Xây dựng chương trình nhà trường

– Quản lí xây dựng kế hoạch dạy học

– Nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn

– Phân công BGH cùng sinh hoạt chuyên môn với các tổ

– Tổ trưởng soạn nội dung sinh hoạt cho BGH duyệt trước

– Thảo luận thống nhất quy trình những dạng bài khó GV gặp khó khăn, những bài có tích hợp giáo dục kinh nghiệm sống để giáo dục HS phát huy khả năng tự học, tính tích cực, khai thác, sử dụng các trang thiết bị dạy học đã có hoặc tự chuẩn bị thêm các trang thiết bị dạy học.

– Thiết kế bài giảng điện tử E-learning

– Xem băng

– Biện pháp giúp HS gặp khó khăn trong học tập

– Chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy, kinh nghiệm sử dụng các kỹ thuật dạy học tích cực, kinh nghiệm tư vấn HS.

– Cung cấp cho nhau những thông tin mới trên các chuyên đề giáo dục, Internet,… để bổ sung kiến thức vận dụng vào công tác chủ nhiệm cũng như dạy học.

– Dự giờ tư vấn GV: dự giờ trước GV dạy còn nhiều hạn chế. BHD dự đột xuất 1 tiết/GV/học kỳ; tổ trưởng dự giờ GV trong tổ.

– Tổ chức thao giảng: Chọn những dạng bài khó hoặc những bài GV dạy còn gặp khó khăn.

– Tổ chức chuyên đề: mỗi tổ thực hiện 1 chuyên đề/năm học.

1.3.2.4. Bồi dưỡng HS năng khiếu và phụ đạo HS gặp khó khăn trong học tập

BGH xây dựng kế hoạch bồi dưỡng HS năng khiếu và phân công cụ thể GV bồi dưỡng.

GV chủ nhiệm có kế hoạch phụ đạo HS khó khăn trong học tập (nếu lớp có HS chậm); phụ đạo trong giờ học chính khóa và ở buổi học thứ hai.

1.3.2.5. Kiểm tra

Kiểm tra là việc không thể thiếu với CBQL. Qua kiểm tra, CBQL sẽ đánh giá được năng lực giảng dạy của GV, đánh giá dược việc thực hiện quy chế chuyên môn của ngành.

Các nội dung kiểm tra gồm:

– Kiểm tra việc thực hiện các quy định chuyên môn

– Kiểm tra theo kế hoạch kiểm tra nội bộ của trường

– Kiểm tra việc giảng dạy, rèn luyện HS của GV ở buổi học thứ hai

– Kiểm tra việc phụ đạo, giúp đỡ HS khó khăn trong học tập

Tất cả những hạn chế của GV qua kiểm tra sẽ được CBQL nhắc nhở kịp thời, góp ý xây dựng để GV tiến bộ hơn.

1.4. Quản lí chuyên môn theo mô hình TQM tại trường THPT

1.4.1. Hoạch định chiến lược, chính sách chất lượng trường THPT

Theo Frazier (1997), quản lý chất lượng tổng thể là cải tiến chất lượng liên tục. Sự liên tục ở đây được nhấn mạnh để nâng cao chất lượng và việc liên tục nâng cao chất lượng luôn cần thiết và không có hồi kết. TQM thúc đẩy triết lý phát triển theo kế hoạch. Tổ chức cần có một tầm nhìn tương lai khoảng từ 5 đến 10 năm [53]. Do đó, hoạch định chiến lược và chính sách chất lượng trở thành một thành phần rất cần thiết khi áp dụng TQM trong hoạt động chuyên môn của một trường học.

Kế hoạch chiến lược trường THPT là kế hoạch dài hạn, thường xây dựng cho khoảng thời gian 5 năm. Lập kế hoạch tốt sẽ giúp nhà trường có định hướng tương lai; đề ra các ưu tiên và tập trung sức mạnh vào các ưu tiên; xây dựng tổ/nhóm làm việc có tính chuyên nghiệp; xây dựng và nâng cao tinh thần hợp tác với cha mẹ học sinh, cộng đồng, các tổ chức bên ngoài; đánh giá sự tiến bộ của nhà trường; nâng cao chất lượng quản lý nhà trường; thích nghi một cách sáng tạo, có hiệu quả trước sự thay đổi [53].

TQM góp phần cải tiến quy trình hình thành chiến lược nhà trường trên nhiều phương diện như thúc đẩy tư duy hướng vào người học; tập trung vào đo lường và những hành động khách quan để giới thiệu cách thức kiểm tra thực tế, từ đó có thể xác định hiệu lực của chiến lược và hiệu quả của việc đáp ứng mục tiêu; tập trung vào làm việc nhóm để tạo ra sự tin cậy rằng mọi người trong tổ chức đều tham gia vào việc hình thành chiến lược. Theo Võ Văn Vĩnh (2014), quy tình gồm các bước xây dựng kế hoạch chiến lược của một trường khi áp dụng TQM đó là [53]:

  1. Sứ mạng, tầm nhìn, các giá trị của nhà trường
  2. Phân tích nhu cầu người học và khách hàng giáo dục
  3. Phân tích môi trường (SWOT), xác định các vấn đề chiến lược
  4. Xác định mục tiêu chiến lược
  5. Xác định chính sách chất lượng
  6. Xác định các giải pháp chiến lược
  7. Kế hoạch hành động
  8. Tổ chức thực hiện và đánh giá chiến lược.

1.4.2. Hệ thống quản lý chất lượng dạy học trường THPT

1.4.2.1. Quản lý chất lượng các yếu tố đầu vào dạy học

a. Chương trình dạy học phù hợp với yêu cầu xã hội

Chương trình dạy học là một kế hoạch tổng thể cho một hoạt động sự phạm trong một khoảng thời gian nhất định, gồm mục tiêu, phạm vi, mức độ, cấu trúc nội dung; chuẩn kiến thức, kỹ năng, yêu cầu về thái độ đối với từng môn học sau từng đơn vị kiến thức, sau mối lớp học và cấp học; các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, cách đánh giá kết quả học tập [tr.152].

Nội dung dạy học là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục THPT thành nội dung các môn học, các chương, bài học. Một nhà trường muốn có chất lượng dạy học tốt, phải có mục tiêu, chương trình, nội dung phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh, phù hợp với nhu cầu nhận thức, vừa sức với HS. Hơn nữa, chương trình dạy học phải đáp ứng yêu cầu xã hội để mang lại cho cá nhân và xã hội nhiều lợi ích, giá trị.

Do đó, cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của chương trình dạy học, coi trọng phẩm chất, năng lực của người học. Chương trình tiếp cận theo hướng hình thành, phát triển năng lực của người học. Chương trình phải đổi mới theo hướng hình thành, phát triển năng lực, không chạy theo khối lượng tri thức mà chú trọng đến khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ,… để giải quyết các tình huống thực tiễn trong đời sống.

b. Chất lượng đội ngũ giáo viên

Chất lượng đội ngũ GV là những phẩm chất, năng lực cần có của từng cá thể, của cả đội ngũ GV để đảm bảo đủ về số lượng, tốt về chất lượng. Đội ngũ GV phải phù hợp về cơ cấu, gương mẫu về nhân cách, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ để phục vụ các hoạt động của trường một cách tốt nhất [53].

Chất lượng đội ngũ GV ảnh hưởng lớn đến chất lượng chuyên môn. Do đó, đội ngũ này cần đáp ứng các yêu cầu sau [53]:

– Về phẩm chất đạo đức, lối sống của GV: GV phải có phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, ứng xử với HS, đồng nghiệp, cấp trên, lối sống tác phong.

– Về các năng lực: Năng lực tìm hiểu đối tượng, môi trường giáo dục; dạy học; giáo dục; hoạt động chính trị xã hội; phát triển nghề nghiệp. Trong đó, năng lực dạy học là quan trọng nhất với các kỹ năng như xây dựng kế hoạch dạy học, bảo đảm kiến thức môn học, bảo đảm chương trình môn học, vận dụng các phương pháp dạy học, sử dụng các phương tiện dạy học, xây dựng môi trường học tập, quản lý hồ sơ dạy học, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS.

c. Chất lượng đầu vào của HS

Trình độ đầu vào của HS ảnh hưởng đến chất lượng quá trình dạy học. Chất lượng của HS cần đáp ứng những phẩm chất, năng lực thích hợp với hoạt động học tập của trường THPT, trong đó HS phải có động cơ học tập đúng đắn; thái độ học tập tích cực, tự giác; vượt khó, sáng tạo; ý thức đẩy đủ về lợi ích, giá trị của việc học; có ý thức trách nhiệm về kết quả học tập của mình, có phương pháp học tập tốt [53].

d. Cơ sở vật chất – thiết bị dạy học nhà trường

Để quản lý tốt hoạt động chuyên môn, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các trường phải đẩy đủ, đủ tốt để các hoạt động chuyên môn được thực hiện, không bị gián đoạn.

Cơ sở vật chất gồm trường, lớp, sân bãi, mặt bằng, nơi các hoạt động sư phạm diễn ra. Các trường phải có khuôn viên riêng biệt, đủ phòng học phục vụ hoạt động học tập, chuyên môn, có hệ thống CNTT kết nối Internet đáp ứng yêu cầu quản lý, dạy học [53].

Thiết bị dạy học hay phương tiện dạy học, đồ dùng dạy học là các đối tượng vật chất hoặc tập hợp các đối tượng vật chất mà GV sử dụng để hỗ trợ việc truyền tải kiến thức, giúp kiến thức được trực quan, sinh động hơn.

1.4.2.2. Quản lý chất lượng các yếu tố trong quá trình dạy học

a. Hoạt động quản lý dạy học của hiệu trưởng

Hiệu trưởng thực hiện quản lý dạy học bằng một số nội dung như [53]:

– Quản lý việc thực hiện chương trình dạy học: Nội dung này được thực hiện theo chức năng quản lý chất lượng của chu trình Deming (P-D-C-A) gồm:

(1) Xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình: Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch chuyên môn của trường, hướng dẫn tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch và GV xây dựng kế hoạch giảng dạy theo từng năm học.

(2) Tổ chức thực hiện chương trình: Phân công GV giảng dạy và sắp xếp thời khóa biểu hợp lý; chỉ đạo hoạt động của tổ chuyên môn; chỉ đạo hoạt động giảng dạy của GV.

(3) Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chương trình: Theo dõi tiến độ thực hiện chương trình dạy học; kiểm tra hồ sơ chuyên môn của GV, đánh giá thực hiện chương trình theo định kỳ, đột xuất qua các tài liệu liên quan đến dạy học bộ môn; tổ chức dự giờ GV định kỳ, đột xuất, đánh giá phân tích sư phạm theo tiêu chuẩn xếp loại tiết dạy; giám sát nề nếp dạy và học trên lớp của GV và HS.

(4) Cải tiến việc thực hiện chương trình: Thu thập thông tin về chất lượng dạy học của GV từ HS, phụ huynh HS, đồng nghiệp; phát huy, triển khai các sáng kiến kinh nghiệm dạy học của GV; cải tiến, điều chỉnh việc thực hiện chương trình dạy học của trường, bộ môn, giáo viên để phục vụ cho chu kỳ sau hoạt động tốt hơn.

– Quản lý đổi mới phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học là những hình thức, cách thức hoạt động của GV và HS trong những điều kiện dạy học để đạt được mục tiêu dạy học. Định hướng chung về đổi mới phương pháp dạy học gồm [53]:

+ Đổi mới tính chất và nội dung hoạt động của GV và HS, chuyển từ phương thức học tập GV là trung tâm, thụ động sang HS là trung tâm, chủ động để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, giúp HS hình thành năng lực tự học; tổ chức dạy học theo các hình thức tương tác như học cá nhân, học theo nhóm,…

+ Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học: Đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học để việc học bớt nhàm chán, đơn điệu; giúp việc học gắn với thực tế cuộc sống, gắn với kinh nghiệm sống của HS,…

Để thực hiện được nội dung này, Hiệu trưởng phải xây dựng kế hoạch đổi mới phương pháp dạy học một cách khoa học, thực tế; tổ chức thực hiện đổi mới phương pháp dạy học một cách chặt chẽ; tăng cường kiểm tra, giám sát và cải tiến hoạt động đổi mới phương pháp dạy học.

– Quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học

Để phát huy được hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học, Hiệu trưởng cần thực hiện một số hành động như [53]:

+ Xây dựng kế hoạch sử dụng thiết bị dạy học

+ Tổ chức thực hiện việc sử dụng thiết bị dạy học

+ Kiểm tra, đánh giá việc sử dụng thiết bị dạy học

+ Cải tiến việc sử dụng thiết bị dạy học.

– Quản lý việc kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của HS

Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập là xác định trình độ của HS đạt mục tiêu dạy học, xem sau khi kết thúc một giai đoạn (bài học, chương, học kỳ, năm học,…), HS có hoàn thành mức độ kiến thức, kỹ năng, thái độ như yêu cầu không. Có 3 loại đánh giá đó là:

+ Đánh giá chẩn đoán: được tiến hành trước một giai đoạn giáo dục nhất định để thu thập chứng cứ làm cơ sở xây dựng các dự báo kết quả học tập cho giai đoạn đó.

+ Đánh giá quá trình: được tiến hành trong quá trình triển khai giáo dục để cung cấp thông tin về những gì HS đã học được, vạch ra hành động tiếp theo của quá trình này.

+ Đánh giá tổng kết: được tiến hành vào cuối mỗi giai đoạn học tập để tổng kết thành tích học tập của HS một cách hệ thống.

b. Hoạt động giảng dạy của GV

Hoạt động giảng dạy môn học của GV THPT được thực hiện theo Quy trình dạy học tiếp cận chuẩn quốc tế đã được đề xuất khi thực hiện dự án “Xây dựng quy trình tập huấn kỹ năng nghề nghiệp cho giáo viên THPT chuyên tiếp cận chuẩn quốc tế” (2009) của Trường Đại học Giáo dục Hà Nội.

Quy trình dạy học gồm 3 giai đoạn đó là Chuẩn bị, Thực thi và Đánh giá – Cải tiến.

– Giai đoạn chuẩn bị gồm phân tích nhu cầu; xác định mục tiêu môn học và mục tiêu bài học; lập kế hoạch dạy học.

– Giai đoạn thực thi gồm lập kế hoạch bài dạy, thực hiện kế hoạch bài dạy, kiểm tra, đánh giá định kỳ.

– Giai đoạn Đánh giá – Cải tiến: thu thập thông tin phản hồi từ HS và đánh giá của đồng nghiệp, chính GV sau mỗi bài giảng, học kỳ để lập hồ sơ, tư liệu cải tiến. GV tự tổng kết tư liệu thu được và lập kế hoạch cải tiến hoạt động nghề nghiệp của bản thân cho giai đoạn sau.

c. Hoạt động học tập của HS

– Giai đoạn chuẩn bị cũng gồm phân tích nhu cầu ((động cơ, thái độ học tập) của HS; xác định mục tiêu và chuẩn bị điều kiện học tập môn học và lập kế hoạch học tập); xác định mục tiêu và chuẩn bị điều kiện học tập môn học (gồm xác định mục tiêu học tập; chuẩn bị sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, công cụ học tập; hình thức và phương pháp học tập phù hợp); lập kế hoạch học tập (gồm xác định mục tiêu học tập của bài học; lập kế hoạch về thời gian, nội dung học tập của các môn học hàng tuần, hàng tháng cân đối, hợp lý) [53].

– Giai đoạn thực thi gồm thực hiện kỹ năng học tập bài học; thực hiện yêu cầu kiểm tra thường xuyên của GV, kiểm tra định kỳ/năm học của nhà trường.

– Giai đoạn Đánh giá – Cải tiến: Qua tự kiểm tra, kết quả kiểm tra – đánh giá của GV, trao đổi kinh nghiệm học tập của bạn bè, hỗ trợ lẫn nhau trong học nhóm, HS tự xác định những vấn đề cần cải tiến; tiến hành điều chỉnh, cải tiến học tập để HS ngày càng tiến bộ.

1.4.2.3. Quản lý chất lượng các yếu tố kết quả đầu ra dạy học

Sản phẩm của quá trình dạy học trong trường THPT là HS, sản phẩm này phải có chất lượng. Một số tiêu chí để đánh giá chất lượng sản phẩm này là học lực, hạnh kiểm, trí lực, tâm lực, thể lực, kiến thức, kỹ năng, thái độ, đức, trí, thể, mỹ. Trong đó, chung quy lại, sẽ đánh giá HS qua ba khía cạnh là kiến thức, kỹ năng và thái độ.

– Sự phát triển chất lượng của HS

+ Phát triển nhân cách HS: Về phẩm chất đạo đức (đánh giá qua kết quả rèn luyện về hạnh kiểm của HS sau mỗi kỳ học, cả năm học) và về năng lực học sinh (được đánh giá qua kết quả học tập về học lực của HS sau mỗi kỳ học và cả năm học) [53].

+ Tổng hợp về chất lượng HS trong trường: Tỷ lệ HS bỏ học, lưu ban, lên lớp; tổng hợp kết quả học tập, hạnh kiểm được xếp loại sau mỗi học kỳ, năm học theo các tiêu chuẩn quy định trong Quy chế đánh giá, xếp loại của Bộ GD&ĐT; kết quả các kỳ thi bên ngoài trường như tỷ lệ HS đạt giải cao trong các kỳ thi cấp tỉnh, quốc gia, tỷ lệ HS tốt nghiệp THPT (tỷ lệ HS khá, giỏi), kết quả điểm thi tuyển sinh đại học, thống kê, tính toán kết quả bình quân tổng điểm 3 môn của tất cả HS tham gia dự thi [53].

– Lợi ích xã hội gồm sự thỏa mãn của phụ huynh HS, cộng đồng và sự chuẩn bị thích ứng của HS khi đi vào cuộc sống.

1.4.3. Môi trường văn hóa chất lượng và các công cụ thực thi TQM

1.4.3.1. Văn hóa chất lượng trong trường THPT

Văn hóa nhà trường là một tập hợp các chauanr mực, các giá trị, niềm tin và hành vi ứng xử đặc trưng của một trường học, tạo nên sự khác biệt với các trường học khác [53].

Văn hóa nhà trường liên quan đến toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của nhà trường, biểu hiện trong tầm nhìn, sứ mạng, triết lý, mục tiêu, các giá trị, phong cách lãnh đạo, quản lý, bầu không khí,… Văn hóa do các cá nhân chia sẻ và gắn kết các cá nhân lại với nhau, giúp họ tạo một ý thức về những gì xảy ra trong nhà trường.

Nhà trường muốn đạt được các yêu cầu về chất lượng phải xây dựng được một môi trường văn hóa, tập trung cho việc hướng vào mục đích chất lượng. Do đó, văn hóa chất lượng trong nhà trường chính là văn hóa nhà trường hướng vào mục đích chất lượng.

1.4.3.2. Tổ chức nhóm/đội làm việc

Trong những năm gần đây, làm việc nhóm luôn được các tổ chức khuyến khích và trong nhà trường, làm việc nhóm trở thành một thành phần thiết yếu của việc thực hiện TQM vì nó mang lại việc xây dựng lòng tin, cải thiện thông tin truyền thông và phát triển sự phụ thuộc lẫn nhau.

Hợp tác làm việc nhóm giúp thúc đẩy sự bình đẳng giữa các cá nhân, khuyến khích thái độ tích cực, sự tin cậy lẫn nhau, tăng trách nhiệm cá nhân với việc thực hiện mục tiêu; tối đa hóa tài năng sáng tạo bên trong nhà trường và thúc đẩy học tập; thúc đẩy năng lực giải quyết vấn đề tốt hơn là các cá nhân riêng lẻ bởi các thành viên trong nhóm có các năng lực, chức năng khác nhau; giúp các dự án phát triển nhà trường hoàn thành nhanh chóng, chất lượng hơn.

1.4.3.3. Hệ thống thông tin quản lý chuyên môn trường THPT

Với quan điểm thông tin phục vụ quản lý, hệ thống thông tin quản lý dạy học là quá trình chuyển đổi từ dữ liệu (thô) đầu vào qua quá trình xử lý cung capass cho các nhà quản lý những thông tin đầu ra kịp thời, có ích phục vụ cho việc ra các quyết định để thực hiện các chức năng quản lý chất lượng dạy học có hiệu quả.

Thông tin quản lý dạy học trong nhà trường là những dữ liệu được phân tích, xử lý để phục vụ cho việc ra quyết định hoặc giải quyết các nhiệm vụ để phát triển nhà trường. Dữ liệu có thể thu thập từ học sinh, giáo viên, lớp học, cơ sở vật chất nhà trường, thực hiện chương trình, kết quả học tập và các dịch vụ hỗ trợ học sinh.

Trong quản lý chuyên môn tại trường THPT theo tiếp cận TQM, hệ thống thông tin rất quan trọng và là huyết mạch của quản lý [53]. Hệ thống thông tin được tổ chức khoa học sẽ giúp nhà trường thay đổi cách thức hoạt động, cơ cấu của trường đơn giản, linh hoạt, việc truy tìm thông tin nhanh chóng hơn và giáo viên có thể tự kiểm tra, đánh giá chất lượng công việc của mình.

1.4.3.4. Công cụ kiểm soát chất lượng quá trình bằng thống kê

Trong quản lý chất lượng, kĩ thuật SPC (Statistical Process Control) – các phương pháp thống kê được sử dụng để thu thập, trình bày, phân tích các dữ liệu một cách chính xác, đúng đắn, kịp thời.

Kiểm soát chất lượng bằng thống kê đóng vai trò quan trọng trong cải tiến chất lượng. Khi nhà trường áp dụng SPC, nhà trường sẽ tập hợp dữ liệu dễ dàng, xác định được các vấn đề, dự đoán và nhận biết các nguyên nhân gây sai lầm, loại bỏ các nguyên nhân, ngăn ngừa cá sai lầm lặp lại, xác định hiệu quả cải tiến [53].

Một số công cụ kiểm soát chất lượng phổ biến đó là phiếu điều tra, sơ đồ nhân quả, lưu đồ, biểu đồ Pareto, biểu đồ phân bố, biểu đồ kiểm soát,…

1.5. Yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động CM theo tiếp cận TQM tại trường THPT

1.5.1. Yếu tố chủ quan

– Nhận thức của CBQL và GV về quản lý hoạt động CM theo tiếp cận TQM

Việc quản lý chuyên môn tại bất cứ trường học nào cũng đều được định hướng bởi Ban Giám hiệu của trường. Do đó, nếu CBQL biết được các lợi ích khi quản lý theo tiếp cận TQM, sẽ xác định và lựa chọn quản lý hoạt động CM theo tiếp cận TQM, việc thực hiện quản lý sẽ thuận lợi và thống nhất hơn.

Nếu GV cũng hiểu được những lợi ích khi quản lý theo tiếp cận TQM, việc triển khai thực hiện cũng thuận lợi hơn và dễ dàng hơn.

– Phẩm chất và năng lực quản lý của người quản lý

Người quản lý, nhất là quản lý theo tiếp cận TQM phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có năng lực quản lý và không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ, hiểu được TQM và ứng dụng thực hiện được. Muốn quản lý tốt theo tiếp cận TQM, người quản lý phải tham gia đầy đủ các chuyên đề giảng dạy dành cho GV, nắm bắt và chỉ đạo sát, đúng yêu cầu giảng dạy trong từng giai đoạn đổi mới, nhất là đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực của HS.

1.5.2. Yếu tố khách quan

– Điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ dạy học

Tiếp cận TQM nhấn mạnh vào phương pháp giảng dạy theo hướng đổi mới nên cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ dạy học là vô cùng quan trọng. Các trường có đầy đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ dạy học sẽ thực hiện các hoạt động chuyên môn theo TQM hiệu quả hơn và ngược lại.

– Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội

HS là một cá thể hoạt động và thể hiện mình trong nhiều môi trường khác nhau như gia đình, nhà trường và xã hội. Do đó, nếu chỉ trong nhà trường, việc quản lý sẽ không đạt hiệu quả toàn diện. Do đó, sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội sẽ giúp quản lý được toàn diện hơn.

– Sự lãnh đạo của cấp trên

Trong công tác quản lý, sự chỉ đạo, lãnh đạo của cấp trên là những định hướng, kim chỉ nam giúp nhà trường xác định đúng mục tiêu, phương hướng hoạt động chuyên môn theo tiếp cận TQM. Hơn nữa, việc kiểm tra, đánh giá của cấp trên cũng giúp nhà trường kịp thời điều chỉnh, bổ sung, khắc phục những tồn tại, hạn chế để có những giải pháp hiệu quả, khả thi, đưa hoạt động chuyên môn của nhà trường đạt được mục tiêu đề ra.

Kết luận chương 1

Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo nước ta đang đi vào chiều sâu và được triển khai trên quy mô rộng lớn, trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, ngành giáo dục phải tăng cường quản lý để nâng cao chất lượng, phát triển toàn diện và phải có những chiến lược, sách lược phát triển đúng đắn, kịp thời, theo kịp những đổi mới của xã hội và thế giới.

Tiếp cận TQM là một hướng tiếp cận mới, được nhiều nước áp dụng. Việc áp dụng mô hình này vào quản lý chất lượng hoạt động chuyên môn là phù hợp với xu hướng quản lý hiện nay, đòi hỏi chất lượng tổng thể từ đầu vào, quá trình và đầu ra.

Chương 1 đã nêu một số khái niệm cơ bản về quản lý, hoạt động chuyên môn, quản lý chất lượng, TQM, tiếp cận TQM. Chương 1 cũng phân tích hoạt động chuyên môn tại trường THPT và các nội dung chính trong quản lý chuyên môn theo mô hình TQM tại trường THPT như hoạch định chiến lược, chính sách chất lượng trường THPT; hệ thống quản lý chất lượng dạy học trường THPT; môi trường văn hóa chất lượng và các công cụ thực thi TQM. Chương 1 cũng nêu các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chuyên môn tại trường THPT theo mô hình TQM.

Đây là cơ sở lý luận để chúng tôi phân tích thực trạng quản lý chuyên môn theo mô hình TQM ở trường THPT tại huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ ở Chương 2.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CHUYÊN MÔN THEO TIẾP CẬN CHẤT LƯỢNG TỔNG THỂ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

2.1. Khái quát về tình hình giáo dục huyện Thanh Ba

Thanh Ba là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ. Huyện có 26 xã và 01 thị trấn với diện tích 194 km2, dân số của huyện tính đến cuối tháng 12/2021 là 120.000 người.

Hệ thống giáo dục huyện Thanh Ba khá phong phú, đồng bộ từ bậc học mầm non đến phổ thông và chuyên nghiệp. Hiện nay, trên địa bàn của huyện có 27 trường mầm non, 27 trường tiểu học, 22 trường trung học cơ sở, 02 trường THPT, 01 trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên, 01 trường Cao đẳng cơ điện có đào tạo hệ vừa học văn hóa, vừa học nghề.

Trong những năm qua, được sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự đồng thuận, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân sự nghiệp GD&ĐT huyện Thanh Ba có bước phát triển khá vững chắc. Huyện đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập mẫu giáo cho trẻ 5 tuổi từ năm 2010, phổ cập tiểu học mức độ 3, phổ cập trung học cơ sở mức độ 2, phổ cập xóa mù chữ mức độ 2. Toàn huyện có 50/78 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 64,1% trong đó có 04 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2. Mặc dù Thanh Ba là huyện có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn so với các địa phương khác, ít lợi thế cạnh tranh nhưng chất lượng giáo dục đại trà, chất lượng mũi nhọn học sinh giỏi huyện Thanh Ba đứng ở tốp giữa trong 13 huyện, thị thành toàn tỉnh.

2.2. Đặc điểm tình hình trường các trường THPT huyện Thanh Ba

2.2.1. Quy mô phát triển học sinh

Hiện tại, huyện Thanh Ba có 2 trường THPT đó là THPT Thanh Ba và THPT Yển Khê. Quy mô phát triển học sinh ở các trường THPT tại huyện Thanh Ba năm học 2018-2021 như sau:

Bảng 2.1. Thống kê số liệu quy mô số lớp, số học sinh ở trường THPT tại huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ

Trường THPTNăm học

2018 – 2019

Năm học

2019 – 2020

Năm học

2020 – 2021

Số lớpSố HSSố lớpSố HSSố lớpSố HS
Thanh Ba321.361321.329321.338
Yển Khê207442075220755
Tổng cộng522.105522.081522.093

Nguồn: Báo cáo tổng kết năm học trường THPT Thanh Ba, THPT Yển Khê tỉnh Phú Thọ năm học 2018-2019, 2019-2020, 2020-2021

Nhìn bảng trên ta thấy, năm học 2020-2021, toàn huyện Thanh Ba có 02 trường THPT với 52 lớp và 2.093 HS. Trong 3 năm gần đây, số lượng HS của trường THPT Thanh Ba có xu hướng giảm nhẹ và HS trường THPT Yển Khê có xu hướng tăng nhẹ. Nguyên nhân là do nhiều HS lựa chọn trường THPT Yển Khê để theo học vì lý do gần nhà và thuận tiện cho việc đi lại của các em.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2021\NGÀNH SƯ PHẠM/ QUẢN LÍ CHUYÊN MÔN THEO TIẾP CẬN

Quản lí chuyên môn theo tiếp cận chất lượng tổng thể ở trường trung học phổ thông tại huyện Thanh Ba Quản lí chuyên môn theo tiếp cận chất lượng tổng thể ở trường trung học phổ thông tại huyện Thanh Ba Quản lí chuyên môn theo tiếp cận chất lượng tổng thể ở trường trung học phổ thông tại huyện Thanh Ba Quản lí chuyên môn theo tiếp cận chất lượng tổng thể ở trường trung học phổ thông tại huyện Thanh Ba

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *