THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ TÒA ÁN ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ TÒA ÁN ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

  1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là với sức ảnh hưởng mạnh mẽ từ cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ 4 hay còn gọi là “Cách mạng công nghiệp 4.0”, tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội đã, đang và sẽ có nhiều cơ hội rất lớn để tiếp thu, cải cách, nâng cao chất lượng để theo kịp với xu thế phát triển không ngừng của thế giới. Trong thời gian qua, cải cách tố tụng hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chỉ đạo, điều hành, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp, nhất là trong lĩnh vực hành chính tư pháp đã được Chính phủ xác định là một trong những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đột phá. Tuy nhiên, việc triển khai các nội dung này mới chủ yếu tập trung tổ chức thực hiện ở nội khối các cơ quan hành chính nhà nước, mà dường như còn thiếu sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ với quá trình cải cách giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp[1]. Hoạt động tố tụng của hệ thống Tòa án ở Việt Nam cũng là một trong những lĩnh vực cần có sự thay đổi nhằm tạo ra những chuyển biến mới, phù hợp với thời đại công nghệ số hiện nay.

Tố tụng điện tử là xu thế tất yếu trong thời đại số hiện nay để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xét xử, yêu cầu hội nhập quốc tế, và đưa nền tư pháp Việt Nam bắt kịp với nền tư pháp hiện đại, tiên tiến ở các nước trên thế giới. Tố tụng điện tử góp phần quan trọng trong việc tăng cường tiếp cận công lý của người dân một cách rộng rãi, hiệu quả, nhanh chóng, công bằng, khắc phục tình trạng chậm trễ, tốn kém, quá tải và thiếu nhân lực ngày càng gây áp lực mạnh mẽ cho hệ thống tòa án. Có thể thấy, sức ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến hoạt động tố tụng của hệ thống Tòa án ở Việt Nam được thể hiện rõ nét nhất ở định hướng xây dựng TAĐT. Ở Việt Nam, nhận thức được tầm quan trọng của công nghệ số trong việc hiện đại hóa hệ thống tòa án và tăng cường khả năng tiếp cận công lý, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao khẳng định, tòa án trực tuyến là “một xu hướng phát triển không thể đảo ngược trong thời đại cuộc cách mạng công nghệ 4.0” và “cần có những chiến lược toàn diện, tổng hợp và dài hạn hơn trong lĩnh vực phát triển ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng tòa án điện tử, tiến tới tòa án thông minh trong thập kỷ tới”[2]. Trên thực tế, mô hình TAĐT đã được các quốc gia lớn trên thế giới như Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản,…và các quốc gia phát triển khác triển khai và đưa vào thực tiễn để giải quyết các vụ việc. Với mục tiêu tăng cường hoạt động ứng dụng thành tựu về khoa học, công nghệ vào thực tế để giải quyết nhanh chóng, chính xác nhiều loại vụ việc khác nhau, các quốc gia này đã xây dựng một hệ thống pháp luật quy định về trình tự, thủ tục, cách thức giải quyết một vụ việc thông qua TAĐT sao cho vừa đảm bảo cho các bên trong vụ việc vẫn được tiếp cận đầy đủ với nguồn thông tin (đơn khởi kiện, bằng chứng, chứng cứ, quyết định,…), vừa giúp các bên thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, nhưng phải đảm bảo phán quyết của Thẩm phán đưa ra luôn phải mang tính chính xác, khách quan, công bằng, bảo đảm tốt các quyền và lợi ích của các bên khi tham gia vào quá trình tố tụng.

E-court hay còn được gọi là Tòa án điện tử là một thuật ngữ dùng để chỉ một không gian kỹ thuật số mà tại đó các vấn đề về pháp lý của các bên đương sự có thể được giải quyết. Ecourt có một số đặc điểm đặc trưng khác với một phiên Tòa bình thường ở chỗ: (i) Phương thức để thực hiện việc nộp đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ không thực hiện trực tiếp mà thông qua tài liệu được gửi gián tiếp bằng phần mềm điện tử, email hoặc fax; (ii) Các bên (nguyên đơn và bị đơn) đều phải vận hành theo phần mềm điện tử đã được thiết kế sẵn; theo đó, cho phép các bên trình bày chứng cứ, nộp đơn điện tử và nhận lời khai từ xa[3]. Ở Việt Nam, TAĐT không còn là khái niệm quá mới, tuy đã nhận thấy nhiều sự thuận lợi từ việc triển khai TAĐT vào hoạt động tố tụng, Song vì trên thực tế mỗi vụ việc đều có bản chất khác nhau, phát sinh nhiều khó khăn khác nhau, do đó, công tác chuyển đổi số, xây dựng hệ thống TAĐT vào quá trình tố tụng ở Việt Nam vẫn chưa được đẩy mạnh. Minh chứng thể hiện rõ nhất ở việc chế định về TAĐT vẫn chưa được ghi nhận vào hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật TTDS Việt Nam nói riêng, điều này dẫn đến việc chưa thể triển khai TAĐT trên thực tế, do vậy nền tư pháp ở Việt Nam cũng có nguy cơ tụt hậu so với nền tư pháp của các quốc gia tiến bộ trên thế giới. Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng nếu hệ thống pháp luật Việt Nam không nhanh chóng ghi nhận chế định TAĐT thì sẽ khó để giải quyết triệt để những khó khăn phổ biến còn tồn đọng trên thực tế như sau:

Khó khăn về khoảng cách địa lý của các đương sự khi tham gia VADS. Theo quy định tại khoản 16 Điều 70 BLTTDS -2015 về quyền và nghĩa vụ của các đương sự ghi rõ, các đương sự phải “có mặt” theo giấy triệu tập của Tòa án và chấp hành quyết định của Tòa án trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc. “Có mặt” theo cách hiểu thông thường là việc đương sự hoặc người đại diện của mình phải hiện diện trực tiếp tại địa điểm xét xử hoặc trụ sở Tòa án. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 223 của BLTTDS 2015 về địa điểm tiến hành tổ chức các phiên tòa, phiên họp thì sẽ được tổ chức tại trụ sở Tòa án nơi giải quyết vụ án hoặc ngoài trụ sở, nhưng qua thực tiễn xét xử các phiên tòa, phiên họp vẫn thường sẽ được tổ chức tại trụ sở Tòa án nơi giải quyết vụ việc. Như vậy, có thể hiểu trong quá trình giải quyết VADS, đương sự hoặc người đại diện của họ phải hiện diện tại trụ sở Tòa án nơi giải quyết vụ án theo giấy triệu tập của Tòa án.

Tuy nhiên trên thực tế, có rất nhiều trường hợp đương sự hoặc người đại diện của đương sự không thể có mặt tại tại trụ sở Tòa án nơi giải quyết vụ việc vì những lý do chính đáng như: khó khăn trong đi lại, di chuyển, đương sự đang ở nước ngoài, hoặc lý do bất khả kháng tiêu biểu nhất là cách ly toàn xã hội do đại dịch toàn cầu Covid-19 xảy ra. Có thể thấy, với đại dịch toàn cầu Covid-19, Thủ tướng Chính phủ đã quyết liệt ban hành liên tiếp các chỉ thị khẩn cấp về việc thực hiện các biện pháp cấp bách nhằm phòng, chống dịch Covid-19 như: Dừng các hoạt động hội họp, các sự kiện tập trung trên 20 người trong 1 phòng; không tụ tập từ 10 người trở lên ngoài phạm vi công sở, trường học, bệnh viện; yêu cầu thực hiện khoảng cách tối thiểu 2m giữa người với người tại các địa điểm công cộng (Chỉ thị số 15/TTg ngày 27 tháng 3 năm 2020 của Thủ Tướng Chính Phủ). Hay theo Công văn số 289/TANDTC-VP của Tòa án nhân dân tối cao ngày 27/7/2020 về việc tiếp tục phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trong Tòa án nhân dân, chỉ đạo hạn chế việc tổ chức các phiên tòa, phiên họp tập trung trên 20 người trong một khán phòng, quy định này đã hạn chế số lượng người tham phiên tòa, phiên họp. Hoặc với Chỉ thị số 16/TTg ngày 31 tháng 3 năm 2020 của Thủ Tướng Chính Phủ về việc thực hiện cách ly toàn xã hội trên phạm vi toàn quốc theo nguyên tắc “gia đình cách ly với gia đình, thôn bản cách ly với thôn bản, xã cách ly với xã, huyện cách ly với huyện”, xét theo chỉ thị này nếu đương sự hoặc người đại diện của đương sự “có mặt” tại phiên họp, phiên tòa xét xử theo quy định tại khoản 16 Điều 70, Điều 223 BLTTDS 2015 sẽ vi phạm chỉ đạo về việc thực hiện cách ly xã hội của Thủ tướng Chính phủ trong bối cảnh đại dịch lan rộng. Hệ quả kéo theo đó là số lượng án rất lớn tồn đọng lại do đại dịch, cụ thể theo ông Nguyễn Thành Vinh – Chánh án Tòa án Nhân dân Thành phố Thủ Đức (được sáp nhập từ hệ thống ba tòa Quận 2, Quận 9 và Quận Thủ Đức) cho biết: “Sau khi sáp nhập về mặt hành chính và ổn định về nhân sự, tòa bắt đầu xét xử và giải quyết các vụ án.

Tuy nhiên, việc xét xử đã phải tạm ngưng do tình hình dịch bệnh căng thẳng. Từ tháng 5/2021, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng chỉ thị 15 nên việc xét xử gần như không thực hiện được, rồi liên tiếp sau đó là các chỉ thị phòng chống dịch được ban hành, do đó án của Tòa án Nhân dân Thành phố Thủ Đức tồn lại rất nhiều”[4].Với bối cảnh như vậy các chủ thể không thể trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng tại Tòa án như nộp đơn khởi kiện, thu thập bằng chứng, chứng cứ, tham gia phiên tòa xét xử,…. Đồng thời, Tòa án cũng không thể triệu tập các đương sự trong vụ án để tiến hành thu thập thông tin, hòa giải hay tổ chức các phiên tòa xét xử. Các phiên họp, phiên tòa xét xử cũng vì những nguyên nhân đó bị kéo dài thậm chí là kéo dài vô thời hạn (trong đại dịch Covid-19) gây ảnh hưởng đến thời hạn giải quyết vụ án, gây lãng phí thời gian, nguồn nhân lực của đội ngũ cán bộ Tòa án, vi phạm nguyên tắc xét xử kịp thời, công bằng, công khai cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của đương sự.

Khó khăn trong việc cải cách nền tư pháp, thiết lập hệ thống quản lý nhằm giảm tải áp lực cho đội ngũ cán bộ Tòa án. Hiện nay, hầu hết các hồ sơ tài liệu phục vụ cho quá trình giải quyết VADS như đơn khởi kiện, chứng cứ, biên bản lấy lời khai, hay các thông báo và quyết định của Tòa án đều được lưu trữ hầu hết ở dạng giấy in. Lãnh đạo các đơn vị thường giao khoán cho cán bộ phụ trách lưu trữ, ít quan tâm đến việc mua sắm các trang thiết bị phục vụ công tác lưu trữ hồ sơ, không thường xuyên kiểm tra công tác lưu trữ nhất là kiểm tra sổ sách, kho bảo quản hồ sơ chưa được quan tâm đúng mức[5]. Điều này không những gây lãng phí nguồn tài nguyên, không gian lưu trữ mà còn tạo sự khó khăn cho đội ngũ Tòa án trong việc sắp xếp, quản lý hồ sơ của từng vụ việc. Mặc dù Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP đã có hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử, song xét thấy các đương sự từ trước đến nay đã quen với hình thức làm việc một cách truyền thống tức mọi giấy tờ, hồ sơ đều được gửi trực tiếp đến Tòa án và cán bộ Tòa án sẽ là chủ thể trực tiếp tiếp nhận hồ sơ tài liệu.

Do đó mặc dù đã có hiệu lực thi hành từ lâu nhưng các quy định trong Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP vẫn còn rất mới lạ so với hiểu biết của người dân khi làm việc với Tòa án, dẫn đến các quy định này không được áp dụng rộng rãi trong thực tế. Hơn thế nữa, việc Nhà nước ban hành quy định về việc đương sự có thể gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử nhưng nguồn nhân lực tiếp nhận và xử lý vẫn bằng chính sức lực con người mà không phải là hệ thống quản lý điện tử tham gia tiếp nhận, xử lý đã làm cho việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào công tác quản lý tư pháp bị hạn chế trong thời đại công nghệ số hiện đại, quan trọng hơn hết là Thẩm phán và đội ngũ cán bộ Tòa án vẫn phải chịu áp lực trong việc xử lý khối lượng lớn thông tin từ các hồ sơ tài liệu của vụ án, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ giải quyết các vụ án.

Khó khăn đối với Thẩm phán trong việc kiểm tra, rà soát, xử lý hồ sơ và các văn bản quy phạm pháp luật. Có thể thấy, đối với các vụ án mang tính chất nghiêm trọng, thu hút đông đảo sự quan tâm của dư luận xã hội, Thẩm phán xét xử vụ án có trách nhiệm vô cùng nặng nề và áp lực khi phải xử lý và ghi nhớ rất nhiều chi tiết, sự việc được ghi nhận trong hồ sơ, tài liệu vụ án, khối lượng hồ sơ tài liệu có thể lên đến hàng tấn và hàng nghìn trang. Thẩm phán ngoài việc phải ghi nhớ hết tất cả các tình tiết của vụ án mà còn phải tìm kiếm những quy định pháp luật điều chỉnh phù hợp, rà soát các nội dung có trong bản án, …Tuy thẩm phán là người có nghiệp vụ chuyên môn cực kì cao nhưng với khối lượng lớn thông tin và áp lực trong quá trình xét xử nên rất dễ gặp sai sót trong quá trình xử lý các thông tin giải quyết vụ án.

Trước những tình huống trên, việc xây dựng TAĐT là cần thiết hơn bao giờ hết, bởi:

Thứ nhất, xuất phát từ tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 gắn với xu hướng hội nhập quốc tế

Cách mạng công nghiệp 4.0 gắn với xu hướng hội nhập quốc tế là một bước tiến vượt bật trong công cuộc cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế số, xã hội số. Đây được xem là nhân tố quyết định để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực như: nhà nước, pháp luật, sản xuất, kinh doanh, thị trường lao động, giáo dục, an ninh quốc phòng, nguồn nhân lực, việc làm và các lĩnh vực khác của xã hội.

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ TÒA ÁN ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ TÒA ÁN ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

Đối với lĩnh vực pháp luật, cách mạng công nghiệp 4.0 đặt ra nhiều thách thức cho pháp luật Việt Nam khi phải liên tục sửa đổi, bổ sung các quy định sao cho pháp luật được bám sát với thực tiễn nhất, tránh trường hợp có hành vi pháp lý, mối quan hệ pháp luật trên thực tiễn nhưng chưa có quy định pháp luật điều chỉnh. Bàn về hệ thống Tư pháp tại Việt Nam hay cụ thể là hệ thống Tòa án, với vai trò là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, hệ thống Tòa án có nhiệm vụ tích cực đẩy mạnh các hoạt động cải cách tư pháp, ứng dụng công nghệ 4.0 và các công cụ kỹ thuật số khác vào công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng TAĐT với mục tiêu “mọi nghiệp vụ thực hiện trực tuyến, mọi quy trình thực hiện công khai, mọi xử lý được ứng dụng công nghệ”; qua đó, nâng cao hiệu quả, tăng cường tính chuyên nghiệp, công khai, minh bạch hoạt động của Tòa án, thúc đẩy toàn diện việc chuyển đổi số quốc gia, tận dụng tối đa thành tựu của khoa học kỹ thuật, tác động của nền công nghiệp 4.0 vào quá trình hội nhập quốc tế.

Hiện nay, TAĐT nói chung và TAĐT trong giải quyết các VADS được coi là phương thức đưa công lý đến tận nhà của đương sự. Thật vậy, tốc độ phát triển của công nghệ trong kỷ nguyên kỹ thuật số ngày nay đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến các lĩnh vực của nền kinh tế, bao gồm cả ngành Tư pháp. Biểu hiện nổi bật nhất chính là việc công nghệ thúc đẩy các quy trình tự động hóa để đạt được mục tiêu nhanh hơn và kết quả tốt hơn, tạo điều kiện để các vụ kiện của Tòa án được giải quyết nhanh chóng, kịp thời hơn[6]. Chuyển đổi số trong ngành tòa án ngày càng hiện hữu với hàng loạt các chương trình được triển khai như việc công khai các bản án trên hệ thống website, xét xử trực tuyến, phần mềm “trợ lý ảo thẩm phán”, cung cấp dịch vụ công trực tuyến… nhằm nâng cao hiệu quả xét xử, đảm bảo cải cách tư pháp[7]. Vào ngày 14/7/2021, lãnh đạo Tòa án Nhân dân Tối cao và Bộ Thông tin và Truyền thông đã ký kết chương trình phối hợp trong công tác chuyển đổi số và xây dựng tòa án điện tử, thực tế, vào năm 2021, theo đó Bộ Thông tin và Truyền thông đã phối hợp với Tập đoàn Viễn Thông Quân đội Viettel để nghiên cứu và đưa vào triển khai thử nghiệm phần mềm “Trợ lý ảo”. “Trợ lý ảo” đóng vai trò như một thư ký riêng, được lập trình am hiểu pháp luật, chuyên môn nghiệp vụ của Tòa án, làm việc 24/7 và luôn bên cạnh thẩm phán, giao tiếp với thẩm phán bằng ngôn ngữ tự nhiên thông qua điện thoại di động, máy tính cá nhân[8].

Có thể thấy, các quy trình tố tụng tại Tòa án nếu được số hóa sẽ góp phần tăng hiệu quả, tính chắc chắn về mặt pháp lý của vụ việc được giải quyết như thời hạn được tuân thủ nghiêm ngặt hơn, chi phí được giảm xuống và nhiều quy trình phức tạp có thể ít nhiều được xử lý bằng quy trình tự động. Như vậy, thời đại ngày nay, Tòa án cũng là một phần của cuộc đua này để đáp ứng các thách thức và áp dụng các công nghệ mới góp phẩn đẩy nhanh quá trình giải quyết VADS, giúp các bên trong VADS tuân thủ đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng , nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đặt ra. Thông qua ứng dụng công nghệ số, Tòa án trong việc giải quyết các vụ án nói chung và VADS nói riêng có thể thực hiện đăng ký điện tử (điền điện tử), thanh toán các khoản thanh toán trước cho vụ việc bằng điện tử (thanh toán điện tử), triệu tập và thông báo cho các bên tranh tụng điện tử (triệu tập điện tử), xét xử qua video (tranh tụng điện tử)… Hay nói cách khác, số hóa, công nghệ hóa hoạt động tư pháp đang là xu hướng tất yếu, khách quan nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, giải quyết tối đa các tranh chấp, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân, giữ vững trật tự xã hội nói riêng và góp phần bình thường hóa, tiêu chuẩn hóa khả năng tương tác, hội tụ toàn cầu giữa các cơ quan thực hiện quyền tư pháp trong giai đoạn hiện nay nói chung.

Thứ hai, xuất phát từ vai trò của công nghệ thông tin trong tố tụng dân sự nhằm tăng cường pháp quyền

Công nghệ thông tin thực sự có thể hỗ trợ Tòa án thực thi các thủ tục liên quan đến tiếp cận công lý, giảm sự chậm trễ, ngăn chặn lạm dụng thủ tục, chống tham nhũng, đảm bảo tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả của thủ tục tố tụng. Chẳng hạn, với hồ sơ điện tử có thể mang lại sự yên tâm cho công dân rằng thủ tục tố tụng là hợp pháp và sẽ có bằng chứng về hành vi bất thường. Các Tòa phúc thẩm có thể sử dụng các bản ghi âm để xem xét các thủ tục tố tụng ở các Tòa án cấp dưới và đảm bảo tính toàn vẹn của thủ tục tố tụng, đặc biệt là trong các trường hợp dựa trên các dấu hiệu trực quan hoặc bằng lời nói. Kinh nghiệm của các quốc gia đã xây dựng thành công Tòa án điện tử cho thấy có hai cấu phần chính bảo đảm cho việc triển khai Tòa án điện tử, một là có đạo luật riêng về tố tụng điện tử, hai là hạ tầng kỹ thuật số, nền tảng số và ứng dụng số phục vụ chuyển đổi hoạt động tố tụng và hoạt động quản trị Tòa án lên nền tảng số[9]. Tuy nhiên, với TAĐT trong giải quyết TTDS nói riêng thì cũng có những nhược điểm nhất định. Theo đó, các hệ thống tự động có thể cồng kềnh, tốn kém và gây ra sự chậm trễ vì chúng cần được bảo trì thường xuyên và công nghệ không phải lúc nào cũng là mã nguồn mở.

Bên cạnh đó, tất cả công nghệ là không bình đẳng, bản ghi video tốn nhiều tiền hơn và yêu cầu tệp điện tử lớn hơn để lưu trữ so với bản ghi giấy. Bất kỳ công nghệ phòng xử án nào cũng đòi hỏi đội ngũ Thẩm phán, người tham gia tố tụng phải có chuyên môn tốt, có khả năng quản trị hiệu quả, cộng thêm chi phí đào tạo và hỗ trợ họ để thực hành công nghệ. Ngoài ra, công nghệ này đòi hỏi nhiều thời gian hơn, ví dụ khi xem xét lời khai dài 5 giờ thì cần 5 giờ xem video nhưng chỉ cần 30 phút để đọc bản ghi[10].

Như vậy, để đảm bảo pháp quyền trong TTDS thì việc sử dụng công nghệ thông tin (“CNTT”) nhằm giúp xây dựng lòng tin của người dân trong quá trình xét xử. Đồng thời, cũng cần phải nhìn nhận khách quan về vai trò của công nghệ mà Tòa án sử dụng trong TTDS như một công cụ hỗ trợ chứ không phải là giải pháp tự thân tuyệt đối. Khi các cơ quan tư pháp nắm bắt công nghệ phòng xử án, điều bắt buộc là phải điều tra xem lựa chọn nào hoạt động tốt nhất, mang lại giá trị tốt nhất, có nhiều khả năng cải thiện hiệu quả và chất lượng xét xử nhất.

Thứ ba, xuất phát từ kinh nghiệm từ các quốc gia trong việc thiết lập Tòa án điện tử nhằm cải cách tư pháp nói chung và trong việc giải quyết các vụ án nói riêng.

Trên thế giới đã có nhiều quốc gia xây dựng đề án thành lập TAĐT từ rất sớm và đến nay đã đi vào hoạt động, trong đó có một số quốc gia thuộc khu vực Châu Á, Đông Nam Á. Cụ thể như:

(i) Cộng hòa Ấn Độ;

Ấn Độ có đề án thành lập TAĐT từ năm 2005. Đây là đề án do Ủy ban điện tử thuộc Tòa án Tối cao Ấn Độ đệ trình. Mục tiêu của đề án là cung cấp các dịch vụ hỗ trợ công nghệ thông tin cho tất cả các Tòa án cấp quận và cấp dưới trong cả nước thông qua việc cung cấp phần cứng máy tính, mạng cục bộ (LAN), kết nối internet và cài đặt phần mềm ứng dụng tiêu chuẩn tại mỗi tổ hợp Tòa án, nâng cấp các Tòa án; Hỗ trợ cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin và truyền thông hiện có của Tòa án Tối cao và tất cả các Tòa án/Tòa án Cấp cao. Nó cũng bao gồm việc cung cấp máy tính xách tay, máy in laser, kết nối và đào tạo, truyền đạt về CNTT-TT tại nhà cho các viên chức tư pháp. Nguồn điện dự phòng cũng sẽ được cung cấp tại các khu phức hợp Tòa án này thông qua Bộ máy phát điện Diesel (Bộ DG) và UPS. Nhân lực kỹ thuật cũng đã được lên kế hoạch triển khai tại các Tòa án Tối cao và các khu vực tư pháp để cung cấp, hỗ trợ CNTT tại các khu phức hợp Tòa án này[11].

Cho đến năm 2013, Cổng thông tin Quốc gia về TAĐT chính thức được khai trương (ecourts.gov.in). Trong đó, hơn 2852 quận và Khu phức hợp Tòa án Taluka đã đảm bảo sự hiện diện của họ trên Cổng thông tin. Trên hệ thống Cổng thông tin cung cấp danh sách tình trạng các vụ việc đang chờ được xử lý, các Lệnh/Phán quyết của Tòa án. Với dữ liệu thời gian được tạo và cập nhật liên tục, Cổng thông tin Quốc gia về TAĐT đang đóng vai trò là nguồn phân phối thông tin của hệ thống tư pháp cho tất cả các bên liên quan. Nó thường xuyên được phân tích để hỗ trợ có ý nghĩa trong việc hình thành chính sách và ra Quyết định. Bên cạnh đó, hệ thống này đang hoạt động như một kho dữ liệu Quốc gia (dữ liệu vụ án) bao gồm các Lệnh/Phán quyết cho các Tòa án trên toàn quốc với phạm vi bao quát đầy đủ của các Tòa án quận. Như vậy, theo Ấn Độ, để quản lý hồ sơ và Tòa án hoạt động hiệu quả thì việc hình thành công cụ nghiệp vụ thông minh và xử lý trực tuyến sẽ giúp tổng hợp nhiều cơ sở dữ liệu phục vụ cho quá trình quản lý tư pháp. Bên cạnh đó, hệ thống thông tin quản lý tư pháp sẽ hữu ích trong phân tích mô hình xét xử và tranh tụng cũng như phân tích tác động của bất kỳ sự thay đổi nào trong các yếu tố điều chỉnh liên quan đến luật, sửa đổi, quyền tài phán, tuyển dụng[12].

(ii),Cộng hòa Indonesia;

Vào năm 2018, Tòa án Tối cao nước Cộng hòa Indonesia đã chính thức ra mắt ứng dụng TAĐT theo Quy định số 03 của Tòa án Tối cao liên quan đến quản lý hồ sơ trong tư pháp. Đây là cơ sở pháp lý cho việc quản lý vụ án tại Tòa án, hỗ trợ thực hiện quản lý chuyên nghiệp có trật tự, minh bạch, trách nhiệm giải trình, hiệu lực, hiệu quả và hiện đại. Theo đó, TAĐT được thành lập đã kết nối với hơn 910 Tòa án trên khắp Indonesia. Trong đó, TAĐT đã tích hợp được ba tính năng là hệ thống tìm kiếm vụ việc, hệ thống thông tin vụ án và Danh mục các Quyết định của Tòa án. Việc thành lập TAĐT nhằm tạo ra một phiên tòa đơn giản, nhanh chóng, chi phí thấp nhằm khắc phục những vướng mắc trong quá trình thực thi công lý. Bên cạnh đó, có thể mang lại cảm giác công bằng theo pháp luật mà không phân biệt đối xử với mọi người[13].

(iii) Cộng hòa Hàn Quốc (Đại hàn Dân quốc);

Hàn Quốc là quốc gia tiên phong trong việc sử dụng các tính năng điện tử để hợp lý hóa các quy trình của Tòa án. Vào giữa những năm 1980, cơ quan tư pháp đã liên hệ với Viện khoa học và công nghệ Hàn Quốc để nghiên cứu tính khả thi của tố tụng tư pháp điện tử. Theo đó, họ tin chắc về lợi ích của việc sử dụng công nghệ thông tin tại Tòa án thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu tiên tiến và phát triển phần mềm quản lý việc hiện đại. Hệ thống quản lý tại Tòa án dựa trên việc ứng dụng công nghệ thông tin tại Hàn Quốc thông qua việc cho phép thiết lập hồ sơ điện tử. Theo đó, cho phép nộp đơn điện tử từ các vụ việc dân sự, thương mại, hành chính, hôn nhân gia đình và thực hiện việc thanh toán điện tử. Bên cạnh đó, hệ thống TAĐT có tính năng trợ giúp các Thẩm phán, tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự nộp đơn khởi kiện và thông báo về kết quả giải quyết vụ việc, vụ án cho công chúng. Ngoài ra, với hệ thống TAĐT, các thông tin được thu thập, truyền tải dưới dạng kỹ thuật số nên việc trao đổi dữ liệu không bị phân mảnh; Có sự liên thông về lịch sử các vụ việc thông qua quá trình xử lý tự động hóa; Việc thanh toán phí được xử lý thông qua các trang web và các biểu mẫu có sẵn giúp đơn giản hóa và hợp lý hóa các thủ tục tố tụng tại Tòa án cho người dùng Tòa án trực tuyến. Từ năm 2010 đến nay, Tòa án Hàn Quốc tiến hành xây dựng hệ thống thông tin tư pháp hình sự; xây dựng và áp dụng tố tụng điện tử sáng chế, tố tụng điện tử dân sự, tố tụng điện tử hôn nhân và gia đình, hành chính; xây dựng phòng xử án điện tử theo hình thức phổ cập; xây dựng hệ thống tự tiến hành tố tụng; xây dựng tố tụng điện tử phá sản và thi hành án; nâng cao tính năng tố tụng điện tử, nghiệp vụ tư pháp, thống kê tư pháp; áp dụng cơ chế phê duyệt điện tử hành chính thế hệ sau; tố tụng điện tử thông minh thế hệ sau trên nền tảng Big data. Giai đoạn này được coi là giai đoạn phát triển nâng cao của công nghệ thông tin tư pháp[14].

(iv) Nhật Bản;

Nhật Bản có một hệ thống Tòa án thống nhất, trong đó cấp cao nhất là Tòa án Tối cao. Không có hệ thống Tòa án Nhà nước riêng biệt và rời rạc. Nhìn chung có ba cấp Tòa án, các vụ kiện đầu tiên được đệ trình lên Tòa sơ thẩm, sau đó là kháng cáo trung gian lên một trong tám Tòa cấp cao, sau đó là kháng cáo lên Tòa án Tối cao. Trước đây, Tòa án không cho phép các bên nộp đơn trực tuyến, thay vào đó, tất cả các tài liệu được gửi ở dạng bản cứng. 

Tuy nhiên, vào năm 2017, Chính phủ đã thành lập một Ủy ban để đánh giá cách thức các Tòa án có thể cập nhật quy trình công nghệ cho các thủ tục Luật Dân sự của họ. Vào tháng 3 năm 2018, Ủy ban đã đưa ra một báo cáo với các khuyến nghị liên quan đến cách tích hợp các công cụ điện tử vào quy trình xét xử dân sự. Báo cáo tập trung vào ba cải tiến: (i) Nộp đơn điện tử (nộp đơn khiếu nại và lập luận bằng điện tử, thay vì chỉ dưới dạng bản cứng); (ii) TAĐT (sử dụng hệ thống hội thảo trên web để cho phép các bên tham gia vào các cuộc họp với Tòa án qua internet); và (iii) Quản lý không gian điện tử (truy cập các bản đệ trình của Tòa án như khiếu nại, lập luận và bằng chứng qua internet). Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch Covid-19, việc sử dụng TAĐT đã mang lại hiệu quả, lợi ích trong việc giải quyết các vụ án. Đó là, việc nộp hồ sơ các vụ kiện mới bằng chữ ký điện tử hoặc kỹ thuật số sẽ loại bỏ những khó khăn bên đương sự từ các nơi khác đến Nhật Bản; Người tham gia tranh tụng sẽ có thể tham dự các phiên tòa và tố tụng trọng tài thông qua hội nghị truyền hình từ nhà và văn phòng của họ mà không mất thời gian hoặc phát sinh chi phí đi lại; Việc giám sát chặt chẽ hơn các vụ việc của các bên Nhật Bản sẽ giúp đảm bảo tính minh bạch cho các các Luật sư từ nơi khác, đặc biệt là trong báo cáo của họ về kết quả của các phiên điều trần; Đảm bảo rằng ngay cả những người ở vùng xa xôi nhất của đất nước cũng có thể tiếp cận công lý[15].

(v) Trung Quốc;

Trong số các quốc gia ở khu vực Châu Á, có thể nói Trung Quốc là quốc gia luôn đề cao chủ trương triển khai tố tụng điện tử và quyết liệt áp dụng chủ trương này vào thực tiễn. Sở dĩ Trung Quốc đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động tố tụng đến như vậy là bởi lẽ với mật độ dân cư đông nhất thế giới như vậy, hệ thống tư pháp của Trung Quốc hằng ngày phải tiếp nhận một khối lượng lớn các vụ án cần giải quyết trong khi nguồn nhân lực lại có hạn, do đó với thế mạnh trong việc phát triển công nghệ thông tin đã có từ trước, Trung Quốc đã tiếp tục áp dụng công nghệ kỹ thuật số vào hệ thống tư pháp. Trung Quốc là quốc gia đầu tiên thành lập TAĐT vào tháng 8/2017 tại Hàng Châu, tỉnh Triết Giang, và một năm sau, nước này thành lập thêm hai tòa án trực tuyến ở Bắc Kinh và Quảng Châu, để xử lý các vụ việc thương mại điện tử và các vụ án liên quan đến Internet[16]. Vào ngày 18 tháng 5 năm 2021, Trung Quốc đã ban hành bộ quy tắc tranh tụng trực tuyến cho Tòa án nhân dân, các quy tắc này nhằm hướng đến mục tiêu chung là thúc đẩy và điều chỉnh các hoạt động tố tụng trực tuyến. Theo bộ quy tắc này tranh tụng trực tuyến có nghĩa là tất cả các thủ tục tố tụng, từ đăng ký vụ án đến thực hiện sẽ được hoàn thành trực tuyến và sẽ có hiệu lực pháp lý tương tự như tranh tụng ngoại tuyến[17]. Để các bên có thể tham gia vào quá trình tố tụng trực tuyến, đương sự và luật sư của họ phải đăng ký một tài khoản tên thật trên trang web chính thức của Tòa án internet và xác minh danh tính của họ bằng phương pháp nhận dạng khuôn mặt. Thỏa thuận đăng ký nhấn mạnh rằng hành động được thực hiện bởi các tài khoản đăng nhập vào nền tảng kiện tụng điện tử với danh tính được xác thực sẽ được coi là hành động do người dùng thực hiện. Sau đó các bên đương sự cần phải điền các thông tin cơ bản, gửi đơn khiếu nại trực tuyến và đăng tải bằng chứng, cả đương sự và luật sư của họ được phép kiểm tra việc cung cấp các công cụ pháp lý, nộp tài liệu, trình bày và kiểm tra chéo chứng cứ, tham gia xét xử trực tuyến và nhận bản án thông qua trang web của Tòa án[18]. Như vậy, với mô hình tố tụng trực tuyến, các Tòa án và các bên đương sự ở Trung Quốc có thể tham gia xét xử các vụ việc ở bất kì nơi nào có Internet mà không bị giới hạn về khoảng cách địa lý cũng như là những sự kiện bất khả kháng mang tính toàn cầu xảy ra.

Như vậy, có thể thấy, với các cách tiếp cận trong việc thiết lập và sử dụng TAĐT khác nhau giữa các quốc gia nhưng với hệ thống quản lý như hiện nay cho thấy, TAĐT có vai trò rất lớn khi có nhiều tính năng để trợ giúp Thẩm phán (hệ thống quản lý vụ việc và hệ thống hỗ trợ Thẩm phán), tạo điều kiện thuận lợi cho việc nộp đơn vụ án cho đương sự (nộp đơn điện tử) và thông báo cho công chúng (xuất bản kết quả vụ án), tiết kiệm được chi phí (do giảm sử dụng giấy tờ, thời gian dành cho Tòa án ít hơn, quy trình dịch vụ rẻ hơn, chi phí vận chuyển thấp hơn, lưu trữ tài liệu dễ dàng hơn và thanh toán phí dễ dàng hơn) và không gian lưu trữ tài liệu, bảo mật các tài liệu, giấy tờ khi không bị đánh cắp hoặc bị thất lạc. Ở một số quốc gia, các phiên xét xử trực tuyến được coi là một công cụ quan trọng cho ngành tư pháp không chỉ trong đại dịch mà còn trong tương lai, trong chặng đường phía trước, cần có nhiều nghiên cứu và thảo luận để phát triển các quy tắc và hỗ trợ kỹ thuật nhằm phát triển các phiên xét xử video thành một nơi – mặc dù không phải là một nơi thực tế – nơi công lý có thể được thực hiện[19].

Thứ tư, trong bối cảnh đại dịch nguy hiểm và thực hiện giãn cách xã hội cũng như khoảng cách địa lý đã khiến việc tiếp cận công lý trở nên khó khăn hơn

Có thể nói, TAĐT nói chung và TAĐT trong TTDS nói riêng ra đời như một biện pháp ứng phó với những tình trạng khẩn cấp. Bởi các biện pháp ngăn chặn được đưa ra bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã khiến cho việc tiếp cận công lý trở nên khó khăn hơn, thường xuyên dẫn đến tồn đọng các vụ án, vụ việc dân sự.

Chẳng hạn, liên quan đến đại dịch nguy hiểm (ví dụ: Covid-19) và giãn cách xã hội vừa qua là một trong những nguyên nhân đẩy nhanh quá trình số hóa ngành Tư pháp ở nhiều quốc gia trên thế giới và trong đó có Việt Nam. Trong đại dịch này, hầu hết các Tòa án đã bắt đầu sử dụng các nền tảng mạng xã hội như Skype, Zoom và Google Meet để tiến hành các phiên điều trần ảo. Hệ thống tố tụng điện tử cùng các quy tắc và quy định của nó sẽ giúp phát triển một hệ thống thống nhất và nhất quán cho các phiên điều trần ảo. Hệ thống sẽ không chỉ đảm bảo hiệu quả trong việc cung cấp dịch vụ mà còn tiết kiệm thời gian và nguồn lực.Tuy nhiên, câu hỏi quan trọng là liệu những thay đổi này chỉ là tạm thời hay nên được thực hiện vĩnh viễn.

Trên thực tế, ở Việt Nam nhiều dấu hiệu cho thấy toàn bộ hệ thống Tư pháp cần phải được đổi mới và tái cấu trúc để đảm bảo việc thực hiện tư pháp kịp thời và hiệu quả. Hay nói cách khác, việc sử dụng TAĐT nói chung và TAĐT trong giải quyết vụ án/vụ việc dân sự nói riêng ở Việt Nam càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Vì giãn cách xã hội, nhiều hoạt động, bao gồm cả phiên tòa đã bị hoãn lại. Điều này có thể gây ra nhiều bất tiện cho Tòa án (để tuân thủ quy định của pháp luật về thời gian tố tụng), và cho các bên (muốn giải quyết vấn đề pháp lý của mình càng nhanh càng tốt để được hưởng tốt quyền và lợi ích hợp pháp của mình). Chính vì thế, không chỉ ở Việt Nam mà ngày càng có nhiều Tòa án chuyển sang Tòa án số nhằm làm tăng hiệu quả và hiệu suất của cơ quan tư pháp, giảm thiểu chi phí cho người dùng và thường tốn ít thời gian hơn. Như vậy, có thể thấy việc tổ chức phiên tòa xét xử trực tuyến là tất yếu, cần thiết trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 diễn ra như vũ bão trên toàn cầu, dịch COVID-19 đang đe dọa nghiêm trọng đời sống nhân dân[20]. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng các biện pháp công nghệ chỉ là một phương thức thực hiện khác của các quy định tố tụng, nhưng do với tư cách là luật tố tụng, các bước thực hiện này cần được quy định rõ trong luật, để không bị coi là vi phạm tố tụng[21].

Thứ năm, xuất phát từ nhiệm vụ tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới ở Việt Nam

Đó là để hoàn thành các yêu cầu, nhiệm vụ mà Đảng, Quốc hội đặt ra, đòi hỏi hệ thống Tòa án phải nỗ lực phấn đấu, chủ động nắm bắt tình hình và tổ chức thực hiện quyết liệt; Trong đó tăng cường đầu tư, ứng dụng CNTT là một trong 17 chủ trương, giải pháp đột phá, thiết thực mà Ban cán sự Đảng, lãnh đạo Tòa án nhân dân Tối cao đã chỉ đạo góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống Tòa án[22].

Do đó, để kịp thời thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và bắt kịp với nền Tư pháp văn minh của thế giới trong thời đại số, chủ trương xây dựng TAĐT đã được Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao đặt mục tiêu đến năm 2025 hoàn thành việc xây dựng TAĐT. Bắt đầu từ thời điểm đó, nhiệm vụ xây dựng TAĐT luôn được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong tiến trình cải cách tư pháp của hệ thống Tòa án ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, về mặt nghiên cứu khoa học, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống từ mặt lý luận, đến thực trạng và có khung pháp lý về TAĐT.

Thứ sáu, xuất phát từ thực trạng xây dựng và thực hiện pháp luật về Tòa án điện tử trong giải quyết các vụ án dân sự ở Việt Nam hiện nay

Hiện nay, ngoài BLTTDS 2015 quy định về chứng cứ điện tử, thông điệp dữ liệu điện tử thì việc xét xử trực tuyến trên được thực hiện theo Nghị quyết số 33/2021/QH15, ngày 12/1/2021 của Quốc hội, có hiệu lực từ ngày 01/01/2022 về tổ chức phiên tòa trực tuyến. Với những quy định trên, trong thời gian vừa qua, đã tổ chức được gần 4.000 phiên tòa trực tuyến trên toàn quốc với chất lượng cao, trong đó có hơn 3.000 phiên tòa hình sự, 240 phiên tòa dân sự, 251 phiên tòa hành chính và 158 phiên họp áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án[23]. Trên thực tế, các thiết bị điện tử đang ngày càng thay thế “chứng từ giấy” trong các giao dịch thương mại tại Việt Nam. Email, điện thoại di động và cả ứng dụng nhắn tin ngày càng được các doanh nghiệp tận dụng để trao đổi thông tin, giao kết và thực hiện hợp đồng. Nhìn chung, các doanh nghiệp có xu hướng ưu tiên sử dụng các phương tiện điện tử hơn là trao đổi “tài liệu giấy” như một biện pháp “phòng thủ” trong giải quyết tranh chấp. Do đó, nhu cầu xây dựng pháp luật về TTDS điện tử là không thể bỏ qua trong thời gian tới.

Ngoài ra, theo kế hoạch số 49/KH-TANDTC về việc triển khai áp dụng phần mềm trợ lý ảo cho Thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao có kế hoạch đưa Trợ lý ảo làm việc trực tuyến 24/7 để hỗ trợ cho Thẩm phán tra cứu nhanh các văn bản pháp luật, chỉ dẫn áp dụng pháp luật cho các tình huống pháp lý cụ thể, quy định pháp luật, án lệ và bản án có tình huống pháp lý tương tự để tham khảo, góp phần bảo đảm việc áp dụng đúng, thống nhất pháp luật, giúp cho phần mềm Trợ lý ảo ngày càng thông minh hơn thông qua quá trình sử dụng, đóng góp ý kiến của các Thẩm phán Tòa án. Nếu trong hoạt động tư pháp, Tòa án là trung tâm, xét xử là trọng tâm thì người Thẩm phán là hạt nhân của quá trình này. Chính vì vậy cần có sự hỗ trợ tốt nhất, giúp cho Thẩm phán có được một phán quyết đúng pháp luật, xứng đáng với kẻ phạm tội, thuyết phục với các bên[24]. Trợ lý ảo làm việc trực truyến 24/7 sẽ là công cụ trí tuệ nhân tạo hữu ích nhất hỗ trợ Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án.

Như vậy, có thể nói, chủ đề về TAĐT trong giải quyết VADS hay chủ đề về TTDS điện tử là chủ đề rất mới, đặc biệt là dưới góc độ nghiên cứu khoa học. Chính vì những luận điểm ở trên, ứng viên quyết định lựa chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về Tòa án điện tử tại Việt Nam” làm đề tài Luận án Tiến sĩ của mình.

  1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Có thể nhận thấy, thuật ngữ “Tòa án điện tử”, “Tố tụng dân sự điện tử”, “TAĐT trong tố tụng dân sự” là chủ đề được nhiều học giả, chuyên gia, nhà hoạch định chính sách ở các quốc gia quan tâm và nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau.

  1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Tố tụng dân sự về Tòa án điện tử là một trong các được quy định từ rất sớm trong pháp luật của các quốc gia, ở cả trường phái pháp luật thông luật và dân luật. Một số công trình nghiên cứu ngoài nước về Tố tụng dân sự về Tòa án điện tử được nghiên cứu sinh tổng hợp, nghiên cứu và vận dụng như các cơ sở nền tảng để phát triển đề tài bao gồm:

  1. Cuốn sách Alexandra Tsvetkova và Giulio Borsari, Guidelines on electronic court filing (efiling) and digitalisation of courts (tạm dịch “Hướng dẫn về nộp hồ sơ điện tử và số hóa trong Tòa án”)[25]. Các tác giả chỉ ra các biện pháp chính để thiết kế và triển khai việc nộp hồ sơ điện tử và số hóa Tòa án. Theo đó, thủ tục hành chính tư pháp bắt đầu bằng cách phát hành và nhận tài liệu điện tử; Trao đổi tài liệu, tiến hành thủ tục với các bên, với Thẩm phán, Công tố viên; Gửi/nhận thông báo điện tử và giấy triệu tập điện tử; Trả án phí trực tuyến; Truy cập kho lưu trữ an toàn của tất cả các tài liệu thủ tục; Cung cấp cách xử lý dữ liệu hiệu quả và hiệu quả cho tất cả người dùng có liên quan. Bên cạnh đó, các tác giả đưa một số ý kiến liên quan đến hệ thống nộp đơn điện tử.

Theo đó, hệ thống đó phải tạo điều kiện tiếp cận thông tin tư pháp và quy định trách nhiệm giải trình, đồng thời cân bằng giữa truy cập và bảo vệ dữ liệu cá nhân; Tuân thủ các luật hiện hành và tiêu chuẩn quốc tế; Được triển khai một cách hiệu quả và kịp thời; Được thiết kế với mức độ minh bạch và trách nhiệm giải trình cao về hiệu suất, quy trình thủ tục và quy trình hỗ trợ ra quyết định; Được phát triển để dự báo những thay đổi về thể chế và được cập nhật liên tục; Là kết quả của một cuộc cải cách kết hợp cả yêu cầu kỹ thuật và pháp lý; Dựa trên khung pháp lý rõ ràng và được xác định rõ; Đáp ứng các điều kiện tiên quyết để triển khai thành công: mạng đáng tin cậy và an toàn, đủ kỹ năng và năng lực CNTT, cơ sở hạ tầng mở và phối hợp vận hành với các hệ thống quốc gia/xuyên biên giới khác.

  1. Cuốn sách James M. Chadwick, Access to electronic court records: An Outline of Issues and Legal Analysis, (Truy cập hồ sơ điện tử của Tòa án: Tổng quan các vấn đề và phân tích pháp lý)[26]. Dưới góc độ nghiên cứu, khi nghiên cứu về hệ thống Tòa án của Hoa Kỳ, tác giả cho rằng, từ những năm 2000, cả Tòa án liên bang và hệ thống Tòa án các bang đều bắt đầu xem xét đến việc để công chúng được tiếp cận hồ sơ Tòa án được lưu trữ dưới dạng điện tử, cụ thể là các thủ tục tố tụng và hồ sơ tư pháp. Những đề xuất này đặt ra những câu hỏi sâu sắc liên quan đến quyền tiếp cận của công chúng đối với quy trình xét xử. Đó là liên quan đến quyền riêng tư bị ảnh hưởng khi công chúng không có kiến thức và hiểu biết sâu rộng về ý nghĩa của nó.

Bên cạnh đó, tác giả chỉ ra các nguyên tắc chính về truy cập hồ sơ TAĐT như theo quy định của Hiến pháp về quyền cơ bản thì công chúng và báo chí có quyền được tiếp cận hồ sơ Tòa án cả thủ tục TTDS và hình sự; Việc công chúng tiếp cận hồ sơ Tòa án phục vụ nhiều lợi ích quan trọng và cần được khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi trong phạm vi hợp lý có thể. Do đó, quyền truy cập từ xa vào hồ sơ điện tử của Tòa án nên được cung cấp ở mức độ rộng nhất có thể phù hợp với việc bảo vệ các lợi ích riêng tư hợp pháp; Việc bảo vệ quyền riêng tư cá nhân cũng là một giá trị quan trọng và quyền truy cập công khai vào hồ sơ Tòa án không phải là tuyệt đối. Một số thông tin cá nhân, riêng tư có trong hồ sơ Tòa án không cần phải được công khai để thúc đẩy các lợi ích được phục vụ khi tiếp cận hồ sơ Tòa án; Khi các Tòa án chuyển sang nộp đơn điện tử cần tuân thủ các quy tắc quản lý quyền truy cập vào tất cả các hồ sơ Tòa án; Các quy tắc quản lý quyền truy cập vào hồ sơ điện tử nên lường trước nhu cầu giữ bí mật một số thông tin nhất định; Các quy tắc quản lý quyền truy cập vào hồ sơ điện tử của Tòa án phải đủ đơn giản để chúng có thể được thực hiện một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, các tác giả đưa ra vai trò của TAĐT đối với công chúng và báo chí. Theo đó, quyền truy cập của công chúng vào hồ sơ Tòa án, cho dù được thực hiện trực tiếp bởi từng thành viên của công chúng hay thông qua cơ quan truyền thông về thủ tục tố tụng của Tòa án thì điều đó cũng phục vụ một số giá trị cơ bản.

Một là, quyền truy cập công khai vào hồ sơ điện tử của Tòa án cho phép công chúng giám sát hoạt động của hệ thống Tư pháp và giúp đảm bảo tính công bằng và trung thực của thủ tục tố tụng tư pháp.

Hai là, quyền truy cập của công chúng vào hồ sơ Tòa án đóng một vai trò không thể thiếu trong việc bảo vệ sức khỏe và phúc lợi công cộng. Theo đó, nếu việc truy cập không hạn chế vào hồ sơ vụ án của công chúng thì nó sẽ làm tăng nguy cơ tổn tại sức khỏe cho các đương sự và những cá nhân khác có thông tin trong hồ sơ vụ án. Hoặc có những hồ sơ vụ án liên quan đến các sản phẩm, thực phẩm, thuốc ảnh hướng đến sức khỏe; Thông tin về các sản phẩm hàng hóa bị lỗi, lừa đảo, hành vi gian lận khác; Thông tin liên quan đến các giao dịch bất hợp pháp, thao túng thị trường… đây là những vấn đề có thể ảnh hưởng đến những người không phải là người trực tiếp tham gia tố tụng. Ví dụ, thành công của ngành công nghiệp thuốc lá trong nhiều thập kỷ là tránh tiết lộ mức độ hiểu biết của mình về các mối nguy hiểm của các sản phẩm thuốc lá, thành công là do giữ được thông tin không bị tiết lộ trong quá trình kiện tụng.

Ba là, hồ sơ Tòa án có giá trị cung cấp thông tin cần thiết cho báo chí đưa tin về các vấn đề được công chúng quan tâm. Đưa tin về các thủ tục tố tụng tại Tòa án là một nội dung chính mà các phương tiện truyền thông quan tâm và đưa tin trên khắp Hoa Kỳ. Điều này đúng vì một lý do rất đơn giản: những gì xảy ra trong thủ tục tố tụng tư pháp ảnh hưởng đến các cộng đồng mà phương tiện truyền thông phục vụ. Cộng đồng đó có thể là một thị trấn nhỏ có vấn đề về tội phạm, hoặc có thể là cộng đồng của các giám đốc điều hành đang đọc về các vụ kiện tập thể về chứng khoán hoặc truy tố chống độc quyền gần đây, hoặc bất cứ điều gì ở giữa. Bất kể vị trí hay địa điểm xã hội nào, mọi người đều bị ảnh hưởng theo một cách nào đó bởi những gì xảy ra tại Tòa án.

Bốn là, việc công chúng tiếp cận các thủ tục tố tụng tư pháp không phải là một sự nuông chiều hay đặc quyền, mà là một yếu tố không thể thiếu của bản thân quá trình cải cách tư pháp (chứng minh rằng công lý được thực thi một cách công bằng, từ đó nâng cao niềm tin của công chúng vào các thủ tục tố tụng; cung cấp phương tiện để công dân xem xét và kiểm tra việc sử dụng và khả năng lạm dụng quyền tư pháp; và nâng cao chức năng tìm kiếm sự thật của quá trình tố tụng).

  1. Cuốn sách Miklós Kengyel, Zoltán Nemessányi, Electronic Technology and Civil Procedure (Công nghệ điện tử và thủ tục tố tụng)[27]. Cuốn sách chỉ cho người đọc thấy rằng, công nghệ truyền thông hiện đại có tác động rất lớn đến thủ tục TTDS. Theo đó, lần đầu tiên trong Hội nghị về Chương trình nghị sự do Hiệp hội Luật Tố tụng quốc tế tổ chức năm 1999 đã xác định rằng: “Công nghệ thông tin sẽ không chỉ hỗ trợ tinh giản và cải thiện hệ thống, quy trình; tất nhiên, nó cũng có khả năng trở thành chất xúc tác cho sự thay đổi triệt để”. Bên cạnh đó, tại Hội nghị ở Pecs vào mùa thu năm 2010, những người tham gia từ ba Châu lục và 25 quốc gia đã đánh giá về tác động của CNTT hiện đại đối với tất cả các khía cạnh của thủ tục dân sự bắt đầu bằng việc nộp đơn điện tử, thanh toán điện tử, truy cập các dịch vụ điện tử, chứng cứ điện tử. Ngoài các vấn đề thực tế, họ đã thảo luận về tác động có thể có của các thủ tục điện tử đối với các nguyên tắc truyền thống của thủ tục dân sự. Cuốn sách bao gồm 17 Chương, trong đó nhấn mạnh đến các nội dung sau đây:

Một là, ứng dụng công nghệ điện tử trong quá trình TTDS ở một mức nào đó là cần thiết. Điều này góp phần giảm bớt một số khó khăn trong thủ tục dân sự truyền thống. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ vào TTDS liệu có được các đương sự ủng hộ hay không và phải xem việc sử dụng công nghệ đó để loại bỏ yếu tố con người trong tố tụng khi tham gia giám sát, bảo vệ pháp luật có phải là một giải pháp không.

Hai là, sự phát triển của CNTT đã tác động đến mọi mặt của hoạt động TTDS. Theo đó, công nghệ của thời đại chúng ta có thể cung cấp nhiều hơn những gì chúng ta có thể cần trong quá trình điện tử hóa các thủ tục tố tụng tư pháp. Do đó, nhiệm vụ của các chuyên gia về luật tố tụng là tìm ra các giới hạn của khả năng áp dụng thay vì tích hợp tất cả các khả năng kỹ thuật vào thủ tục tố tụng mà không bị chỉ trích. Khi thiết lập các giới hạn này, cần chú ý nhiều đến khía cạnh lý thuyết và thực tiễn, cần tìm ra “điểm cốt lõi” của các quy tắc tố tụng theo mục đích tố tụng, các giá trị cơ bản mà tính liên tục của chúng phải được đảm bảo.

Ba là, các ứng dụng CNTT vào từng giai đoạn TTDS như dịch vụ văn bản điện tử (bao gồm việc nộp đơn khởi kiện, tống đạt tài liệu và thông báo các quyết định tư pháp); Việc sử dụng CNTT trong thi hành án có thể làm cho chúng hiệu quả hơn, để nhiều chủ nợ có thể thu được nhiều tiền hơn, trong thời gian ngắn hơn, với chi phí tương xứng cho hệ thống tư pháp dân sự.

Bốn là, vai trò của CNTT trong việc thu thập chứng cứ. Theo đó, CNTT không chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Thay vào đó, việc sử dụng CNTT để thu thập chứng cứ trở thành “trái tim” của phiên tòa và có thể ảnh hưởng đến “cốt lõi văn hóa” của TTDS. Các lĩnh vực có thể ứng dụng CNTT để thu thập chứng cứ. Bao gồm thủ tục khám phá, chuẩn bị xét xử, kiện tụng tăng cường công nghệ, công nghệ phòng xử án hiện đại, hội nghị truyền hình, hồ sơ Tòa án, quét tài liệu cũng như công nghệ tiên tiến hơn như phiên tòa ảo và Tòa án mạng.

Thứ năm, công nghệ mới có thể làm cho quy trình kiện tụng hiệu quả hơn trong các vụ kiện vừa và lớn. Khối lượng thông tin điện tử ngày càng tăng đòi hỏi các giải pháp nhanh chóng, hiệu quả và đáng tin cậy để xử lý dữ liệu chứng cứ trong quá trình kiện tụng.

  1. Bài viết của Richard Susskind (2019), “Online Courts and the Future of Justice”[28] .Tác giả – một trong những học giả tiên phong về “tư pháp trực tuyến” – lập luận rằng hệ thống tư pháp truyền thống với phiên tòa trực tiếp, hồ sơ giấy và cơ sở vật chất vật lý đang trở nên không bền vững trong kỷ nguyên số. Theo Susskind, việc chuyển đổi sang Tòa án trực tuyến (Online Courts) không đơn thuần là số hóa các thủ tục cũ mà là “tái cấu trúc toàn bộ quy trình tư pháp” nhằm hướng đến khả năng tiếp cận công lý cho mọi người dân. Ông cho rằng mô hình Tòa án điện tử cần được thiết kế dựa trên ba trụ cột: (1) xét xử từ xa (remote hearing); (2) quản lý vụ việc và nộp hồ sơ điện tử; (3) giải quyết tranh chấp trực tuyến (Online Dispute Resolution – ODR).

Tác giả phân tích rằng mô hình này đã được áp dụng thành công tại Anh (Civil Money Claims Online), Canada (Civil Resolution Tribunal) và Singapore (Community Justice & Tribunals System). Việc số hóa giúp giảm chi phí, tăng tốc độ giải quyết và mở rộng phạm vi tiếp cận cho người dân yếu thế. Tuy nhiên, Susskind cũng cảnh báo rằng quá trình này đặt ra thách thức về bảo đảm quyền được xét xử công bằng, quyền được nghe và được phản hồi (right to be heard), đồng thời đòi hỏi phải điều chỉnh toàn diện luật tố tụng và quy tắc chứng cứ.

  1. Bài viết của Xandra Kramer (2020), Digitalisation of Civil Justice: The Road Ahead[29]. Tác giả – chuyên gia về tố tụng dân sự châu Âu – phân tích quá trình số hóa tư pháp ở châu Âu dưới góc độ pháp luật so sánh. Kramer cho rằng “công lý kỹ thuật số” (digital justice) không chỉ là việc đưa hồ sơ lên nền tảng điện tử, mà là một thay đổi mô hình (paradigm shift) trong hoạt động tư pháp. Việc áp dụng công nghệ số tác động đến mọi khâu của tố tụng dân sự: từ nộp đơn, tống đạt, thu thập chứng cứ, cho đến tuyên án và lưu trữ hồ sơ.

Tác giả nhấn mạnh rằng việc chuyển đổi này đòi hỏi một cách tiếp cận theo từng giai đoạn: (1) giai đoạn số hóa quy trình hành chính tư pháp; (2) giai đoạn tích hợp cơ sở dữ liệu và truy cập công khai; và (3) giai đoạn “trí tuệ hóa” tư pháp (AI hỗ trợ xét xử). Kramer cũng cảnh báo về các nguy cơ mất cân bằng giữa hiệu quả kỹ thuật và quyền tố tụng cơ bản của đương sự, đặc biệt là quyền được trình bày ý kiến và quyền tranh tụng.

  1. Bài viết của Giampiero Lupo và Jane Bailey (2014), Designing and Implementing e-Justice Systems: Some Lessons Learned from EU and Canadian Examples[30]. Hai tác giả phân tích kinh nghiệm thiết kế và triển khai hệ thống e-Justice tại Liên minh châu Âu và Canada, nhấn mạnh vai trò của quản trị công nghệ trong việc duy trì niềm tin công chúng vào hệ thống tư pháp. Bài viết cho thấy các dự án e-Justice thường thất bại không phải do thiếu kỹ thuật mà do thiếu sự đồng bộ giữa hạ tầng công nghệ và cải cách thể chế, đặc biệt trong khâu đào tạo nhân sự, chuẩn hóa quy trình tố tụng và quy định trách nhiệm của các chủ thể tư pháp khi vận hành hệ thống số.

Nghiên cứu cũng đề xuất khung khái niệm “adaptive justice system” – một mô hình tư pháp có khả năng thích ứng với thay đổi công nghệ, linh hoạt điều chỉnh quy trình mà vẫn bảo đảm nguyên tắc độc lập và tính công bằng của Tòa án.

  1. Bài viết của Lauri Mälksoo (2022), “Digital Justice and the Rule of Law: Perspectives from Northern Europe”[31]. Tác giả nghiên cứu kinh nghiệm số hóa hệ thống tư pháp ở Bắc Âu, đặc biệt là Estonia và Phần Lan, nơi được xem là hình mẫu về “chính phủ điện tử”. Mälksoo cho rằng nền tảng e-File và e-Court của các nước này chứng minh mối liên hệ chặt chẽ giữa công nghệ số và nguyên tắc pháp quyền (rule of law). Việc công khai dữ liệu tư pháp, cho phép tra cứu bản án trực tuyến và sử dụng định danh số công dân đã làm thay đổi sâu sắc cách người dân tiếp cận công lý.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng lưu ý rằng sự phụ thuộc quá mức vào công nghệ có thể làm suy yếu vai trò của con người trong xét xử, nếu không có cơ chế kiểm soát và đánh giá độc lập. Do đó, Mälksoo đề xuất mô hình “hybrid justice” – kết hợp giữa công nghệ và yếu tố con người, vừa bảo đảm hiệu quả, vừa duy trì tính nhân văn trong hoạt động tư pháp.

  1. Mgr Dariusz Sielicki, The Impact of the e-Court Solution on the Polish Judicial System[32]. Tác giả cho rằng, hệ thống Tư pháp của Ba Lan cũng không thể nào dậm chân tại chỗ, không còn bảo thủ trước tác động của công nghệ số. Theo đó, các hoạt động của Tòa án sẽ có hệ thống thông tin được xử lý thông qua việc việc ứng dụng CNTTnhư lời khai được ghi âm, ghi hình thay cho bản ghi giấy, chứng cứ điện tử, tranh tụng điện tử (hoạt động tiền xét xử, sơ thẩm, phúc thẩm), truy cập dữ liệu điện tử.

Bên cạnh đó, tác giả cho rằng, sự ra đời của TAĐT trong TTDS có nhiều lợi ích như việc ghi âm, ghi hình thay cho việc ghi lại bằng văn bản sẽ giúp Tòa án tiến hành xử lý vụ việc được nhanh hơn. Việc áp dụng các công nghệ hiện đại trong Tòa án sẽ đảm bảo tính chính xác của hồ sơ vụ án và đúng thủ tục pháp lý. Khả năng tiếp cận các tài liệu của Tòa án dưới phương thức điện tử sẽ đẩy nhanh quá trình nghiên cứu pháp lý do các Thẩm phán, Luật sư và công chúng tiến hành, đồng thời có khả năng nâng cao chất lượng của các quyết định tư pháp và thúc đẩy hiểu biết chung về pháp quyền.

Hơn nữa, với phương thức TAĐT, người làm chứng và bị cáo khai báo tự nhiên hơn, ít mất thời gian kiềm chế cảm xúc. Phương thức này có một ưu điểm nữa là không làm lộ các tín hiệu phi ngôn ngữ như đỏ mặt, run giọng, đổ mồ hôi, cử chỉ… Bên cạnh đó, việc lưu trữ các tài liệu Tòa án trong một hệ thống máy tính và truy cập chúng theo cách từ xa cho phép các Thẩm phán tiến hành tìm kiếm các tiền lệ một cách nhanh chóng và hiệu quả. 

Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra những hạn chế mà phương thức TAĐT có thể gặp phải trong hệ thống Tư pháp Ba Lan như thiếu nhân lực có tay nghề. Theo đó, các Thẩm phán không thể chỉ ủy quyền hoặc trì hoãn cho quản trị viên hoặc nhân viên kỹ thuật về những vấn đề quan trọng liên quan đến vụ việc dân sự. Do đó, các Thẩm phán phải được đào tạo, phải tìm hiểu xem CNTT có thể mang lại lợi ích như thế nào cho các hoạt động khác nhau của Tòa án.

  1. Bài viết Justice Steven Chong (2019), “Judicial Reform: Reshaping the Civil Justice System in Singapore”[33] .Tác giả trình bày tiến trình cải cách toàn diện của hệ thống Tòa án Singapore trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ số, nhấn mạnh trọng tâm là việc xây dựng nền tảng e-Litigation – một hệ thống số hóa toàn bộ quy trình tố tụng dân sự. Theo đó, các bên có thể thực hiện hầu hết các hoạt động tố tụng qua phương thức điện tử, từ việc nộp đơn khởi kiện, tiếp cận chứng cứ, trao đổi tài liệu cho đến thanh toán án phí và nhận quyết định của Tòa. Việc triển khai e-Litigation không chỉ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí và nhân lực mà còn nâng cao mức độ minh bạch, tính dự đoán và khả năng giám sát của công chúng đối với hoạt động tư pháp.

Tác giả cũng ghi nhận những chuyển biến tích cực trong văn hóa tố tụng: quy trình “front-loading” (chuẩn bị hồ sơ trước khi xét xử) được áp dụng triệt để, tăng tính hiệu quả và giảm sự trì hoãn. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích rõ rệt, bài viết chỉ ra một số hạn chế trong giai đoạn đầu vận hành như chi phí đầu tư lớn, sự chênh lệch về năng lực sử dụng công nghệ giữa các Thẩm phán và Luật sư, cũng như yêu cầu phải sửa đổi đồng bộ các quy tắc tố tụng để phù hợp với môi trường số. Tác giả kết luận rằng, thành công của e-Litigation phụ thuộc vào cả hai yếu tố: năng lực kỹ thuật và sự thay đổi tư duy nghề nghiệp của đội ngũ tư pháp.

  1. Bài viết Ministry of Justice (2023), “HMCTS Reform Programme: Evaluation Progress Report”[34]. Báo cáo này tổng kết kết quả giữa kỳ của chương trình cải cách hệ thống Tòa án và Dịch vụ Tư pháp Anh (HMCTS Reform), được xem là một trong những nỗ lực lớn nhất của châu Âu trong việc số hóa nền tư pháp. Theo báo cáo, quá trình chuyển đổi hướng tới xây dựng một hệ sinh thái Tòa án điện tử toàn diện, trong đó mọi thủ tục – từ đăng ký vụ việc, xử lý hồ sơ, nộp chứng cứ cho đến tổ chức phiên tòa trực tuyến – đều được tích hợp qua một nền tảng kỹ thuật thống nhất.

Tác giả đánh giá rằng sự chuyển đổi này đã mang lại nhiều kết quả tích cực, đặc biệt là khả năng duy trì hoạt động xét xử liên tục trong bối cảnh đại dịch COVID-19, đồng thời giảm thiểu tình trạng quá tải và tồn đọng hồ sơ tại các Tòa án cấp sơ thẩm. Các dữ liệu thu thập cho thấy phần lớn người sử dụng dịch vụ hài lòng với tính nhanh chóng và thuận tiện của hệ thống. Tuy vậy, báo cáo cũng nêu lên các giới hạn về hạ tầng công nghệ, về chênh lệch trình độ kỹ năng số giữa các vùng, và vấn đề an toàn thông tin trong quá trình truy cập hồ sơ điện tử. Ngoài ra, các đánh giá định tính chỉ ra rằng yếu tố “nhân văn” trong xét xử – như tương tác trực tiếp giữa Thẩm phán và đương sự – có nguy cơ bị suy giảm nếu không được điều chỉnh hợp lý

  1. Marco Fabri (2024), “From Court Automation to e-Justice and Beyond in Europe”[35]. Trong công trình này, Marco Fabri khảo sát tiến trình chuyển đổi số của hệ thống tư pháp các quốc gia châu Âu trong giai đoạn hơn hai thập kỷ qua. Tác giả chỉ ra rằng, từ chỗ các nước chỉ chú trọng “tự động hóa hành chính Tòa án” (court automation), khuynh hướng hiện nay đã dịch chuyển sang “e-Justice” – tức là xây dựng một hệ sinh thái tư pháp điện tử, hướng tới minh bạch, tương tác và hiệu quả. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp so sánh và thống kê để minh chứng rằng mức độ đầu tư công nghệ thông tin có tương quan tích cực với năng suất giải quyết vụ việc và niềm tin công chúng vào cơ quan tư pháp.

Tác giả cũng nhấn mạnh rằng chuyển đổi số không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà còn liên quan đến cải cách thể chế, tổ chức và quản trị dữ liệu. Ông cảnh báo rằng việc thiếu khung pháp lý về bảo mật dữ liệu, quyền riêng tư và chuẩn định danh điện tử có thể tạo ra rủi ro pháp lý mới trong quá trình vận hành Tòa án điện tử. Cuối cùng, bài viết đề xuất mô hình “digital-ready judiciary” – tức hệ thống Tòa án được thiết kế từ đầu để vận hành trong môi trường số, thay vì chỉ số hóa các thủ tục cũ.

  1. Bài viết Jiahong Peng (2020), “The Rise of Smart Courts in China”[36].
    Tác giả phân tích quá trình hình thành và phát triển của mô hình “Tòa án thông minh” (Smart Court) do Tòa án Nhân dân Tối cao Trung Quốc khởi xướng từ năm 2016. Theo nghiên cứu, hệ thống này cho phép toàn bộ các bước của quá trình tố tụng – từ nộp đơn, tiếp nhận chứng cứ, hòa giải, tranh tụng đến ra bản án – đều được thực hiện trên nền tảng số. Đặc biệt, Trung Quốc đã ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn để tự động phân loại hồ sơ, đề xuất văn bản tố tụng mẫu, hỗ trợ Thẩm phán trong việc tra cứu án lệ và thậm chí gợi ý hướng giải quyết vụ việc.

Tác giả cho rằng sự kết hợp giữa công nghệ và tư pháp này giúp giảm tải cho hệ thống Tòa án, tăng tốc độ xét xử và nâng cao tính thống nhất trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra những rủi ro pháp lý đáng chú ý, bao gồm nguy cơ lệ thuộc vào thuật toán trong đánh giá chứng cứ, thiếu minh bạch trong quá trình vận hành hệ thống, và khó khăn trong bảo đảm quyền được xét xử công bằng của các đương sự. Công trình kết luận rằng, để duy trì tính chính danh của Tòa án, công nghệ cần được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của con người và pháp luật.

  1. Tình hình nghiên cứu trong nước

Đây không phải là vấn đề mới ở các nước trên thế giới, nhưng ở Việt Nam, dưới góc độ pháp lý thì số lượng các công trình nghiên cứu vẫn còn ở mức khiêm tốn. Chính vì thế, có thể kể đến các công trình nghiên cứu, cấp độ tổ chức thực hiện điển hình liên quan đến những vấn đề lý luận, thực tiễn và giải pháp hoàn thiện pháp luật về TAĐT sau đây:

  1. Bài viết Nguyễn Thành Minh Chánh, “Pháp luật về chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự ở Việt Nam”[37]. Tác giả cho rằng, giao tiếp điện tử trong và ngoài nước thông qua internet trở nên phổ biến, nơi mọi người có thể kinh doanh mọi lúc, mọi nơi, không biên giới. Sự tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực CNTT đã ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực và cách thức truyền thông. Điều này đã ít nhiều thay đổi trong đánh giá chứng cứ tại Tòa án khi truyền thông điện tử đang là xu hướng tất yếu. Pháp luật Việt Nam hiện hành thừa nhận giá trị chứng cứ của thông điệp dữ liệu. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, nhất là với sự lây lan của dịch bệnh Covid-19 thì mọi giao dịch hầu hết diễn ra trên không gian mạng.

Vì vậy, việc hoàn thiện và bảo đảm thực hiện đúng các quy định của pháp luật về chứng cứ điện tử càng trở nên cần thiết. Bài viết của tác giả tập trung phân tích khái niệm, phân loại, đặc điểm của chứng cứ điện tử. Đặc biệt, bài viết đánh giá khá sâu sắc pháp luật về chứng cứ trong TTDS ở Việt Nam hiện nay như vấn đề về xác thực chứng cứ điện tử, thu thập, bảo quản chứng cứ điện tử, sử dụng chứng cứ điện tử.

  1. Bài viết Nguyễn Thị Hồng Anh, Nguyễn Vũ Trang Nhung, Tô Hoàng Yến Nhi, Xét xử trực tuyến: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam[38]. Trong bài viết này, nhóm tác giả phân tích việc đưa phương thức xét xử trực tuyến áp dụng tại Việt Nam và từ kinh nghiệm của Trung Quốc, Hoa Kỳ để gợi mở một số vấn đề. Theo đó, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, tận dụng lợi thế của CNTT, số hóa và chuyển sang làm việc gián tiếp, trực tuyến đang là xu thế chung của mọi lĩnh vực. Đặc biệt, trước tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến hết sức phức tạp, để đảm bảo an toàn cho người dân, an toàn cộng đồng, nhiều tỉnh, thành phố phải áp dụng biện pháp cách ly toàn xã hội khiến cho hoạt động xét xử của Tòa án cũng bị gián đoạn. Điều này làm ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động Tư pháp, quyền và lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân; đòi hỏi phải sớm có giải pháp để đưa các vụ án ra xét xử theo đúng thời hạn luật định.

Vì vậy, việc tổ chức các phiên tòa trực tuyến là nhu cầu và là xu hướng phát triển của hoạt động Tư pháp ở Việt Nam. Từ mô hình TAĐT ở Trung Quốc và Hoa Kỳ, tác giả đưa ra kinh nghiệm cho Việt Nam khi xây dựng mô hình Tòa án trực tuyến là: Việc tổ chức phiên tòa trực tuyến phải tuân thủ các quy định của pháp luật; Bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng và các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật; Bảo đảm sự tôn nghiêm của phiên tòa; Việc tham gia vào các thủ tục xét xử trực tuyến này là tự nguyện, do các bên tham gia tố tụng được quyền lựa chọn; Cần đảm bảo sử dụng các đường truyền internet có kết nối mạnh, ổn định, tránh bị đứt quãng trong quá trình xét xử hoặc có một đường truyền, dịch vụ internet dành riêng cho ngành Tòa án để đáp ứng nhu cầu thiết lập một hệ thống tố tụng trực tuyến; Phải tập trung tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, vừa giỏi chuyên môn vừa giỏi CNTT để phục vụ đề án; Kết hợp cả xét xử trực tiếp (xét xử truyền thống) và xét xử trực tuyến cũng rất phù hợp với Việt Nam, khi mà ở nhiều vùng miền, khả năng tiếp cận với công nghệ của người dân còn yếu kém. Trong khi đó, mô hình xét xử trực tuyến vẫn sẽ là một mô hình lý tưởng bởi nó sẽ cắt giảm được rất nhiều chi phí phát sinh cho cả Tòa án và các đương sự.

  1. Bài viết Bùi Tiến Đạt, Nguyễn Bích Thảo, Trần Thị Trinh, Tòa án trực tuyến và quyền xét xử công bằng: kinh nghiệm quốc tế và triển vọng ở Việt Nam[39]. Theo nhóm tác giả, Tòa án trực tuyến (e-Court, sau đây viết tắt là “TATT”) thường được coi là một thành phần của hệ thống Tư pháp trực tuyến (e-Justice, sau đây viết tắt là “TPTT”) ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở Châu Âu. Trên khắp thế giới, các sáng kiến ​​về công lý trực tuyến và TATT vẫn đang là vấn đề mới bởi vì mô hình thủ tục tư pháp truyền thống sử dụng giao tiếp trực tiếp. 

Đặc biệt, nhóm tác giả đưa ra cách nhận diện một số hình thức biểu hiện của TATT: Tự động hóa Tòa án (Court Automation); Nộp đơn trực tuyến và tống đạt trực tuyến (eLodgment); Phiên tòa trực tuyến (eCourtroom, phòng xử án ảo); Hệ thống quản lý hồ sơ trực tuyến; Tòa án trực tuyến toàn diện (áp dụng toàn hệ thống công nghệ kỹ thuật số). Ngoài ra, Tòa án trực tuyến đem lại những lợi cho người tham gia tố tụng, cơ quan nhà nước.

  1. Bài viết Nguyễn Hòa Bình, Xây dựng Tòa án điện tử – một nhiệm vụ quan trọng của chiến lược cải cách tư pháp[40]. Theo đó, tác giả bài viết cho rằng nhiều nước chú trọng ứng dụng CNTT vào hoạt động tư pháp từ sớm và đạt được những thành tựu to lớn trong xây dựng TAĐT (như Mỹ, Australia, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Sing-ga-po, Trung Quốc…). Từ cung cấp dịch vụ hành chính tư pháp trực tuyến, tống đạt điện tử, cung cấp và tiếp nhận chứng cứ trực tuyến đến xét xử trực tuyến…đều được các quốc gia này thực hiện một cách thường xuyên và đang dần thay thế hoạt động tố tụng truyền thống.

Tòa án các nước triển khai nhiều phần mềm tố tụng điện tử với tính năng hiện đại để hỗ trợ người dân thực hiện các hoạt động tố tụng trên nền tảng số (từ khâu nộp đơn khởi kiện, cung cấp chứng cứ trực tuyến cho đến khi xét xử xong). Các phần mềm này cũng cho phép người dân giám sát tiến độ giải quyết vụ án của Tòa án, qua đó, làm tăng thêm sự thuận lợi, niềm tin và sự hài lòng của người dân. Cùng với đó, Tòa án các nước triển khai nhiều phần mềm tố tụng thông minh để hỗ trợ tối đa cho Thẩm phán trong quá trình nghiên cứu, xử lý vụ án (như tự động lập hồ sơ vụ án; tìm kiếm, tra cứu các văn bản pháp luật; tự tạo các văn bản pháp lý; tống đạt các quyết định tố tụng; xác minh thông tin; viết bản án…).

  1. Bài viết Nguyễn Hòa Bình, Xây dựng Tòa án điện tử – một nhiệm vụ quan trọng của chiến lược cải cách tư pháp[41]. Theo đó, Nguyễn Hòa Bình cho rằng, đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số và xây dựng TAĐT không còn là kế hoạch của tương lai, mà là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay, cần được cụ thể hóa để quyết liệt hoàn thành sớm. Đây là cơ hội để hệ thống Tòa án nước ta tiếp tục nâng cao niềm tin vào công lý của người dân, nâng cao hiệu quả hoạt động và xây dựng Tòa án hiện đại, theo yêu cầu của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Công cuộc chuyển đổi số và xây dựng TAĐT sẽ tạo ra những giá trị lớn lao, đóng góp quan trọng vào thành công của Chiến lược cải cách tư pháp nước ta, bắt kịp với xu hướng phát triển của tư pháp tiến bộ trên thế giới.

Đặc biệt, tác giả đưa ra định hướng xây dựng TAĐT ở Việt Nam là: Xây dựng TAĐT để hướng tới thực thi và nâng cao năng lực quản trị Tòa án trên nền tảng số; Xây dựng TAĐT để cung cấp các dịch vụ tư pháp công, nhằm phục vụ người dân tốt hơn; Xây dựng TAĐT để hỗ trợ Thẩm phán nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động; Xây dựng TAĐT để triển khai các hoạt động tố tụng trực tuyến; Xây dựng TAĐT để góp phần tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của Tòa án; Xây dựng TAĐT để kết nối với các nền tảng số khác. Bên cạnh đó, tác giả đã chỉ ra một số nhiệm vụ chính cần triển khai trong thời gian tới như xây dựng Chiến lược tổng thể về chuyển đổi số trong hệ thống Tòa án; Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật; Phát triển nguồn nhân lực CNTT.

  1. Bài viết Phan Trung Hoài, Xây dựng Tòa án điện tử góp phần tăng công khai, minh bạch và đảm bảo giám sát xã hội các hoạt động của Tòa án[42]. Theo đó, tác giả đưa ra các yêu cầu cho việc xây dựng TAĐT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay: Cần xây dựng TAĐT phải xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, lấy nhân dân làm trung tâm; Phù hợp với đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; Được tiến hành đồng bộ, gắn liền với đổi mới lập pháp, cải cách hành pháp, phù hợp với quy luật phát triển khách quan của xã hội Việt Nam, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho tổ chức, cá nhân, qua đó thúc đẩy phát triển đất nước, hội nhập quốc tế trong tình hình mới; TAĐT phải bảo đảm việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản và trình tự tố tụng thông thường đã được quy định trong Bộ luật, Luật Tố tụng đã ban hành.

Trong đó chú ý đến việc bảo đảm tiếp cận sự thật khách quan, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của công dân, các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng, tạo cơ chế giám sát hoạt động của Tòa án và giúp đánh giá năng lực, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của Thẩm phán, công chức Tòa án; Cần bảo đảm dân chủ hóa hoạt động tố tụng, thực hiện và đảm bảo nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm, tạo cơ hội cho Luật sư được bình đẳng trong việc đưa ra yêu cầu, đánh giá chứng cứ và tranh luận, đối đáp tại phiên tòa; Hoàn thiện các quy định pháp luật và quy trình nghiệp vụ, trong đó có hạ tầng pháp lý chính yếu của TAĐT bao gồm: (i) Pháp luật về tố tụng điện tử và các pháp luật khác liên quan tố tụng điện tử (trong đó sửa đổi, bổ sung nguyên tắc xét xử “trực tiếp và bằng lời nói” được quy định tại Điều 250 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 ; (ii) Pháp luật về CNTT, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo; (iii) Pháp luật về tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân và các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó cần bổ sung sửa đổi Luật Luật sư với điều luật tương thích tham gia tố tụng điện tử tại Tòa án; Cần quan tâm sửa đổi, bổ sung Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán (ban hành kèm theo Quyết định số 87/QĐ-HĐTC ngày 04/7/2018 của Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia); Quy tắc ứng xử của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp tại phiên tòa, phiên họp của Tòa án (ban hành kèm theo Quyết định số 46/QĐ-VKSTC ngày 20/02/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao); Và Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư (do Hội đồng Luật sư toàn quốc thông qua ngày 13/12/2019), làm cơ sở xây dựng văn hóa pháp đình điện tử.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

KHO TÀI LIỆU.rar\TÀI LIỆU 2026 – RAR archive, unpacked size 89,009,929 bytes/ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ TÒA ÁN ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ TÒA ÁN ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ TÒA ÁN ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ TÒA ÁN ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAMTHỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ TÒA ÁN ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ TÒA ÁN ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ TÒA ÁN ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ TÒA ÁN ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ TÒA ÁN ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *