GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỦA VIỆT NAM

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỦA VIỆT NAM

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỦA VIỆT NAM

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài luận án

Trong thời gian qua, cùng với chính sách đổi mới, mọi thành phần kinh tế được khuyến khích và tạo nhiều điều kiện thuận lợi để tham gia kinh doanh

trênthịtrường. Từđó, cạnh tranh ngày càngtrởnên mạnhmẽtrong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hộicủađất nước. Tuy nhiên, cùngvới sựgia tăng mức độcạnh tranh, đãxuất hiện những hành vicảntrở, hạnchếcạnh tranh, những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gây khó khăn cho hoạtđộngkinh doanh của doanh nghiệp, làm ảnh hưởng tới môi trường cạnh tranh của đất nước.

Trướcthực tếđó, năm 2004, Quốc hộiđã ban hành Luật Cạnh tranh nhằmđiều tiết các hành vi cạnh tranh, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo các cơ hội cạnh tranh bình đẳng, không phân biệt đối xử cho các doanh nghiệp, sửdụng hiệuquảcác nguồnlựcxã hộivà thúc đẩyphát triển kinh tế bền vững. Theo quy định của Luật Cạnh tranh, các hành vi nhưthoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền và tập trung kinh tế cũng như các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đều chịu sự điều chỉnh của Luật Cạnh tranh.

Từ khi có hiệu lực đến nay, pháp luật cạnh tranh đã bước đầu phát huy vai trò tích cực trong việc phát triển môi trường cạnh tranh lành mạnh, xử lý những hành vi làm sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, sốlượngvụviệc cạnh tranhđược điềutra, xửlý là chưa nhiều (08vụhạnchếcạnh tranh và 122vụcạnh tranh không lành mạnh). Nguyên nhândẫnđến hiệuquảthực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam trong thời gian qua chưađược nhưkỳvọng là do còn nhiềubấtcậpvềquyđịnhcủa pháp luật cạnh tranh, bộ máy thực thi và nhận thức của cộng đồng.

Thứ nhất, một số quy định của pháp luật cạnh tranh khó thực thi

– Cơ sở để xác định thị trường liên quan: theo quy định Luật Cạnh tranh hiện hành việc xác địnhmộtdoanh nghiệp có vi phạm các hành vihạnchếcạnh tranh bao gồm:lạmdụng vị trí thống lĩnhthịtrường, tập trung kinh tế, thoả thuậnhạnchếcạnh tranhđược xác địnhtrên cơ sởyếutốthịphần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan. Do đó, vấn đề xác định thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan làhếtsứcquan trọng cóyếutốquyếtđịnhtrong quá trình thực thi. Tuy nhiên, theo quyđịnhhiện hành thì các yếutốđểxác địnhthịtrường liên quan làkhông phù hợp với thực tế do đó gây nhiều khó khăn trong quá trình thực thi.

– Về kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế (mua bán và sáp nhập): theoĐiều 18 của Luật Cạnh tranh, pháp luật cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thịtrường liên quan (trừ trường hợp quy định tại Điều 19). Đồng thời, các doanh nghiệp tham gia tậptrung kinhtếcóthịphầnkếthợptừ30-50% trênthịtrường liên quan phải thông báo cho cơ quan cạnh tranhtrướckhi tiến hành các hoạt động tập trung kinh tế. Tuy nhiên, trên thực tế các doanh nghiệp rất khó để tự xác định thị phần của mình trên thị trường liên quan và như vậy rất khó để biết xem mình có thuộc ngưỡng bị cấm hoặc phải thông báo tập trung kinh tế hay không. Do đó, các quy định hiện nayvề vấnđề nàylà không cótính khả thi.

– Pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện nay chưa quy định rõ ràng về thỏa thuậnhạnchếcạnh tranh. Các quyđịnhhiện hànhchỉđềcậpđếncác hình thức biểu hiện bên ngoàimộtcách cứng nhắc, chưa tiếpcậnđượcbảnchất phản cạnh tranh của hành vi. Chẳng hạn, thỏa thuận ấn định mức giá sàn, giátrần; thỏa thuận tăng giá hoặc giảm giá (khôngchỉởmức cụthể) hoặc thỏa thuận duy trì giá bán lại cho bên thứ ba… là những thỏa thuận có bản chất hạn chếcạnh tranh, nhưng chưa được quy định. Trong khi hành vi kinh doanh, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó có hành vi thỏa thuận thayđổi ngày càng phức tạp với nhiều dạng thức khác nhau thì tiếp cận quy định “cứng” như hiện naysẽgây khó khăn cho cơ quan thực thi trong quá trìnhđiềutra, xửlý các vụviệc cụthể. Ngoài ra, thực tiễnmộtsốvụviệc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được cơ quan cạnh tranh xem xét, xử lý cho thấy các hiệphộiđềulà tổchức đứngsau, giữvai tròtổchức, lôi kéo doanh nghiệp tham gia và giám sát việc thực thi thỏa thuận giữa các doanh nghiệp. Thậm chí trong nhiềuvụviệc, Hiệphộicòn ban hành các “quyếtđịnh”, các “nghịquyết” về giá cả, sản lượng… trên thị trường để các doanh nghiệp thành viên thực hiện. Tuy nhiên, các hành vi nêu trên của hiệphộilạichưa được điều chỉnh trong các quy định hiện hành.

Thứ hai, mô hình cơ quan thực thi chưa phù hợp

– Hiện nay cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam baogồmhai cơquan:CụcQuản lý cạnh tranh (Cơ quan QLCT) vàHộiđồngcạnh tranh (HĐCT). Một trong những nhiệm vụ và chức năng của Cơ quan QLCT là thụlý, tổ chức điều tra các vụ việc liên quan đến hạn chế cạnh tranh để HĐCTxửlý theo quy định của pháp luật. Như vậy, sau khi thụ lý và điều tra, Cơ quan QLCT sẽ phải chuyển vụ việc sang HĐCT để tiến hành xử lý vi phạm. Trong khiđó,HĐCTlạiđược thànhlậpvà hoạtđộngtheo cơ chếliên ngành nên việc vận hành rất khó linh hoạt trong điều kiện các cơ quan nhà nước của Việt Nam như hiện nay. Chính vì vậy, để xử lý được vụ việc cạnh tranh, Cơ quan QLCT và HĐCT phải tiến hành rất nhiều thủ tục và nhiều công đoạn dẫn đến sự thiếu hiệu quả trong việc phối kết hợp giữa hai cơ quan này.

– Bên cạnh đó, ngoài chức năng thực thi pháp luật cạnh tranh, Cục Quản lý cạnh tranh còn phải thực hiện thêm các chức năng thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, phòng vệ thương mại dẫn tới nguồn lực dành cho công tác quản lý cạnh tranh bị hạn chế.

Thứba, nhận thức của cộngđồngdoanh nghiệpvềpháp luật cạnh tranh chưa cao

Trong số các vụ việc đã xử lý trong thời gian qua, số vụ việc do doanh nghiệpnộphồsơ khiếunạikhông nhiều (chiếm khoảng hơn 20%),hầuhết các vụ xử lý là do cơ quan cạnh tranh tự phát hiện thông qua các phương tiệnđại chúng. Điều này cho thấy, nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về vấn đề nàylà chưa cao.

Vì những lý do nêu trên, việc lựa chọnđềtài“Giảipháp nâng cao hiệu quảthực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam” làmđềtài nghiên cứu luận án Tiến sĩ kinh tế sẽ góp phần đưa pháp luật cạnh tranh đến gần hơn với cuộc sống.

2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiêncứucủa đềtài là tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Tổng quan các công trình khoa học đã công bố liênquan đến chủ đềnghiêncứucủa đềtài luận án,xác định những vấn đề đãđượccác nhà khoa học nghiên cứu, những vấn đề chưa được nghiên cứu để nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu.

– Đánh giá tổng quan về pháp luật cạnh tranh và thực thi pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam.

– Làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật cạnh tranh và hiệu quảthực thi pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam.

– Phân tích đánh giá thực trạng thực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Namtừkhi Luật Cạnh tranh và các văn bảnhướng dẫnthi hành có hiệu lực đến nay, từ đó rút ra những bất cập cần được hoàn thiện.

-Đềxuất quan điểm, phươnghướngvà giải pháp nâng cao hiệuquảthực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam trong thời gian tới.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh của cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu a. Về nội dung

– Nghiên cứu nội dung các văn bản pháp luật về cạnh tranh của Việt Nam (bao gồm Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành), các nhân tốtác động, ảnh hưởng đến quá trình triển khai thực hiện pháp luật cạnh tranh.

– Đánh giá hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh của cơ quan quản lýcạnh tranh ở Việt Nam.

b. Về không gian

Hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam và nghiên cứu kinh nghiệmmộtsốnướctrênthếgiới như Hoa Kỳ, Australia, Pháp, Đức, Nhật

Bản, Hàn Quốc…

c. Về thời gian

– Đánh giá thực trạng thực thi pháp luật cạnh tranh từ năm 2005 – 2014.

– Các giải pháp nâng cao hiệu quảthực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam từ năm 2015 đến năm 2020.

4. Phương pháp nghiên cứu của luận án

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợpphân tíchđịnhtính và địnhlượng, đềtài luận án áp dụng các phương pháp cụ thể sau đây.

4.1. Phương pháp phân tích và thống kê

Được sử dụng nhằm hệ thống hóa các công trình nghiên cứu, lý luận cơbảnvềcác vấnđềliên quan trongĐềtài nghiêncứucủa mình, nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp phân tích, thống kê để làm rõ các thuật ngữ, những lý luận sử dụng trong lĩnh vực cạnh tranh, các kết quả nghiên cứu, những vấn đề đang tồn tại mà được các công trình khoa hoc trước đây đã nghiên cứu.

4.2. Phương pháp so sánh

Nhằm kiểm chứng tính chính xác của thông tin được thu thập, phương pháp so sánh được sử dụng trong nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài về xây dựng và thực thi pháp luật cạnh tranh và trong phần phân tích đánh giá thực trạng theo khung lý thuyết.

4.3. Phương pháp khảo sát thực tế

Bên cạnh việc nghiêncứucácvấnđềliên quanđếnchính sách cạnh tranh được trình bày trong các đề tài khoa học, các công trình nghiên cứu, cácấnbản khoa học, phương pháp khảo sát thực tế được sử dụngtrong traođổi với chuyên gia, điều tra mẫu một số doanh nghiệp là đối tượng điều chỉnh của Luật. Phương pháp này cungcấpnhữngsốliệu, tài liệu cho đánh giá thực trạng về nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về pháp luật cạnh tranh của Việt Nam, từ đó làm cơ sở đề xuất trong luận án.

5. Những đóng góp mới của Luận án

5.1. Những đóng góp về lý luận và thực tiễn a. Về lý luận

+ Luận ánhệthống hóa cơsởlý luậnvềhiệuquảthực thi pháp luật cạnh tranh, cụ thể là làm rõ những khái niệm cơ bản về cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh, vị trí vai trò của pháp luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường, các đối tượng, yếu tố liên quan đến công tác thực thi pháp luật cạnh tranh, các mô hình tổ chức quản lý nhà nước về pháp luật cạnh tranh trên thế giới.

+ Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trong nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh, rút ra bài học và điều kiện áp dụng cho Việt Nam.

b. Về thực tiễn

– Luận án đã nghiên cứu kinh nghiệm một số quốc gia về nội dung pháp luật, cơ quan thực thi, các biện pháp nâng cao hiệuquảthực thi, từđókiến nghị bài học có thể áp dụng ở Việt Nam.

-Đềtài luận án phân tích, đánh giá thực trạng hiệuquảthực thi pháp luật cạnh tranh của cơ quan quản lý cạnh tranhởViệt Nam trong thời gian vừa qua (trong đó đặc biệt chú trọng đến hoạt động điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh, các hoạtđộngtuyên truyềnphổbiến…) chỉra những thành tựu, tồntại, khó khăn và nguyên nhân, xác địnhnhữngvấnđềđặt ra cho công tác thực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam, tựu trung là:

+ Về nội dung các văn bản pháp luật: Một số quy định liên quan đến quy trìnhđiềutra,xửlývụviệc cạnh tranh, quyđịnhvềxácđịnhthịtrường liên quan và quyđịnh về kiểmsoát hoạt động tập trung kinh tế theo quyđịnhcủa Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn hiện không phù hợp và khó có thểáp dụng trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội hiện nay ở Việt Nam.

+ Về cơ quan cạnh tranh: Cục Quản lý cạnh tranh hiện nay là cơ quan thuộc BộCông Thương khôngđảmbảovịtríđộc lập, còn ômđồmnhiều chức năng làm phân tán nguồn lực.

+ Về nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp: Trong thời gian gần đây nhận thức cộngđồngdoanh nghiệpvềpháp luật cạnh tranhđã cócảithiện nhưng vẫn ở mức thấp. Đây là một phần nguyên nhân nhiều doanh nghiệp khi quyền lợi của mình bị xâm hại không biết sử dụng pháp luật cạnh tranh như làmột công cụ để bảo vệ mình.

– Xác định bối cảnh trong nước, quốc tế và những vấn đề đặt rađối với nâng cao hiệuquảthực thi pháp luật cạnh tranh trong thời gian tới. Luận ánđã đề xuất quan điểm, định hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh trong thời gian tới, bao gồm:

+ Hoàn thiện pháp luậtvềcạnh tranh, cầnxây dựng Luậtsửađổibổsung Luật cạnh tranh, trongđócầnlàm rõ tiêu chí xác địnhthịtrường liên quan, minh bạch quy trình xử lý vụ việc, áp dụng hình thức xử lý vi phạm hợp lý dựa trên cơ sở phạm vi và mức độ vi phạm; bổ sung và hoàn thiện các quyđịnh liên quan đến các nhóm hành vi vi phạm.

+ Kiện toàntổchức và nâng cao hiệuquảhoạtđộngcủa bộmáy cơ quan thực thi, theođóđềxuất thànhlậpmột Ủyban Cạnh tranhđộc lậpvàđặc biệt chú trọng công tác cán bộ trong thực thi pháp luật cạnh tranh.

+ Nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp, cần thực hiện các hoạtđộngtuyên truyềnphổbiến có trọngđiểmđếncác nhóm doanh nghiệp trong từng lĩnh vực; đa dạng hóa các hình thức tuyên tuyền; thúc đẩyvà sửdụng hiệu quả phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền tới cộng đồng doanh nghiệp.

+ Hợptác quốc tế, đẩymạnh các hoạt động hợptác với cơ quan cạnh tranh nước ngoài và tham gia tích cực vào các diễn đàn cạnh tranh khu vực vàtrên thế giới để tận dụng kinh nghiệm và đào tạo cán bộ.

 

5.2. Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu của Luận án

Từ nghiên cứu lý luận, thực tiễn của Việt Nam và kinh nghiệm của các nước, nghiêncứuđãchỉra hai nhóm tiêu chí làm căncứđánh giá hiệuquảthực thi pháp luật cạnh tranh:

+ Các tiêu chí thể hiện chất lượng của các văn bản quy phạm pháp luật bao gồm tính hợp pháp và tính thực tiễn của văn bản quy phạm pháp luật.

+ Các tiêu chí thể hiện mối quan hệ tương tác của quy phạm pháp luật đối với xã hội bao gồm khả năng tổ chức thực thi của cơ quan thi hành pháp luật và khả năng tiếp cận, tuân thủ của các đối tượng điều chỉnh mà văn bản quy phạm pháp luật hướng tới.

Nghiên cứu đã chỉ ra các bất cập trong quá trình thực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam trong thời gian qua. Các giải pháp được đưa ra là các giải pháp từ phía Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp, trong đó chỉ rõ tính khảthi, tính hữu dụng của giải pháp, cụ thể:

+ Đối với giải pháp hoàn thiện nội dung pháp luật về cạnh tranh ở Việt Nam: Luận án đã chỉ ra những quy định cần sửa đổi bổ sung phù hợp trên cơsở xây dựng Luật Cạnh tranh sửa đổi.

+ Đốivớigiải pháp kiện toàntổchức và nâng cao nănglựccơ quanđiều tra. Luận án đã chỉ ra Việt Nam không nên tách hai cơ quan cạnh tranh riêng biệt và thực hiện cơ chế Hội đồng như hiện nay và nên thành lập một cơquan riêng biệt, độc lập.

+ Giải pháp nâng cao nhận thức, khả năng tham gia của doanh nghiệp trong việc thực hiện luật: Trên thực tế, để một văn bản pháp luật đi vào cuộc sống, việc nâng cao nhận thức của cộngđồngdoanh nghiệp là hếtsức cần thiết và đòi hỏi phải có nguồn lực. Do đó, Luận án chỉ rõ trong thời gian tới,

10

cơ quan cạnh tranhcầnđa dạng hóa hình thức tuyên truyền, tậptrung tuyên tuyền trực tiếp đến các doanh nghiệp trong từng ngành, lĩnh vực riêng biệt vàthiết lập quan hệ chặt chẽ với các cơ quan truyền thông.

6. Kết cấu nội dung của Luận án

Ngoài phần mở đầu, tổng quan, kết luận và phụ lục, nội dung của Luận án được kết cấu thành 3 chương.

Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh Chương 2: Thực trạng công tác thực thi pháp luật cạnh tranh của

Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2014

Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam

11

PHẦN TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

Trong nước và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quanđến pháp luật cạnh tranh và thực thi pháp luật cạnh tranh với mục tiêu và cách tiếp cận khác nhau. Những công trình nghiên cứu điển hình có thể kể đến là:

1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

3. Những vấn đề được nghiên cứu trong luận án

– Vị trí, vai trò của pháp luật cạnh tranh. Đối tượng liên quan đến công tác thực thi pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam.

– Nhântốảnhhưởngvà quyếtđịnhhiệu quảthực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam.

-Đốitượngtrực tiếp ảnhhưởngtớicông tác thực thi pháp luật cạnh tranh cạnh tranh tại Việt Nam.

18

– Nội dung và hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam.

– Những bất cập về các quy định pháp luật cạnh tranh của Việt Nam.

– Kinh nghiệm thực thi pháp luật cạnh tranh trênthếgiới và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam.

– Đánh giá thực trạng công tác thực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam trong thời gian qua, định hướng hoàn thiện.

– Quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam trong bối cảnh và điều kiện mới.

– Những đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luât cạnh tranh trong thời gian tới.

Trênđâylà nhữngvấnđềđược đặtra trongnộidung nghiêncứucủa luận án và cũng là nhữngvấnđềmà các đềtài khoa học trước đâychưa đềcập hoặc có đề cập nhưng chỉ mang tính liệt kê chưa đi sâu phân tích nguyên nhân và đề xuất hướng giải quyết.

19

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT

CẠNH TRANH

1.1. Một số khái niệm có liên quan

1.1.1. Khái niệm cạnh tranh và các hình thái cạnh tranh a. Khái niệm cạnh tranh

Khái niệm cạnh tranh với tư cách là một hiện tượng kinh tế, xuất hiện và tồntại như là mộttrong nhữngđặc trưng cơ bảncủa kinhtếthịtrường, phản ánh năng lực phát triển của kinh tế thị trường. Với cách tiếp cận này, TừđiểnKinh doanhcủaAnh năm 1992đãđịnhnghĩa “Cạnhtranh là sựganhđua, sựkìnhđịchgiữa các nhà kinh doanh trênthịtrường nhằm tranh giành cùngmộtloại tài nguyênsảnxuất hoặc cùngmộtloại khách hàngvềphía mình”. Từ điển Luật học cũng giải thích “cạnh tranh là sự đua tranh về kinh tếgiữa các nhà kinh doanh có nhữnglợiích giống nhau trên cùngthịtrường bằng các phương thức khác nhauđểgiànhđược nhiều nhấtvềphía mình khách hàng, thịtrường và thịphần của mộtthịtrường qua đóthulợinhuận nhiều hơn [33]”.

Theo quanđiểmtrên, xéttừgócđộcácchủthểcủa hành vi thì cạnh tranh được coi là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng. Nếu nhìn khái quát trên quy mô toàn xã hội, thì cạnh tranh là phương thức phânbổcác nguồn lực, tài nguyênmộtcáchtốiưu, dođólà độnglựcphát triển kinh tế. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, cạnh tranh có bản chất kinh tế và bản chất xã hội. Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện mục đích

tạo lập cho mình một ưu thế chi phối thị trường và vì lợi nhuận. Bản chất xã

20

hộicủa cạnh tranh phản ánhđạođức kinh doanh và uy tín của mỗichủthểcạnh tranh trongmốiquanhệđốivớinhữngngườitrực tiếptạora tiềm lực cạnh tranh của doanh nghiệp và trong mối quan hệ với người tiêu dùng và với các đối thủ cạnh tranh khác [20].

b. Các hình thái cạnh tranh

– Cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo.

Căncứvào cơ cấu doanh nghiệp và mức độ tập trung trong một ngành, lĩnh vực kinh tế, ngườita phânthịtrường thành các hình thái: Cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền và cạnh tranh không hoànhảo[34].

+ Cạnh tranh hoànhảolà hình tháithịtrường trongđógiá cảvà sản lượngcủa mộthàng hoá được hoàn toàn xác địnhbởicung và cầutrênthịtrường, của hàng hóa đó. Do vậy, các doanh nghiệp tham gia thị trường phải chấp nhận giá thị trường.

Theo đó, cạnh tranh hoàn hảo là hình thái thị trường trong đó có nhiều người bán và nhiều người mua một sản phẩm. Bất kỳ người bán và người mua nàođềulà quá nhỏsovớiquy môthịtrường, dovậykhông cókhảnăngđểtác động tới giá của sản phẩm. Điều này có nghĩa là sự thayđổi sảnlượng của một doanh nghiệp hoàn toàn không ảnh hưởng gì tới giá thị trường. Tương tự, mỗingườimua cũng quá nhỏđể có thể đòihỏingườibán nhữngđiềunhư phải giảm giá khi mua nhiều hay bán chịu.

Độc quyền là mộthình tháithịtrường trongđócómộtdoanh nghiệp duy nhất bánmộtsảnphẩm mà không cómộtsảnphẩm thay thế gầngiống với nó (được gọi là độc quyềnbán – monopoly), hoặc chỉ có một người mua (được gọilà độc quyền mua – monopsony). Như vậy,độc quyền là thái cực trái ngược với cạnh tranh hoàn hảo.

Cạnh tranh không hoànhảolà mộthình tháithịtrườngnằmgiữa hai hình thái là cạnh tranh hoànhảovà độc quyền. Cạnh tranh không hoàn hảo bao gồm cạnh tranh mang tính độc quyền và độc quyền nhóm.

21

Cạnh tranh mang tính độc quyền là hình thái thị trường có nhiều người bán sản xuất ra những sản phẩm có thể dễ dàng thay thế cho nhau. Mỗi người chỉ có khả năng hạn chế ảnh hưởng tới giá cả sản phẩm của mình. So với hình thái cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh mang tínhđộc quyền cũng có nhiều doanh nghiệp gia nhậpthịtrường khônghạnchế. Nhưng nó khác vớicạnh tranh hoàn hảo ở chỗ sản phẩm được phân hoá cao độ – mỗi doanh nghiệp đều cómộtloạisảnphẩm khác nhauvề hình dáng, kích thước, nhãn mác, chất lượngvà danh tiếng và mỗidoanh nghiệp là ngườiduy nhấtsảnxuất loại hàng hoá riêng của mình.

Độc quyềnnhóm là mộthình tháithịtrường trongđó chỉcó một số ít các nhà sản xuất, mỗi người đều nhận thức được rằng giá cả của mình không chỉ phụthuộc vàosảnlượngcủa mình mà còn phụ thuộc vào hoạtđộngcủa các đối thủ cạnh tranh quan trọng trong ngành đó.

– Cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh

Căncứvào mục đích, tính chất của các phương thức cạnh tranh, người ta phân loại các hành vi cạnh tranh trên thị trường thành cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.

+ Cạnh tranh lành mạnh là hình thức cạnh tranh tích cực, trong sáng, cạnh tranh bằng tiềm năngvốncó của bảnthân doanh nghiệp. Đólà những hoạtđộng nhằmthu hút khách hàng mà pháp luật không cấm và phù hợpvới

tậpquán thương mại và đạo đức kinh doanh.

+ Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cụ thể của một chủ thểkinh doanh, nhằm mục đích cạnh tranh, luôn thể hiện tính không lành mạnh (không nhất thiết phải trái pháp luật) và vô tình haycốý gây thiệthạicho mộtđối thủ cạnh tranh hay bạn hàng cụ thể.

Như vậy, từ những khái niệm ở trên đây, có thể hiểu rằng cạnh tranh làsự ganh đua nhau giữa các doanh nghiệp về giá cả, số lượng, dịch vụ hoặc kết

22

hợp các yếu tố này để giành nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vịthếcủa mình trênthịtrường. Cạnh tranh trênthịtrườngđược phân chia thành cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền, cạnh tranh không hoànhảonếuxét theo cơ cấu doanh nghiệp và mức độ tập trung trong một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc thành cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh nếu căn cứ vào mục đích và tính chất của các phương thức cạnh tranh.

1.1.2. Khái niệm và lịch sử hình thành pháp luật cạnh tranh a. Khái niệm pháp luật cạnh tranh

Pháp luật cạnh tranh, theo cách hiểuphổbiến nhất trong giới nghiên cứu về lĩnh vực này trên thế giới, bao gồm tất cả các quy định của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi kinh doanh của doanh nghiệp và cấu trúc thịtrường. Pháp luật cạnh tranh baogồmhai mảng chính. Mảngthứnhất là việc ban hành và thực thi một tập hợp các quy định có tác dụng thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường, bao gồm các quy định về gia nhập thị trường và đa dạng hóa các thành phần kinh tế tham gia thị trường, tự do hóa về thương mại cũng như các quyđịnhhiệu quảđiềuchỉnh các hoạtđộngkinh doanh ngành, v.v. Mảngthứhai là baogồmcác chếđịnhpháp lýđược ban bànhđểkiểm soát/ngăn chặn các hành vihạnchếcạnh tranh, hành vi phản cạnh tranh vàcác can thiệp quá mức của Nhà nước vào việc điều tiết thị trường.

b. Lịch sử hình thành pháp luật cạnh tranh

Pháp luật cạnh tranh của các nước ra đời đều bắt nguồn từ nhu cầu của nền kinh tế. Cùng với quá trình phát triển, pháp luật cạnh tranh đã được liên

tục sửa đổiđểphùhợpvớithực tiễn. Luật Cạnh tranh cóthểđược gọitheo nhiều cách khác nhau (vídụ:Luật Cạnh tranh – Competition Law của Anh, Luật chốngđộc quyền- Anti monopoly Act của Nhật Bản, Luật thương mại

lànhmạnh –Fair Trade Law của ĐàiLoan…) nhưng tấtcảđềucómộtmục đích chung là duy trì và bảo vệ sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, cho

23

phép các thực thể kinh tế có cơ hội bình đẳng cạnh tranh cũng như tiếp cận thịtrường. Bảovệngườitiêu dùng thông qua việc khuyến khíchhạgiá và cải thiện chất lượng sản phẩm được xem như một hệ quả của cạnh tranh tự do vàlành mạnh trên thị trường.

Trên thế giới có thể nói Hoa Kỳ là một trong số những nước ban hành pháp luật cạnh tranh sớm nhất, pháp luật cạnh tranh này còn được biết đến với tên gọi là Luật Chống độc quyền. Lịch sử chống độc quyền của Hoa Kỳ nhìn chungđược bắtđầuvớiLuật Sherman năm 1890, đâylà bộluật chốngđộc quyền đầu tiên được thông qua bởi các bang trước khi trở thành bộ luật Liên bang. Luật Shermangồmhai phần chính. Phầnmộtquyđịnhcác thoả thuận gây hạn chế thương mại. Phần hai cấm việc giành được vị thế độc quyền bằng việc sửdụng các biện pháp phản cạnh tranh hoặclạmdụngvịtríđộc quyền (không phải là độc quyềntựnhiên). Mộtđiểmquan trọngcầnlưuýlà Luật Sherman có thể được thực thi như luật dân sự hoặc như luật hình sự, các phán xétđược trao choCụcChốngđộc quyền, BộTư pháp. Cụthể, các hành vi hiển nhiên vi phạm như: ấn định giá tạm thời, thông đồng để thắng thầu sẽ bịtruytốhình sự. Trong năm 1914, haibộluật Liên bang nữa đã được thông qua là Luật Clayton và Luật Uỷ ban Thương mại Liên bang.

Theo quyđịnhcủa Luật Ủyban ThươngmạiLiên bang, FTC được thànhlậpđểthực thi Luật Clayton, Luật Robinson-Patman (ngoạitrừđiều khoảnxửlý hìnhsựtheo Luật Sherman). Mặc dùđã có nhữngsửađổi, bổsungđốivới 3bộluật Liên bang này(điểnhình là Luật Robinson-Patman 1936 và Luật Hart-Scott-Rodino 1976) nhưng về cơ bản là không có sự thayđổi lớn từ năm1914. Đếnnay, hầuhếtcác bang cũngđã thông qua luật của bang căn cứ theo nội dung của Luật Sherman và Luật FTC.

Canada ban hành Luật Cạnh tranhlầnđầutiên năm 1889. Mặc dù có

lịchsửtươngđốidài nhưng Luật Cạnh tranhvẫnkhông cóđược vai trò nổi

24

trội trong các hoạt động kinh tế của Canada cho tới gần đây. Đó một phần làdo cáclựclượngkinhtếvà chínhtrịđứngđằngsau quá trình phát triển của nền kinh tế Canada vốn thích sự phát triển một cơ cấu công nghiệp tương đối tập trung. Canada đã phát triển nền kinh tế của mình với một mức độ thamgia

lớn của Chính phủ. Theo đó, các quy định về âm mưu và duy trì giá đã nhận được sự chú ý đáng kể về mặt thi hành luật nhưng sự phân biệt giá, bán phágiá, sáp nhập và độcquyền thì thực sựbịbỏqua. Năm 1975, Nghị việnđãthực hiện giai đoạn sửa đổi đầu tiên. Điểm đáng chú ý trong sửa đổi lần này là đã mở rộng quyền hành động có giới hạn của tư nhân, biến các hành vi thôngđồngtrongđấuthầu thànhđươngnhiênbấthợppháp, và việc từchối giao dịch, bán hàng có ràng buộc, giao dịch mang tínhđộc quyền và hạnchếthịtrường thành những hành vi được xem xét về mặt dân sự.

Giaiđoạnsửa đổithứhaiđược thực hiện vào năm 1986. Luật, khiđóđược gọi là Luật Điều tra các vụ kết hợp được đổi tên thành Luật Cạnh tranh. Những cuộc cảicách trong năm 1986 cũng baogồmviệc củngcốcác quyđịnhvềâm mưu mang tính hìnhsựcủaLuật, bổsung quyđịnhvềcác thoảthuận chuyên môn hoá và bổsungkhảnăng xem xétvềmặtdânsựhành viđịnhgiá chuyển giao, lạmdụngvịtrí thống lĩnh và sáp nhập. Cuộc cảicách trong năm 1986 cũngtạonênmộtcơ quan pháp luậtmớigọilà Toà Cạnh tranh thay choHộiđồngcác hành vihạnchếthươngmạiđểxửlý các quyđịnh dân sự của Luật.

Vào tháng 3/1999, Luậtđược sửa đổilầnnữa bởiLuật sửa đổiLuật Cạnh tranh. Những sửa đổi lần này đã làm thay đổi Luật về một số khía cạnh rấtquan trọng nhưđã chuyểnmộtsốhành vitừhành vi vi phạm mang tính hình sự thuần tuý sang hành vi được xem xét cả về mặt hình sự và dânsự tuỳ

từng trường hợp; sửa đổi cũng bổ sung quy định miễn trừ và các quy định về

xửlý hìnhsự… Năm 2000, Luật tiếp tục được sửa đổiđểgiao choUỷviên

25

Hội đồngCạnh tranh (Commissioner) và Toà Cạnh tranh những quyền mới đểxửlý các hành vilạmdụngvịtrí thống lĩnhthịtrường của Hàng không Canada (Air Canada).

Trong các nước Châu Âu (Italia, Bỉ, Đức, Đan Mạch, Hà lan, Pháp, Anh và Thụy điển), Đức là quốc gia ban hành pháp luật cạnh tranhrấtsớm. Đức đã ban hành Luật Chống hạn chế cạnh tranh, viết tắt ARC, và chính thức có hiệu lực vào ngày 01/01/1958. Tínhđếnnay, Luậtđã được sửa đổi, bổsung 7 lần. Lần sửa đổi cuối cùng có hiệu lực vào tháng 07/2008.

ỞPháp, BộLuật Thươngmạiđã chứa đựngcác quyđịnhvềcạnh tranh. Quay lại lịch sử hình thành và phát triển pháp luật cạnh tranh Pháp, cóthểnhận thấymộtsốthayđổicủapháp luật tuychỉmang tính hình thức nhưng lại có tầm quan trọng đáng kể: Pháp lệnh ngày 01/12/1986 về tự do giácả và tự do cạnh tranh đã bị bãi bỏ và chuyển hoá vào Bộ Luật Thương mại saumộtchương trình phápđiểnhoá rộng lớn. Kểtừnay, nếuxétvềnguồn luật trong nước thì văn bản nền tảng của pháp luật cạnh tranh chính là Quyển IV của Bộ luật Thương mại. Do quá trình pháp điển hoá nên số thứ tự của cácđiềukhoảnđãhoàn toànbịthayđổi. Chính vì vậy, Quyển IVđã dành một phụ lục trong đó trình bày bảng đối chiếu giữa các điều khoản trước đây của Pháp lệnh năm 1996 và các điều khoản hiện hành của BộLuật Thương mại. Một số thay đổi khác của pháp luật cạnh tranh trong nước, chủ yếu xuất phát

từ việc ban hành Luật ngày 15/05/2001 về các biện pháp điều tiết kinh tế mới, là những thay đổi liên quan đến cả luật nội dung lẫn luật tố tụng.

Mặc dù còn nặngvềmặthình thức, nhưng pháp luật cạnh tranh của Châu Âu đã chiếm một vị trí rất quan trọng, có uy tín tại nhiều quốc gia muốn gia nhập Liên minh và tại một số quốc gia khác. Đặc biệt, cách thức áp dụng pháp luật cạnh tranh của Châu Âuđã làm cho cácchủthểkinhtếphải tôn trọng và cân nhắc thận trọng những ràng buộc của pháp luật đó.

26

TạiAnh, Luật Cạnh tranhđược ban hành ngày 09/11/1998đểsửa đổi Luật Thương mại lành mạnh 1973. Luật đã đưa thêm các điều khoản cấm các hành vi phản cạnh tranh (Chương I và Chương II). Văn phòng Thương mại lành mạnh (OFT) có thẩm quyền khá lớn trong việc điều tra các doanh nghiệp được cho là vi phạm Luật và áp dụng các hình phạt đối với các doanh nghiệp này. Luật được sửa đổi ngày 01/05/2004, theo đó đã trao cho OFT quyền điều tra và áp dụng các hình phạtđốivớicác tổchức/các nhân vi phạm các điều khoản cấm theo Điều 81 và Điều 82 của Hiệp ước EC. Tuy nhiên, một điểm đáng lưu ý đối với pháp luật cạnh tranh của Anh là khi tiến hành xử lý, OFT không chỉ dựa trên Luật Cạnh tranh, mà còn tuân theo các quy định pháp luật có liên quan, chẳng hạn Luật Doanh nghiệp 2002 (có điều khoản quy định vi phạm cacten). Theođó,các cá nhân tham gia vàomộttrong các dạng thỏa thuận phản cạnh tranh nghiêm trọng cóthểbịtruycứutrách nhiệm hình sự. Hơn nữa, khi Luật Doanh nghiệp 2002 được ban hành, nước Anh cũng đã tiến hành sửa đổi Luật Truất quyền các nhà điều hành doanh nghiệp. Các nhà điều hành doanh nghiệp khi vi phạm pháp luật cạnh tranh (các hành vi bị cấm theoĐiều81, Điều81 HiệpướcEC và của Luật Cạnh tranh) cóthểphải nhận Lệnh truất quyền cạnh tranh. Lệnh này sẽ chấm dứt các hành vi có liên quan và buộc họ không được quản lý doanh nghiệp trong thời hạn tối đa là 15 năm.

Nhưng quan trọng hơn chính là những thayđổicủa pháp luật cạnh tranh của Liên minh Châu Âu. Khuônkhổpháp luậtđiềuchỉnh các hành vi hạnchếcạnh tranh theo chiềudọcđã được sửa đổingaytừnăm 1999. Quy chế về kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế giữa các doanh nghiệp cũng đãđược sửa đổibổsung và có hiệu lực kểtừngày 01/05/2004. Các quyđịnh hướngdẫnthi hànhĐiều81 và các điềutiếp theo của Hiệpước thành lập Cộng đồng Châu Âu đã được sửa đổi một cách toàn diện vào cuối năm 2002 và trong năm 2003. Những sửa đổi nàycũngbắt đầucó hiệu lực kểtừngày

27

01/05/2004. Ở đây cần lưu ý: điều khoản được hướng dẫn thi hành là Điều 81 chứ không còn là Điều 85, bởi sau khi Hiệp ước Amsterdamđược ký kết, đãkéo theo sự thay đổi trong cách đánh số quen thuộc của các điều khoản.

ĐốivớiÚc, pháp luật cạnh tranhđược quyđịnhtrong Luật Thực tiễn Thương mại năm 1974 và Luật Giám sát giá cả năm 1983. Mục đích của Luật Thực tiễn Thương mại (TPA) là nhằm thúc đẩy sự thịnh vượng của Úc thông qua việc thúc đẩy cạnh tranh và thương mại lành mạnh và bảo vệ người tiêu dùng. TPA liên quan đến hầu hết cácvấn đề trênthị trường: mối quan hệ giữa nhà cung cấp, bán buôn, bán lẻ, các đốithủcạnh tranh và khách hàng. Trên bình diện rộng, TPA giải quyết các vấn đề như các hành vi không lành mạnh trênthịtrường, luật theo ngành, sáp nhập, an toànsảnphẩm, nhãn mác sản phẩm, giám sát giá cả và quy định của các ngành công nghiệp như viễn thông, khí đốt, điện và hàng không.

1.1.3. Khái niệm về thực thi pháp luật cạnh tranh

Thực thi pháp luật được hiểu chung nhất là hoạt động thực hiện và thi hành pháp luật. Theo nghĩa hẹp thực thi pháp luật chỉ là hoạt động của riêng cơ quan quản lý nhà nước trong việc áp dụng, thi hành pháp luật. Nhưng cách hiểu đó là phiến diện và chưa đầy đủ vì pháp luật là những chuẩn mực chung và bất cứ ai trong xã hội đều phải tuân theo. Vì vậy, thực thi pháp luật phải làhoạt động thực hiện và tuân theo pháp luật của tất cả mọi người.

Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích mà các chủ thểpháp luật bằng hành vi của mình thực hiện các quy định pháp luật trong thực tế đời sống.

Thi hành pháp luật là một trong các hình thức của thực hiện pháp luật. Thi hành pháp luật là hình thức thực hiện những quyđịnhtrao nghĩa vụbắt buộc của pháp luật một cách tích cực trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụcủa mình bằng những hành động tích cực.

Ngoài thi hành pháp luật còn có các hình thức thực hiện pháp luật khác:

28

– Tuân thủ pháp luật: chủ thể pháp luật tự kiềm chế mình để không thực hiện hành vi mà pháp luật cấm;

– Sử dụng pháp luật: chủ thể pháp luật sử dụng quyền pháp lí; và

– Áp dụng pháp luật: cá nhân có thẩm quyền hoặc cơ quan nhà nước cóthẩm quyền vận dụng các quy phạm pháp luật hiện hành cho từng trường hợp cụ thể, đối với cá nhân và tổ chức cụ thể;

Nói cách khác, thi hành pháp luật là những hoạt động của các cá nhân, tổ chức nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống. Ví dụ: một người thấy người khác

đang có hành vi vi phạm pháp luật đã tiến hành thông báo cho cơ quan chức năng, tức là người đó đã bằng hành động tích cực thi hành quy định về nghĩa vụ công dân của pháp luật nói chung và của luật hình sự nói riêng.

Theoýkiếncủamộtsốchuyên gia, bảnchấtcủaviệc thực hiện pháp luật là sự chuyển hóa các yêu cầu chung được xác định trong các nguyên tắc và quy phạm pháp luật vào trong các hành vi cụ thể của các chủ thể. Nói thực hiện pháp luật là nói đến một kết quả tích cực của quá trình điều chỉnh pháp luật, mà điềuchỉnh pháp luật thìhướngtớihai yêu cầu: thực hiện hành vi hợp pháp hoặc không thực hiện hành vi trái pháp luật [30].

Quá trình và kết quả của việc thực hiện pháp luật là thước đo hiệu quảđiềuchỉnh pháp luật. Với nhữngyếutốthuộcvềnộidung và hình thức của quá trình thực hiện pháp luật cũng như các yếu tố mang tính tác nhân của quátrình đó, có thể thấy rõ vị trí và tầm quan trọng của thực hiện pháp luật trong hệ thống pháp lý. Bởi lẽ, thứ nhất, thực hiện pháp luật là một phạm vi độc lập với những hình thức gắn với hoạt động của các chủ thể tương ứng và theo đólà những nguyên tắc, những phạm vi thẩm quyềnnộidung phương pháp vàtrình tự, thủtục thực hiện pháp luật tươngứngvà thích hợp. Thứhai, thực

29

hiện pháp luật là tổngthểnhững hoạtđộngvà hành vihếtsức đa dạngởnhữngcấpđộkhác nhau, từhành vi củacá nhân công dân trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ chủ thể pháp lý của mình, việc thực hiện các điều kiện tổ chức và hoạt động của một pháp nhân, thực hiện các thẩm quyền và

trách nhiệmcủacác cơ quan công quyền… chođếnhoạt động lập pháp của Quốc hội.

Bên cạnh đó, thực hiện pháp luật là hành vi và hoạt động của nhóm đối tượng mà một văn bản pháp luật hướng đến, có thể là cá nhân công dân hay làcộng đồng doanh nghiệp.

Đốivớipháp luật cạnh tranh việc thực thi pháp luật chia làm 2 nhóm hoạt độngtươngứngvới 2 nhómđốitượngđólà việc tổ chức thực hiện các quy định pháp luật cạnh tranh của cơ quan quản lý cạnh tranh (chủ thể quyền lực) và việc tuân thủ, thi hành pháp luật của cộng đồng doanh nghiệp (chủ thểlà đối tượng điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh).

1.1.4. Khái niệm hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh

Qua tìm hiểu và nghiên cứu, đã có rất nhiều công trình, học giả nghiên cứu và đúc kết khái niệm về “hiệu quả của pháp luật” và các tiêu chí đánh giáhiệu quả của một văn bản pháp luật.

Theo từ điển luật học, hiệu quả của pháp luật là kết quả cụ thể của sựtác động pháp luật đến các quan hệ xã hội so với yêu cầu đặt ra khi ban hành pháp luật [33]. Hiệu quả của pháp luật có thể được đánh giá theotừng cấp độkhác nhau: hiệuquảcủa quy phạm pháp luật, của chếđịnhpháp luật, của ngành luật, của toàn bộ hệ thống pháp luật.Những căn cứ để đánh giá mức độhiệu quả của pháp luật là mục tiêu yêu cầu đặt ra khi ban hành pháp luật, chi phí cho việc thực hiện pháp luật và kếtquảthực tếđạtđượccủa việc thực hiện pháp luật.

30

Hiệu quả của pháp luật cũng có thể là kết quả so sánh: Kết quả đó do sựtác động, điềuchỉnhcủapháp luậtđómanglạitrong những phạm vi nhất định; kếtquảđóbiểu hiện ởtrạng tháicủacác quanhệxã hội;kếtquảđó phù hợp vớimụcđích yêu cầu,địnhhướngcủapháp luật; kếtquảđóđạt được với chi phí thực tế thấp (cùng một kết quả nhưng nếu chi phí quá lớn thìxem là hiệu quả thấp và ngược lại) [12].

Theo quan niệm khác: hiệuquảcủapháp luật làkhảnăngcủapháp luật cóthểtác độngđược vào các quanhệxãhộivà ý thức xãhộiđểđiều chỉnh các quan hệ đó với những tổn thất vật chất và tinh thần ít nhất và mang

lại kết quả theo hướng cần điều chỉnh và cần được xác định của pháp luật [8].

Trên thực tế, việc đưa ra khái niệmvềhiệuquảthực thi của mộtvăn bản pháp luật và các tiêu chí đánh giá còn nhiều ý kiến khác nhau. Theo cách hiểu thông thường, hiệu quả thực thi pháp luật có nghĩa hẹp hơn so với hiệu quả của pháp luật. Hiệu quả thực thi pháp luật có thể là kết quả đạt được trên thực tế của công tác tổ chức thực thi pháp luật trong một giai đoạn nhất định. Pháp luật có hiệuquảthực thi phải là pháp luật phát huytốiđa vai trò của mình để tạo điều kiện tốt nhất cho phát triển kinh tế xã hội.

Khi đánh giá hiệuquảthực thi pháp luật cóthểsửdụng các tiêu chíđịnh tính và định lượng sau đây [10]:

– Sự phù hợp và đầy đủ của các quy định pháp luật; ví dụ như luật bảo vệ môi trường đòi hỏi các quy định cần thiết, hệ thống đo đạc, giám sát, các chế tàiđủ mạnh để răn đev.v.

– Các điềukiệnvậtchất và tinh thầncầnthiếtđểthực thi pháp luật. Kinh nghiệm cho thấy trong tình trạngbầncùng và đóikhổquá mức, pháp luật sẽ khó được thực thi (lũ lụt, thiên tai, thiếu đói v.v.)

– Ý thức của người dân, cộng đồng doanh nghiệp về thực thi pháp luật, sự am hiểu cần thiết để thi hành pháp luật.

Việc đánh giá hiệuquảthực thi pháp luật phảiđược thực hiện trong

31

khoảng thời gian và phạm vi không gian nhất định. Về số lượng, có thể đánh giámộtvănbảnhoặc mộthệthống các văn bản. Cóthểđánh giá hiệuquảthực thi của riêng Luật Cạnh tranh hoặc của Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn của Chính phủ. Về chất lượng, có thể đánh giá trên một khía cạnh hoặc tổng thể văn bản.

Đểmột quy định pháp luật có hiệu quả thực thi trên thực tế, trước hết quy định đó phải có hiệu lực. Hiệu lực của pháp luật là cơ sở nền tảng tạo nên hiệu quả của một văn bản pháp luật. Ngược lại, hiệu quả của pháp luật phản ánh hiệu lực của văn bản pháp luật. Một luật chỉ có hiệu quả khi nó được tuân thủ nghiêm túc. Bởi các quyđịnhpháp luật chính là sựcụ thể hóa việc thực hiện các mục tiêu của luật. Mục tiêu của luật chỉ có thể thực hiện được khi các quy định của luật được tuân thủ.

Vídụvềquyđịnhcấmhút thuốc lá tạinơi công cộngcủaViệt Nam. Quy định được ban hành và có mục tiêu là làm giảm tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe người dân. Thực tế cho thấy, tình trạng hút thuốc lá ở nơi công côngvẫncònphổbiến. Tỷlệngườimắc bệnh ung thư phổi do thuốc lá vẫn tăng. Do đó, có thể nói quy định đó chưa đạt được hiệu quả thực thi của mình. Ngược lại, vớiquyđịnhvềbắt độimũbảohiểm. Gầnđâyquyđịnhnàyđãđược tuân thủ nghiêm túc. Khi đó luật có tính hiệu quả thực thi cao.

1.2. Tiêu chí để đánh giá hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh

Thông thường, đánh giá hiệu quảthực thi của mộtvăn bản quy phạm pháp luật là việc trả lời câuhỏi “vănbản quy phạm pháp luật này sau khi ban hành và có hiệu lực có đi vào cuộc sống hay không”. Đểđánh giá mộtvăn bản quy phạm pháp luật có được thực thi hiệu quả hay không thường sử dụng hai nhóm tiêu chí: nhóm tiêu chí về yếu tố bên trong và nhóm tiêu chí về yếu tố bên ngoài.

32

1.2.1. Nhóm tiêu chí bên trong

Nhóm tiêu chí bên trong thể hiện chất lượng của các văn bản quy phạm pháp luật baogồm(i) Tínhhợppháp của văn bản quy phạm pháp luật (văn bảnquy phạm pháp luật đócóđược ban hànhhợppháp hay không) và (ii) Tính phù hợp của văn bản quy phạm pháp luật (văn bản quy phạm pháp luậtđó có còn phù hợp với thực tiễn hay không).

+ Về tính hợp pháp

Trước tiên, văn bản quy phạm pháp luật đóphảiđảmbảotính hợp pháp. Một văn bản quy phạm pháp luậtchỉđạthiệu quảkhi nóhợppháp.Điều đócó nghĩa văn bản quy phạm phápluật đóphải thỏa mãn tất cả các yêu cầu sau đây.

Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật phải được ban hành đúng luật, tuân thủ các luật có hiệu lực cao hơn (ví dụ như Hiến pháp, cácđiều ước quốc tế có liên quan). Tính hợp pháp về mặt nội dung của văn bản quy phạm pháp luật trước tiên thể hiện ở việc văn bản đó không được mâu thuẫn, không được đi ngược lại những nguyên tắc, quy định mang tính chất định hướng của các văn bản có hiệu lực cao hơn, đặc biệt là Hiến pháp.

Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật phải được ban hành trong phạm vi thẩm quyền của chủthểsoạn thảo và ban hành luật. Điềuđócó nghĩa làvăn bản đó phải do đúng chủ thể có thẩm quyền ban hành.

Thứ ba, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm đúng trình tự, thủ tục và hình thức theo quyđịnh.

Tóm lại, một văn bản quy phạm pháp luật hợppháp là khiđược soạn thảo đảm bảo các yếu tố cả về hình thức cũng như nội dung. Vănbản đóphải được soạn thảo theo đúng quy trình thủ tục ban hành một văn bản quy phạm pháp luật. Văn bản quy phạm pháp luật phảiđược cơ quan có thẩm quyền soạn thảo và ban hành. Đâylà mộtyếutốquan trọng quyếtđịnhtính hợp

33

pháp cũng như sự tồn tại của một văn bản quy phạm pháp luật. (Theo từ điển Luật học, văn bản quy phạm pháp luật là vănbảndo cơ quan nhànước cóthẩm quyền ban hành theo trình tự thủ tục luật định, trong đó có chứa đựng các quy tắcxử sựmang tính bắt buộc chung, làm khuôn mẫu choxửsựcủa các chủthểpháp luật trong khoảng thời gian và không gia nhấtđịnhnhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo một trật tự nhất định mà nhà nước muốn xác lập. Văn bản quy phạm pháp luật được chia thành hai loại là văn bản luật và vănbảndướiluật [33].Tựuchung lại, vănbảnquy phạm pháp luật quyđịnh cái mà chúng ta có quyền, được phép, hoặc bị cấm làm. Một văn bản quy phạm pháp luật dùđược soạn thảo đúng quy trình thủ tục, nhưng không bảo đảm kỹ thuật soạn thảo, không đảm bảo được cơ cấu của một quy phạm pháp luật, hoặc không rõ ràng về mặt ngữ nghĩa sẽ khó có thể mang lại cho văn bản đóhiệuquảmong muốn. Ngược lại, một vănbảnquy phạm pháp luật được soạn thảo tốt về mặt kỹ thuật nhưng không được cơ quan có thẩm quyền soạn thảo và ban hành thì chắc chắn sẽ không bảo đảm hiệu lực và hiệu quả.

Hiệu quả thực thi của vănbảnquy phạm pháp luậtsẽcàngđược tăng cườngnếunhư các quyđịnh pháp luật trong văn bản luậtđócónộidung thống nhấtvớicác vănbảnluật khác tronghệthống pháp luật. Thực tếcho thấy, có nhiều văn bản luật dù đảm bảo tính hợp pháp trong mối quan hệ dọc vớiHiến pháp và các vănbảnluật có giá trịpháp lý cao hơn, nhưnglạicónhững quyđịnhmâu thuẫnvớicác vănbảnluật khác trongmốiquanhệngang,sẽkhôngthểđemlạihiệuquảmong muốn của văn bản luật. Những mâu thuẫn thậm chí những quy định trái ngược nhau giữa các văn bản luật sẽ

tạo nên những xung đột pháp lý gây cản trở cho việc thực thi văn bản luật. Do vậy, việc bảođảmtính thống nhất giữa các vănbảnluật sẽ tạo nên hiệuquảthực thi luật.

34

+ Về tính thực tiễn

Tính hợp pháp là điều kiện cần bảo đảm sự tồn tại vững chắc của văn bảnquy phạm pháp luật. Tuy nhiên, đểcóđược hiệu quảthực thi, văn bản quy phạm pháp luật cần phải đáp ứng các yêu cầu về tính thực tiễn. Một văn bản có tính thực tiễn sẽ giúp cho các chủ thể tuân thủ một cách nghiêm túc và

tựnguyện. Bởinó khôngchỉmanglạilợiích chochủthểmà cònlợiích chung cho cả xã hội. Tính hợp pháp chỉ là một điều kiện đủ cho việc tuân thủpháp luật của chủ thể. Một văn bản quy phạm pháp luật hợp pháp nhưng nếu không có tính thực tiễn vẫn có thể bắt buộc các chủ thể tuân thủ. Các chủ thểkhông thể viện cớ một quy phạm pháp luật không còn phù hợp với thực tiễnđể không tuân thủ một quy phạm pháp luật. Điều này xuất pháp từ uy quyền của luật pháp. Luật pháp phảiđược bắtbuộc thực hiện chừng nào còn hiệu lực. Nhưngsựtuânthủnàysẽdẫnđếnnhững tác độngtiêu cực cho xã hội, cho trậttựpháp luật nói chung. Những văn bản quy phạm pháp luật không phùhợpvớilòng dânsẽgây ra những phản ứngtiêu cực và trong nhiều trường hợp dẫn đến tình trạng khiếu kiện, khiếu nại kéo dài. Do vậy, tính thực tiễn của mộtvănbảnquy phạm pháp luật phảithểhiệnđượclợiíchcủađất nước, lợi ích chung, ý chí chung của nhân dân.

Tính thực tiễn của một văn bản quy phạm pháp luật tuy không phải làyếu tố quyết định việc tuân thủ pháp luật của các chủ thể, nhưng không phải vì thế mà mất đi ý nghĩa quan trọng của nó trong việc đảm bảo tính pháp chếcủa pháp luật. Trongmộtđấtnước mà nềnphápchếngày càngđược đề cao thì tính thực tiễn của các quy định pháp luật ngày càng được coi trọng.

Chính sách và pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành phải xuất phát từ thực tiễn và phản ánh thực tiễn và ngược lại, ảnh hưởng của các chính sách đó đến thực tiễn đòi hỏicác đối tượngchịu sự tác động của chính sách và pháp luật phải nắm bắt được nội dung cũng như tuân thủ nó. Việc tuân thủ

35

các quy phạm xuất phát từ lợi ích của các chủ thể, lợi ích của xã hội. Sự thống nhất biện chứng giữa tínhhợppháp và tính thực tiễn làmộttrong nhữngđặc điểmcủaviệc quản lý xãhộimộtcách khoa học. Pháp luật khôngthểđược tuân thủ một cách nghiêm túc nếu như những quy phạm pháp luật không xuất phát từ những yêu cầu của xã hội [22]. Văn bản quy phạm pháp luật được soạn thảo và ban hành là nhằm thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu của Nhà nước, của xã hội, ở việc giải quyết các vấn đề mà xã hội đặt ra. Do vậy, để một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu quảcầnphải xem xét tính thực tiễncủavăn bản quy phạm đó.

Văn bản quy phạm pháp luật có tính thực tiễn khiđápứngđược các yêu cầu:

Thứnhất, văn bản quy phạm pháp luật phải xuất pháttừlợiích thiết thực của xã hội, mà cụthểlàcủangườidân. Văn bản quy phạm pháp luậtđược ban hành là nhằm để giải quyết các vấn đề mà xã hội đặt ra. Do đó, văn bảnquy phạm pháp luật ban hànhcầnphải phùhợpvớitình hình kinh tế, chính trị, xã hội và lấy lợi ích của người dân, của xã hội, của nhà nước làm nền tảng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, văn bản quy phạm pháp luật dùđược hình thành dựa trên những ý tưởng hợp lý được xây đựng từ nền tảng thực tại của xã hội nhưng lại không thể hiện được rõ các ý tưởng này do việc diễn đạt cũng như việc sử dụng ngôn từ. Hậu quả là văn bản quy phạm pháp luật khó được thực thi trong thực tế và không được cộng đồng chào đón, ủng hộ. Một văn bản quy phạm pháp luật không có tính thực tiễn có thể do nhiều nguyên nhân.Mộttrong những nguyên nhân thườnggặplà dokỹthuật lập pháp còn yếu kém làm cho luật pháp không còn phù hợp với các quan hệ xã hội, với thực tiễn. Nguyên nhân khác là do sự phát triển của kinh tế xã hội, phát sinh nhiều mối quan hệ và các hành vi mới nên văn bản quy phạm pháp luật ban hànhtrướckhôngdựtínhhếtđược.Dođó,thông thường, các văn

36

bảnpháp luật phảiđượcthường xuyêncậpnhật,bổsung, thay thế,sửađổi cho phù hợp.

Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật phải phù hợp với đối tượng, phải điềuchỉnh đúngđốitượng. Nếu vănbảnquy phạm pháp luật khôngđiều chỉnh đúngđốitượng, sẽkhông làm chođốitượngđótuânthủmộtcáchtựnguyện. Điều đó gây ảnh hưởng đến hiệu quả của văn bản quy phạm.

1.2.2. Nhóm tiêu chí bên ngoài

Tiêu chí bên ngoài để xem xét mối quan hệ tương tác của quy phạm đóvớixã hộibaogồm(i) khảnăngtổchức thực thi của các cơ quan thi hành pháp luật, (ii) khảnăng tiếpcậnvà tuânthủluật của đốitượngmà văn bản quy phạm pháp luật hướng tới.

Nghiên cứu nhóm tiêu chí về yếu tố bên ngoài về hiệu quả thực thi của một văn bản quy phạm pháp luật là nghiên cứu ảnh hưởng của quy phạm pháp luật đến thái độ của những cá nhân và tổ chức là đối tượng áp dụng của văn bản, sự tương tác giữa văn bản quy phạm pháp luật và xã hội. Một văn bản cóhiệu quả thực thi khi văn bản đó có giá trị bắt buộc thi hành đối với chủ thể. Vì vậy, tháiđộ, sự tuânthủ quy phạm pháp luật được coi là yếu tố thể hiện rõnét nhất hiệu quả của mộtvăn bản quy phạm pháp luật. Ngoài ra, không thểkhôngkểđếnnhững cơ quan thực thi việc áp dụng luật. Một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu quảthực thi hay không, khôngchỉphụthuộc vào chính văn bản luật đó. Hiệu quả thực thi của văn bản luật còn phụ thuộc vào việc tổ chức thi hành, giám sát việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật đó. Vì vậy, vai trò của các cơ quan thực thi là rất quan trọng.

Văn bản quy phạm pháp luật sẽ có hiệu quả thực thi cao khi được các cơ quan thực thi thực hiện một cách nghiêm túc và triệt để việc áp dụng các quyđịnhtrong văn bản. Đểbảođảmcho luật phápđược thực hiện, các cơquan này cần phải được trang bị không chỉ về cơ sở pháp lý mà còn cả cơ sở

37

vật chất cũng như nguồn nhân sự để đảm bảo việc thực hiện pháp luật ở mọi cấp độ. Việc xử lý vi phạm pháp luật được thực hiện theo ba bước: trước tiên là phát hiện vi phạm, sau đó là xem xét, đánh giá và đưa ra phương hướng xửlý. Mỗi bước nàyđều cókhả năng làm ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi của vănbảnquy phạm pháp luật. Nhữnghạnchế, trởngại của trong việc thực hiện pháp luật thường có nguồn gốc, hoặc ít nhất chịu tác độngtừphía cơquan thực thi. Nếunhư các cơ quan này không hành động, không triển khai việc áp dụng luật, không giám sát việc thi hành, việc tuân thủ thì hiệu lực vàhiệuquảcủaluậtsẽkhôngđược bảođảm. Bên cạnh đó, sựchồng chéovềthẩm quyền giữa các cơ quan thực thi cũng làmảnhhưởngkhôngnhỏđến việc thực thi pháp luật.

Đểtuânthủmộtvăn bản quy phạm pháp luật, các đốitượngnày phải biếtđượcsựtồntạicủacác quy phạmđiềuchỉnh các quanhệxãhộimà họđã, đang và sẽ tham gia. Chỉ khi biết được có sự tồn tại của văn bản quy phạm pháp luật, các chủ thể mới có thể nhận thức được hành vi của mình là có làmđúng luật hay không. Sau khi biết và nhận thức được các quy phạm pháp luật, sẽ cóhai trường hợp xảy ra là tuân thủ và làm trái (không làm theo luật hoặc làm trái luật). Văn bản quy phạm pháp luật sẽ có hiệu quả thực thi khi được tuân thủ. Hiệu quả thực thi của văn bản quy phạm pháp luật phụ thuộc vàosựtiếp nhận, hay nói rộng ra là sự tiếp cận của các chủ thể.

“Tiếp cận” được hiểu là khả năng nhận thức luật, qua đó có thể áp dụng các quy phạm pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể. Đócó thể là khả năng yêu cầu các cơ quan thực thi luật áp dụng luật. Và cuối cùng khái niệm tiếp cận cũng được hiểu là khả năng có được những quyết định đúng luật của các chủ thể. Theo nghĩa hẹp khả năng tiếp cận luật có thể được hiểu làkhả năng mà một chủ thể có thể tiến hành các thủ tục tại cơ quan công quyền đểbảovệlợiíchcủamình. Hiện nay,khảnăng tiếpcậnluậtđượchiểu rộng

38

hơn. Đó là khả năng trở thành chủ thể của luật, được thông tin về các văn bản luật, các quyđịnhpháp luật,khảnăng áp dụng luậtmộtcáchchủđịnh(thực hiện một quyền), hoặc một cách bị động (yêu cầu tôn trọng quyền của mình). Như vậy, có thể thấy rằng, một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu quả thực thi phải là một văn bản có thể tiếp cận được. Khả năng tiếp cận của chủ thể sẽlàmộttrong nhữngyếutốquyếtđịnhhiệuquảcủa vănbảnquy phạm pháp luật, bởi đó là một vấn đề pháp lý gắn liền với các điều kiện về tính có hiệu lực của các quy phạm pháp luật đối với các đối tượng mà nó hướng tới điều chỉnh.

Nếu như một văn bản quy phạm pháp luật không được các chủ thể tiếp cận, văn bản đó sẽ không thực hiện được một trong những chức năng cơ bản là điềuchỉnh các quy tắc xửsựcủa các chủthểtrong xã hội. Văn bản quy phạm pháp luật khôngđược tiếpcậncóthểđược xem xétdướihai góc độ: Thứ nhất là quy định trong văn bản khó hoặc ít có khả năng tiếp cận. Nói một cách khác, các chủ thể khó có thể thực hiện các quy định bởi họ không hiểu, không thấy hợp lý hoặc cho rằng các quy định này đi ngược lại những quy tắc xửsựđược thừa nhận rộng rãi trong xã hội. Thứhai, cóthểdo nhữngđiều kiện khách quan bên ngoài cản trở sự tiếp cận của các chủ thể.

Ởgóc độthứnhất, nguyên nhân xuất pháttừchínhbảnthân văn bản quy phạm pháp luật đó. Có thể là do các quy phạm phápluật được xâydựng không phùhợpvớithực tiễn, hoặc không rõ ràng, mang tính chung chung khiến các chủ thể khó có khả năng tuân thủ, thi hành, vận dụng pháp luật hoặc các quy định đã lỗi thời không còn phù hợp với thực tế hiện hành. Điều này dẫnđếnhậuquảlà dầntạora khoảng cách giữa pháp luật và quần chúng. Khoảng cách này càng lớn, pháp luật càng khó được thực hiện. Các chủ thể sẽmất lòng tin pháp luật. Để khắc phục, văn bản luật phải được soạn thảo và ban hành phù hợp với thực tiễn và với ý chí của nhân dân và cộng đồng.

39

Ở góc độ thứ hai, khả năng tiếp cận văn bản luật bị ảnh hưởng bởi những yếu tố khách quan gây cản trở khả năng tiếp cận của các chủ thể, hay nói một cách khác cản trở công dân thực hiện quyền tiếp cận quy định pháp luật. Quyền tiếp cận một đạo luật nào đó, hay nói rộng ra là quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người. Quyền này bao gồm quyền mà công dân được chủ động tiếp cận, thu thập thông tin và trách nhiệm của cơ quan nhànước cung cấp thông tin cho công dân [22].

Đểđảmbảocho công dânđược chủđộngtiếpcậnthông tin, cơ quan nhà nước phảichủđộngcôngbốcông khai những trìnhtựthủtục rõ ràng thuận tiện để công dân có thể dễ dàng tiếp cận được thông tin khi có nhu cầu. Ngoài ra, công dân có thể tiếp cận được thông tin ngay cả khi không có nhu cầu bằng việc cơ quan nhà nước chủ động công khai thông tin trên các trang thông tinđiệntửcủacơ quan hoặc thông qua các kênhphổbiến kiến thức khác để đông đảo quần chúng được biết mà không cần phải yêu cầu.

Ngoài ra, hiệu quảthực thi của vănbảnquy phạm pháp luật cònphụthuộc vào rất nhiều vào các yếu tố chính trị-xã hội, văn hóa, và thói quen ứng xử của người dân. Một văn bản quy phạm pháp luật có thể thực thi tốt ở một địa phương, nhưng lại không thực thi hiệu quả ở một nơi khác. Ví dụ như quyđịnh bắt buộc đội mũ bảo hiểm. Luật phát huy hiệu lực tốt ở Hà Nội, nhưng ởcác tỉnh, địaphương xa trung tâm, hiệu quả của luật lại thấp. Yếu tố tâm lý,

tậpquán sinh hoạt và lốisống là nhữngyếutốảnhhưởnglớnđếnviệc thi hành pháp luật của các chủthể[19]. Như vậy, đâycũng là mộtnguyên nhân gây ảnh hưởng đến hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật.

Tóm lại, đa số các học giả trên thế giới đồng tình rằng hiệu quả thực thi của một văn bản quy phạm pháp luật được coi như một điều kiện để đánh giá sự tồn tại của một quy phạm. Theo họ, một văn bản quy phạm pháp luật ra đời luôn mong muốn được thực thi hiệu quả và nó chỉ đạt được khi được

40

công nhận và được áp dụng trong thực tiễn. Nếu không được đối tượng của nó biếtđếnvà tuân thủ, vănbảnquy phạm pháp luật sẽmấtđi chức năng quy phạm của nó.

1.3. Kinh nghiệm nâng cao hiệu quảthực thi pháp luật cạnh tranh của một số nước và bài học đối với Việt Nam

1.3.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản

a. Về phát triển và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh

Luật chống độc quyền của Nhật Bản [44]. có tên chính thức là “Luật vềchống độc quyền tư nhân và đảm bảo giao dịch công bằng” (AMA), được ban hành vào năm 1947 dưới sự chiếm đóng của quân Đồng minh sau Chiến tranh thếgiớithứhai nhưmộtluật vĩnhcửu(không giớihạnthời gian hiệu lực) nhằm tạo lập trật tự mang tính dân chủ cho nền kinh tế Nhật Bản.

Mục đích của Luật chống độc quyền Nhật Bản hay mục tiêu của chính sách cạnh tranh Nhật Bản được quy định rõ ngày tại Điều 1 của Luật đó là:

– Bảo vệ quá trình cạnh tranh, – Tạo hiệu quả kinh doanh,

– Tạo việc làm, nâng cao thu nhập của người dân và- Bảo vệ người tiêu dùng.

Kể từ năm1947 đến nay, Luật AMAđã được Ủy BanThương mại lành mạnh Nhật Bản (JFTC) đề xuất sửa đổi nhiều lần cụ thể qua các năm:

– 1991 sửa đổiLuật Chốngđộc quyền theohướngtăng mức phạt tiền các hành vi vi phạm.

-1992:sửađổiLuật Chốngđộcquyền trongđóđưacác quyđịnhvềáp dụng các chế tài hình sự vào các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh như phạt tù đối với lãnh đạo các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

– 2005 Sửa đổi Luật Chống độc quyền (AMA) theo hướng:

– Tăng mức phạt tiền;

41

– Áp dụng cơ chế khoan dung;

– Áp dụng các biện pháp bắt buộc đối với buộc tội Hình sự; – Sửa đổi Thủ tục tiến hành phiên điều trần;

– 2013 tiếp tục sửa đổi Luật chống độc quyền theo hướng:

+ Thay đổi quy trình ban hành quyết định xử phạt cuối cùng; + Thay đổi thủ tục tiến hành phiên điều trần.

b. Về vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cơ quan cạnh tranh Uỷ ban thương mại lành mạnh Nhật Bản (JFTC, sau đây gọi là Ủy ban)

được thànhlậpnhư là mộtcơ quan quản lý của Chínhphủđể đạt được mục tiêu của Luật Chống độc quyền. Bên cạnh Luật Chống độc quyền, Uỷ ban còn thi hành Luật chống tặng phẩm phi lý và trưng bày gây nhầm lẫn, Luật chống thanh toán chậm trong hợp đồng gia công phụ đối với người sản xuất phụ, đây là những luậtđặc biệtbổsung cho Luật Chốngđộc quyền. Uỷban cóvịtrínhư là một cơ quan cấp bộ trực thuộc Chính phủ.

Tuy nhiên, Uỷ ban có đặc điểm của một tổ chức quản lý theo hệ thống hội đồng, bao gồm một chủ tịch và bốn Uỷ viên. Ủy viên và Chủ tịch là các chuyên gia luật và kinhtếtuổiđờitừ35trởlên,được Thủtướngbổnhiệm trên cơ sở sự đồng thuận của cả thượng viện và hạ viện. Việc bổ nhiệm Chủ

tịch do Nhật hoàng thông qua. Trong việc thực thi Luật Chống độc quyền, Uỷban thực hiện nhiệm vụ của nó một cách độc lập, không chịu sự chỉ đạo hay giám sát của bấtcứmộtai.Đểđảmbảotínhđộc lậptrong quyếtđịnhcủa JFTC, bên cạnhsựđộc lậpvềmặtlợiíchvớicác chủthểkhác, Luật Chống độc quyền còn đưa ra các quy định để đảm bảo cho tính độc lập và trung lập trong quyết định của Chủ tịch và các Ủy viên của JFTC.

Điều28 Luật AMA quyđịnhChủtịch và các ủyviên của JFTC thực hiện nhiệmvụcủa họmộtcáchđộc lập.Tuy điều này chưa tạo ra được một cơ cấu cụ thể để tạo ra tính độc lập trong quyết định của Chủ tịch và các Ủy viên nhưng chính điều này đã tạo ra cơ sở pháp lý rất quan trọng cho tính độc lập này.

42

Để đảm bảo cho việc các quyết định của Chủ tịch và Ủy viên là trung

lập và không bị ảnh hưởng, trong điều 31 của Luật AMA“Chủ tịchvà các ủy viên sẽ không bị bãi nhiệm trong thời hạn nhiệm kỳ trái ý muốn của họ” ngoại trừ những trường hợp sau:

i. Khingườinàybịtòa án phán xét là không có năng lực, hầunhưkhông có năng lực, hoặc rơi vào tình trạng phá sản;

ii. Khi người này bị bãi miễn bởi hình phạt kỷ luật; iii. Khi người này bị phạt vì vi phạm Luật này;

iv. Khi người này bị kết án tù hoặc bị kết án nặng hơn;

v. KhiỦyban ThươngmạiLành mạnh quyếtđịnhrằngngườinày không đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ của mình vì lý do suy sụp về thể xác và tinh thần;

vi. Khi không giànhđược sựthông qua tiếp theo của cảhai Viện của Nghị viện như trong trường hợp quy định tại mục (4) của Điều trên đây.

Đồngthời trongĐiều36 quyđịnhvềlương của Chủtịch và Các ủy viên của JFTC có quy định như sau nhằm nâng cao tính độc lập trong lợi ích của Chủ tịch và các Ủy viên:

(1) Lương của Chủ tịch và các ủy viên sẽ được cấp riêng;

(2) Lương của Chủtịch và ủyviên khôngbịcắtgiảm ngược lạivớiýmuốn của họ khi họ đang trong nhiệm kỳ.

Dưới Ủy ban là Ban thư ký. Tổng thư ký chịu trách nhiệm tiến hành tốtụng hành chính của JFTC. Tổng thư ký thực hiện các thủtụctốtụng hành chính của Ban Thư ký. Ban Thư ký gồm Cục các vấn đề kinh tế; Cục điều tra và các văn phòng khu vực đặttạiHokkaido (Sapporo), Tohoku (Sendai), Chubu (Nagoya), Kinki (Osaka), Chūgoku (Hiroshima), Shikoku (Takamatsu) và Kyushu (Fukuoka).

Theo báo cáo hoạt động hàng năm, hiện nay JFTC có khoảng 850 nhân viên với ngân sách hoạt động hàng năm vào khoảng 9 tỷ yên/năm [48].

43

c. Thực tiễn công tác tổ chức điều tra và xử lý các hành vi vi phạm

Luật Chốngđộc quyền NhậtBảncấmcác đốitượnghoạtđộngkinh doanh độc quyền mang tính cá nhân, các hành vi hạn chế giao dịch không hợp lý, sửdụng các phương pháp giao dịch không công bằng, JFTC điềutra cân nhắc những thông tin thu nhận được từ công chúng, hoặc do chính JFTC phát hiện ra. Khi xét thấy xảy ra sự kiện vi phạm quy định cấm, sẽ tiến hành điều tra cần thiết đối với vụ việc bị nghi ngờ.

Theo quy định của Luật Chống độc quyền Nhật Bản, hệ thống các biện pháp xử phạt đối với hành vi vi phạm bao gồm các hình thức phạt tiền, xử lý loại trừ (đối với điều tra hành chính), phạt tù, phạt tiền (đối với điều tra hình sự) và phạt cảnh cáo. Trong đó, theo thống kê hàng năm của JFTC, phạt tiền và xử lý loại trừ cósố lần ápdụng nhiều nhất. Biện pháp truy tố hình sự đượcáp dụng ít nhất (khônglớnhơn 2 vụ/năm), mặc dù cóđề nghịtruytốnhưngđến nay chưa có vụ việc nàođược xử lý hình sự.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỦA VIỆT NAM

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỦA VIỆT NAM
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT CẠNH TRANH CỦA VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *