Hoàn thiện hoạt động cho vay chăm sóc cà phê đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trên thế giới hiện có khoảng 75 nước trồng cà phê và chủ yếu tập trung ở Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á. Các nươc xuất khẩu cà phê chính hiện nay là Brazil, Colombia, Việt Nam, Indonesia và Guatemala. Trong khi đó, các nước phát triển như Mỹ, các nước EU, Nhật Bản và mộ số nước công nghiệp mới như Singaporo và Malaysia là những nước nhập khẩu chủ yếu.
Tại Việt Nam, do lợi nhuận từ trồng cà phê cao, người dân đã tăng diện tích trồng bằng nhiều cách khác nhau như phá bỏ các loại cây trồng khác, phá rừng v.v… để trồng cà phê
Hiện nay, người trồng cà-phê ở tỉnh Đắc Lắc nói riêng, các tỉnh Tây Nguyên nói chung đã thu hoạch cà-phê niên vụ 2018. Người trồng cà-phê vốn đã khó khăn vì giá cà-phê liên tục giảm mạnh, nay càng khốn đốn hơn khi giá thuê nhân công thu hái tăng cao.
Việc hạn chế thuê người thu hái cũng chỉ là bất đắc dĩ và khá đau đầu đối với người trồng cà-phê ở Tây Nguyên, bởi cà-phê chỉ thu hoạch một lần, nếu thuê người thu hái thì lỗ mà không thuê lỡ xảy ra mất trộm càng thiệt hại nặng hơn. Bên cạnh đó, người trồng cà-phê ở Đác Lắc nói riêng, các tỉnh Tây Nguyên nói chung không phải gia đình nào cũng có vốn để đầu tư, mà phần lớn đều phải vay ngân hàng, thậm chí là vay nóng bên ngoài để đầu tư, nay đến thời điểm trả nợ, giá cà-phê lại hạ thấp buộc người nông dân cũng phải bán để được bao nhiêu hay bấy nhiêu.
Toàn tỉnh hiện có 202.476 ha cà-phê, trong đó có hơn 192.000 ha cà-phê kinh doanh cho thu hoạch, với sản lượng ước đạt hơn 450.000 tấn cà-phê nhân. Năm nay, người trồng cà-phê gặp khó khăn, không có lãi, thậm chí là thua lỗ. Vì vậy, để giúp người trồng cà-phê giảm bớt khó khăn, Đắc Lắc đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người đẩy nhanh công tác tái canh những diện tích cà-phê già cỗi để nâng cao năng suất, chất lượng cà-phê của tỉnh, đồng thời khuyến khích người dân trồng xen các loại cây ăn trái khác trong vườn cà-phê để tăng thu nhập và phát triển bền vững.
Vì vậy hoạt động cho vay vốn của ngân hàng đối khách hàng cá nhân hộ gia đình hiện nay là hết sức cần thiết theo tinh thần nghị định 55/2015/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và nghị định 116/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 55.
Hiện tại hoạt động cho vay chăm sóc cà phê đối với cá nhân tại Chi nhánh đang gặp một số khó khăn vướng mắc đó là:
Thứ nhất, chu kỳ sản xuất cây cà phê là 1 năm 1 vụ thu hoạch nên hoạt động cho vay chăm sóc cà phê với kỳ hạn cho vay đa số là 11 hoặc12 tháng, kỳ hạn trả lãi 3 tháng 1 lần theo quy định của ngân hàng, trong khi đó nguồn thu từ hoạt động cho vay chăm sóc cà phê là 12 tháng.
Thứ hai, tài sản đảm bảo để vay vốn chủ yếu là từ Quyền sử dụng đất của chính mảnh đất trồng cà phê đó nhưng chỉ được Nhà nước cấp chứng nhận Quyền sở hữu đất chứ chưa cấp quyền sở hữu tài sản gắn liền trên đất. Việc định giá tài sản đảm bảo để vay vốn là đất cà phê thuộc đất nông nghiệp nên giá trị định giá thấp so với các loại đất khác, giá trị sau khi định giá nhân với hệ số 0,8 ra số tiền khách hàng được vay tối đa bao nhiêu tương đối thấp chưa đáp ứng nhu cầu vay vốn của người dân.
Thứ ba, theo quy định của Ngân hàng vì vườn cà phê là tài sản tài sản gắn liền trên đất chưa được Nhà nước cấp chứng nhận quyền sở hữu thì phải có chứng nhận của cơ quan Nhà nước nước xã /phường xác nhận thì mới được định giá làm tài sản bảo đảm, giá trị sau khi định giá nhân với hệ số 0,2 ra số tiền khách hàng được vay cũng khá thấp. Mặt khác, việc xác nhận của xác nhận của xã/phường đối với vườn cà phê là rất khó khăn và hầu như không làm được.
Thứ tư, hoạt động cho vay chăm sóc cà phê có rủi ro vì không mua bảo hiểm cho vườn cây vì lĩnh vực nông nghiệp chưa được các công ty bảo hiểm triển khai.
Vì vậy, với những lý do trên đề tài: “Hoàn thiện hoạt động cho vay chăm sóc cà phê đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc ĐắkLắk ” được chọn làm đề tài nghiên cứu của em.
Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu để tìm ra các giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay chăm sóc cà phê đối với cá nhân tại địa bàn hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Bắc ĐăkLăk. Để đạt được mục tiêu này đề tài đặt ra các mục tiêu cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động cho vay chăm sóc cà phê đối với khách hàng cá nhân của NHTM.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay chăm sóc cà phê đối với cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.
– Đưa ra các giải pháp gồm những đề xuất và khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay chăm sóc cà phê đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: Cho vay chăm sóc cà phê đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại.
– Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Bắc ĐắkLắk.
+ Thời gian: Số liệu và tình hình thực trạng cho vay chăm sóc cà phê đối với khách hàng cá nhân trong 3 năm từ 2016– 2018, đề xuất định hướng và khuyến nghị cho giai đoạn 3 năm tới 2019-2021
- Nội dung: Hoạt động cho vay chăm sóc cà phê đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc ĐắkLắk
Trên cơ sở thu thập được dữ liệu về tình hình cho vay CSCP đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam Chi nhánh Bắc Đăk Lăk, địa bàn tỉnh Đăk Lăk, số liệu nợ xấu, số lượng khách hàng,… trong giai đoạn 2016-2018. Tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
Thu thập dữ liệu từ hai nguồn chính.
- Nguồn dữ liệu sơ cấp :
+ Khảo sát điều tra phỏng vấn nhân viên trong ngân hàng. Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, chọn lựa các nhân viên bất kỳ đang công tác tại các bộ phận liên quan đến đề tài nghiên cứu tại chi nhánh. Tác giả thực hiện phỏng vấn nhân viên trong ngân hàng (phỏng vấn 4 người), đối tượng là các nhân viên trong ngân hàng thuộc 3 phòng giao dịch và 1 phòng khách hàng cá nhân. Việc thực hiện phỏng vấn trực tiếp nhân viên giúp hiểu rõ từ khi gặp khách hàng cho đến lúc cho vay và quản lý; những khó khăn vướng mắc thường gặp gây khó khăn trong công tác cho vay cá nhân tại chi nhánh; nghiên cứu, thu thập được những góp ý, đề xuất của cá nhân của nhân viên để phục vụ đánh giá thực trạng hoạt động cho vay kinh doanh đối với khách hàng cá nhân tại chi nhánh; giải pháp khắc phục khó khăn. (Tham vấn cán bộ, chuyên viên trong ngân hàng ).
+ Phỏng vấn chuyên gia (NHNN, quản trị NHTM khác…): Áp dụng phương pháp chọn mẫu phán đoán do cần chọn đúng đối tượng (thông qua hiểu biết cá nhân về những người phỏng vấn, lĩnh vực công việc đang làm, trình độ…) để đánh giá họ là người am hiểu về vấn đề nghiên cứu, tham khảo ý kiến của họ. Đây là phương pháp có hiệu quả thực tiễn rất cao, ngoài ra lại tiết kiệm được thời gian, do nguồn thông tin thu thập được trực tiếp từ những người có trình độ, nghiệp vụ, đặc biệt là có kinh nghiệm trong các lĩnh vực có liên quan đến tín dụng cho vay KHCN CSCP của NHTM. Với khoảng thời gian ngắn có thể có được nhiều câu trả lời trực diện vào vấn đề đang quan tâm. Tác giả thực hiện phỏng vấn chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng (phỏng vấn 3 người), đối tượng chủ yếu là các lãnh đạo quản lý, kiểm soát khu vực nắm bắt tình hình hoạt động các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk. Nhằm hỗ trợ thu thập thông tin, giúp cho tác giả nắm rõ hơn tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại trên địa bàn, chính sách thay đổi mới của ngân hàng nhà nước, những rủi ro thường mắc phải của hầu hết các ngân hàng thương mại để đưa ra những giải pháp thiết thực trong thời gian tới.
- Nguồn dữ liệu thứ cấp :
+ Dữ liệu bên trong ngân hàng : dựa vào các báo cáo, các nguồn dữ liệu thứ cấp, các văn bản, công văn, Quyết định đã ban hành, sửa đổi. Nắm bắt định hướng kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc ĐăkLăk trên địa bàn; quy trình nội bộ phục vụ đưa ra các giải pháp thiết thực, đúng hướng nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay khách hàng cá nhân kinh doanh.
+ Dữ liệu bên ngoài ngân hàng: Thông qua các văn bản pháp lý, các Quyết định của Ngân hàng Nhà nước về quy định, quy trình cho vay, các chính sách của chính phủ, sản phẩm của Ngân hàng… nhằm hỗ trợ so sánh, đánh giá mức ảnh hưởng của tác động môi trường bên ngoài, thủ tục hành chính đến công tác cho vay khách hàng cá nhân CSCP, tác giả thực hiện khảo sát: môi trường thể chế, kinh tế địa phương, đối thủ, môi trường tự nhiên, khảo sát nhu cầu khách hàng cá nhân để phục vụ việc đưa ra giải pháp phù hợp.
- Phương pháp xử lý dữ liệu:
Phân tích và tổng hợp lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu liên quan về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân kinh doanh của các luận văn Thạc sỹ được bảo vệ tại trường Đại học Kinh tế- Đại học Đà Nẵng, các bài báo khoa học trong các tạp chí, giáo trình tham khảo của các tác giả trong nước.Từ đó chọn lọc, tổng hợp liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin để đưa ra hệ thống cơ sở lý luận về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân CSCP.
Phương pháp mô tả, so sánh và đối chiếu.
Phương pháp mô tả: Tác giả sẽ phân tích & xử lý các thông tin thu thập, để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu, vận dụng trong phân tích các dữ liệu thứ cấp định tính, giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay CSCP đối với khách hàng cá nhân.
Phương pháp so sánh, đối chiếu: Tác giả thực hiện so sánh về mặt không gian tại BIDV Bắc ĐăkLăk và các đối thủ trên địa bàn, so sánh về mặt thời gian giữa các năm nghiên cứu để hỗ trợ đánh giá thực trạng công tác cho vay CSCP đối với khách hàng cá nhân tại BIDV Bắc Đăk Lăk.
6. Nội dung nghiên cứu đề tài và tiến độ thực hiện
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
– Ý nghĩa về mặt khoa học : Góp phần hệ thống cơ sở lý luận về hoạt động cho vay CSCP đối với khách hàng cá nhân của NHTM, làm rõ hơn tính chất đặc thù của hoạt động cho vay CSCP đối với khách hàng cá nhân.
– Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Đề tài nghiên cứu góp phần hoàn thiện hoạt động cho vay CSCP đối với ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh Bắc ĐakLak trên cơ sở hệ thống những kết quả đạt được và hạn chế, đưa ra một số khuyến nghị để mở rộng cho vay CSCP đối với khách hàng cá nhân.
8. Bố cục dự kiến của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay chăm sóc cà phê đối với khách hàng cá nhân.
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay chăm sóc cà phê đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam– chi nhánh Bắc Đắk Lắk.
Chương 3: Khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay chăm sóc cà phê đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Bắc Đắk Lắk.

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CHĂM SÓC CÀ PHÊ ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA
1.1. TỔNG QUAN vỀ hoẠt đỘng cho vay CHĂM SÓC CÀ PHÊ ĐỐI VỚI CÁ NHÂN cỦa NHTM
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoản trả cả gốc và lãi.
Cho vay khách hàng cá nhân là một hình thức tài trợ của ngân hàng cho các kháchhàng cá nhân, đó là quan hệ kinh tế mà trong đó ngân hàng chuyển cho các cá nhân quyền sử dụng một khoản tiền với những điều kiện nhất định được thỏa thuận trong hợp đồng nhằm phục vụ mục đích của khách hàng.
Cho vay khách hàng cá nhân sản xuất là một hình thức tài trợ của ngân hàng cho các khách hàng cá nhân, đó là quan hệ kinh tế mà trong đó ngân hàng chuyển cho các cá nhân quyền sử dụng một khoản tiền với những điều kiện nhất định được thỏa thuận trong hợp đồng nhằm phục vụ mục đích sản xuất của khách hàng.
Về đối tượng cấp tín dụng (mục đích vay vốn): Phục vụ hoạt động sản xuất của khách hàng cá nhân: Bổ sung vốn cho hoạt động chăm sóc cà phê trong vòng 1 năm hay dài hơn.
Quy mô món vay nhỏ: Các khoản vay của cá nhân thường nhỏ hơn nhiều so với các khoản vay của doanh nghiệp do hạn chế về khả năng thu nhập, khả năng vốn, khả năng về tài sản bảo đảm.
Không có điều kiện để khai thác lợi thế tiết kiệm chi phí do quy mô: Xuất phát từ quy mô từng món vay là nhỏ và số lượng khách hàng cá nhân là nhiều hơn so với đối tượng khách hàng doanh nghiệp, điều này đã kéo theo các chi phí liên quan đến quá trình cho vay thường cao hơn so với khách hàng tổ chức.
Cho vay khách hàng cá nhân chăm sóc cà phê đối diện với nhiều yếu tố rủi ro hơn trong danh mục cho vay của ngân hàng.
Cho vay khách hàng cá nhân chăm sóc cà phê có mức độ rủi ro lớn và được coi là tài sản rủi ro nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng. Xuất phát từ bản thân khách hàng vay vốn có thể có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến mất khả năng chi trả hay khi khách hàng cố tình không chịu trả nợ, hoặc do sự biến động về tình hình giá cả, thời tiết mùa vụ… Việc thẩm định khả năng trả nợ của các cá nhân cũng hết sức khó khăn. Ngoài ra, để có được khoản vay có nhiều khách hàng giấu các thông tin về tình hình sức khoẻ và tình hình công việc của mình nên các ngân hàng dễ gặp phải hậu quả của tình trạng thông tin bất đối xứng.
Bên cạnh đó, các khoản cho vay cá nhân thường có quy mô nhỏ, khách hàng đa dạng nhưng lại chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn nên để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh, hầu hết các ngân hàng khi cho vay khách hàng cá nhân đều yêu cầu khách hàng thế chấp, cầm cố tài sản bảo đảm nhằm gắn chặt trách nhiệm trả nợ của khách hàng khi vay vốn và đây là một lợi thế đáng kể so với việc cho vay khách hàng doanh nghiệp với mức bảo đảm về tài sản là khá thấp.
Lãi suất cho vay thường cao hơn: Do quy mô của các khoản vay thường nhỏ, dẫn đến chi phí để cho vay (về thời gian, nhân lực đi thẩm định, quản lý khoản vay) cao đồng thời rủi ro của các khoản vay này cũng rất cao. Do vậy, lãi suất cho vay khách hàng cá nhân thường cao hơn lãi suất các khoản cho vay doanh nghiệp. Từ trước đến nay, cho vay khách hàng cá nhân vẫn được các ngân hàng coi là khoản mục mang lại lợi nhuận khá cao.
Cho vay khách hàng cá nhân chăm sóc cà phê gồm những loại sau:
Căn cứ vào phương thức hoàn trả: Cho vay từng lần; cho vay theo hạn mức; cho vay thấu chi, cho vay trả góp:
- Cho vay từng lần: là các khoản vay ngắn hạn của cá nhân nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời và được thanh toán một lần khi khoản vay đáo hạn.
- Cho vay theo hạn mức: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức cho vay. Khách hàng có thể vay tới hạn mức tối đa và hoàn trả tất cả hoặc một phần số tiền đã vay sau đó lại vay tiếp, có thể lên đến mức tối đa cho tới khi hết thời hạn rút vốn quy định trong hợp đồng áp dụng với các cá nhân sản xuất vay vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất.
- Cho vay thấu chi: Là hình thức cho vay ngân hàng cho phép khách hàng vay được chi vượt quá số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này gọi là hạn mức thấu chi. Đặc điểm của hình thức cho vay này là cho vay ngắn hạn, thủ tục đơn giản và thường được áp dụng đối với khách hàng có độ tín nhiệm cao, kì thu nhập ngắn, đều đặn.
- Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc theo nhiều lần trong thời hạn cho vay đã thỏa thuận thường theo tháng hoặc theo quý. Những khoản vay này thường dùng để đầu tư tài sản cố định như: đất đai, nhà cửa, máy móc thiết bị. Có 2 loại hình trả góp sau:
- Trả góp theo lãi gộp: Lãi của khoản vay này được tính theo số tiền vay ngay tại thời điểm cho vay và trong suốt thời gian vay, cộng với nợ gốc và chia đều cho các kỳ trả nợ.
- Trả góp theo dư nợ thực tế: Lãi của khoản vay này áp dụng lãi suất thả nổi và tính lãi theo dư nợ thực tế hàng tháng.
Căn cứ vào hình thức bảo đảm tiền vay vào hình thức cho vay: Cho vay có tài sản bảo đảm; Cho vay không có tài sản bảo đảm
- Cho vay có tài sản bảo đảm: Là cho vay với tài sản bảo đảm là bất động sản, động sản, giấy tờ có giá… hình thành từ vốn vay hoặc tài sản thuộc sở hữu của khách hàng trước khi vay vốn của ngân hàng. Tài sản bảo đảm làm tăng tính an toàn cho khoản vay do ngân hàng có thể tạo áp lực để buộc khách hàng phải trả nợ hoặc trong tình huống xấu nhất khách hàng không trả được nợ thì việc phát mại tài sản bảo đảm cũng giúp giảm bớt tổn thất cho ngân hàng. Cho vay có tài sản đảm bảo lại được chia thành hai loại:
+ Loại 1 bao gồm các tài sản thuộc sở hữu hoặc sử dụng lâu dài của chính khách hàng. Có thể chia các hình thức đảm bảo của loại này thành hai loại nhỏ sau:
- Cho vay cầm cố là hình thức ngân hàng cho khách hàng vay tiền với điều kiện là khách hàng phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng trong thời gian đã cam kết. Danh mục và điều kiện của tài sản cầm cố được ngân hàng quy định cụ thể dựa trên quy định của pháp luật và chính sách tín dụng của từng ngân hàng. Các tài sản cầm cố thường là các tài sản mà ngân hàng có thể kiểm soát và bảo quản tương đối chắc chắn, đồng thời việc ngân hàng nắm giữ không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của khách hàng chẳng hạn như: các giấy tờ có giá, ngoại tệ mạnh, kim loại quý,…
- Cho vay thế chấp là hình thức mà người vay phải chuyển toàn bộ các giấy tờ chứng nhận sở hữu hoặc sử dụng các tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời gian cam kết. Đối với thế chấp bằng tài sản thì những tài sản mang thế chấp thường là bất động sản như nhà cửa, quyền sử dụng đất,…hoặc là những động sản mà người vay vẫn cần sử dụng như ô tô, tàu thủy,…Việc thế chấp bằng tài sản cho phép người nhận tài trợ tiếp tục được sử dụng tài sản trong thời gian vay. Tuy nhiên, quá trình sử dụng có thể làm biến dạng tài sản, hơn nữa khả năng kiểm soát của tài sản đảm bảo của ngân hàng bị hạn chế. Việc định giá tài sản đảm bảo cũng là một khó khăn lớn đòi hỏi phải có sự thẩm định kỹ lưỡng tránh định giá quá cao gây thiệt hại cho ngân hàng hoặc định giá quá thấp gây ảnh hưởng đến khả năng vay của khách hàng.
+ Loại 2 cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ tiền vay. Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn nhưng không có tài sản đảm bảo hoặc tài sản đó không đáp ứng được các điều kiện của ngân hàng thì ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng sử dụng chính tài sản được hình thành từ nguồn tài trợ của ngân hàng làm vật đảm bảo. Nếu khách hàng không có khả năng trả nợ, ngân hàng sẽ phát mại tài sản đó để thu nợ. Để đảm bảo khách hàng không bán tài sản hoặc sử dụng không cẩn thận làm giảm giá trị của tài sản, ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải cam kết bảo quản tài sản, mua bảo hiểm và người thụ hưởng là ngân hàng, đồng thời chuyển toàn bộ giấy tờ sở hữu cho ngân hàng.
Cho vay bảo đảm không bằng tài sản: Là cho vay dựa trên uy tín hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, không có tài sản bảo đảm. Ngân hàng lựa chọn các khách hàng có uy tín và khả năng trả nợ tốt để cho vay. Ngân hàng cho khách hàng vay tiền để đáp ứng nhu cầu của khách hàng trên cơ sở tín chấp lương, chủ yếu được áp dụng đối với khách hàng có thanh toán lương qua NH, có thu nhập ổn định, thu nhập ngoài việc trang trải các chi tiêu thường xuyên còn có một phần tích luỹ để trả nợ vay (công chức, viên chức trong biên chế nhà nước, nhân viên có hợp đồng lao động dài hạn,…), ngoài ra thu nhập hình thành từ sản xuất kinh doanh cũng có thể được xem xét dùng làm nguồn trả nợ. Hình thức này phù hợp với những khoản vay giá trị không lớn, thời hạn vay ngắn
F:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\TAI CHINH NGAN HANG\DCCT KON TUM\LE THI KIM


