Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết đề tài

Thực tiễn hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới đã tạo ra nhiều thời cơ cho đất nước trong việc thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhất là việc khai thác tiềm năng, lợi thế so sánh, mở rộng quan hệ đối ngoại, thương mại, thu hút đầu tư, phát triển DN, thị trường, sản phẩm,v.v… Tuy nhiên, đất nước cũng đối mặt không ít khó khăn, thách thức và nguy cơ khi thực trạng năng lực phát triển và xuất phát điểm còn thấp, KHCN còn hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, nhất là bộ phận DN – thực thể quan trọng tạo nên khối lượng lớn GDP, giá trị sản xuất, kim ngạch xuất khẩu, vốn đầu tư, giải quyết việc làm cho người lao động,v.v… có NLCT thấp, trong đó có nhóm DN CBTS đang khai thác mạnh mẽ tiềm năng kinh tế biển của cả nước. Thực tế đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước và chính các DN CBTS cần có cơ chế, chính sách, giải pháp phù hợp để đảm bảo NLCT trong xu thế hội nhập và phát triển đương đại.

Thành phố Đà Nẵng là một trong 28 tỉnh, thành phố ven biển của cả nước và một trong 14 tỉnh, thành phố có 92 km bờ biển của khu vực miền Trung, có 6/8 quận, huyện với hơn 80% dân số của thành phố đang sinh sống tiếp giáp với biển (bao gồm huyện đảo Hoàng Sa), đến năm 2016 có 25 DN hoạt động trong lĩnh vực CBTS, giải quyết việc làm cho hơn 6.000 lao động, vốn đầu tư sản xuất kinh doanh đạt trên 2.500 tỷ đồng, sản phẩm chủ lực của các DN là thủy sản đông lạnh có sản lượng đạt gần 20.000 tấn, tập trung chủ yếu vào các thị trường như: Nhật, EU, Mỹ, Hàn Quốc,v.v…

Tuy nhiên, hiện nay các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng đang bộc lộ các hạn chế như: chưa chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc, thiết bị, sản xuất còn nặng về gia công, chế biến thô, giá trị gia tăng của sản phẩm thấp, thiếu tính bền vững; dư thừa năng lực sản xuất, không sử dụng hết công suất thiết kế trong khi thị trường tiêu thụ nội địa còn đang bỏ ngỏ; nguồn nguyên liệu thủy sản phục vụ chế biến còn thiếu trong khi chất lượng chưa được kiểm soát, đảm bảo; vấn đề ô nhiễm môi trường,v.v…

Bên cạnh đó, áp lực hội nhập ngày càng cao khi hàng rào thuế quan được dỡ bỏ, hàng rào kỹ thuật, bảo hộ thương mại như các nội dung về an toàn thực phẩm, hóa chất, kháng sinh, chống bán phá giá, chống trợ cấp… sẽ gia tăng và ngày càng tinh vi, khắt khe hơn; sức ép cạnh trạnh với các sản phẩm nhập khẩu với giá rẻ, chất lượng tốt, mẫu mã đa dạng, đặc biệt vấn đề ô nhiễm môi trường biển miền Trung đầu năm 2016 đã gây khủng hoảng niềm tin nghiêm trọng đối với chất lượng hàng thủy sản cho người tiêu dùng trong và ngoài nước; vấn đề chủ quyền biển đông là sự trăn trở lớn đối với các DN khi nguồn nguyên liệu khai thác để chế biến chịu tác động trực tiếp,v.v…

Do vậy, để tồn tại và phát triển, đóng góp tích cực vào mục tiêu xây dựng và phát triển TP Đà Nẵng, các DN CBTS trên địa bàn TP cần có giải pháp, bước đi phù hợp, đồng thời các cơ quan chức năng cần kịp thời có giải pháp hỗ trợ, ban hành các cơ chế, chính sách hiệu quả để nâng cao NLCT trong bối cảnh hội nhập ngày càng đi vào chiều sâu và áp lực. Với nhận định đó, Tôi mạnh dạn lựa chọn Đề tài “Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” làm Luận văn tốt nghiệp, Luận văn đi sâu vào việc nghiên cứu thực trạng NLCT và các nhân tố tác động đến NLCT của các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng trong thời gian qua để làm cơ sở đề xuất các giải pháp phù hợp nâng cao NLCT trong thời gian đến.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn là nghiên cứu thực trạng NLCT và các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng trong thời gian qua, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao NLCT của DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu của luận văn là NLCT và các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

– Phạm vi đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện với các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng. Đối với các nhân tố tác động đến NLCT của DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng, Luận văn tập trung nghiên cứu tác động của các nhân tố bên trong đến NLCT của DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng.

– Phạm vi thời gian nghiên cứu: số liệu sử dụng trong Luận văn được thu thập trong giai đoạn 2011-2016.

– Phạm vi không gian nghiên cứu: nghiên cứu lấy đối tượng là các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng.

4. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng.

Nghiên cứu định tính nhằm đánh giá thực trạng NLCT và khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của DN CBTS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Nghiên cứu định lượng để xây dựng thang đo và đo lường các nhân tố tác động đến NLCT của DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng.

Công cụ xử lý số liệu được sử dụng trong luận văn là phần mềm SPSS với các công cụ chủ yếu như: phân tích nhân tố khám phá EFA; kiểm định Cronbach’s Alpha; phân tích phương sai, tương quan và hồi quy…

5. Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, Luận văn được chia thành 4 chương được trình bày với kết cấu như sau:

Chương 1. Cơ sở lý luận

Chương 2. Thiết kế nghiên cứu

Chương 3. Kết quả nghiên cứu

Chương 4. Kết luận và hàm ý chính sách

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN NĂNG LỰC CẠNH TRANH

CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. CẠNH TRANH

1.1.1. Khái niệm cạnh tranh

Hiện nay có nhiều khái niệm, cách hiểu và định nghĩa khác nhau về CT, trong bối cảnh thuật ngữ CT ngày càng phổ biến do tính phổ dụng và nhu cầu nghiên cứu từ nhiều đối tượng, cần có cách hiểu cơ bản và thống nhất để tạo tiền đề cho việc nghiên cứu một cách có hệ thống.

Từ những định nghĩa trên, có thể thấy về cơ bản, cạnh tranh là quá trình một chủ thể nỗ lực vượt qua đối thủ của mình để đạt được một hay một số mục tiêu nhất định [35]. Từ những định nghĩa và các cách hiểu không giống nhau trên cho thấy, CT không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau giữa các chủ thể tham gia, mà CT là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp. CT góp phần cho sự tiến bộ của khoa học, giúp cho các chủ thể tham gia biết quý trọng hơn những cơ hội và lợi thế mà mình có được, cạnh tranh mang lại sự phồn thịnh cho đất nước… Thông qua CT, các chủ thể tham gia xác định cho mình những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội và thách thức trước mắt và trong tương lai, để từ đó có những hướng đi có lợi nhất cho mình khi tham gia vào vấn đề cạnh tranh.

1.1.2. Phân loại các loại hình cạnh tranh

Tùy theo khía cạnh và giác độ phân loại có thể có nhiều hình thức cạnh tranh khác nhau, một số hình thức cơ bản như sau:

a. Căn cứ vào chủ thể tham gia

b. Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế

c. Căn cứ vào tính chất (trạng thái) cạnh tranh

d. Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh

đ. Theo lĩnh vực cạnh tranh

1.1.3. Chức năng của cạnh tranh

Thứ nhất, nhằm điều chỉnh quan hệ giữa cung và cầu, chức năng này còn được gọi là chức năng đảm bảo độ thỏa dụng của người tiêu dùng.

Thứ hai, nó định hướng việc sử dụng các nhân tố sản xuất vào những nơi có hiệu quả nhất, làm cực tiểu tổng giá thành của sản xuất xã hội, chức năng này còn gọi là chức năng phân bổ các nguồn lực của cạnh tranh.

Thứ ba, nó tạo điều kiện cho việc thích ứng linh hoạt với sự biến động của cầu và công nghệ sản xuất.

Thứ tư, phân phối lại thu nhập một cách hợp lý.

Thứ năm, thúc đẩy đổi mới, chức năng này còn gọi là chức năng kích thích tiến bộ khoa học.

1.2. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.2.1. Khái niệm

Khái niệm NLCT được xuất hiện và đề cập lần đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1980. Cùng với sự phát triển vượt bậc của các lĩnh vực kinh tế, chính trị, đầu tư, tài chính,… trong những năm gần đây, khái niệm NLCT ngày càng nhận được sự quan tâm, phổ biến hơn và được thảo luận, tranh luân trong nhiều Chương trình, Hội nghị, Hội thảo, Nghị sự cấp quốc gia và quốc tế. Theo đó, cũng còn có khá nhiều cách hiểu khác nhau, bản chất NLCT và NLCT của DN bởi nhiều nhà nghiên cứu, học giả và nguồn nghiên cứu như sau:

a. Năng lực cạnh tranh

b. Về Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Nhìn chung, một khái niệm NLCT của DN phù hợp nhất trong bối cảnh hiện tại có thể là “khả năng duy trì và nâng cao LTCT trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững”.

1.2.2. Lý thuyết năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên năng lực (CVB)

Lý thuyết dựa trên năng lực thông qua một tập hợp các khái niệm nền tảng của các thực thể nguyên thủy mà nó đại diện và sử dụng làm cơ sở cho việc phân tích DN, thị trường và sự tương tác của chúng (cả CT và hợp tác). Các thực thể này bao gồm: Tài sản, Khả năng, Năng lực.

1.2.3. Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xét từ các yếu tố bên trong

a. Trình độ và năng lực tổ chức quản lý doanh nghiệp

b. Năng lực marketing

c. Năng lực tài chính là nhân tố quan trọng thúc đẩy mở rộng sản xuất

d. Trình độ và năng lực tiếp cận, đổi mới khoa học công nghệ

e. Năng lực tổ chức dịch vụ

f. Năng lực tạo lập các mối quan hệ

g. Trình độ lao động trong DN

h. Trình độ nghiên cứu phát triển của DN.

Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

1.2.4. Các tiêu chí đánh giánăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

a. Khả năng duy trì và mở rộng thị phần

b. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm

c. Năng lực duy trì và nâng cao hiệu quả kinh doanh

d. Năng suất các yếu tố sản xuất

e. Khả năng thích ứng và đổi mới

f. Khả năng thu hút nguồn lực

g. Khả năng liên kết và hợp tác của doanh nghiệp

1.2.5. Quy trình lượng hoá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

a. Khảo sát định tính nhằm xác định các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Để đảm bảo tính hiệu quả xuyên suốt quá trình nghiên cứu, ứng dụng việc lượng hóa NLCT, trước tiên cần xác định tính cần thiết và quan trọng của bước khảo sát định tính nhằm xác định các nhân tố tác động đến NLCT của DN. Việc chuẩn hóa phù hợp các nhân tố tác động đến NLCT ngay trong giai đoạn đầu của quá trình nghiên cứu sẽ rút ngắn thời gian hoàn thành trong giai đoạn sau, tiết kiệm được thời gian chỉnh sửa hoặc hiệu chỉnh về sau.

b. Tiến hành khảo sát định lượng năng lực cạnh tranh

Sau khi xác định được các nhân tố tác động đến NLCT của DN, tiếp theo thực hiện bước khảo sát định lượng NLCT thực tế trên cơ sở áp dụng các yếu tố cấu thành nêu trên [46].

Bước 1: Xây dựng mô hình nghiên cứu (đề xuất hoặc đề nghị)

Bước 2: Các giả thuyết về mối quan hệ các nhân tố trong mô hình

Bước 3: Xây dựng thang đo

Bước 4: Thiết kế bảng câu hỏi

Bước 5: Phỏng vấn thử

Bước 6: Chọn mẫu phù hợp với tổng thể nhằm đảm bảo tính đại diện.

Bước 7: Triển khai thu thập thông tin và phân tích số liệu

Bước 8: Sử dụng hiệu quả thông tin có được từ phân tích số liệu nhằm xây dựng mục tiêu và chiến lược phù hợp.

1.2.6. Một số mô hình lý thuyết về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

a. Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Micheal Porter

b. Mô hình nghiên cứu lý thuyết đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam của Phạm Thu Hương

c. Mô hình khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế của GS.TS Hồ Đức Hùng – Viện Nghiên cứu Kinh tế phát triển thuộc Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

1.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

CHƯƠNG 2
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

2.1. TỔNG QUAN VỀ CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH

2.1.1. Quy mô doanh nghiệp và lao động

Theo số liệu từ Sở Công thương TP. Đà Nẵng, đến năm 2016 so với tổng số các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng thì số DN có hơn 500 lao động chiếm 8%, quy mô 200 đến dưới 500 lao động và dưới 10 lao động cùng chiếm 12% và còn lại là 68% có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 lao động. Điều này cho thấy hầu hết các DN này ở quy mô DN nhỏ và vừa, nó phù hợp với thực trạng chung của thành phố, kể cả ở các lĩnh vực khác như: gia dày, may mặc, điện tử,v.v…

2.1.2. Quy mô vốn đầu tư, sản xuất kinh doanh

Tổng vốn sản xuất kinh doanh của các DN CBTS năm 2013 đạt khoảng 2.100 tỷ đồng, tăng bình quân 19%/năm trong giai đoạn 2009-2013 nhưng chỉ chiếm 3,3% tổng vốn sản xuất kinh doanh của các DN toàn ngành công nghiệp thành phố. Tổng vốn đầu tư thu hút vào các DN CBTS trên địa bàn TP (ngành CBTS) giai đoạn 2010-2015 ước khoảng 400 tỷ đồng, chỉ chiếm 1,25% tổng vốn đầu tư trong giai đoạn của toàn ngành công nghiệp. Trong số 25 DN hiện có, số DN CBTS có quy mô trên 100 tỷ đồng chỉ chiếm 12%, từ 01 tỷ đồng đến dưới 10 tỷ đồng và từ 10 tỷ đồng đến dưới 50 tỷ đồng cùng chiếm 20%, từ 50 tỷ đồng đến dưới 100 tỷ đồng chiếm 24% và 24% cũng là số DN có quy mô dưới 01 tỷ đồng.

2.1.3. Sản phẩm và năng lực sản xuất

Thủy sản chế biến khác bao gồm các sản phẩm thủy sản đóng hộp, khô, sấy, hấp, hun khói, tẩm gia vị, xay nhỏ, làm chả… Tổng công suất sản xuất các loại sản phẩm thủy sản chế biến ước khoảng 5.200 tấn/năm. Sản lượng năm 2015 ước khoảng 2.800 tấn/năm, bằng 53,8% công suất thiết kế.

2.1.4. Thị trường tiêu thụ và nguyên liệu

Thị trường tiêu thụ sản phẩm chủ yếu của các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng là xuất khẩu với 75,3% trong cơ cấu thị trường tiêu thụ, tiêu thụ tại Đà Nẵng là 15,7%, còn lại tiêu thụ tại các địa phương khác. Tuy nhiên phần lớn sản phẩm tiêu thụ tại Đà Nẵng thực chỉ ở quy mô gia công cho đơn vị khác xuất khẩu. Trong cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản, Nhật Bản là thị trường quan trọng nhất với 35% tổng kim ngạch, Châu Âu (EU) chiếm khoảng 25%, Mỹ 20%, Hàn Quốc 15%, còn lại là các thị trường khác.

2.1.5. Trình độ công nghệ và quản lý

Các DN CBTS trên địa bàn thành phố khá năng động trong việc tiếp thu, đổi mới, nâng cao trình độ quản lý và quảng bá sản phẩm. Hiện nay đã có 12/25 doanh nghiệp được chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế (ISO 9001, ISO 14001, ISO 22000, HACCP,…); các thương hiệu thủy sản nổi tiếng của thành phố như Seaprodex, Thuận Phước, Danafish,… Điều này được phản ánh qua thực tế các sản phẩm thủy sản của các DV đã được xuất khẩu đến các thị trường yêu cầu khắt khe về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm như Nhật, Mỹ và EU.

2.2. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.2.1. Trình độ và năng lực tổ chức quản lý doanh nghiệp

– DN có bộ máy tổ chức hoạt động hiệu quả, linh hoạt

– DN hoạch định được các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh doanh tốt

– Việc bố trí sắp xếp và thay thế nhân sự luôn đảm bảo tốt cho các hoạt động SXKD của DN

– Năng lực lãnh đạo của chủ DN

2.2.2. Năng lực marketing

– Khả năng đáp ứng nhu cầu, thị hiếu khách hàng của DN luôn đảm bảo

– DN luôn phản ứng tốt với đối thủ cạnh tranh

– DN có khả năng thích ứng tốt với biến động của môi trường

– Chiến lược phát triển các hoạt động marketing của DN luôn phát huy hiệu quả

– Chất lượng mối quan hệ của DN với khách hàng luôn đảm bảo

2.2.3. Năng lực tài chính

– Quy mô nguồn vốn của DN

– Khả năng huy động vốn

– Khả năng thanh toán

– Khả năng sinh lời của vốn kinh doanh

2.2.4. Trình độ và năng lực tiếp cận, đổi mới khoa học công nghệ

– Mức độ cập nhật và ứng dụng công nghệ mới vào hoạt động SXKD

– Mức độ đầu tư vào nghiên cứu và triển khai (R&D) công nghệ

– Nguồn vốn dành cho đổi mới công nghệ

– Khả năng ứng dụng công nghệ mới vào hoạt động SXKD

2.2.5. Năng lực tổ chức dịch vụ

– Thái độ và cung cách phục vụ của nhân viên

– Năng lực phục vụ của nhân viên

– Tạo được niềm tin cho khách hàng

Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

2.2.6. Năng lực tạo lập các mối quan hệ

– Khả năng quan hệ với nhà cung cấp

– Khả năng quan hệ với các nhà phân phối

– Khả năng quan hệ với các tổ chức tín dụng

– Khả năng liên minh, liên kết với các DN cùng ngành

– Khả năng quan hệ với các cấp chính quyền tại địa phương

2.2.7. Trình độ lao động trong doanh nghiệp

– Khả năng nắm bắt công việc

– Khả năng hoàn thành công việc theo tiến độ

– Khả năng ứng dụng công nghệ trong công việc

– Khả năng sử dụng các kỷ năng mềm trong xử lý công việc

2.2.8. Trình độ nghiên cứu phát triển của DN

– Khả năng cải tiến kỹ thuật của DN

– Khả năng cải tiến mẫu mã và chất lượng sản phẩm

– Khả năng nâng cao năng suất lao động và hợp lý hóa sản xuất

2.3. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Các nghiên cứu trước đây và cơ sở lý thuyết cho thấy, mô hình trên là mô hình hợp lý trong việc nghiên cứu NLCT của DN CBTS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

2.4. KIỂM ĐINH MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.4.1. Thiết kế nghiên cứu

a. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, để đảm bảo yêu cầu và mục đích nghiên cứu, Tác giả áp dụng phương pháp hỗn hợp, bao gồm cả nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, cả hai nghiên cứu đều có vai trò quan trọng trong việc hướng đến mô hình nghiên cứu hoàn chỉnh với thang đo chính thức trước khi tiến hành phân tích hồi quy để xác định các nhân tố tác động đến NLCT của các DN CBTS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Nghiên cứu định tính (khám phá)

Quá trình nghiên cứu định tính nhằm hướng đến việc hình thành danh mục các nhân tố cấu thành NLCT của DN CBTS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý thuyết, nhận định bước đầu các nhân tố tác động đến NLCT của DN nói chung, tác giả hình thành Bản phỏng vấn sơ bộ lần 1 để chuẩn bị cho việc phỏng vấn ban đầu, ở bước này xác định Tác giả xác định nghiên cứu có 9 nhân tố với 8 nhân tố độc lập, 1 nhân tố phụ thuộc với tổng thể 35 biến quan sát, trong đó có 3 biến thuộc nhân tố phụ thuộc là NLCT của DN CBTS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Nghiên cứu định lượng

Đây là bước quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của mô hình đề nghị. Việc kiểm định mô hình lý thuyết đã đặt ra, đo lường các nhân tố tác động đến NLCT của DN CBTS trên ý địa bàn thành phố Đà Nẵng. Do quy mô đối tượng khảo sát về NLCT của các DN CBTS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng là rất lớn, việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và phát triển, NLCT của DN có liên quan đến nhiều đối tượng, trong phạm vi nguồn lực và thời gian có giới hạn, Tác giả tuân thủ đúng nguyên tắc lựa chọn kích cỡ mẫu và đối tượng khảo sát theo logic khoa học.

b. Quy trình nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng (n = 285) (6)

Phân tích nhân tố (8)

Cronbach Alpha (7)

Phân tích hồi quy tuyến tính bội (10)

Cơ sở lý thuyết (1)

Điều chỉnh (4)

Thảo luận (3)

– Kiểm tra nhân tố trích

– Kiểm tra phương sai trích

– Đánh giá độ tin cậy các thang đo

– Loại biến không phù hợp

– Kiểm định sự phù hợp của mô hình

– Đánh giá mức độ quan trọng của các nhân tố

Viết báo cáo

Nghiên cứu định tính

Hình 2.3. Quy trình thực hiện nghiên cứu

2.4.2. Các thang đo nghiên cứu về NLCT của các DN CBTS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

a. Các thang đo tác động đến NLCT của các DN CBTS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

b. Thang đo NLCT của các DN CBTS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

2.4.3. Quy trình phân tích dữ liệu

  1. Kiểm định thang đo bằng Hệ số Cronbach’s Alpha
  2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)
  3. Xây dựng phương trình hồi qui tuyến tính

2.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. MÔ TẢ MẪU

3.3.1. Thông tin mẫu khảo sát

3.3.2. Thống kê mô tả

3.2. PHÂN TÍCH ĐỘ TIN CẬY CỦA THANG ĐO THÔNG QUA HỆ SỐ CRONBACH ALPHA

3.2.1. Kiểm định thang đo Năng lực tổ chức quản lý doanh nghiệp

Trong lần phân tích đầu tiên của kiểm định Cronbach’s Alpha đối với thang đo Năng lực tổ chức quản lý DN (QL) cho thấy, mặc dù hệ số Cronbach’s Alpha đạt giá trị 0,785 > 0,7 (có thể sử dụng được) và đáp ứng được điều kiện giá trị (Bảng 3.3), song hệ số tương quan biến tổng (Item-Total Correlation) của các biến QL2 “DN hoạch định được các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh doanh tốt” có giá trị là 0,237 < 0,4 nên phải bị loại bỏ và kiểm định lần 2 sau khi loại bỏ các biến này (Phụ lục 5).

2.3.2. Kiểm định thang đo Năng lực marketing

Trong lần kiểm định Cronbach’s Alpha đầu tiên đối với thang đo Năng lực Marketing (MA) cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha đạt giá trị 0,837 > 0,7 (có thể sử dụng được) và đáp ứng được điều kiện giá trị (Bảng 3.6) với hệ số tương quan biến tổng (Item-Total Correlation) của các biến từ MA1-MA5 đều > 0,4 nên đảm bảo điều kiện phân tích EFA ở bước tiếp theo (Bảng 3.7).

2.3.3. Kiểm định thang đo Năng lực tài chính

Trong lần kiểm định Cronbach’s Alpha đầu tiên đối với thang đo Năng lực Tài chính (TC) cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha đạt giá trị 0,677 < 0,7 đơn vị, cần phải xem xét lại và chưa đáp ứng được điều kiện giá trị (Bảng 3.8) và hệ số tương quan biến tổng (Item-Total Correlation) của biến TC2 = 0,286 < 0,4 nên chưa đảm bảo điều kiện phân tích EFA ở bước tiếp theo (Bảng 3.9). Trong khi đó, thông số Cronbach’s Alpha if Item Deleted của biến TC đạt 0,722 nghĩa là nếu loại bỏ biếu này thì hệ số Cronbach’s Alpha mới sẽ đạt 0,722 > 0,7. Do đó, cần loại bỏ biến TC2 và phân tích lại Cronbath’s Alpha lần 2.

2.3.4. Kiểm định thang đo Năng lực tiếp cận và đổi mới khoa học công nghệ

Trong lần kiểm định Cronbach’s Alpha đầu tiên đối với thang đo Năng lực tiếp cận và đổi mới khoa học công nghệ (CN) cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha đạt giá trị quá nhỏ là 0,305 < 0,7 (không thể sử dụng được) và không đáp ứng được điều kiện giá trị (Bảng 3.12) với hệ số tương quan biến tổng (Item-Total Correlation) của các biến từ CN1-CN4 đều < 0,4 nên không đảm bảo điều kiện phân tích EFA ở bước tiếp theo (Bảng 3.13).

2.3.5. Kiểm định thang đo Năng lực tổ chức dịch vụ

Trong lần kiểm định Cronbach’s Alpha đầu tiên đối với thang đo Năng lực tổ chức dịch vụ (DV) cho thấy, tương tự thang đo CN, thang đo DV có hệ số Cronbach’s Alpha đạt giá trị nhỏ, đạt giá trị là 0,369 < 0,7 (không thể sử dụng được) và không đáp ứng được điều kiện giá trị (Bảng 3.14) với hệ số tương quan biến tổng (Item-Total Correlation) của các biến từ DV1-DV4 đều < 0,4 nên không đảm bảo điều kiện phân tích EFA ở bước tiếp theo (Bảng 3.15). Do đó, thang đo (nhân tố) DV không được nghiên cứu ở bước EFA, đồng nghĩa với việc mô hình nghiên cứu không còn tồn tại nhân tố này.

2.3.6. Kiểm định thang đo năng lực tạo lập các mối quan hệ

Trong lần kiểm định Cronbach’s Alpha đầu tiên đối với thang đo Năng lực tạo lập các mối quan hệ (QH) cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha đạt giá trị 0,820 > 0,7 (có thể sử dụng được) và đáp ứng được điều kiện giá trị (Bảng 3.16) với hệ số tương quan biến tổng (Item-Total Correlation) của các biến từ QH1-QH5 đều > 0,4 nên đảm bảo điều kiện phân tích EFA ở bước tiếp theo (Bảng 3.17).

2.3.7. Kiểm định thang đo trình độ lao động trong doanh nghiệp

Trong lần kiểm định Cronbach’s Alpha đầu tiên đối với thang đo trình độ lao động trong doanh nghiệp (LĐ) cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha đạt giá trị 0,813 > 0,7 (có thể sử dụng được) và đáp ứng được điều kiện giá trị (Bảng 3.18) với hệ số tương quan biến tổng (Item-Total Correlation) của các biến từ LĐ1-LĐ5 đều > 0,4 nên đảm bảo điều kiện phân tích EFA ở bước tiếp theo (Bảng 3.19). Thang đo này là sự phát kiến mới ngoài các mô hình nghiên cứu trước đây và được hầu hết các đối tượng khảo sát đánh giá cao.

2.3.8. Kiểm định thang đo trình độ nghiên cứu phát triển của DN

Trong lần kiểm định Cronbach’s Alpha đầu tiên đối với thang đo trình độ nghiên cứu phát triển của DN (NP) cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha đạt giá trị cao 0,865 > 0,7 (sử dụng được) và đáp ứng được điều kiện giá trị (Bảng 3.20) với hệ số tương quan biến tổng (Item-Total Correlation) của các biến từ NP1-NP3 đều > 0,4 nên đảm bảo điều kiện phân tích EFA ở bước tiếp theo (Bảng 3.21). Thang đo này là sự phát kiến mới ngoài các mô hình nghiên cứu trước đây và được hầu hết các đối tượng khảo sát đánh giá cao.

2.3.9. Kiểm định thang đo năng lực cạnh tranh chung

Trong lần kiểm định Cronbach’s Alpha đầu tiên đối với thang đo NLCT của các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng (NLCT) cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha đạt giá trị cao 0,839 > 0,7 (sử dụng được) và đáp ứng được điều kiện giá trị (Bảng 3.22) với hệ số tương quan biến tổng (Item-Total Correlation) của các biến từ NLCT1-NLCT3 đều > 0,4 nên đảm bảo điều kiện phân tích EFA ở bước tiếp theo (Bảng 3.23).

3.3. PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ EFA

3.3.1. Thang đo các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Thang đo NLCT chung của các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng được xây dựng nhằm khảo sát NLCT trong tổng thể của các đối tượng sau khi hoàn thành việc khảo sát các nhân tố tác động đến NLCT. Thang đo NLCT chung gồm 3 biến NLCT1 “Khả năng thích ứng và tồn tại trên thị trường của DN cao”, NLCT2 “Khả năng duy trì và phát huy các lợi thế cạnh tranh của DN cao” và NLCT3 “Khả năng mở rộng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm của DN cao”.

3.4. KHẲNG ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Năng lực tạo lập các mối quan hệ

Năng lực Marketing

Trình độ của người lao động

Trình độ nghiên cứu và phát triển

Năng lực tổ chức quản lý DN

Năng lực tài chính

Năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Hình 3.1. Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh

3.5. KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU HIỆU CHỈNH

3.5.1. Phân tích tương quan các biến độc lập và biến phụ thuộc

Tính tương quan đạt mức ý nghĩa ở giá trị 0,01 (xác suất chấp nhận giả thuyết sai là 1%) thì tất cả các biến có tương quan với biến phụ thuộc, cụ thể giá trị Pearson correlation của các nhân tố Năng lực tạo lập các mối quan hệ, Năng lực Marketing, Trình độ của người LĐ, Trình độ nghiên cứu và phát triển, Năng lực tổ chức quản lý DN và Năng lực tài chính tương ứng là 0,595; 0,672; 0,329; 0,334; 0,514 và 0,468. Như vậy, kết quả phân tích tương quan đảm bảo điều kiện để tiếp tục thực hiện bước tiếp theo là phân tích hồi quy.

3.5.2. Phân tích hồi quy

a. Thống kê mô tả các biến hồi quy

Bảng thống kê mô tả các biến hồi quy cho thấy, với 285 biến quan sát thì các thang đo mới diễn biến từ mức hoàn toàn không đồng ý đến mức hoàn toàn đồng ý, tương ứng mức Min và Max là 1 đến 5. Trong các biến hồi quy, biến QL là nhân tố Năng lực tổ chức quản lý DN có giá trị trung bình đạt mức cao nhất là 3,6561 đơn vị, nghĩa là các đối tượng khảo sát đánh giá trên mức đồng ý, độ lệch chuẩn đạt mức 0,94462 và biến có giá trị trung bình đạt ở mức thấp nhất đạt 3,0491 đơn vị là biến QH là nhân tố Năng lực tạo lập các mối quan hệ mới, độ lệch chuẩn đạt mức 0,87801, có nghĩa là các đối tượng khảo sát đánh giá ở mức đồng ý với nội dung này (Bảng 3.34).

b. Đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy

Hệ số xác định R2 khẳng định hàm hồi quy không giảm theo số biến độc lập được đưa vào mô hình sau khi đảm bảo điều kiện làm sạch dữ liệu. Tuy nhiên, mô hình thường gặp sự cố về lỗi dữ liệu, do đó áp dụng hệ số R2 điều chỉnh để phân tích cụ thể hơn mức độ phù hợp của mô hình hồi quy đa biến và Hệ số R2 điều chỉnh đạt giá trị 0,639 > 50% cho thấy sự tương thích của mô hình với biến quan sát cao và biến phụ thuộc là NLCT gần như hoàn toàn được giải thích bởi 6 biến độc lập mới trong mô hình (Bảng 3.36).

c. Đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy

Phân tích Anova với kiểm định F trong phân tích phương sai trích đạt giá trị cao với mức 84.85 và quan trọng hơn giá trị độ lệch chuẩn Sig đạt giá trị 0,0000 << 0,05 (Bảng 3.37), đồng thời kết quả hồi quy cho thấy sự phù hợp của mô hình khi các biến đều đạt được tiêu chuẩn chấp nhận với Tolerance = 0,649 > 0,0001; các beta đều dương và các nhân tố độc lập đều có ý nghĩa thống kê giải thích cho nhân tố phụ thuộc NLCT khi các Sig đều nhỏ hơn 5%, các biến độc lập đều được chấp nhận; tiêu chí Collinearity diagnostics với nội dung chuẩn đoán hiện tượng đa cộng tuyến có hệ số phóng đại phương sai VIF của các biến độc lập trong mô hình đạt giá trị nhỏ hơn 2 (giá trị cao nhất là 1.542) cho thấy vấn đề đa cộng tuyến không ảnh hưởng đáng kế đến kết quả hồi quy và các biến trong mô hình được chấp nhận (Bảng 3.38); hệ số Durbin Watson dùng để kiểm định tương quan chuỗi bậc nhất cho thấy mô hình không vi phạm khi sử dụng phương pháp hồi quy vì giá trị d đạt được là 2,013 (xấp xĩ 2) và chấp nhận giả thuyết không có sự tương quan chuỗi bậc nhất trong mô hình (Bảng 3.36).

3.6. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU SAU CÙNG

3.6.1. Mô hình nghiên cứu sau cùng

Năng lực tạo lập các mối quan hệ

Năng lực Marketing

Trình độ của người lao động

Trình độ nghiên cứu và phát triển

Năng lực tổ chức quản lý DN

Năng lực tài chính

Năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Hình 3.3. Mô hình nghiên cứu sau cùng

3.6.2. Thang đo sau cùng nghiên cứu Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn Tp. Đà Nẵng

Bảng 3.42. Thang đo sau cùng nghiên cứu Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

TTThang đo và biến quan sát từng thang đo sau khi hiệu chỉnhKH mới
1.Khả năng quan hệ với nhà cung cấpQH1
2.Khả năng quan hệ với các nhà phân phốiQH2
3.Khả năng quan hệ với các tổ chức tín dụngQH3
4.Khả năng liên minh, liên kết với các DN cùng ngànhQH4
5.Khả năng quan hệ với các cấp chính quyền tại địa phươngQH5
6.Khả năng đáp ứng nhu cầu, thị hiếu khách hàng của DN luôn đảm bảoMA1
7.DN có khả năng thích ứng tốt với biến động của môi trườngMA2
8.Chiến lược phát triển các hoạt động marketing của DN luôn phát huy hiệu quảMA3
9.Chất lượng mối quan hệ của DN với khách hàng luôn đảm bảoMA4
10.Khả năng nắm bắt công việcLĐ1
11.Khả năng hoàn thành công việc theo tiến độLĐ2
12.Khả năng ứng dụng công nghệ trong công việcLĐ3
13.Khả năng sử dụng các kỷ năng mềm trong xử lý công việcLĐ4
14.Khả năng cải tiến kỹ thuật của DNNP1
15.Khả năng cải tiến mẫu mã và chất lượng sản phẩmNP2
16.Khả năng nâng cao năng suất lao động và hợp lý hóa sản xuấtNP3
17.DN có bộ máy tổ chức hoạt động hiệu quả, linh hoạtQL1
18.Việc bố trí sắp xếp và thay thế nhân sự luôn đảm bảo tốt cho các hoạt động SXKD của DNQL2
19.Năng lực lãnh đạo của chủ DNQL3
20.Quy mô nguồn vốn của DN phù hợpTC1
21.Khả năng sinh lời của vốn kinh doanh tốtTC2
22.Khả năng thích ứng và tồn tại trên thị trườngNLCT1
23.Khả năng duy trì và phát huy các lợi thế cạnh tranhNLCT2
24.Khả năng mở rộng mạng lưới tiêu thụ sản phẩmNLCT3

3.6.3. Phương trình hồi quy tuyến tính bội thể hiện quan hệ giữa các biến độc lập với Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

NLCT = 0,322 QH + 0,352 MA + 0,10 LĐ + 0,107 NP + 0,196 QL + 0,106 TC

Trong đó:

– NLCT: là biến phụ thuộc – là năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

– QH: là biến độc lập – là năng lực tạo lập các mối quan hệ (βQH = 0.322)

– MA: là biến độc lập – là năng lực Marketing (βMA = 0.352)

– LĐ: là biến độc lập – là trình độ của người LĐ (βLĐ = 0.10)

– NP: là biến độc lập – là trình độ nghiên cứu và phát triển (βNP = 0.107)

– QL: là biến độc lập – là năng lực tổ chức quản lý DN (βQL = 0.196)

– TC: là biến độc lập – là nhân tố năng lực tài chính (βTC = 0.106)

3.6.4. Kiểm định giả thuyết

Quá trình nghiên cứu từ khâu định tính và định lượng, các bước kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, kiểm định hệ số tương quan, phân tích hồi quy… đã hệ thống hóa được NLCT của các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng. Như vậy, có 6 nhân tố tác động đến NLCT của các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng như đã đề cập ở Bảng 3.39.

3.6.5. Đo lường Năng lực cạnh tranh

NLCT của các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng dựa trên 3 thang đo Khả năng thích ứng và tồn tại trên thị trường (NLCT1); Khả năng duy trì và phát huy các lợi thế cạnh tranh (NLCT2) và Khả năng mở rộng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm (NLCT3). Trong 3 biến trên, NLCT1 được đánh giá cao nhất với giá trị trung bình là 3,22, khoảng giữa của đồng ý và rất đồng ý. Thực chất đây cũng là yếu tố tiên quyết trong CT của DN. Khả năng duy trì và phát huy các lợi thế cạnh tranh sẽ đáp ứng kỳ vọng nâng cao NLCT của các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng, biến số này đạt giá trị trung bình ở mức 3,2 đơn vị. Trên cơ sở thích ứng, tồn tại trên thị trường; duy trì và phát huy lợi thế CT thì DN sẽ đảm bảo được mục tiêu của mình về việc mở rộng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm ở biến NLCT3, biến số này đạt giá trị trung bình là 3,08 và độ lệch chuẩn là 1,057. Ba thang đo có quan hệ và tương quan chặt chẽ, nó quyết định NLCT của các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng.

Như vậy, có thể nhận định ở thời điểm hiện tại các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng đảm bảo yêu cầu CT trên thị trường trong và ngoài thành phố. Thông qua nhận định của các đối tượng khảo sát có quan hệ, kiến thức sâu về năng lực của các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng thì các DN này sẽ có giải pháp để phát huy và cải tiến tích cực các nhân tố đáp ứng yêu cầu nâng cao NLCT trong thời gian đến.

3.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

CHƯƠNG 4

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

4.1. NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHÍNH

– Mô hình nghiên cứu sau cùng có sự hiệu chỉnh so với mô hình nghiên cứu đề nghị khi đã loại bỏ nhân tố Trình độ tiếp cận và đổi mới KHCN (CN) và Năng lực tổ chức dịch vụ (DV).

– Số nhân tố và biến quan sát nghiên cứu NLCT của các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng còn 7 nhân tố và 24 biến so với khởi đầu nghiên cứu là 9 nhân tố và 37 biến quan sát. Các biến quan sát đã loại bỏ sau khi kiểm định Cronbath’s Alpha và phân tích EFA là QL2, MA2, LDD5, TC2, TC3, CN1-CN4 và DV1-DV4.

– Thang đo sau cùng có 24 biến quan sát để nghiên cứu về NLCT của các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng.

– Các nhân tố, thang đo, biến quan sát phát kiến mới trên cơ sở hệ thống hóa lý thuyết và thảo luận đa phần được giữ lại và đi đến đích cuối cùng của nghiên cứu.

– Phương trình hồi quy tuyến tính bội sau khi phân tích khẳng định mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa các biến độc lập gồm: năng lực tạo lập các mối quan hệ; năng lực Marketing; trình độ của người LĐ; trình độ nghiên cứu và phát triển; năng lực tổ chức quản lý DN; nhân tố năng lực tài chính với NLCT của các DN CBTS trên địa bàn TP Đà Nẵng (NLCT = 0,322 QH + 0,352 MA + 0,10 LĐ + 0,107 NP + 0,196 QL + 0,106 TC).

– Kết quả đo lường NLCT các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng dựa trên 3 thang đo chính: Khả năng thích ứng và tồn tại trên thị trường (NLCT1); Khả năng duy trì và phát huy các lợi thế CT (NLCT2) và Khả năng mở rộng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm (NLCT3). Ba thang đo có quan hệ và tương quan chặt chẽ, nó quyết định NLCT của các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng.

4.2. HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Thứ nhất, đối với nhóm vấn đề về năng lực tạo lập các mối quan hệ thì các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng cần chủ động xây dựng, duy trì và tạo lập các mối quan hệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hướng đến các đối tượng khách hàng, đối tác, tổ chức tín dụng và các cơ quan hữu quan ở địa phương.

Thứ hai, đối với nhóm vấn đề về năng lực Marketging thì nâng cao năng lực Marketing là một trong những năng lực quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh của các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng trong môi trường cạnh tranh gay gắt.

Thứ ba, đối với nhóm vấn đề về về trình độ của người lao động thì nâng cao trình độ, chất lượng người lao động và nguồn nhân lực DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng.

Thứ tư, đối với nhóm vấn đề về năng lực tổ chức quản lý trong DN thì một số giải pháp để nâng cao năng lực lãnh đạo và quản lý của các nhà quản trị các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng cần được triển khai thực hiện đối với các nhà quản trị các cấp thuộc các DN.

Thứ năm, tăng cường công tác nghiên cứu và phát triển sản phẩm. Đây là yêu cầu rất quan trọng để các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng tồn tại và phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập. Công tác nghiên cứu và phát triển sản phẩm cần được sự hỗ trợ từ hoạt động nghiên cứu thị trường.

Thứ sáu, tăng cường các nguồn lực tài chính của DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng. Từ kết quả mô hình hồi quy cho thấy, nguồn lực tài chính tương quan thuận với NLCT của DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng. Vì thế, các DN cần áp dụng nhiều chiến lược để phát triển nguồn lực tài chính để đầu tư đổi mới công nghệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tóm lại, NLCT là vấn đề “đương đại”, bất kỳ DN nào trên “thương trường” muốn tồn tại và phát triển cần phải có chính sách về CT phù hợp. Đối với các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng thì điều đó không phải là ngoại lệ khi quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, tiêu thụ sản phẩm ngày càng khó khăn do các đối thủ CT ngày càng ý thức được việc gìn giữ lợi thế và mở rộng phạm vi hoạt động. Trụ sở đóng tại khu vực có tiềm năng lớn đã là lợi thế lớn đối với các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng, song các DN trong và ngoài nước ngày càng “biết cách” khai thác các ưu thế về tài chính, lao động, công nghệ, quan hệ, tổ chức dịch vụ. Từ những lý do đó, bằng việc hướng đến mục tiêu tìm hiểu thực sự các nhân tố tác động đến NLCT của các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng, Luận văn đã tuân thủ các nguyên tắc nghiên cứu, hình thành mô hình, thang đo nghiên cứu đề nghị và kết quả sau cùng cho thấy NLCT của các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng tỷ lệ thuận với nhóm các nhân tố như: năng lực tạo lập các mối quan hệ; năng lực Marketing; trình độ của người LĐ; trình độ nghiên cứu và phát triển; năng lực tổ chức quản lý DN; nhân tố năng lực tài chính. Đây cũng là cơ sở để Luận văn hình thành các giải pháp để nâng cao NLCT của các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng như mục tiêu nghiên cứu đã đề ra. Đồng thời cũng là cơ sở để hình thành các kiến nghị đối với chính các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng và các cơ quan có liên quan như sau:

Thứ nhất, đối với các DN CBTS trên địa bàn TP. Đà Nẵng: ngoài việc lưu ý các giải pháp nêu trên còn phải đảm bảo việc xây dựng và phát triển thương hiệu, nâng cao chất lượng dịch vụ và tổ chức dịch vụ, chú trọng khâu đào tạo và đào tạo lại để có nguồn nhân lực chất lượng cao, nêu cao và nâng cao yếu tố văn hóa trong DN.

Thứ hai, đối với các cơ quan hữu quan trên địa bàn TP. Đà Nẵng cần hướng đến việc tạo thuận lợi, tạo môi trường thông thoáng, cải cách nền hành chính để các DN CBTS trên địa bàn TP có điều kiện khai thác tốt tiềm năng và lợi thế về kinh tế thủy sản, ngành công nghiệp chế biến. Thành phố cần làm tốt hơn khâu định hướng, cầu nối trong liên kết phát triển, tiêu thụ sản phẩm, xúc tiến thương mại, tinh giảm thủ tục hành chính, đảm bảo về mặt ngư trường khai thác nguồn lợi thủy hải sản,v.v…

Thứ ba, đối với Chính phủ, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Quốc phòng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan, Bộ ngành Trung ương có liên quan tăng cường đảm bảo nguồn lợi, an ninh và an toàn trong khai thác nguồn lợi thủy hải sản, đảm bảo chủ quyền trên biển, định hướng và có giải pháp phát triển ngành; xúc tiến đầu tư, thương mại; định hướng và khuyến khích phát triển các Hiệp hội thủy sản; đảm bảo vấn đề cạnh tranh bình đẳng, sở hữu trí tuệ và thương hiệu cho DN,v.v…

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\QUAN TRI KINH DOANH\NGUYEN THI THANH HUYEN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *