Quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Quảng Ngãi

Quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Quảng Ngãi

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động tín dụng ngân hàng là hoạt động cơ bản, mang tính phổ biến và có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh tế – xã hội. Vì thế, rủi ro tín dụng (RRTD) ngân hàng không chỉ là nguy cơ cá biệt đối với mỗi ngân hàng thương mại; mà còn là nỗi lo chung, mối quan tâm sâu sắc của cả hệ thống ngân hàng trong từng quốc gia và trên phạm vi toàn cầu khi mức độ hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang diễn ra ngày càng sâu, rộng.

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nên hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thông qua kênh tín dụng thời gian qua cũng đã phát lộ không ít các nguy cơ dẫn đến RRTD. RRTD là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra tổn thất nghiêm trọng ảnh hưởng đến chất lượng kinh doanh của ngân hàng. Hậu quả của RRTD gây ra những ảnh hưởng xấu đối với ngân hàng như: tăng thêm chi phí, giảm thu nhập, làm xấu đi tình hình tài chính và uy tín của ngân hàng; nếu rủi ro ở mức độ lớn sẽ làm phát sinh những rủi ro mới như rủi ro mất khả năng thanh toán có thể làm cho ngân hàng đến bờ vực phá sản, hoặc tạo nên hiệu ứng dây chuyền bất lợi trong lĩnh vực ngân hàng.

Hoạt động tín dụng của các NHTM ngoài ngoài việc tạo ra các “kênh bơm, hút và dẫn lưu” các dòng vốn, còn được coi là các chỉ báo quan trọng phản ánh “sức khỏe của nền kinh tế” ở mỗi quốc gia và trên phạm vi toàn cầu. Kết quả nghiên cứu về hoạt động tín dung của các NHTM đã chỉ ra rằng: RRTD là loại rủi ro cơ bản nhất và chiếm khoảng 70% trong tổng rủi ro hoạt động của các NHTM. Bởi vậy, quản trị RRTD phải được thiết lập và không ngừng hoàn thiện trong hoạt động tín dụng ở mỗi NHTM đã trở thành nhu cầu cần thiết khách quan.

Nhận thức rõ nguy cơ này, Chính phủ; mà trực tiếp là NHNN đã thiết lập hàng rào pháp lý và liên tục hướng dẫn các NHTM nước ta thực hiện quản trị RRTD nhằm sớm phát hiện và kịp thời ngăn chặn những tác động xấu do RRTD gây ra. Nhờ đó, hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam đã vượt qua được vô vàn khó khăn trong các năm từ 2008 đến 2015; để rồi có thể phục hồi trở lại kể từ năm 2016. Cuối năm 2019 đến nay hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam; đặc biệt là Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB) lại đang phải đối mặt với RRTD do đại dịch COVID-19 gây ra. Chưa có được những thống kê đầy đủ về RRTD từ đại dịch này. Nhưng đây cũng là dịp cảnh báo cho các NHTM nói chung, OCB nói riêng, về những tình huống mới dẫn đến RRTD có thể phát sinh bất cứ lúc nào. OCB Chi nhánh Quảng Ngãi, cùng không phải là ngoại lệ.

Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2023, có thể thấy các doanh nghiệp nước ta chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chiếm trên 97% số doanh nghiệp cả nước, giải quyết việc làm khoảng 36% tổng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp, thu hút khoảng 32% tổng nguồn vốn, tạo ra doanh thu thuần chiếm khoảng 26% tổng doanh thu thuần của khối doanh nghiệp. Từ những con số trên có thể thấy, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm một vị thế quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung và phát triển công nghiệp hỗ trợ nói riêng. Tuy nhiên, thực trạng yếu kém trong công khai, minh bạch tài chính và kế hoạch kinh doanh từ phía DNNVV là không thể phủ nhận, thậm chí là chậm tiến bộ; nhiều doanh nghiệp muốn vay nhưng không chứng minh được khả năng trả nợ, mặt khác có nhiều doanh nghiệp được ngân hàng mời chào vay nhưng lại chưa có nhu cầu vay. Bên cạnh đó, trong bối cảnh phục hồi lại xuất hiện hai nghịch lý, đó là: các ngân hàng đang phải ôm một lượng tiền gửi lớn chưa từng có của người dân từ trước đến nay, trong khi tín dụng tăng chậm dù lãi suất cho vay giảm; Tiền dư, lãi suất giảm nhưng doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng không thể tiếp cận do Ngân hàng lo ngại về rủi ro tín dụng đối với nhóm đối tượng này.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của quản trị RRTD đối với các NHTM trong điều kiện hiện nay, học viên đã lựa chọn đề tài: “Quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Quảng Ngãi”, để nghiên cứu luận văn Thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát:

Nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản trị RRTD đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của OCB Chi nhánh Quảng Ngãi thời gian qua, chỉ ra được các tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và đề xuất được các giải pháp có tính khả thi nhằm tăng cường quản trị RRTD đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của OCB CN Quảng Ngãi trong thời gian tới.

Mục tiêu cụ thể:

  • Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài;
  • Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận về quản trị RRTD đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong các NHTM;
  • Phân tích đánh giá thực trạng quản trị RRTD đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của OCB Chi nhánh Quảng Ngãi, dựa trên hệ tiêu chí đã được xác lập; chỉ rõ những thành quả, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong quản trị RRTD đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của OCB Chi nhánh Quảng Ngãi trong thời gian nghiên cứu.
  • Đề xuất được các giải pháp nhằm hoàn thiện quản trị RRTD đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của OCB Chi nhánh Quảng Ngãi, giai đoạn 2019 – 2022 và định hướng đến năm 2030.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động quản trị RRTD tại Ngân hàng thương mại.

Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của OCB – CN Quảng Ngãi trong tổ chức quản trị RRTD đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Về không gian: Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quản trị RRTD đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của OCB CN Quảng Ngãi.

Về thời gian: Nghiên cứu đánh giá thực trạng quản trị RRTD đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của OCB CN Quảng Ngãi, giai đoạn 2019 – 2022; đề xuất giải pháp tằng cường quản trị RRTD đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ cho giai đoạn 2024 – 2025 và định hướng đến 2030.

4. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận tổng quát và xuyên suốt được sử dụng trong nghiên cứu và hoàn thành đề tài luận văn là phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lenin.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể đã được sử dụng, bao gồm:

– Phương pháp nghiên cứu và tổng hợp tại bàn được áp dụng chủ yếu trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn; phương pháp này đặc biệt được sử dụng nhiều nhất trong quá trình khảo cứu thu thập tư liệu để xác định định hướng nghiên cứu, chọn lọc tư liệu phục vụ cho nghiên cứu, đánh giá thực tiễn quản trị RRTD của đối tượng nghiên cứu.

– Phương pháp thống kê được sử dụng chủ yếu để xác lập tiêu chí, chọn mẫu, phân tổ phục vụ cho quá trình thu thâp dữ liệu nghiên cứu đáp ứng yêu cầu của đề tài.

– Phương pháp phân tích kinh tế được sử dụng chủ yếu trong đánh giá tình hình thực tế triển khai quản trị RRTD đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bằng việc so sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để đánh giá tình khoa học, tính thực tiễn của số liệu kế hoạch đã đạt ở mức độ nào? So sánh liên hoàn giữa số thực hiện năm sau với số thực hiện năm trước để đánh giá xu hướng phát triển của đối tượng nghiên cứu.

– Phương pháp dự báo được sử dụng chủ yếu để xác lập mục tiêu và dự đoán kết quả có thể đạt được từ các giải pháp hoàn thiện quản trị RRTD đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại.

Quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông - Chi nhánh Quảng Ngãi
Quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Quảng Ngãi

5. Bố cục đề tài

Ngoài Mở đầu, Kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày theo 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của OCB CN Quảng Ngãi giai đoạn 2019 – 2022

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại OCB CN Quảng Ngãi.

6. Tổng quan tình hình nghiên cứu

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO

TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1. Khái niệm

Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.

Có nhiều loại tín dụng, như là tín dụng nhà nước, tín dụng doanh nghiệp, tín dụng cá nhân và tín dụng ngân hàng. Có thể hiểu “Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”.

Có thể nói, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng tài sản (vốn) giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong nền kinh tế mà ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay (con nợ) và vừa là người cho vay (chủ nợ).

Tín dụng ngân hàng bao gồm các hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính. Vì vậy, tín dụng là một khái niệm rộng hơn cho vay bởi nó bao hàm cả cho vay; tuy nhiên trong hoạt động tín dụng thì nghiệp vụ cho vay lại là nghiệp vụ quan trọng nhất, cơ bản nhất và chiếm tỷ trọng lớn ở hầu hết các NHTM. Do đó, thuật ngữ tín dụng và cho vay thường được dùng thay thế cho nhau.

1.1.2. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng

Thứ nhất, cơ sở quyết định một khoản tín dụng là lòng tin của ngân hàng về việc sử dụng vốn vay đúng mục đích của khách hàng và có khả năng hoàn trả nợ vay đúng hạn. Còn người đi vay thì tin tưởng vào khả năng kiếm được tiền trong tương lai để trả nợ gốc và lãi vay.

Thứ hai, tín dụng là sự chuyển giao quyền sử dụng một số tiền (hiện kim) hoặc tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ thể khác, chứ không làm thay đổi quyền sở hữu chúng. Tín dụng cấp cho khách hàng là từ nguồn vốn huy động của ngân hàng mà chủ yếu là tiền gửi của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước. Do đó, khách hàng nhận được khoản vay chỉ nắm giữ mang tính chất “tạm thời” và sử dụng vào mục đích đã cam kết với ngân hàng.

Thứ ba, tín dụng bao giờ cũng có thời hạn và phải hoàn trả vô điều kiện. Ngân hàng thực hiện chức năng “đi vay để cho vay”, do đó mọi khoản tín dụng đều phải có thời hạn để đảm bảo cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động khi khách hàng gửi tiền cần rút hoặc ngân hàng lại sử dụng nguồn vốn đó cho khách hàng khác vay. Chính vì khách hàng không phải là chủ sở hữu thực sự của số tiền vay nên đương nhiên phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay này cho ngân hàng.

Thứ tư, giá trị tín dụng không những được bảo toàn mà còn được nâng cao nhờ lợi tức tín dụng. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, bởi khách hàng phải trả giá cho quyền sử dụng vốn vay. Khoản lợi tức này luôn dương để bù đắp chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.

Thứ năm, đặc trưng bản chất nhất của tín dụng là tiềm ẩn rủi ro cao. Cho dù khách hàng có thiện chí trả nợ nhưng nếu gặp môi trường kinh doanh bất lợi, biến động các chỉ số kinh tế, sự cố bất khả kháng… thì cũng dễ gây ra khó khăn trong việc trả nợ và tất yếu ngân hàng gặp RRTD.

1.1.3. Phân loại tín dụng ngân hàng

Nhằm bắt kịp xu thế phát triển của thị trường, đáp ứng nhu cầu của khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh, các NHTM luôn quan tâm nghiên cứu phát triển các hình thức tín dụng. Việc phân loại tín dụng trở nên cần thiết và được thực hiện một cách khoa học để xây dựng các quy trình cho vay phù hợp và nâng cao hiệu quả công tác quản trị RRTD.

1.1.3.1. Căn cứ vào hình thức tín dụng

Cho vay: Là việc ngân hàng giao cho khách hàng một khoản tiền để khách hàng sử dụng vào mục đích và thời gian theo thỏa thuận của đôi bên với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi, bao gồm: Cho vay từng lần, Cho vay theo hạn mức tín dụng, Cho vay theo hạn mức thấu chi, Cho vay trả góp, Cho vay hợp vốn (Đồng tài trợ), Cho vay luân chuyển.

Chiết khấu: Nếu các giấy tờ có giá (trái phiếu, thương phiếu..) chưa đáo hạn thì ngân hàng có thể cấp cho khách hàng một khoản tiền bằng mệnh giá của giấy tờ có giá trừ đi lãi chiết khấu và phí hoa hồng.

Bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết. Phân theo mục tiêu có các loại bảo lãnh như sau: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền ứng trước, bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán.

Cho thuê tài chính: Là việc ngân hàng tự bỏ tiền ra mua tài sản cố định cho khách hàng thuê với những điều kiện nhất định và có thời hạn cam kết sao cho ngân hàng phải thu gần đủ (hoặc thu đủ) giá trị của tài sản cho thuê và có lãi. Hết hạn thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản đó.

Các hình thức cấp tín dụng khác: Thẻ ghi nợ, bao thanh toán, L/C,…

1.1.3.2. Căn cứ vào mục đích tín dụng

Tín dụng bất động sản: Là các khoản tín dụng liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai, cơ sở dịch vụ.

Tín dụng công thương nghiệp: Các khoản tín dụng bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.

Tín dụng nông nghiệp: Là các khoản tín dụng cấp cho các hoạt động nông nghiệp nhằm trợ giúp hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng, chăn nuôi gia súc.

Tín dụng tiêu dùng: Là khoản tín dụng cấp cho cá nhân, hộ gia đình để mua sắm hàng hóa tiêu dùng đắt tiền như ô tô, nhà, laptop, di động, trang thiết bị trong nhà…

1.1.3.3 Căn cứ vào thời hạn tín dụng

Tín dụng ngắn hạn: Có thời hạn cho vay đến 12 tháng (dưới 1 năm), chủ yếu được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.

Tín dụng trung hạn: Có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng (trên 1 năm – 5 năm), thường được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ với thời gian thu hồi vốn nhanh.

Tín dụng dài hạn: Có thời hạn cho vay trên 60 tháng (trên 5 năm), thường được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu đầu tư dài hạn như xây dựng nhà ở, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.

1.1.3.4. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm

Tín dụng không có bảo đảm: Là tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp hay không có bảo lãnh của người thứ ba. Loại tín dụng này áp dụng cho khách hàng truyền thống, khả năng tài chính mạnh và hệ số tín nhiệm cao.

Tín dụng có bảo đảm: Là loại tín dụng được cấp có thế chấp, cầm cố bằng tài sản (của bên vay hoặc bên thứ ba). Sự bảo đảm này là biện pháp đảm bảo cho ngân hàng có được nguồn thu nợ thứ hai khi khách hàng không có hoặc không đủ khả năng hoàn trả nợ đúng hạn.

1.1.3.5. Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay

Tín dụng có thời hạn: Là loại tín dụng có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợp đồng. Tín dụng có thời hạn gồm: Tín dụng hoàn trả một lần,Tín dụng trả góp, Tín dụng trả nhiều lần không có kì hạn cụ thể

Tín dụng không có thời hạn cụ thể: ngân hàng có thể yêu cầu hoặc người đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào với điều kiện phải báo trước cho ngân hàng.

1.1.3.6. Căn cứ vào xuất xứ tín dụng

Tín dụng trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.

Tín dụng gián tiếp: Là khoản cấp vốn thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.

1.1.3.7. Căn cứ vào chủ thể vay vốn

Tín dụng doanh nghiệp (Tín dụng bán buôn): Ngân hàng cho doanh nghiệp vay những khoản vay có giá trị lớn.

Tín dụng cá nhân, hộ gia đình (Tín dụng bán lẻ): Những đối tượng này vay những khoản vay có giá trị nhỏ nhằm vào mục đích tiêu dùng.

Tín dụng cho các định chế tài chính: Đây là khoản tín dụng cấp cho các ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác.

1.1.3.8. Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng

Tín dụng bằng tiền: Là tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng tiền mặt, hay chính là cho vay.

Tín dụng bằng tài sản: Là tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng tài sản, đây chính là hình thức cho thuê tài chính.

Tín dụng bằng uy tín: Là tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng uy tín. Hình thức tín dụng này là Bảo lãnh ngân hàng.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024/ Quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *