Hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) chi nhánh Đông Đăk Lăk

Hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) chi nhánh Đông Đăk Lăk

Hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) chi nhánh Đông Đăk Lăk

MỞ ĐẦU

1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu

2. Tính cấp thiết của đề tài

Ngân hàng được coi là huyết mạch của nền kinh tế. Mặc dù không trực tiếp tạo ra của cải vật chất, song với đặc điểm hoạt động riêng có của mình, ngành ngân hàng giữ một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của cả nền kinh tế quốc gia. Trong số các hoạt động của ngành ngân hàng, hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp được coi là hoạt động trọng yếu, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được thực hiện liên tục, góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, đầu tư phát triển và mở rộng quy mô sản xuất. Tuy nhiên, do hệ thống ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, rủi ro của hoạt động cho vay, đặc biệt là cho vay doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến cả nền kinh tế quốc gia. Ở mức độ thấp, rủi ro cho vay khiến cơ hội tiếp cận vốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của các khách hàng bị hạn chế, ảnh hưởng xấu đến khả năng tăng trưởng của nền kinh tế. Ở mức độ cao hơn, khi có một ngân hàng cho vay mà không thể thu hồi nợ, lâm vào tình trạng khó khăn dẫn đến phá sản, hiệu ứng dây chuyền rất dễ xảy ra trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây nên khủng hoảng đối với toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước. Chính bởi thế, trong bối cảnh kinh tế thị trường, quản trị hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn là vấn đề quan tâm hàng đầu của toàn hệ thống ngân hàng từ nhiều năm nay.

Nhận thức được vai trò của vấn đề này đối với ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung,vấn đề thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của NHTM đã được một số tác giả lựa chọn làm chủ đề nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động này tại các NHTM, giảm thiểu quy mô nợ xấu phát sinh từ tín dụng doanh nghiệp. Tuy nhiên, phần lớn những nghiên cứu trước đó tập trung chủ yếu vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận của tín dụng doanh nghiệp,thẩm định tài chính doanh nghiệp và thống kê nghiên cứu kinh nghiệm của NHTM các nước phát triển trong lĩnh vực này, các giải pháp đưa ra còn nặng về tính lý thuyết, chưa thực sự gắn liền với thực trạng hiện có của các NHTM tại Việt Nam, do đó tính hiệu quả của các giải pháp còn nhiều hạn chế.

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là một trong những NHTM có quy mô nợ xấu lớn nhất hệ thống hiện nay. Đây được coi là một vấn đề nhức nhối không chỉ của BIDV nói riêng mà còn là của toàn hệ thống NHTM nói chung. Mặc dù Hội sở chính đã áp dụng nhiều biện pháp giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu và chỉ đạo các chi nhánh tăng cường nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, nhưng rất nhiều chi nhánh của BIDV trong thời gian qua vẫn phát sinh nhiều khoản vay là nợ xấu khó đòi cao, liên tục phải tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng qua các năm. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) chi nhánh Đông Đăk Lăk cũng là một trong số những chi nhánh vấp phải tình trạng nợ xấu tương tự

Là một trong những chi nhánh nằm trên địa bàn Tây Nguyên, BIDV chi nhánh Đông Đăk Lăk là Ngân hàng mới thành lập từ tháng 10/2006, nguồn thu chủ yếu hơn70% đến từ hoạt động tín dụng. Với địa bàn rộng nằm trên 4 huyện phía Đông của tỉnh Đăk Lăk được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu cũng như thổ nhưỡng nên dân cư tập trung ngày một đông, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, các doanh nghiệp được thành lập ngày càng nhiều. Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế nhu cầu tiêu dùng cũng như đầu tư kinh doanh của các cá nhân cũng như doanh nghiệp ngày càng tăngkéo theo nhu cầu về vốn là rất lớn. Theo báo cáoNgân Hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Đăk Lăk tính đến hết năm 2018,dư nợ tại chi nhánh đạt2.800 tỷ đồng, trong đó dư nợ cho vay doanh nghiệp là 777 tỷ đồng, chiếm tới 28% tổng dư nợ. Tuy chi nhánh kiểm soát khá tốt nhưng nợ xấu của cho vay doanh nghiệp hiện đang ở mức khá cao là43 tỷ đồng chiếm 5,5% trong tổng dư nợ cho vay doanh nghiệp. Con số này thể hiện việc quản lý các khoản tín dụng doanh nghiệp còn nhiều bất cập, đặc biệt ở khâu đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp, đánh giá về dòng tiền và khả năng sinh lời của doanh nghiệp trên cơ sở phân tích kinh tế vĩ mô và nội lực của công ty.

Chính vì vậy, để hoạt động tín dụng được phát triển an toàn, hiệu quả với chất lượng các khoản vay được tốt, trước tiên cần phải nâng cao khả năng thẩm định tài chính đối với các doanh nghiệp vay vốn đảm bảo các doanh nghiệp có khả năng phát triển tốt với dòng tiền ổn định qua từng thời kỳ.

Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn, từ những kiến thức đã học ở trường kết hợp với thực trạng tìm hiểu được tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) chi nhánh Đông Đăk Lăk, tác giả đã nhận ra được một số vấn đề còn tồn đọng trong thẩm định tài chính doanh nghiệp tại chi nhánh và quyết định lựa chọn đề tài “Hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) chi nhánh Đông Đăk Lăk ” để trình bày về các hiểu biết và định hướng nhằm phát triển tốt hơn nữa cho hoạt động tín dụng doanh nghiệp tại chi nhánh trong bài luận văn này.

3. Mục tiêu nghiên cứu

a. Mục tiêu chung

Trên nền tảng lý luận về hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của NHTM, phân tích thực trạng, từ đó nhận định những thành công, hạn chế và nguyên nhân gây ra các hạn chế trong hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Đăk Lăk, đồng thời đề xuất các giải pháp để hoàn thiện hoạt động này tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Đăk Lăk.

b. Mục tiêu cụ thể

– Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của NHTM.

– Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Đăk Lăk.

– Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Đăk Lăk.

c. Câu hỏi nghiên cứu

– Thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của NHTM bao gồm những nội dung cơ bản nào? Có thể sử dụng những tiêu chí nào để đánh giá kết quả thẩm định này?

– Hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Đăk Lăk đang có những thành công và hạn chế nào? Lý do vì sao?

– Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Đăk Lăk cần phải giải quyết những vấn đề gì để hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại chi nhánh?

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề về hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Đăk Lăk.

Phạm vi nghiên cứu:

– Nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu toàn bộ các vấn đề về hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn.

– Không gian: Tập trung phân tích tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Đăk Lăk.

– Thời gian: Từ năm 2015 đến năm 2018, số liệu nghiên cứu gần nhất với thời gian nghiên cứu của luận văn để những nghiên cứu có giá trị ứng dụng trong thực tiễn.

5. Phương pháp nghiên cứu

a. Cách tiếp cận:

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, trong đó khung lý thuyết về hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn mà tác giả sử dụng để tiếp cận là một nội dung trong hoạt động thẩm định cho vay doanh nghiệp.

Phương pháp tiếp cận định tính dựa trên phương pháp diễn giải, trong đó tác giả sẽ thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp để đưa ra những kết luận theo mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Từ việc thống kê và thu thập các dữ liệu về hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk, tác giả phân tích cặn kẽ từng vấn đề cũng như so sánh với xu thế hội nhập và phát triển của các ngân hàng trong nước. Cuối cùng, tác giả tổng hợp lại tất cả các vấn đề còn tồn tại và đưa ra giải pháp để khắc phục những khó khăn, hạn chế và phát huy tối đa nguồn lực để hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của BIDV – Chi nhánh Đông Đăk Lăk.

b. Nguồn thu thập dữ liệu:

Tác giả tiến hành thu thập dữ liệu nghiên cứu thông qua các nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp:

– Nguồn dữ liệu sơ cấp :

+ Khảo sát điều tra phỏng vấn nhân viên trong chi nhánh ngân hàng. Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, chọn lựa ngẫu nhiên 3 nhân viên đang công tác tại các bộ phận liên quan đến thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại chi nhánh. Việc thực hiện phỏng vấn trực tiếp nhân viên giúp tác giả hiểu rõ quy trình và nội dung thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại chi nhánh; những khó khăn vướng mắc thường gặp gây khó khăn trong công tác này; nghiên cứu, thu thập được những góp ý, đề xuất của nhân viên để phục vụ đánh giá thực trạng hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại chi nhánh và đề xuất các giải pháp khắc phục khó khăn. (Câu hỏi đính kèm phụ lục).

+ Phỏng vấn chuyên gia (NHNN, quản trị NHTM khác…): Áp dụng phương pháp chọn mẫu phán đoán do cần chọn đúng đối tượng (thông qua hiểu biết cá nhân về những người phỏng vấn, lĩnh vực công việc đang làm, trình độ…) để đánh giá họ là người am hiểu về vấn đề nghiên cứu, tham khảo ý kiến của họ. Đây là phương pháp có hiệu quả thực tiễn rất cao, ngoài ra lại tiết kiệm được thời gian, do nguồn thông tin thu thập được trực tiếp từ những người có trình độ, nghiệp vụ, đặc biệt là có kinh nghiệm trong các lĩnh vực có liên quan đến thẩm định tài chính doanh nghiệp cho vay của NHTM. Tác giả thực hiện phỏng vấn chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng (phỏng vấn 3 người), đối tượng chủ yếu là các lãnh đạo quản lý, kiểm soát khu vực nắm bắt tình hình hoạt động các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk. Nhằm hỗ trợ thu thập thông tin, giúp cho tác giả nắm rõ hơn tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại trên địa bàn, chính sách thay đổi mới của ngân hàng nhà nước, những rủi ro thường mắc phải của hầu hết các NHTM để đưa ra những giải pháp thiết thực trong thời gian tới. (Câu hỏi đính kèm phụ lục) .

– Nguồn dữ liệu thứ cấp :

+ Dữ liệu bên trong ngân hàng : dựa vào các báo cáo, các nguồn dữ liệu thứ cấp, các văn bản, công văn, Quyết định đã ban hành, sửa đổi. Nắm bắt định hướng kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông ĐăkLăk trên địa bàn; quy trình nội bộ phục vụ đưa ra các giải pháp thiết thực, đúng hướng nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay khách hàng cá nhân kinh doanh.

+ Dữ liệu bên ngoài ngân hàng: Thông qua các văn bản pháp lý, các Quyết định của Ngân hàng Nhà nước về quy định, quy trình thẩm định cho vay, các chính sách của chính phủ… nhằm hỗ trợ so sánh, đánh giá mức ảnh hưởng của tác động môi trường bên ngoài, thủ tục hành chính đến công tác thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn, từ đó đưa ra giải pháp phù hợp.

c. Phương pháp xử lý dữ liệu:

Phân tích và tổng hợp lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu liên quan về hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của các luận văn Thạc sỹ được bảo vệ tại các trường đại học trong nước, các bài báo khoa học trong các tạp chí, giáo trình tham khảo của các tác giả trong và ngoài nước. Từ đó chọn lọc, tổng hợp liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin để đưa ra hệ thống cơ sở lý luận về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân kinh doanh.

Phương pháp mô tả, so sánh và đối chiếu:

– Phương pháp mô tả: Tác giả sẽ phân tích và xử lý các thông tin thu thập, để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu, vận dụng trong phân tích các dữ liệu thứ cấp định tính, giải pháp đề xuất nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn.

– Phương pháp so sánh, đối chiếu: Tác giả thực hiện so sánh về mặt không gian tại BIDV Đông ĐăkLăk và các đối thủ trên địa bàn, so sánh về mặt thời gian giữa các năm nghiên cứu để hỗ trợ đánh giá thực trạng hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại BIDV Đông Đăk Lăk.

Hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) chi nhánh Đông Đăk Lăk
Hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) chi nhánh Đông Đăk Lăk

6. Công cụ nghiên cứu

Để nắm bắt được một cách đầy đủ về thực trạng, tác giả tiến hành thực hiện cuộc khảo sát gồm hai bảng khảo sát:

– Thứ nhất, sử dụng bảng câu hỏi khảo sát cán bộ lãnh đạo và nhân viên BIDV chi nhánh Đông Đăk Lăk về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại địa bàn.

– Thứ hai, sử dụng bảng câu hỏi khảo sát khách hàng doanh nghiệp được thẩm định tài chính vay vốn tại BIDV chi nhánh Đông Đăk Lăk, nhằm tìm hiểu nhu cầu, những khó khăn khi doanh nghiệp được thẩm định tại BIDV chi nhánh Đông Đăk Lăk. Qua đó đánh giá hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của BIDV chi nhánh Đông Đăk Lăk trên địa bàn.

Trên cơ sở lý luận, các dữ liệu thứ cấp, các dữ liệu sơ cấp thu thập được từ các mẫu điều tra, tác giả sử dụng các phương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của BIDV chi nhánh Đông Đăk Lăk trên địa bàn, tìm hiểu các nguyên nhân tồn tại, ảnh hưởng đến hoạt động này.

7. Nội dung và tiến độ nghiên cứu

8. Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương chính sau:

– Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng thương mại

– Chương 2: Thực trạng hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Đăk Lăk

– Chương 3: Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đông Đăk Lăk.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. TỔNG QUAN VỀ CHO VAY DOANH NGHIỆP VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NHTM

      1. 1.1.1. Hoạt động cho vay doanh nghiệp của NHTM

a. Khái niệm cho vay doanh nghiệp của NHTM

Cho vay doanh nghiệp là một quan hệ kinh tế, trong quan hệ này người cho vay (NHTM) chuyển giao quyền sử dụng tiền cho người đi vay (khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng) trong một thời gian nhất định. Khi đến hạn trả nợ người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền gốc và lãi vay.[1]

Cũng tương tự như cách hiểu trên, hoạt động cho vay doanh nghiệp tại Luật tổ chức tín dụng 2010 được hiểu là hình thức cấp tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.[2]

Trong hoạt động của ngân hàng truyền thống thì cho vay doanh nghiệp là hoạt động mang lại nguồn thu chính cho ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động cho vay doanh nghiệp còn đóng vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ nguồn vốn cho phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt tại một thị trường mà nguồn tiền trong nền kinh tế chủ yếu xuất phát từ các ngân hàng như tại Việt Nam. Bởi vậy, chất lượng cho vay doanh nghiệp (hay còn có thể hiểu đơn giản là chất lượng các khoản vay doanh nghiệp) luôn được các ngân hàng quan tâm đặc biệt.

b. Đặc điểm hoạt động cho vay doanh nghiệp của NHTM

Ngân hàng thương mại được coi là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng thương mại, hoạt động cho vay là hoạt động đóng góp lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng. Cho vay doanh nghiệp của NHTM có những đặc điểm sau: – Đối tượng khách hàng đa dạng vì các doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó nhu cầu vay vốn để đáp ứng cũng đa dạng và phong phú, từ việc cho vay trong lĩnh vực xây dựng đối với các doanh nghiệp xây lắp hay cho vay lĩnh vực đầu tư chăm sóc cây công nghiệp đối với các doanh ghiệp sản xuất cà phê, cao su… – Mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp là để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất như vay vốn để mua nguyên liệu phục vụ sản xuất, mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng, đổi mới thiết bị và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh với các khoản vay có giá trị lớn và có thể rất lớn.

– Thủ tục và quy trình cho vay doanh nghiệp phức tạp hơn vì tính pháp lý của doanh nghiệp phức tạp hơn nhiều so với cá nhân. Bên cạnh đó giá trị khoản vay lớn và tài sản đảm bảo thường phức tạp, khó định giá hơn vì hầu hết tài sản doanh nghiệp thường thế chấp chính nhà máy, dụng cụ sản xuất của mình… – Nguồn trả nợ của người vay từ tiền bán hàng (T-H-T’), lợi nhuận, khấu hao và các nguồn thu hợp pháp khác. – So với cho vay khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh, khách hàng doanh nghiệp có hệ thống thông tin tốt hơn, chặt chẽ hơn do đều có hệ thống thông tin kế toán, báo cáo tài chính. Các thông tin tài chính được khách hàng cung cấp từ các báo cáo tài chính, báo cáo thuế… Tùy thuộc vào báo cáo tài chính có được kiểm toán hay không , uy tín tổ chức kiểm toán mà chất lượng thông tin tài chính khách hàng cung cấp cao hay thấp. – Rủi ro xảy ra từ cho vay doanh nghiệp thường gây ra tổn thất lớn cho ngân hàng thương mại. Do đó, các lãnh đạo NHTM rất quan tâm đến quản trị rủi ro các khoản cho vay doanh nghiệp.

      1. 1.1.2. Rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp

a. Khái niệm rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, cấp tín dụng doanh nghiệp là chức năng kinh tế cơ bản của NHTM. Rủi ro trong ngân hàng cũng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng như cho vay doanh nghiệp, cho vay cá nhân, hộ gia đình,… Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra. Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng của ngân hàng.

Rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng do khách hàng doanh nghiệp vay không trả nợ đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi theo hợp đồng tín dụng cho ngân hàng. (Nguồn: PGS.TS Phan Thị Thu Hà).

Theo khoản 1 điều 2 quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước) thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.

Khi thực hiện một hoạt động cho vay doanh nghiệp cụ thể, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của doanh nghiệp vay sao cho độ an toàn là cao nhất. Tuy nhiên, không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chính xác các vấn đề sẽ xảy ra. Do vậy, trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng thì rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp là không thể tránh khỏi và là khách quan. Nhiều quan điểm nhất trí rằng, rủi ro trong cho vay doanh nghiệp là bạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế nhưng không thể loại trừ. Do vậy rủi ro tín dụng dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung của ngân hàng. Khi tổn thất xảy ra dưới mức tỷ lệ dự kiến, ngân hàng có thể coi đó là một thành công trong quản lý.

b. Phân loại rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp

Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp, việc phân loại rủi ro tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, phân tích tại các NHTM.

Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro: Rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp được chia thành:

* Rủi ro đạo đức: Là rủi ro do thông tin không cân xứng tạo ra khi cuộc giao dịch diễn ra.

* Rủi ro do sự lựa chọn đối nghịch: Là do thông tin không cân xứng tạo ra trước khi cuộc giao dịch diễn ra.

Căn cứ vào mức độ tổn thất: Rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp được chia làm 2 loại:

* Rủi ro ứ đọng vốn: Rủi ro này là do khách hàng doanh nghiệp không hoàn trả nợ đúng hạn ảnh hưởng tới kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng. Thông thường ngân hàng thường lập kế hoạch sử dụng vốn và nguồn vốn này là nguồn vốn thu từ nợ và lãi từ phía doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không trả được nợ đúng hạn thì các kế hoạch này sẽ bị đình trệ ảnh hưởng tới uy tín của ngân hàng, gia tăng chi phí cơ hội cho ngân hàng.

* Rủi ro mất vốn: Xảy ra khi doanh nghiệp không trả được một phần hoặc toàn bộ khoản nợ. Rủi ro này làm giảm sức mạnh tài chính của ngân hàng, suy giảm quy mô nếu gốc không trả được nợ, giảm khả năng sinh lời nếu lãi vay không được thanh toán.

Căn cứ vào tính tổng thể của rủi ro, rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp được chia thành:

* Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch, xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng doanh nghiệp. Rủi ro giao dịch có 3 bộ phận chính: rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo, rủi ro nghiệp vụ.

* Rủi ro danh mục: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng và được chia làm 2 loại: Rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.

Căn cứ vào giai đoạn phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp được chia thành:

* Rủi ro trước khi cho vay: Rủi ro xảy ra khi ngân hàng phân tích, đánh giá sai về khách hàng doanh nghiệp dẫn đến cho vay các khách hàng không đủ điều kiện đảm bảo khả năng trả nợ trong tương lai.

* Rủi ro trong khi cho vay: Rủi ro xảy ra trong quy trình cấp tín dụng. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro này như: Việc giải ngân không đúng tiến độ, không cập nhật thông tin khách hàng doanh nghiệp thường xuyên, không dự báo được rủi ro tiềm năng.

* Rủi ro sau khi cho vay: Rủi ro này xảy ra khi cán bộ tín dụng không nắm được tình hình sử dụng vốn vay, khả năng tài chính trong tương lai của khách hàng doanh nghiệp.

Căn cứ vào phạm vi của rủi ro,rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp, chia làm 2 nhóm là rủi ro tín dụng cá biệt và rủi ro tín dụng hệ thống.

(Nguồn: Quy định về rủi ro tín dụng theo quyết định 493/2005/QĐ – NHNN)

1.2. THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VAY VỐN CỦA NHTM

      1. 1.2.1. Tổng quan hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốncủa NHTM

a. Khái niệm về thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của NHTM

Thẩm định tài chính doanh nghiệp của NHTM là việc các NHTM sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích nhằm xem xét, rà soát lại một cách khách quan, khoa học, hệ thống và toàn diện tất cả các khía cạnh liên quan đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp đó, xu hướng tài chính, tiềm lực và khả năng của doanh nghiệp nhằm mục đích đảm bảo an toàn vốn tín dụng.

b. Mục tiêu của thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của NHTM

Thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của NHTM là các hoạt động nhằm đánh giá thực trạng về tình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn để từ đó đưa ra các giải pháp, chính sách cho vay phù hợp với tình hình thực tại của mỗi doanh nghiệp và chính sách tín dụng của mỗi ngân hàng.

Thẩm định tài chính doanh nghiệp của NHTM là quá trình vận dụng tổng thể các phương pháp phân tích khoa học để đánh giá tài chính của doanh nghiệp, giúp cho các chủ thể quản lý có lợi ích gắn với doanh nghiệp nắm được thực trạng tài chính và an ninh tài chính của doanh nghiệp, dự đoán được chính xác tài chính của doanh nghiệp trong tương lai cũng như những rủi ro tài chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải; qua đó, đề ra các quyết định phù hợp với lợi ích của họ.

Các NHTM cho vay vốn, là những người cho doanh nghiệp vay vốn để đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất – kinh doanh. Khi cho vay, họ phải biết chắc được khả năng hoàn trả tiền vay. Thu nhập của họ là lãi suất tiền cho vay. Do đó, thẩm định hoạt động tài chính đối với người cho vay là xác định khả năng hoàn trả nợ của khách hàng. Tuy nhiên, thẩm định đối với những khoản cho vay dài hạn và những khoản cho vay ngắn hạn có những nét khác nhau.

Đối với những khoản cho vay ngắn hạn, các NHTM đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp. Nói khác đi là khả năng ứng phó của doanh nghiệp khi nợ vay đến hạn trả. Đối với các khoản cho vay dài hạn, các NHTM phải thẩm định tài chính các dự án đầu tư, quản lý được quá trình giải ngân sử dụng vốn cho từng dự án đầu tư để đảm bảo khả năng hoàn trả nợ thông qua thu nhập và khả năng sinh lời của doanh nghiệp cũng như kiểm soát dòng tiền của các dự án đầu tư của doanh nghiệp.

      1. 1.2.2. Công tác thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của NHTM

a. Tổ chức hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của NHTM

Các cán bộ thẩm định của NHTM khi nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng thì đòi hỏi phải tiến hành xem xét, kiểm tra, đánh giá các hồ sơ vay vốn đó, hay nói cách khác là cán bộ tín dụng phải tiến hành thẩm định các hồ sơ vay vốn đó.Nội dung thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của NHTM bao gồm: tính pháp lý của hồ sơ vay vốn, tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh hay dự án đầu tư, thẩm định tài sản đảm bảo, thẩm định tình hình tài chính của doanh nghiệp…

Khi doanh nghiệp muốn được vay vốn ngân hàng thì doanh nghiệp lập hồ sơ vay vốn trong đó doanh nghiệp luôn cố gắng thể hiện tình hình tài chính lành mạnh và có khả năng tài chính đảm bảo tốt cho khả năng trả nợ của mình, vì tình hình tài chính của doanh nghiệp lành mạnh là một trong những điều kiện để ngân hàng xem xét cho doanh nghiệp vay vốn.

b. Thu thập thông tin hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của NHTM

Thu thập thông tin hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của NHTM bao gồm việc thực hiện khảo sát thực tế tại doanh nghiệp như: kiểm kê tài sản, khảo sát tình hình sản xuất kinh doanh thực tế của doanh nghiệp. Đồng thời, ngân hàng tiến hành thu thập thông tin quan trọng như các thông tin, tư liệu từ nội bộ doanh nghiệp: tư liệu về tình hình sản xuất kinh doanh, các báo cáo tài chính – kế toán – kiểm toán, hệ thống đơn vị sản xuất và đại lý, đặc điểm của đội ngũ quản lý điều hành, nhân viên, công nhân,… Ngoài ra còn chú ý thu thập thông tin bên ngoài doanh nghiệp đặc biệt là thị trường sản phẩm của doanh nghiệp, môi trường kinh doanh, ngành kinh doanh, các đối thủ cạnh tranh, chủ trương của Nhà nước,… Thẩm định viên cần tiến hành những bước cần thiết để bảo đảm rằng tất cả nguồn dữ liệu làm căn cứ đều đáng tin cậy và phù hợp với việc thẩm định giá. Việc thẩm định viên tiến hành các bước hợp lý để thẩm tra sự chính xác và hợp lý của các nguồn tư liệu là thông lệ trên thị trường.

c. Nội dung thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của NHTM

Thẩm định mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính

Các báo cáo tài chính được sử dụng:bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bảng thuyết minh báo cáo tài chính. Tuy nhiên không phải tất cả các doanh nghiệp đều có đủ năng lực để lập đầy đủ các báo cáo tài chính này. Hơn nữa các báo cáo tài chính mà ngân hàng yêu cầu sẽ cung cấp các thông tin cho bên ngoài nên các báo cáo này khi soạn thảo có thể khác so với báo cáo được lập trong nội bộ ngân hàng, vì vậy mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính do doanh nghiệp cung cấp chưa được đảm bảo. Mặc dù ngân hàng yêu cầu cung cấp các báo cáo tài chính đã qua kiểm toán nhưng trong thực tế đại đa số các báo cáo tài chính mà doanh nghiệp gửi cho ngân hàng đều chưa qua kiểm toán. Vì vậy thẩm định mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính là công việc diễn ra thường xuyên của nhân viên tín dụng và họ thường thực hiện các bước sau:

    • Nghiên cứu kỹ các số liệu của báo cáo tài chính
    • Sử dụng kiến thức tài chính và khả năng phân tích để phát hiện những điểm đáng nghi ngờ trong các báo cáo tài chính.
    • Xem xét bảng thuyết minh để hiểu rõ hơn về những điểm đáng ngờ trong báo cáo tài chính.
    • Mời khách hàng đến thảo luận, phỏng vấn và yêu cầu giải thích về những điểm đáng nghi ngờ đã phát hiện.
    • Viếng thăm doanh nghiệp để quan sát và nếu cần tận mắt xem lại các tài liệu kế toán gốc.
    • Kết luận về mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính do doanh nghiệp cung cấp.

Phân tích các báo cáo tài chính

* Phân tích các khoản mục chủ yếu trên các báo cáo tài chính

Nội dung phân tích về sự thay đổi trong các số liệu tài chính quan trọng của doanh nghiệp theo thời gian (thường lấy số liệu từ 3, 4 hay 5 năm gần nhât). Số liệu trong những báo cáo tài chính này bao gồm cả con số tuyệt đối và số tương đối (tỷ lệ phần trăm trên tổng tài sản đối với bảng cân đối kế toán hoặc tỷ lệ phần trăm trên tổng doanh thu đối với báo cáo thu nhập). Số tương đối phản ánh một cách rõ ràng hơn số tuyệt đối về xu hướng tài chính quan trọng đã và đang diễn ra của doanh nghiệp vay vốn và giúp nhà phân tích có thể so sánh với doanh nghiệp khác hay so sánh với bình quân ngành.

Đối với bảng cân đối kế toán:

Việc phân tích các khoản mục trên bảng cân đối kế toán sẽ giúp ngân hàng thấy sự thay đổi về cơ cấu đầu tư vào các loại tài sản và cơ cấu huy động các nguồn tài trợ của doanh nghiệp vay vốn như thế nào. Từ đó, nắm bắt được phần nào xu hướng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian đến cũng như mức độ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp này.

Đối với báo cáo thu nhập:

Phân tích báo cáo thu nhập sẽ giúp ngân hàng thấy được mức độ ổn định trong các hoạt động và hiệu quả của các chính sách mà doanh nghiệp áp dụng, khả năng kiểm soát chi phí và tăng cường thu nhập (đây chính là nguồn thu nhập chủ yếu dùng để trả nợ ngân hàng) cũng như nguyên nhân thay đổi về tình hình chi phí, thu nhập và lợi nhuận của doanh nghiệp vay vốn.

Đối với báo cáo lưu chuyển tiền tệ:

Phân tích các khoản mục của báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ giúp ngân hàng thấy được nguyên nhân thay đổi về tình hình tài sản, nguồn vốn, khả năng thanh toán của doanh nghiệp vay vốn.

Mỗi một khoản mục đều có một cách tiếp cận phân tích, đặt ra các câu hỏi đánh giá khác nhau nhưng đều đi đến mục tiêu chung là làm rõ số liệu đích của các khoản mục này và sự biến động của các khoản mục đó ra sao. Việc phân tích sự thay đổi của các khoản mục này sẽ giúp ngân hàng xác định được các vấn đề đang phát sinh nhằm đưa ra quyết định hợp tác hay rút lui hoặc có biện pháp bảo vệ nhằm khoản cho vay của mình.

* Phân tích các thông số tài chính chủ yếu:

(1) Các thông số khả năng thanh toán:

Tính thanh khoản của tài sản phụ thuộc vào mức độ dễ dàng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt mà không phát sinh thua lỗ lớn. Việc quản lý khả năng thanh toán bao gồm việc khớp các yêu cầu trả nợ với thời hạn của tài sản và các nguồn tiền mặt khác nhằm tránh mất khả năng thanh toán mang tính chất kỹ thuật. Việc xác định khả năng thanh toán là quan trọng. Do đó, vấn đề chính là liệu một công ty có khả năng tạo ra đủ tiền mặt để thanh toán cho những nhà cung cấp nguyên vật liệu và các chủ nợ hay không.

(2) Các thông số hoạt động:

Các thông số hoạt động xác định tốc độ mà một công ty có thể tạo ra được tiền mặt nếu có nhu cầu phát sinh. Rõ ràng là một công ty có khả năng chuyển đổi hàng dự trữ và các khoản phải thu thành tiền mặt nhanh hơn sẽ có tốc độ huy động tiền mặt nhanh hơn. Các hệ số sau đây và việc tính toán được thiết lập dựa trên giả định rằng một năm có 360 ngày.

(3) Thông số đòn bẩy tài chính:

Mở rộng các phân tích sang khả năng thanh toán nợ dài hạn của công ty chúng ta có thể sử dụng đến thông số đòn bẩy tài chính.

(4) Thông số khả năng sinh lợi:

Cho thấy mức độ sinh lời của doanh thu, của vốn kinh doanh , vốn chủ sở hữu, vốn đầu tư trong doanh nghiệp.

Như vậy việc thẩm định tình hình tài chính của doanh nghiệp là một cơ sở để cán bộ tín dụng ra quyết định cho vay đối với các doanh nghiệp

      1. 1.2.3. Những tiêu chí đánh giá kết quả của công tác thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của NHTM

a. Tiêu chí phản ánh khối lượng công việc thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn của NHTM

(1) Số lượng doanh nghiệp vay vốn tại NHTM

Đây là tiêu chí thể hiện quy mô tín dụng doanh nghiệp của NHTM, cho thấy năng lực và vị thế của NHTM trên thị trường vốn tín dụng doanh nghiệp, đồng thời cũng thể hiện khối lượng công việc thẩm định tài chính doanh nghiệp của NHTM trước, trong và sau khi cấp tín dụng để đảm bảo tính an toàn của tín dụng đã cấp. Số lượng doanh nghiệp vay vốn càng nhiều thì lượng công việc thẩm định càng nhiều và phức tạp.

(2) Tăng trưởng số lượng doanh nghiệp vay vốn tại NHTM

Đây là tiêu chí phản ánh định hướng phát triển tín dụng doanh nghiệp của NHTM, cho thấy nỗ lực của NHTM qua các năm trong việc khai thác, phát triển thị trường tín dụng doanh nghiệp, đồng thời cũng phản ánh quy mô tăng trưởng của lượng công việc thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn hàng năm của NHTM. Mức tăng trưởng số lượng doanh nghiệp vay vốn càng cao thì lượng công việc thẩm định càng tăng nhiều và cần được quan tâm triệt để.

(3) Dư nợ tín dụng doanh nghiệp của NHTM

Dư nợ tín dụng doanh nghiệp là tiêu chí quan trọng cho thấy thị phần, sức mạnh của NHTM trên thị trường tín dụng nói chung và tín dụng doanh nghiệp nói riêng, đồng thời quy mô dư nợ cũng là tiêu chí quyết định khối lượng công việc thẩm định tín dụng doanh nghiệp của NHTM. Dư nợ tín dụng càng lớn thì lượng công việc thẩm định càng nhiều và quan trọng.

(4) Tăng trưởng dư nợ tín dụng doanh nghiệp của NHTM

Tăng trưởng dư nợ tín dụng doanh nghiệp của NHTMphản ánh sức bật và quy mô phát triển tín dụng doanh nghiệp hàng năm của NHTM. Tăng trưởng dư nợ tín dụng doanh nghiệp càng cao thì lượng công việc thẩm định càng tăng và cần nhiều sự quan tâm của cấp lãnh đạo ngân hàng.

(5) Số lượng và cơ cấu khoản vay doanh nghiệp của NHTM

Ngoài quy mô dư nợ, tăng trưởng dư nợ, số lượng và cơ cấu khoản vay doanh nghiệp của NHTM cũng sẽ quyết định khối lượng công việc thẩm định tín dụng doanh nghiệp vay vốn. Số lượng khoản vay càng nhiều với cơ cấu khoản vay đa dạng thì càng cần nhiều nhân lực chuyên môn cao trong việc thẩm định tín dụng.

b. Tiêu chí phản ánh chất lượng của công tác thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn

(1) Tỷ lệ nợ nợ xấu của doanh nghiệp vay vốn tại NHTM

Đây là tiêu chí thế hiện chất lượng tín dụng của doanh nghiệp cũng như chất lượng công tác thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại NHTM. Tỷ lệ nợ xấucàng cao càng thể hiện công tác thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn yếu kém và ngược lại.

(2) Cơ sở vật chất để thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn

Mỗi cán bộ thẩm định có được trang bị đầy đủ các phương tiện làm việc, máy móc, phần mềm tiện ích để cán bộ thẩm định có được một môi trường làm việc hiệu quả nhất hay không?

(3) Tính chính xác trong kết quả thẩm địnhtài chính doanh nghiệp vay vốn

Nội dung kết quả thẩm định khi đối chiếu với tình hình thực tế của doanh nghiệp vay vốn có cho thấy sai lệch, thiếu sót hay dự báo chính xác?

      1. 1.2.4. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại NHTM

a. Các nhân tố khách quan

Hành lang pháp lý, cơ chế chính sách nhà nước

Đây là những nhân tố thuộc về môi trường kinh tế, pháp luật, xã hội, tự nhiên… Những nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến công tác thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn và các ngân hàng hay tổ chức tín dụng chỉ có thể khắc phục được một phần. Hành lang pháp lý, cơ chế chính sách của Nhà nước đóng vai trò là khuôn khổ định hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế, trong đó có các các ngân hàng, tổ chức tín dụng phục vụ mục tiêu chung của xã hội. Những khuyết điểm trong tính hợp lý, tính đồng bộ hay tính tiêu cực của các văn bản pháp lý, chính sách quản lý của Nhà nước đều có thể gây khó khăn, tăng rủi ro đối với kết quả hoạt động của dự án cũng như với hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Một số bất cập chính do hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý của Nhà nước thường gặp là: Với các dự án đầu tư trong và ngoài nước liên quan đến nhiều chính sách mà các chính sách này chưa được hoàn thiện đầy đủ, ổn định, thường thay đổi liên tục dẫn đến tâm lý không an tâm, tin tưởng của các nhà đầu tư. Hệ thống văn bản pháp luật chưa đầy đủ còn khá nhiều kẽ hở và bất cập làm phát sinh những rủi ro và hạn chế nguồn thông tin chính xác đến các tổ chức tín dụng.

Tác động của lạm phát

Lạm phát là yếu tố bất định có ảnh hưởng tới việc thẩm định tài chính doanh nghiệp. Lạm phát gây nên sự thay đổi về giá cả theo thời gian. Do vậy, nó làm biến đổi dòng tiền kỳ vọng và tỷ lệ chiết khấu khi đánh giá tài chính doanh nghiệp. Mức lạm phát không thể dự đoán một cách chính xác vì nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như quy luật cung cầu, thu nhập và tâm lý người tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Các biến số tài chính trong dự án của doanh nghiệp, các yếu tố đầu vào của các chỉ tiêu như NPV, IRR… đều chịu tác động của lạm phát. Do vậy, đánh giá tính hiệu quả của một dự án nào đó của doanh nghiệp, cần phải xác định chính xác, hợp lý giá cả của các yếu tố cấu thành chi phí hay doanh thu của dự án.

b. Các nhân tố chủ quan

Nhận thức của lãnh đạo NHTM

Nhận thức của lãnh đạo các NHTM, tổ chức tín dụng về công tác thẩm định tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng. Vì nếu lãnh đạo các tổ chức tín dụng cho rằng công tác thẩm định tài chính doanh nghiệp là không cần thiết đối với các tổ chức tín dụng thì sẽ không có việc thẩm định tài chính doanh nghiệp trước khi ra quyết định cho vay. Công tác thẩm định tài chính doanh nghiệp chỉ thực sự được quan tâm và nâng cao khi các nhà lãnh đạo các NHTM và tổ chức tín dụng nhận thức được ý nghĩa của công tác này đối với hoạt động tín dụng.

Trình độ cán bộ thẩm định tài chính doanh nghiệp

Năng lực của người tham gia thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn có vai trò rất quan trọng vì kết quả thẩm định tài chính được dựa trên các kết quả nghiên cứu, phân tích về kỹ thuật, thị trường, tổ chức sản xuất,… Năng lực của cán bộ thẩm định ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả mà họ đảm trách. Do vậy, trong mọi trường hợp, muốn hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án thì trước hết bản thân chất lượng của cán bộ thẩm định phải không ngừng được nâng cao. Họ phải đáp ứng được những đòi hỏi về chuyên môn nghiệp vụ, nắm vững các văn bản pháp luật, chế độ chính sách của Nhà nước. Ngoài ra, tư cách phẩm chất đạo đức của cán bộ thẩm định cũng là điều kiện không thể thiếu.

Quy trình, nội dung và phương pháp thẩm định tài chính doanh nghiệp

Quy trình, nội dung và phương pháp thẩm định tài chính doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn tới công tác thẩm định tài chính doanh nghiệp. Một quy trình, nội dung và phương pháp phù hợp, khách quan khoa học và đầy đủ là cơ sở đảm bảo thực hiện tốt công tác thẩm định tài chính doanh nghiệp. Ngược lại, một quy trình, nội dung và phương pháp thẩm định bất hợp lý, sơ sài chắc chắn sẽ dẫn tới kết quả thẩm định tài chính doanh nghiệp không cao và các NHTM, tổ chức tín dụng khó có thể dựa vào đó để ra quyết định chính xác.

Chất lượng thông tin đầu vào

Thông tin là cơ sở cho những phân tích, đánh giá, là “nguyên liệu” cho quá trình tác nghiệp của cán bộ thẩm định. Nguồn thông tin quan trọng nhất trước hết là từ hồ sở doanh nghiệp. Nếu thông tin trong hồ sơ thiếu hoặc không rõ ràng, cán bộ thẩm định có quyền yêu cầu khách hàng cung cấp thêm hoặc giải trình những thông tin đó. Bên cạnh các thông tin do khách hàng cung cấp, để việc thẩm định được tiến hành một cách chủ động, có những đánh giá khách quan, chính xác hơn thì khả năng tiếp cận, thu thập các nguồn thông tin khác và khả năng xử lý thông tin của cán bộ thẩm định đóng vai trò quyết định.

Chất lượng công tác tổ chức điều hành

Thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn là tập hợp nhiều hoạt động có liên quan chặt chẽ với nhau và với các hoạt động khác. Kết quả thẩm định sẽ phụ thuộc nhiều vào công tác tổ chức quản lý điều hành, sự phối hợp nhịp nhàng của cán bộ trong quá trình thẩm định. Khác với các nhân tố khác, việc tổ chức điệu hành tác động một cách gián tiếp tới công tác thẩm định. Công tác tổ chức điều hành được thực hiện một cách chặt chẽ, khoa học và sẽ khai thác tối đa mọi nguốn lực phục vụ hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐÔNG ĐĂK LĂK

2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐÔNG ĐĂK LĂK

      1. 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
      2. 2.1.2. Cơ cấu tổ chức và trách nhiệm của các phòng ban
      3. 2.1.3. Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đông Đăk Lăk giai đoạn 2015-2017 (sẽ trình bày theo bảng)

2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐÔNG ĐĂK LĂK

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\TAI CHINH NGAN HANG\DCCT KON TUM\LUONG DUC SINH

Hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) chi nhánh Đông Đăk Lăk

Hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) chi nhánh Đông Đăk Lăk

Hoàn thiện hoạt động thẩm định tài chính doanh nghiệp vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) chi nhánh Đông Đăk Lăk

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *