Khảo sát mức độ tuân thủ sử dụng insulin dạng bút tiêm ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa năm 2024
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường (ĐTĐ) là nguyên nhân gây tử vong cao thứ ba tại Việt Nam (sau xơ vữa động mạch và ung thư), chỉ tính riêng trong năm 2017 cả nước có gần 29.000 người trưởng thành tử vong do các nguyên nhân liên quan đến ĐTĐ [1]. Trong điều trị đái tháo đường (ĐTĐ), insulin là một liệu pháp quan trọng cho tất cả các bệnh nhân ĐTĐ type 1 và các bệnh nhân ĐTĐ type 2 khi không đạt mục tiêu điều trị với các thuốc đường uống. Insulin được sử dụng phổ biến dưới dạng đường tiêm và được kê đơn sử dụng ngoại trú cho bệnh nhân. Tuy nhiên, sử dụng insulin không đúng cách sẽ làm giảm hiệu quả điều trị của thuốc dẫn đến bệnh nhân kiểm soát đường huyết kém [7]. Do đó người bệnh cần được trang bị kiến thức đầy đủ về bệnh cũng như được hướng dẫn sử dụng Insulin đúng cách ngay từ thời điểm ban đầu [4]. Có một nghiên cứu đã đưa ra kết luận tăng tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân và nhập viện có liên quan đến việc không tuân thủ điều trị bằng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường [13]. Tại Anh, năm 2019 có nghiên cứu năm đề cập đến các nguyên nhân thông thường làm việc tuân thủ kém những thuốc làm hạ đường huyết, trong đó có nguyên nhân là từ insulin [17]. Tại Việt Nam, đã có nghiên cứu về việc tuân thủ sử dụng insulin với tỉ lệ 74.9% [6]
Tại Bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa, số lượng thống kê từ khoa Dược, mỗi tháng có khoảng 971 bút tiêm insulin được cấp phát cho bệnh nhân ngoại trú. Với số lượng như vậy, cần thiết phải khảo sát mức độ tuân thủ sử dụng insulin, nếu tuân thủ chưa tốt thì ảnh hưởng không tốt đến kết quả điều trị của bệnh nhân. Với những lý do trên, tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát mức độ tuân thủ sử dụng insulin dạng bút tiêm ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa năm 2024” với các mục tiêu:
– Khảo sát mức độ tuân thủ sử dụng thuốc insulin theo thang điểm Morisky 8 câu hỏi ở bệnh nhân đái tháo đường type 2.
– Khảo sát các yếu tố liên quan đến vấn đề tuân thủ sử dụng bút tiêm insulin của bệnh nhân Đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Nội Tiết Thanh Hóa năm 2024.
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
I. TỔNG QUAN VỀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
1. Định nghĩa:
Trong Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh Đái tháo đường type 2 của Bộ Y Tế thì Bệnh Đái tháo đường được định nghĩa “ là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăng glucose huyết mạn tính do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh.
2. Chẩn đoán đái tháo đường:
Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ: Theo ADA, chẩn đoán ĐTĐ khi có một trong các tiêu chuẩn sau đây:
– Đường máu huyết thanh lúc đói (nhịn ăn >8 -14 giờ) ≥ 7 mmol/l (126mg/dL).
– Đường máu huyết tương sau 2 giờ sau khi uống 75g đường Glucose ≥ 11,1 mmol/l (Nghiệm pháp tăng đường huyết).
– Đường máu huyết thanh bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l có kèm theo các triệu chứng của tăng đường huyết ( khát nhiều, tiểu nhiều, ăn nhiều, gầy sút).
– HbA1c ( định lượng bằng phương pháp sắc ký lỏng) ≥ 6,5%[3].
Các thể ĐTĐ:
– Bệnh ĐTĐ type 1: tế bào β bị phá hủy, dẫn đến thiếu hụt insulin hoàn toàn.
– Bệnh ĐTĐ type 2: mất dần khả năng tiết Insulin do kháng Insulin.
– Đái tháo đường thai kỳ: Bệnh ĐTĐ được chẩn đoán vào 3 tháng giữa, hay 3 tháng cuối của thời kỳ mang thai, có thể không chuyển thành ĐTĐ.
– Các thể đặc biệt do các nguyên nhân khác như: Hội chứng ĐTĐ đơn gen, bệnh của tụy ngoại tiết (xơ nang tụy), bệnh ĐTĐ do thuốc hoặc hóa chất[3].
Trong các thể đái tháo đường thì đái tháo đường type 2 là chủ yếu và chiếm khoảng 90%.
* Mục đích của điều trị ĐTĐ là làm giảm các triệu chứng lâm sàng, đạt mục tiêu kiểm soát đường huyết, đạt cân nặng lý tưởng lý tưởng, giảm cân với ĐTĐ typ 2 béo phì, giúp người bệnh có cuộc sống bình thường, hạn chế sự xuất hiện và tiến triển của các biến chứng. Để kiểm soát được đường máu hiệu quả, cần phải kết hợp giữa điều trị bằng chế độ dinh dưỡng, chế độ luyện tập phù hợp, thuốc viên điều trị ĐTĐ và Insulin[3].

3. Một số biến chứng của bệnh đái tháo đường type 2:
Biến chứng của bệnh đái tháo đường type 2 được chia thành 2 nhóm chính:
– Biến chứng cấp tính (hay gặp là hạ đường máu, hôn mê nhiễm toan, tăng áp lực thẩm thấu)
– Biến chứng mạn tính (biến chứng mạch máu nhỏ và biến chứng mạch máu lớn).
4. Chăm sóc bệnh nhân điều trị đái tháo đường type 2:
Để bệnh nhân hiểu được thế nào là bệnh đái tháo đường type 2 và giúp bệnh nhân cách tuân thủ chế độ điều trị để làm giảm các triệu chứng lâm sàng, đạt mục tiêu kiểm soát đường huyết, đạt cân nặng lí tưởng.
– Giảm cân đối với các trường hợp béo phì.
– Làm chậm xuất hiện những biến chứng cấp và mạn tính.
– Duy trì đường máu lúc đói là 4.4 đến 7.2 mmol/l
– Huyết áp <130/80 mmHg.
Giúp người bệnh có cuộc sống gần như người bình thường.
+ Thực hiện y lệnh điều trị
Người bệnh nên tuân thủ theo phác đồ điều trị của bác sĩ. Không tự ý thay đổi thuốc hay liều lượng, thời gian dùng thuốc.
Nhận định được các triệu chứng, dấu hiệu của cơn hạ đường huyết và cách xử lí kịp thời tại nhà khi hạ đường huyết.
Gọi điện thoại cho bác sĩ khi có những vướng mắc hay bất thường khi dùng thuốc để được hướng dẫn và tư vấn kịp thời.
Tái khám định kì theo hẹn hay khi có bất thường.
+ Chế độ ăn cho người bệnh tiểu đường type 2:
Chế độ ăn của người bệnh được xây dựng cụ thể cho từng đối tượng nhưng phải thỏa mãn một số các yêu cầu cơ bản sau: Đủ calo cho hoạt động sống bình thường, tỷ lệ thành phần các chất đạm, đường, mỡ phải cân đối:
+ Hoạt động thể lực và luyện tập:
Luyện tập rất quan trọng và cần thiết đối với bệnh nhân đái tháo đường, đặc biệt đái tháo đường type 2, có lác dụng giảm cân, giảm kháng insulin, cải thiện sự dung nạp glucose và cải thiện nồng độ lipid máu.
Phương pháp tập luyện hiệu quả nhất được chia ra làm 3 giai đoạn: Khởi động trong 5-10 phút phòng ngừa chấn thương cơ; Phần tập nặng trong khoảng 20- 45 phút; Phần kết thúc giảm dần khối lượng vận động trong 5-10 phút bằng cách đi bộ hoặc duỗi chân tay.
Lưu ý kiểm tra đường huyết, huyết áp, tình trạng tim mạch trước khi tập (đường huyết đói <5 mmol/1 không luyện lập). Chọn loại hình luyện tập nào phải phù hợp với sức khỏe, tuổi tác và biến chứng của người bệnh. Không luyện tập gắng sức.
+ Phòng ngừa các biến chứng
Theo khuyến cáo điều trị đái tháo đường ADA năm 2012, bệnh nhân muốn phòng tránh những biến chứng của bệnh cần thực hiện tốt những việc sau:
Theo dõi và kiểm soát đường huyết
Đối với bệnh nhân tiêm ít thường xuyên, điều trị bằng thuốc hoặc chế độ ăn đơn thuần, tự theo dõi đường huyết là rất hữu ích để theo dõi điều trị: Đo HbAlc ít nhất 2 lần/năm đối với bệnh nhân có đường huyết ổn định, đo HbAlc 4 lần/năm đối với bệnh nhân thay đổi thuốc hay đường huyết chưa đạt được mục tiêu.
Thuốc điều trị: bệnh nhân cần tuyệt đối tuân thủ điều trị thuốc theo chỉ định của bác sĩ.
Dinh dưỡng điều trị: Chế độ ăn là quan trọng nhất trong điều trị đái tháo đường, với mục tiêu nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, cân bầng đầy đủ về số lượng và chất lượng đảm bảo người bệnh có đầy đủ sức khỏe để hoạt động và công tác phù hợp với từng cá nhân.
Hoạt động thể lực: Bệnh nhân đái tháo đường nên hoạt động thể dục ít nhất 30 phút/ngày và luyện tập duy trì đều đặn theo nguyên tắc, không luyện tập gắng sức.
Tự nâng cao kiến thức về bệnh và cách phòng ngừa và phát hiện các biến chứng kịp thời để giảm thiểu sự nguy hại.
II. TỔNG QUAN VỀ INSULIN
1. Cấu tạo và chức năng của insulin:
Insulin là hormon được tổng hợp trong tế bào beta ở đảo tụy, có 51 acid amin gồm 2 chuỗi polypeptide[4]. Lượng Insulin tiết ra phụ thuộc vào mức glucose máu. Insulin cũng được tiết ra để đáp ứng với lượng carbonhydrate sau bữa ăn. Insulin được tiết 2 pha: pha đầu tuỵ phóng thích một lượng lớn Insulin để làm giảm tổng hợp glucose ở gan, sau đó phóng thích Insulin chậm hơn trong giai đoạn hai để kiểm soát lượng carbohydrate đã được hấp thụ[4]. Cơ chế hạ đường máu của insulin là do tăng sử dụng glucose ở cơ; tăng tổng hợp, dự trữ glycogen ở gan, cơ; giảm sinh đường máu từ các acid amin. Trong cơ thể bình thường: Insulin được tiết liên tục trong 24 giờ khoảng 0,7 – 0,8 U/kg trong đó 50- 60% tổng số Insulin bài tiết ra hàng ngày để duy trì glucose máu bình thường qua đêm, khi đói và giữa các bữa ăn. 40% – 50% số insulin còn lại để tiêu thụ lượng carbonhydrate ăn vào và điều chỉnh khi có tăng bất thường về đường máu[2],[4].
2. Lịch sử insulin trong điều trị ĐTĐ:
Việc phát hiện ra insulin vào năm 1922 đánh dấu một bước đột phá lớn trong y học và trị liệu ở bệnh nhân ĐTĐ. Rất lâu trước khi phát hiện ra insulin, người ta đã đưa ra giả thuyết rằng tuyến tụy tiết ra một chất kiểm soát chuyển hóa carbohydrate. Năm 1869 Paul Langerhans đã phát hiện ra một nhóm tế bào đặc biệt ở tuyến tụy và sau này gọi là đảo Langerhans. Năm 1921, Bác sĩ Frederick Banting và nghiên cứu sinh Charles Best đã tiến hành thử nghiệm trên tuyến tụy của chó. Năm 1922, Banting và Best tiếp tục nghiên cứu và cải thiện kĩ thuật để sản xuất insulin và Eli Lilly trở thành nhà sản xuất insulin đầu tiên[5]. Eli Lilly bắt đầu sản xuất insulin từ tuyến tụy động vật nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu. Sự phát triển của phương pháp kết tủa đẳng điện dẫn đến insulin động vật tinh khiết hơn và mạnh hơn. Năm 1923, phòng thí nghiệm Insulin Nordisk bắt đầu sản xuất insulin. Vì insulin cần vài mũi tiêm hàng ngày, các nhà nghiên cứu đã tìm cách kéo dài thời gian tác dụng của nó. Vào những năm 1930, HC Hagedorn- một nhà hóa học ở Đan Mạch đã kéo dài tác dụng của insulin bằng cách thêm protamine. Tại Toronto, Scott và Fisher kéo dài hoạt tính insulin hơn nữa bằng cách thêm kẽm giúp kéo dài tác dụng từ 24 giờ đến 36 giờ. Năm 1978, insulin người tái tổ hợp DNA đầu tiên được David Goeddel và cộng sự sáng chế ra bằng cách kết hợp chuỗi insulin A- và B- trong Escherichia coli. Năm 1982, loại insulin đầu tiên sử dụng công nghệ rDNA, Humulin R và N ( NPH- tác dụng trung gian) đã được bán trên thị trường[6]. Trong thập niên 90, insulin tiếp tục được cải tiến với sự ra đời của một loạt các insulin analog như Lispro, Aspart, Glulisine, Glargine, Detemir, Glargine[6]. Trong hơn 50 năm, lọ thuốc và ống tiêm vẫn là lựa chọn duy nhất cho ứng dụng lâm sàng. Máy bơm insulin được sản xuất đầu tiên được giới thiệu vào những năm 1970, và bút insulin được sản xuất đầu tiên ( NovoPen ®- Novo Nordisk) được giới thiệu vào năm 1985. Kể từ đó, nhiều cải tiến và đổi mới đã được thực hiện cho cả máy bơm và bút tiêm Insulin. Các chất tương tự insulin đã trở nên có sẵn cho phép truyền insulin dưới da liên tục bằng cách sử dụng bơm insulin và liệu pháp insulin sử dụng nhiều mũi tiêm hàng ngày để phù hợp hơn với mô hình insulin sinh lý[7]. Insulin dạng hít đầu tiên được phát triển bởi Sanofi-Aventis và Pfizer và được đưa ra thị trường vào năm 2006. Các thiết bị ống hít cồng kềnh khó sử dụng, không có thêm lợi ích sinh lý so với các chất tương tự insulin tác dụng nhanh. Nó đã được loại khỏi thị trường sau hai năm khi không nhận được sự chấp nhận từ bệnh nhân và nhà cung cấp[8].
3. Phân loại insulin:
3.1. Theo nguồn gốc và cấu trúc phân tử
– Insulin động vật: được chiết xuất từ tụy động vật, ngày nay đã được thay thế hoàn toàn bởi insulin người và insulin analog.
– Insulin người: (human insulin/insulin thường/regular insulin): được tổng hợp bằng phương pháp tái tổ hợp DNA, rất tinh khiết, ít gây dị ứng. Human insulin hiện có tại Việt Nam gồm insulin thường (regular insulin) và NPH (Neutral Protamine Hagedorn)[2],[4].
– Insulin analog: được tổng hợp bằng kỹ thuật tái tổ hợp DNA, nhưng có thay đổi cấu trúc bằng cách thay thế một vài acid amin hoặc gắn thêm chuỗi polypeptide để thay đổi dược tính. Một số insulin analog gồm insulin tác dụng nhanh như Aspart, Lispro, Glulisine và insulin tác dụng kéo dài như Detemir, Glargine. Hiện nay, insulin Degludec tác dụng kéo dài đã được cấp phép lưu hành ở Việt Nam[2],[4],[9].
3.2. Theo thời gian tác dụng
Cả insulin người và analog được chia thành ba loại theo thời gian tác dụng:
– Insulin theo bữa ăn: được tiêm trước các bữa ăn do thời gian bắt đầu tác dụng ngắn hoặc nhanh để kiểm soát glucose máu sau các bữa ăn.
– Insulin nền: được tiêm một hoặc hai lần mỗi ngày. Các loại insulin có thời gian tác dụng trung bình hoặc dài đáp ứng nhu cầu insulin nền giữa các bữa ăn và qua đêm do sản xuất glucose ở gan.
– Insulin hỗn hợp trộn sẵn: là insulin có hai pha tác dụng, có sự pha trộn của insulin tác dụng ngắn hoặc nhanh với insulin tác dụng trung bình thành một chế phẩm, kiểm soát đồng thời glucose máu sau ăn cũng như nhu cầu insulin cơ bản hàng ngày[2],[4].
Bảng 3.1. Phân loại insulin[2]
| Phân loại | Insulin người | Insulin analog |
| Insulin theo bữa ăn | Tác dụng ngắn (short acting) • Actrapid | Tác dụng nhanh (rapid acting) • Aspart (Novorapid) • Lispo (Humalog) |
| Insulin nền | Tác dụng trung bình hoặc NPH • Insulartad • Humulin N (NPH) | Tác dụng kéo dài • Glargine (lantus) • Detemir (Levemir) • Degludec (Tresiba) |
| Insulin trộn sẵn | Kết hợp insulin tác dụng ngắn và tác dụng trung bình: 30% regular insulin + 70% NPH • Mixtard 30 • Humulin 30/70 | Kết hợp insulin tác dụng nhanh và protamin • Novomix 30 (30% aspart+70% aspart protamin) |
Bảng 3.2. Dược động học của các loại Insulin[2],[4],[10].
| Insulin | Bắt đầu tác dụng | Đỉnh tác dụng | Thời gian tác dụng | Thời điểm tiêm | |||
| Tác dụng ngắn (Short acting) | |||||||
| Actrapid Regular | 30 phút 30 phút | 1 -3 giờ 2 – 4 giờ | 8 giờ 6 – 8 giờ | 30 phút trước bữa ăn | |||
| Tác dụng nhanh (rapid acting analogue) | |||||||
| Aspart (novorapid) Lispo (Humalog) Glulisine (Apidra) | 10-20 phút 10-15 phút 10-20 phút | 1-3 giờ 1 giờ 1-2 giờ | 3-5 giờ 3,5 – 4,5 giờ 3-5 giờ | 5-15 phút trước hoặc ngay sau bữa ăn | |||
| Tác dụng trung bình ( Intermediate acting, NPH) | |||||||
| Insulatard Humulin N (NPH) | 1,5 giờ 1-2 giờ | 4-12 giờ 4-10 giờ | 18-23 giờ 14-18 giờ | Trước ăn sang tối hoặc trước khi đi ngủ | |||
| Tác dụng kéo dài (long-acting analogue) | |||||||
| Glargine (lantus) Detemir (levemir) Degludec (Tresiba) | 2-4 giờ 1 giờ | Không Không Không | 20-24 giờ 17-23 giờ 40-42 giờ | Tiêm vào một giờ nhất định Tiêm 3 lần/tuần | |||
| Tác dụng trộn sẵn (Premixed human) | |||||||
| Mixtard 30 Humulin70/30 | 30 phút 30 phút | 2-12 giờ 2-12 giờ | 18-23 giờ 14-18 giờ | 30-60 phút trước bữa ăn | |||
| Tác dụng trộn sẵn (premixed analogue) | |||||||
| NovoMix 30 Humalog Mix 75/25 Humalog mix 50/50 | 10-20 phút 20-30 phút 20-30 phút | 1-4 giờ 2-5 giờ 2-5 g | 18-23 giờ 14-18 giờ 18-24 giờ | 5-15 phút trước bữa ăn | |||
– ĐTĐ type 1.
– ĐTĐ type 2.
– ĐTĐ thai kỳ.
– ĐTĐ khác[2].
– Hạ đường huyết do bất kỳ nguyên nhân nội hay ngoại sinh.
– Hạ Kali máu.
– Cơ địa dị ứng hoặc mẫn cảm với insulin[2].
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TÀI LIỆU 2024/ Khảo sát mức độ tuân thủ sử dụng insulin dạng bút tiêm ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa năm 2024

