Cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân luôn là vấnđề trung tâm trong đời sống chính trị ở bấtkỳquốc gia nào. Việc thiết lập các cơ chế đểthúc đẩyvà hoàn thiện mối quan hệ này, vì vậy, cũng luôn là những nội dung được quan tâm hàng đầu về lý thuyết lẫn thực tiễn. Trong đó, cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam hiện nay là một chủ đề nghiên cứu mang tính thời sự vì các lý do chính sau đây:
Thứ nhất, xuất pháttừyêu cầuvềtính chính đáng của Nhà nước trong trật tựNhà nước pháp quyền
Trong thời đại ngày nay,sựphát triển các giá trị văn minh, dân chủ dẫn đến những thay đổi sâusắctrong nhận thức về vai trò, chức năng của Nhà nước hiệnđại,đánh dấu bằng sự chuyển đổi mô hình Nhà nước từ cai trị, điều hành sang Nhà nước
phục vụ, Nhà nước kiến tạo –phát triển… Một Nhà nước được thừa nhận có tính chính đángchỉkhi đáp ứng được những quan niệm, mongđợitrong con mắtcủađasố nhân dân về chính quyền cần có. Lúc này, Nhà nước không còn ở vị trí đứng trên, banơn, trao quyền cho dân chúng, mà có mối quan hệ bình đẳng, tương hỗ, đồng trách nhiệmvớicông dân trước pháp luật, chủ động và tích cực hơn trong việc thực hiện chức trách của mình trước công dân.
Bên cạnh đó, nhữngvận độngnộitạitrong xã hội hiệnđạicũng làm xuất hiện và gia tăng các nguy cơ gây cản trở, xâm hại đến quyền con người, quyền công dân. Trước những nguy cơ này, yêu cầu về tính chính đáng của Nhà nướclại càng đặt ra các đòi hỏi gắt gao đối vớiviệc phải thiết lập chế độ pháp lý đầyđủ,thích đáng và hiệu quả hơn các cơ chế hiện có, nhằm ràng buộc hơn nữa trách nhiệm của Nhà nướcđối với quyền, lợi ích của công dân, tạo điều kiện, bảo đảm cho người dân thực thi một cách hiệu quả hơn các quyền cơ bản của mình. Một trong những cơ chế pháp lý cóthểđáp ứng những yêu cầu này chính là cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân.
Thứ hai: xuất phát từ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhu cầu đảm bảo và phát huy dân chủ, bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong quátrình hội nhập và phát triển của Việt Nam
1
Quá trình xây dựng NNPQ, đẩy mạnh và phát huy dân chủ,bảo đảm, bảo vệvàphát huy quyền con người trong quá trình hội nhập quốc tếở ViệtNam đã và đangđặt ra yêu cầu phải xây dựng, hoàn thiện hơn nữa mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, thiết lập vị thế bình đẳng, hợp tác giữa hai chủ thể thông qua những cơ chế pháp lý thiết thực và hiệu quả. Tính thượng tôn pháp luật trong Nhà nước pháp quyền cũng đòi hỏi việc thiết lập một cơ chế bảo hộ dựa trên các nền tảng pháp lý vững chắc như sự cam kết về trách nhiệm từ phía Nhà nước đối với người dân nhằm kiến tạo môitrường để họ cóthể chủ động, tích cực hơn khi sử dụng, bảo vệ các quyền cơbảncủa mình.
Thứ ba, xuất phát từ chủ trương của Đảng và Nhà nước về bảo hộ pháp lýđối với công dân. Trong thời gian qua, một loạt các văn kiện quan trọng của Đảng đã đềcập đến các vấn đề liênquan đến cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân như: tiến hành cải cách tư pháp, xây dựng và vận hành cơ chếbồi thường nhànước,xây dựng cơ chế phán quyết vềnhững vi phạm Hiến pháp trong hoạtđộng lậppháp, hành pháp, tư
pháp…Đặcbiệt, Nghị quyết số 48 của Bộ Chính trị(ngày 24/5/2005) vềChiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã đề cập trực tiếp đến vấn đề bảo hộ công dân1. Về mặt pháp lý, có thể thấy vấn đềbảo hộ pháp lý đối với công dânở nước ta đã đượcthểhiệntừtrong tinh thần Hiến pháp năm 1946 và các quy định cụ thể về bảo hộ trong các bản Hiến pháp từ năm 1959 đến nay và tiếp tục được thể chế hoá trong Hiến pháp năm 2013. Đây có thể xem là những nền tảng chính trị – pháp lý vững chắc đồng thời cũng đặt ra yêu cầu bức thiết phải làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến cơ chế pháp lý về bảo hộ
công dân – vốn là một chủ đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam.
Thứ tư, xuất phát từ tư tưởng lập hiến của thời đại trong Hiến pháp năm 2013
Nội dung sửa đổi đượccho là quan trọng nhất của Hiến pháp năm 2013 chính làviệc thông qua các quy địnhvềquyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân tại Chương II. Bên cạnh đó, cũng cần phải kể đến các quy định trực tiếp về vấn đề bảo hộcông dânrảirác tại mười (10) điều khoản khác nhau trong Hiến pháp hiện
1Nghị quyết số 48/NQ-TW đã chỉ rõ yêu cầu: “Hoàn thiệnchế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân, chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, nhất là toà án trong việcbảo vệcác quyền đó; xử lý nghiêm minh mọi hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân”.
2
hành2. Sự kiện này đặt ra những yêu cầu cấp bách về việc tiếp tục làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễnvề mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, trong đó có nội dung quan trọng là cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam.
Thứ năm, xuất phát từ những hạn chế về nhận thức, lý luận và thực tiễn về cơchế pháp lý bảo hộ công dân ở Việt Nam
Về nhận thức, các quan niệm ở Việt Nam về bảo hộ công dân lâu nay mới chỉđược giới hạn trong phạm vi bảo hộcông dânở nước ngoài (bảo hộ thông qua hoạtđộng lãnh sự,ngoai giao) mà ít chú ý đếnbảo hộcông dân trong nước. Việcbảovệquyền công dân, quyền con người từphía Nhà nước vẫn dừngởmức thụ động,áp dụng các biện pháp bảo vệ khi quyền và lợi ích của công dân bị ảnh hưởng hoặc xâm phạm.
Bên cạnh đó, trên thực tế, do nhận thức về những quyền cơ bản, quyền con người cònchưa đầy đủnên việc xác lập cơchế bảo hộ ở tầm Hiếnpháp đốivớinhững quyền này từ phía Nhà nước vẫnchưa đượcquan tâm thích đáng. Chúng tamớitư duy về“bảo vệ” hoặc “bảođảm” quyền con người, quyền công dân mà chưa thật sự quan tâmđến “bảo hộ”. Thuật ngữ“bảo hộ” trong “cơ chế pháp lý vềbảohộ công dân” vẫn còn hết sức mới mẻ, thậm chí xa lạ đối với nhiều người. Thực tiễn nhận thức này dẫn
tới việc thiếu vắng những nền tảng lý thuyết vững chắc cho việc bảo hộ công dân ở Việt Nam, dođó,việc ghi nhận và điều chỉnh cơ chế pháp lý vềbảo hộ công dân ở Việt Nam cũng còn khá mờ nhạt, chưa mang tính hệ thống.
Về tình hình nghiên cứu, có thể thấy trong khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay, bảo hộ công dân trong nước cũng như cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam chưa thật sựđược chúý nhiều. Các nghiên cứu mới chỉ dừng ở những khía cạnh riêng biệt của cơ chế pháp lý bảo hộ công dân như: bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân… mà chưa có nghiên cứu nào liên quan trực tiếp đến nội dung cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở nước ta.
2Các quyđịnhtậptrung vào các quyền: quyền sống, quyền bất khả xâm phạmvề thân thể,đượcbảohộsức khoẻ, danh dự và nhân phẩm, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền sở hữu tư nhân và thừa kế, quyền về hôn nhân và gia đình, quyềnsử dụng đất(Xem Phụ lục).
3
Từnhững lí do trên, có thểthấy rằng việc nghiên cứu, làm rõ mộtcách có hệthống và cơ bản các vấn đề lý luận và thực tiễn của cơ chế pháp lý về bảo hộ công dânở Việt Nam là hết sức cần thiết trong quá trình xây dựng NNPQ XHCN, hội nhập, phát triển ở nước ta hiện nay.Đâycũng chính là lý do Nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài Luận án tiến sĩ: “Cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân (viết tắt: CCPLBHCD) ở Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, Luận án có các nhiệm vụ cụ thể sau:
Thứ nhất, nghiên cứu, làm sáng tỏ nhữngvấnđề lý luận về CCPLBHCD trong trật tự NNPQ;
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về CCPLBHCDở Việt Nam và thực tiễn vận hành CCPLBHCD ở Việt Nam hiện nay;
Thứ ba, đề xuất và luận chứng các giải pháp xây dựng và hoàn thiện CCPLBHCD ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án gồm:
Các quan điểm, tư tưởng vềbảo hộ công dân (BHCD) và CCPLBHCD, kinh nghiệm thế giới về CCPLBHCD; các quyđịnh pháp luật và thực tiễn vận hành CCPLBHCD ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài Luận án có nội dung trải rộng trên nhiều lĩnh vực. Trong khuôn khổ Luậnán, sau khi làm rõ các vấn đề lý luậnvề bảo hộ pháp lý đốivớicông dân, chúng tôi tập trung nghiên cứu thực trạng CCPLBHCDở Việt Namdưới khía cạnh: BHCD theo nghĩa hẹp: bảo hộ khi có các nguy cơ xâm hại,cảntrởviệchưởngvà thực thi quyền, nhằm ngăn chặn, xử lý những vi phạm, cản trở và thúc đẩy, giúp đỡ, bảo vệ công dân trong quá trình thực thi các quyền đó.Vềkhông gian, thời gian nghiên cứu: Luận án
4
tập trung nghiên cứu ở Việt Nam, kết hợp nghiên cứu so sánh với kinh nghiệm nước ngoài (đồngđại).Thời gian nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 1992 đến nay,đặc biệt sau khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua, có sự nghiên cứu so sánhlịch sử(lịch đại) để làm rõ các vấn đề mà Luận án hướng tới.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sửcủa triết học Mác – Lênin, các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật, cải cách tư pháp, bảo đảmquyền con người, quyền công dân, hoàn thiện chế độbảohộcủa Nhànướcđốivớicác quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, Luận án đã sửdụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, hệthống, đa ngành và liên ngành, lịch sử, luật học so sánh vàdựbáo qua những tài liệu thứ cấp để làm sáng tỏ các vấn đề cần được nghiên cứu trong phạm vi đề tài. Cụ thể:
Thứ nhất, phương pháp tiếp cận hệ thống, đa ngành và liên ngành khoa học xãhội nhân văn như chính trị, xã hội học, lịch sử, luật học nhằm làm rõ bản chất chính trị, xã hội, pháp lý của vấn đề BHCD và CCPLBHCD.
Thứ hai, phương pháp nghiên cứu trực tiếp thông qua việc khảo sát nhận thức về CCPLBHCD; trao đổi trực tiếp với các nhà lập pháp, nhà nghiên cứu về pháp luật, và nhà làm công tác thực tiễn nhằm xây dựng cơ sở lý luận về BHCD và CCPLBHCD.
Thứ ba, phương pháp nghiên cứu gián tiếp thông qua việc tổng hợp, phân tích các tư liệu, nhất là tư liệu sơcấp(các văn kiện pháp lý quốc tế, Hiến pháp và các VBQPPL quy định về bảo hộ, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân) làm cơ sở thực tiễn cho việc đánh giá thực trạng CCPLBHCD ở Việt Nam.
Thứtư, phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn được sửdụng xuyên suốt trong Luận án nhằm phân tích, đánh giá thực trạng CCPLBHCD ở Việt Nam, làm cơsở cho việc đề xuất các giải pháp xây dựng và hoàn thiện CCPLBHCD trong NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay.
Thứ năm, phương pháp lịch sử, so sánh (so sánh các giai đoạn phát triển vềquyền cơ bản củacông dân, so sánh kinh nghiệmnước ngoài, so sánh các quyđịnh pháp luật về bảo hộ trong Hiến pháp Việt Nam qua từng thời kỳ)để thấyđược mối liên hệ giữa bản chất và hiện tượng,nộidung và hình thức, cái chungvớicái riêng, cái phổ biến và cái cụ thể.Từđó, một mặt thấy được vai trò tất yếu của BHCD trong trật tự NNPQ và yêu cầu xây dựng, hoàn thiện CCPLBHCD ở Việt Nam.
5. Những đóng góp mới về khoa học của Luận án
5.1. Về mặt lý luận, Luận án có những đóng góp mới sau đây:
Thứ nhất, chỉ rađược tính lịch sửcủayêucầuBHCD trong sựphát triển mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân. Thông qua phương pháp lịchđại và đồngđại, Luận án đã đặt những cơ sở ban đầu trong việc tìm hiểu sựphát triển của vấn đề BHCD, chỉ ra những tiền đề chính trị – pháp lý vững chắc về BHCD ở Việt Nam, góp phần gợi mở những bài học kinh nghiệm trong xây dựng và hoàn thiện CCPLBHCDở nước ta.
Thứ hai, Luận án đã làm sáng tỏ những vấnđề lý luận cơ bản vềBHCD vàCCPLBHCD, đặt trong mối quan hệ với các cơ chế khác về quyền con người, quyền công dân, phân biệt giữa BHCD trong nước với BHCDởnước ngoài (bảo hộ ngoại giao), giữa CCPLBHCD với các cơ chế bảo hộ phi pháp lý, phân biệt giữa bảo hộ, bảo đảmvà bảo vệ quyền; làm rõ hơn lý luận vềquyền cơ bản của công dân (trong mối quan hệ với quyền con người và các quyền không cơ bản), lý luận về tố quyền.
Thứ ba, Luận án đã làm sâu sắc hơn các lý thuyết về quyền con người và phát triển con người trong thời kỳhiện đại,thông qua việc làm sáng tỏ triết lý về trách nhiệm chính trị – pháp lý của Nhà nước trong việc bảođảmthực thi các quyền công dân mộtcách có hiệu quả, dựa trên các tiêu chuẩn về bảo đảm an ninh conngườivàchỉ số phát triển con người của Liên Hợp Quốc
5.2. Về mặt thực tiễn:
Luận án đã có những phân tích, đánh giá một cách khái quát và hệ thống vềthực trạng pháp luật và thực tiễn vận hành CCPLBHCDở Việt Nam, lý giải nguyên nhân dẫn đến những bất cập, hạn chế trong thực trạng bảo hộ pháp lý đối với công dân ở Việt Nam, đề xuất các giải pháp về xây dựng, hoàn thiện CCPLBHCD trong NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án 6.1. Ý nghĩa lý luận của Luận án
Kết quảnghiên cứucủa Luận án góp phần củng cốlý luậnvề các cơ chếbảođảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, về BHCD và CCPLBHCD, về mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân trong NNPQ.
Những kết luận trong Luận án có thể góp phần thúc đẩyviệc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật về quyền con người, quyền cơ bản của công dân cũng như CCPLBHCD ở Việt Nam trong thời gian tới.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn:
Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy về Nhà nước và pháp luật, quyền con người, quyền công dân, mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, lý thuyết về NNPQ.
Bên cạnh đó, Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho những người làm việc trong các cơ quan nhà nước nói chung, nhất là các cơ quan bảo vệ pháp luật, giúp các nhân viên công quyền nâng cao nhận thức về trách nhiệm BHCD, CCPLBHCD, trách nhiệm của Nhà nước đốivới công dân, quyền cơ bản của công dân, từ đó có hành xử đúng đắn trong mối quan hệ với công dân.

7. Cơ cấu của Luận án
Luận án có cơ cấu như sau:
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan tài liệu và các vấn đề liên quan đến luận án Chương 2: Cơ sở lý luận về cơ chế pháp lý bảo hộ công dân
Chương 3. Thực trạng cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam
Chương 4. Quan điểm, giải pháp xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam
Kết luận
7
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Các công trình nghiên cứu vềquyền con người, quyền công dân, lịch sử,
nguồn gốc và bản chất mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về tư tưởng về bảo hộ pháp lý đối với công dân
1.1.3. Các công trình nghiên cứu về yêu cầu về bảo hộ và cơ chế pháp lývề bảo hộ
công dân
1.1.4. Các công trình nghiên cứu về khái niệm bảo hộ và cơ chế pháp lý về bảo hộ
công dân
1.1.5. Các công trình nghiên cứu về tố quyền
1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.2.1. Những kết quả nghiên cứu mà Luận án sẽ kế thừa, tiếp tục phát triển
Các luận điểm liên quan đến tính triết lý về nguồn gốc quyền lực nhà nước, mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, quyền con người, quyền công dân, yêu cầu của dân chủ và tính chính đáng của Nhà nước trong một nhà nước hiện đại sẽ là những điểmsáng mà luận án sẽ sửdụng trong quá trình nghiên cứu, phân tích, làm rõCCPLBHCD ở Việt Nam.Đồng thời, các luậnđiểmquan trọng của các học giả Đức vềvấn đềBHCD, bảo hộpháp lýđốivớicông dân cũng là những cơ sở khoa học quan trọng cho các bước triển khai nghiên cứu của Luận án.
18
Nhìn chung, trong khoảng hai mươi năm trở lại đây, các nghiên cứu liên quan đến quyềncủa công dân, mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và công dân ngày càngđược quan tâm nghiên cứu chuyên sâu. Muộn hơn một chút là các nghiên cứu liên quan đến quyền con người và các cơ chế tài phán, tố quyền (dân nguyện, khiếu nại, tốcáo, khởi kiện ra Tòa án thường và Tài phán Hiến pháp),vớicác kết quả nghiên cứu rất đáng chú ý. Các nghiên cứu đã kế thừa được những thành tựu chung của văn minh nhân loại vàkếthừa những hạt nhân hợplý đểsoi vào thực tiễn ở Việt Nam trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Có thể thấy những nỗ lực rất lớn của các nhà khoa học trong việc phân tích, làm sáng tỏ vai trò của Nhà nước và công dân trong mối quan hệ chính trị – pháp lý bìnhđẳng, có tính tương tác qua lại, quyềncủachủ thểnày là nghĩavụcủachủthể kia vàngược lại. Qua đó, giúp ta thấy được như cầu xây dựng CCPLBHCD trong giai đoạn phát triển mới của mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân.
Nhận thức mới vai trò về quyền con người, quyền công dân ở Việt Namđược khởi xướng từChỉ thị số 12/CT-TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư4[15], tiếp tục được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội (bổsung và phát triển năm 2011)5[17], tiếp đólà Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010củaBan Bí thưvề công tác nhân quyền trong tình hình mới.[15]Mớiđây nhất, phải kể đếnchủ trương về hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, nhất là toà án trong việc bảo vệ các quyền đó được chính thức khẳng định trong Nghị quyết số 48/NQ-TW (24/5/2005).[18] Các chủ trương nàyđã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 1992 và được kế thừa trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013. Đây là những nền tảng chính trị – pháp lý vững chắc cho nhiệm vụ tăng cường, củng cố hơn nữa các cơchế bảođảm, bảo vệquyền con người, quyền công dân trong trậttựNNPQ. Nhận thức
4Chỉ thị số 12/CT-TW xácđịnh: “Đối với chúng ta, vấn đề quyền con người được đặt ra xuất phát từ mục tiêu của Chủ nghĩa xãhội, từbản chất của chế độ ta và bao quát rộng rãi nhiều lĩnh vực,từchính trị, tư tưởng, văn
hóa đến kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, pháp chế…”.
5Cương lĩnh chỉ rõ: “quan tâm hơn nữa việc chăm lo hạnh phúc và sự phát triểntựdo, toàn diện của con người, bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng vàthực hiệncác điều ước quốc tế màViệt Nam kýkết”.
19
mới về quyền cơ bản của công dân cũng cho thấy quan điểm thống nhất về sự cần thiết phải có một cơ chế bảo vệ quyền cơ bản theo trình tự Hiến pháp.
Đồng thời, các nghiên cứu liên quanđếntừng nội dungcụ thể củaluận ánvề các tố quyền như cơ chế dân nguyện, khiếu nại, tố cáo, quyền khởi kiện tại Tòa án
thường và tại cơ chế Tài phán Hiến pháp… cũng sẽ là những gợi ý để tác giả tiến hành các nghiên cứu của mình trong quá trình làm rõ nội hàm của vấn đề.
1.2.2. Một sốvấnđề chưa đượcgiải quyết thấu đáo hoặccầntiếp tục nghiên cứu,
tìm giải pháp
Cho đếnnay, chưa có công trình nàođềcậpđến vấnđề vềBHCD cũng nhưCCPLBHCD. Các nghiên cứu đi trước mới chỉ dừng ở từngnội dung cụ thể của vấn đề, từgóc tiếp cận truyền thống về yêu cầu bảo đảm hoặc bảo vệquyền con người, quyền công dân, hoặc phân tích mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân ở tầm khái quát, chưa đặt mối quan hệ này trong cái nhìn mới phù hợp với trậttựNNPQ và nền quản trị hiện đại. Quan niệm về BHCD hiện nay vẫn giới hạn ở phương diện hẹp, chưa thấy được nhu cầu phải quan niệm rộng hơn, hệ thống hơn, tương thích với hệ thống quyền đã được ghi nhận và xác lập trong Hiến pháp năm 2013.
Điểm khác biệt giữa Luận án với các nghiên cứu trước là ở chỗ: chúng tôi muốnđặt mối quan hệ pháp lý này, thay vì từ thái độ chủ quan của chủ thể bảo hộ như các
nghiên cứu truyền thống, mà tiếp cận từchủthể hưởng quyền –xuất phát từvai tròtích cực của người dân. Tức là tăngcườnghơn nữa khả năngtựphòng vệcủangười dân, đồng thời, phát huy vai trò tích cực của Nhà nước trong mốiquan hệ này. Theođó, Nhà nước trao thêm quyền và khả năng tự bảo vệ của người dân, đồng thời, đóng vai trò là người trọng tài trong việc giải quyết các xung đột xã hội.
Nhìn chung, các tài liệu nghiên cứu ở Việt Nam đã cho thấy những vấn đề sau cần được quan tâm nghiên cứu và tiếp tục được giải quyết:
1. Vai trò, chức năng của Nhà nước trong xã hội hiện đại
Sựvận động và phát triển của xã hội ngày càng đặt ra nhiều vấn đềmới cần được giải quyết, góp phần chứng minh giá trị của các lý thuyết tiến bộ về xã hội, nhànước và pháp luật, cũng như cho thấy những lạchậu của các khung lý thuyết cũ. Những yêu cầu củathời đại đòi hỏiphải có sựnhìn nhận, xem xét lại vai trò, chức
20
năng của Nhà nước, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa, xây dựng NNPQ và thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Nội dung này tuy rộng lớn nhưng lại liên quan chặt chẽ đến đề tài “Cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân” của Luận án, bởi việc làm rõ vai trò, chức năng của Nhà nước sẽ góp phần củng cố thêm các luận điểm vềtính chính đáng của Nhà nước và yêu cầu xây dựng, hoàn thiện CCPLBHCD ở Việt Nam.
2. Mối quan hệ quyền con người, quyền công dân chưa rõ ràng, minh bạch. Trong một thời gian dài, nhân quyền (quyền con người) là một chủ đề nhạy cảm
ở nước ta. Điều này dẫn đến tình trạng vẫn còn những hạn chế trong nhận thức về mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam hiện nay.
3. Nội hàm khái niệm quyền cơbảncủacông dân còn chưa rõ, bao gồm các vấn đề:nội dung quyền, phương thức thực hiện quyền (trực tiếp hay gián tiếp thông qua trình tự, thủ tục nhất định), giới hạn Hiến pháp của quyền, chủ thể quyền, trình tự, thủ tục cụ thể hóa quyền; sự khác biệt giữa bảo hộ quyền cơ bản với các quyền thông thường, nguyên tắc ghi nhận thực hiện và bảo hộ đối với quyền.
4. Quan niệm và nhận thức về vấn đề BHCD trong nướcmặc dù được khẳngđịnh trong các bản Hiến pháp nhưng vẫn còn nhiều điểm chưa được làm rõ,về lịch sửvấn đề, cơsởchính trị- pháp lý, bản chất và nội hàm khái niệm “BHCD” và CCPLBHCD, các yếu tố cấu thành và đặc điểm của CCPLBHCD, thực tiễn điều chỉnh
pháp luật và thực trạng vận hành của CCPLBHCD…
5. Hệ thống các tố quyền của công dân chưa được quy định rõ ràng minh bạch và đồng bộ. Các tố quyền của công dân được thực hiện theo cơ chế bảo vệ Hiến phápđược quy định tại Điều 119 khoản 2 Hiến pháp năm 2013 vẫn chưa được làm rõ.
6. Vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng trong nhận thức cũng như thực tiễn giữa các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Do đó, một nội dung khá quan trọng mà Luận án sẽ tập trung giải quyết, đó chính là phân biệt rõ bản chất, ý nghĩa, vai trò của các cơchế bảo vệ, bảo đảm và bảo hộ quyền vềlý luận cũng như nhận thức.
21
1.3. Cơ sở lý thuyết và hướng tiếp cận của Luận án 1.3.1. Cơ sở lý thuyết
1.3.1.1. Câu hỏi nghiên cứu
Trong phạm vi Luận án, tác giả xác định những câu hỏi nghiên cứu sau đây:
Thứ nhất, CCPLBHCD là gì? Bản chất và vai trò của nó trong mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và công dân trong trật tự NNPQ?
Thứ hai,đặc điểmcác quyền cơ bản của công dân và giới hạn bảo hộ pháp lý đối với các quyền cơ bản của công dân được thực hiện như thế nào?
Thứ ba, tố quyền là gì? Bản chất và vai trò của nó trong CCPLBHCD? Thứ tư, nội dung của CCPLBHCD (các hình thức và mức độ thể hiện)? Thứnăm, thực trạng CCPLBHCD ở Việt Nam hiện nay?
Thứ sáu, những yêu cầu và điều kiện nào đặt ra cho việc xây dựng và hoàn thiện CCPLBHCD ở Việt Nam?
1.3.1.2. Lý thuyết nghiên cứu
Để phục vụ cho việc làm rõ các nội dung của luận án, chúng tôi dự kiến sẽ sửdụng một số lý thuyết nghiên cứu sau làm khung lý thuyết của Luận án, cụ thể:
Kế thừa và tiếp thu có chọn lọc các tư tưởng tinh hoa củanhân loạivề pháp luật, dân chủ và quyền con người như nguyên lý về chủ quyền nhân dân, lý thuyết về quyền tựnhiên, khế ước xã hội của J.J.Rousseau, lý thuyết về “giới hạn quyền lực” của John Locke; lý thuyết về kiểm soát quyền lực; chủ nghĩa hợp hiến: được sử dụngđể luận giải cho tính tất yếu và tính lịch sử của yêu cầu BHCD và CCPLBHCD.
Lý thuyết về tính chính đáng của Nhà nước, tổ chức quyền lực nhà nước trong trật tự NNPQ: được sửdụng để luận giải cho ý nghĩa thời sự, tính cấp thiết của yêu cầu xây dựng CCPLBHCD trong giai đoạn hiện nay cũng như trong việc thiết kế các thiết chế cụ thể trong CCPLBHCD;
Các lý thuyết vềbảođảm, bảo vệvà thúcđẩy và quyền conngười: được sửdụng để xem xét, đánh giá vấn đề bảo hộ cũng như CCPLBHCD trong tínhhệthống tổng thể của các cơ chế về bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân;
22
Nhóm lý thuyết về BHCD trong trật tự NNPQ: được sửdụng để xây dựng cơ sởlý luận cũng như đánh giá thực tiễn và kiến nghị các giải pháp xây dựng và hoàn thiện CCPLBHCD ở Việt Nam.
1.3.1.3. Các giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu về lý luận: BHCD và CCPLBHCD là một kết quả tất yếu của quá trình vận độnglịch sửtrong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, là bước phát triển tiếp theo trong mối tương quan vớicác cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Về phương diện khoa học, hiện tại chưa có quan niệm thống nhất trong giới khoa học pháp lý Việt Nam vềkhái niệm BHCD và CCPLBHCD. Vì vậy, việc làm sáng tỏ khái niệm khoa học về BHCD (trong nước) và CCPLBHCD là cần thiết và là “chìa khóa” để tiếp tục làm rõ những vấn đề lý luận tiếp theo.
Giả thuyết nghiên cứu về thực tiễn: mặc dù đã được khẳng định trong các bản Hiến pháp nhưng trên thực tế, BHCDở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa đầy đủ trên các phương diện: quy định pháp luật và thực tiễn vận hành, chưa đápứng được yêu cầu của trật tựNNPQ, chưa theo kịp với các quan điểm chủ trương của Đảng và Nhà nước về quyền con người, quyền công dân.
1.3.2. Hướng tiếp cận của Luận án
Trên cơsởtậphợp,hệthống và phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài Luận án mà nghiên cứu đã thu thập được, Luận án sẽkế thừa có chọn lọc những giá trị hợp lý,những kết quả đạtđược của các công trình nghiên cứu trước đây. Trên cơ sở đó, nghiên cứu sinh đưa ra hướng tiếp cận của Luận án như sau:
Thứ nhất, tiếp cận hệ thống: Phân tích và đánh giá những vấn đề về CCPLBHCD được đặt trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân cũng như trong mối quan hệ với các cơ chế khác như: bảo hộ ngoại giao, các cơ chế bảo đảm, bảo vệquyền con người, quyền công dân,giữa CCPLBHCD trongnước với nước ngoài, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, hệ thống.
Thứ hai, tiếp cận liên ngành:Có sựphốihợpcủa nhiều ngành khoa học xã hội nhân văn như khoa học lịch sử, xã hội học, chính trị học, luật học so sánh v.v…
23
Thứ ba, tiếpcậnlịchsử: Quanđiểm lịchsửcụ thểđược quán triệt trong quá trình nghiêncứu, đặc biệt việc xem xét mối quan hệ qua từng giaiđoạn lịch sửkhác nhau. Đồng thời khi phân tích, đánh giá từng vấn đề được quán triệt trong bối cảnh
lịch sử và những điều kiện cụ thể và nhìn nhận dưới góc độ logic phát triển.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy cùng với các vấn đề về quyền con người, quyền công dân, mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, bảo hộ pháplý đối với công dân đã được các tác giả nước ngoài nghiên cứu từ khá sớm.
Qua đánh giá, điểm luận tài liệu, có thể khẳng định, ở Việt Nam, cho đến nay, khoa học pháp lý truyền thống vẫn chưa có nhận thức và quan tâm đúng mức về vai trò của BHCD trong nước. Các nghiên cứu mới chỉ động chạm đến những lĩnh vực lân cận, giao thoa như: quyền con người, quyền công dân, mối quan hệ giữa Nhà nước vàcông dân, hoặc những nội dung cụ thểvề tốquyền, BTNN hay cơ chế bảo hiến, tài phán hiến pháp… Chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp và hệ thống vềCCPLBHCD đặt trong tổng thể các cơ chế bảo đảm, bảovệ quyền con người, quyền công dân. Nhất là chưa có nghiên cứu nào xem xét cơ chế này xuất phát từ yêu cầuvềtính chính đáng củaNhà nước, tiếp cậntừkhía cạnh trách nhiệm chính trị- pháp lý của Nhà nước đối với số phận pháp lý của công dân, từđó dẫn đến yêu cầu vềCCPLBHCD, thiết lập mối quan hệ tích cực, bình đẳng về pháp lý giữa Nhà nước và công dân, đáp ứng các nguyên tắc cơ bản trong trật tự NNPQ.
Do đó, những nội dung mà Luận án có thể kế thừa, phát triển từ các nghiên cứu có trước chủ yếu là những lý thuyết chung về quyền con người, chủ quyền nhân dân,
tổchức quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền lực, tính chính đáng củaNhà nước đểxây dựng cơ sởlý luận cho nghiên cứu của mình, hay những nội dung cụthểtrong
từng vấn đề riêng lẻ của Luận án. Bên cạnh đó, còn rất nhiều nội dung cơ bản cần làm sáng tỏ trong Luận án cũng như các nghiên cứu tiếp theo như:
(i) Vai trò, chức năng của Nhà nước trong xã hội hiện đại;
(ii) Mối quan hệ giữa quyền con người với quyền công dân; (iii) Phân biệt quyền cơ bản với quyền không cơ bản;
24
(iv) Các vấn đề lý luận và thực tiễn về BHCD trong nước như: lịch sử và cơsởchính trị- pháp lý của vấn đề, bản chất và nội hàm khái niệm “BHCD” và CCPLBHCD, các yếutốcấu thành và đặc điểm của CCPLBHCD, thực tiễn
điều chỉnh pháp luật và thực trạng vận hành của CCPLBHCD…;
(v) Hệ thống các tố quyền của công dân, đặc biệt tố quyền liên quan đến thực hiện theo cơ chếbảo vệHiến pháp được quyđịnh tại Điều 119 khoản 2 Hiến pháp sửa đổi năm 2013;
(vi) Phân biệt các cơ chế bảo đảm, bảo vệ và bảo hộ quyền công dân.
Đây là những nội dung đang bị“bỏ trống”trong nghiên cứu về BHCD nói chung và CCPLBHCDởViệt Nam nói riêng, cũng chính là nhữngnộidung màLuận án sẽ tập trung xem xét, luận giải và làm sáng tỏ trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.
25
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ
BẢO HỘ CÔNG DÂN
2.1. Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân – quan niệm và các giai đoạn phát triển
Trong xã hội dân chủ, Công dân và Nhà nước là hai phạm trù có mối quanhệgắn bó hữu cơ, không thể có công dân mà không có Nhà nước, cũng không thể có Nhànước mà không có công dân. Mặt khác, trong tính biện chứng của sựphát triển, các quyền công dân, quyền con ngườiphản ánh mức độ hoàn thiện và bản chất của Nhà nước. Chúng ta cóthểnhận thức rõ điều này qua nghiên cứu sự phát triển các thế hệ quyền con người.
Hiện tại vẫnchưa có sựthống nhất trong quan niệmvềyêucầu“bảo hộ” của Nhà nước đối với công dân, cũng giống như quan điểm của rất nhiều người trước đây trong quá trình xây dựng và ban hành các Công ước Liên Hợp Quốc về quyền con người, không muốn thừa nhận các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn
lịch sửđã cho thấy rằng, các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội không những được thừa nhận như những quyền con người thuộc thế hệ thứ hai, mà còn được triển khai cơ chế thực thi ở cấp độ quốc tế và quốc gia ngày càng rộng rãi. Kế tiếp là những quyền con người thế hệ thứba, thứtư… Cùng với sựphát triển của quyền con người là sựphát triển, thay đổi về nhiệm vụ, chức năngcủaNhà nướctrướcyêucầu củatrậttựNNPQ và hội nhập toàn diện, trong đó có yêu cầu BHCD trong nước.
2.1.1. Quan niệm về mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân
Mối quanhệ giữa Nhà nước và công dân là mối quan hệ chính trị – pháp lý mang tính nền tảng trong mỗi quốc gia, thể hiện trong các quyền và nghĩa vụ được quyđịnh tạo thành địa vị pháp lý của cá nhân và được xác định thông qua dấu hiệu quốc
tịch của mỗi cá nhân công dân đó.
Trong trạng thái pháp lý trên, mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân có quốc tịch (công dân) được thể hiện qua ba nội dung sau:
Một là, Nhà nước, bằng pháp luật, quy định quyền và nghĩa vụ của công dân.
26
Hai là, công dân có nghĩa vụ phải tuân theo pháp luật mà Nhà nước của mìnhđặt ra dù họ ở trong và ngoài nước.
Ba là, Nhànướccó quyền phán xét, xử lý tuyệt đối các hành vi của công dân của mình, đồng thời, phải có trách nhiệm bảo hộ quyền và lợi ích của công dân cả ởtrong và ngoài nước.[12, tr.253]
Như vậy, về mặt lý luận, trách nhiệm bảo hộ quyền và lợi ích của công dân cả ởtrong và ngoài nước là những quyền đương nhiên của Nhà nước khi đảm nhiệm vai tròlà tổ chức quyền lực công do nhân dân bầu ra.
Trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, công dân – một trong haichủthể cơ bản, là cá nhân mang quốc tịch của một Nhà nước nhấtđịnh.Với tư cách làcông dân củamộtquốc gia, cá nhân có cácquyền đượcNhànướctôn trọng, ghi nhận, bảo đảm, bảo vệ bằng pháp luật, ở tầm Hiến định và luật định.
Quyền công dân là những quyềnđượcNhà nước quy định trong Hiến pháp vàcác văn bản luật, đượcquyđịnh cho tất cả mọi công dân hoặc cho cả một tầng lớp, mọi giai cấp (không quy định cho từng người trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể).
Những quyền này được xuất phát từ quyền con người – những quyền “không ai có thểxâm phạm được”:“quyền được sống, quyềntựdo và quyền mưucầuhạnh phúc” [84]. Quyền công dân bao quát phạm vi các quan hệ pháp lý giữa một bên là cá nhân với một bên là Nhà nướcvà bao hàm hai ý nghĩa: vừamở ra cho cá nhân khả năng sửdụng quyền đểtựbảovệ các quyền của mình chống lại mọi sự can thiệp một cách trái pháp luật, vừa yêu cầusựtác động tích cực của Nhà nước cho việc thực hiện các quyền đó.
Trong tương quan với quyền conngười, có thể hiểu quyền công dân là quyền con người của cá nhân trong mối quan hệ với một Nhà nước mà công dân đó có quốc tịch. Điểm khác biệt cơ bản giữa quyền con người và quyền công dân là quyền công
dân luôn gắnliền với quốc tịch, với mối quan hệ giữa công dân với Nhànước trong một quốc gia cụ thể. Sự ghi nhận các quyền con người trong Hiến pháp không chỉ có ýnghĩa là các quyền công dân được Nhà nước ghi nhận, tôn trọng và bảo vệ, mà còn thể hiện sựthừa nhận của Nhà nướcvềtínhphổbiến của quyền con người. Nhànước,với
27
ý nghĩa là một thiết chế công quyền, có trách nhiệm bằng mọi biện pháp và nguồn lực BHCDcủamình.
Quyền cơ bản của công dân là những quyền công dân được quy định trong văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất của Nhà nước (Hiến pháp). Quyền cơ bản của công dân được phân biệt với các quyền khác thông qua một số đặc trưng sau đây:
Về mặt pháp lý, do là các quyền hiến định nên các quyền cơ bản của công dân khác với những quyền khác trước tiên ở khía cạnh pháp lý, đó là việc được ghi nhận vàbảo vệ bằng các cơ chế bảo vệ Hiến pháp. Mọi trường hợp mở rộng phạm vi áp dụng của quyền, phạm vi chủ thể, hình thức và biện pháp can thiệp quyền, giới hạnviệc thực thi quyền đều phải dựa trên các lý do (cơ sở) đã được dự liệu trong Hiến pháp.
Về nộidung, quyền cơ bản của công dân thường được xuất phát từ các quyềntựnhiên thiêng liêng và bất khả xâm phạmcủacon người như quyền sống, quyền bình
đẳng, quyền tự do mưu cầu hạnh phúc… Các quyền này mang tính khái quát cao và là các quyềnđược hầuhết các quốc gia trên thế giới thừa nhận.Đâythực chất là các quyền con người, quyền được sống với tư cách là một cá nhân trong xã hội, công dân của một nước. Do xuất phát từcác quyền tựnhiên được thế giới thừa nhận nên các quyền cơ bản của công dân được luật pháp quốc tế bảo vệ. Trong khi đó, các quyền không cơ bảnthường cụ thể, ít khái quát hơn và thường là các quyềnđượcxác định trên cơ sở các quyền cơ bản của công dân. Ví dụ: quyền được mua và đăng ký sở hữu xe máy xuất phát từ quyền sở hữu tư nhân.
Về ý nghĩa, vai trò, có thể thấy, các quyền cơ bản của công dân không chỉ là chếđịnh pháp lý cơ bản, xác địnhđịavịpháp lý của công dân trong mối quanhệvớiNhànước và xã hội, mà còn là cơ sở để xác định các quyền và nghĩa vụ khác của công dân ở mọi cấp độ và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Ở thế hệ thứ nhất (sẽ được phân tích ở mục 2.1.2), các quyền cơ bản của công dân mang ý nghĩa là các quyền phòng vệ, “quyền đối kháng” trước khả năng lạm quyền của Nhà nước. Do vậy, dưới phương diện kiểm soát quyền lực, các quyền cơ bản chính là giới hạn của quyền lực Nhà nước trong NNPQ. Đồng thời với ý nghĩa đó, mọi trường hợp can thiệp vào quyền (bao gồm cả việc hướng dẫn, thực thi quyền) cũng đều phải được dự liệu
28
trong Hiến pháp. Những nội dung này sẽ chỉ thật sự trở thành hiện thực pháp lý khi được bảo đảm bằng một cơ chế bảo hiến đầyđủ và hiệu quả.
Tóm lại, việc làm rõ những nội dung cơ bản trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân như: nội hàm mối quan hệ, mốiliên hệ giữa quyền con người và quyền công dân,những đặc trưng của các quyền cơ bản của công dân sẽ là những tiền đề quan trọng cho việc xác định khái niệm, nội dung của CCPLBHCD-vốnlà vấnđề cốt lõi trong lý thuyết về BHCD mà Luận án nghiên cứu.
2.1.2. Các giai đoạn phát triển của mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân – dưới góc độ quyền
Như đã khẳngđịnh,trách nhiệm bảo hộcủaNhà nướcđốivớiquyền và lợi ích của công dân cả ở trong và ngoài nước là một trách nhiệm mang tính chính trị – pháp lý. Trong các giai đoạn đầu của mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, trách nhiệm này không được nhậnthức đầyđủ và phải trải qua một quá trình phát triển kháthăng trầm trong lịch sử để có được kết quả như ngày nay.
Cho đến nay, nguyên lý “chủ quyền nhân dân”đã được thừa nhận rộng rãi với tính cách là một nguyên lý tiên tiến, dân chủ, thể hiện bản chất quyền lực nhà nước. Nguyên lý này khẳng định: quyền lực nhà nước, dùđạtđược dưới hình thức nào, cũng có bản chất xuất phát từ quyền lực nhân dân. Nhân dânmớichính là người chủ đích thực của quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước có được do nhân dân ủy quyền, vì
vậy, bản chất của mối quan hệ nhân dân và Nhà nước là mối quan hệ chi phối – phụthuộc, quan hệ giữa người chủ và người đại diện. Dướitác động tư tưởng của thế kỷÁnh sáng và thành quả của Cách mạng tư sản, mốiquan hệgiữa Nhà nướcvà nhân dân thời kỳ này đãđạt được những bước pháttriển mới về chất: mối quan hệ Nhà nước với thần dân chuyển thành mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân. Bắt đầu từ đây, quan hệ giữa Nhà nước và người dân, cũng như các quyền của người dân đã có những thay đổi, phát triển qua từng thời kỳ. Chúng tôi tạm chia thành ba giai đoạn chính:
Giai đoạn thứ nhất: Cách mạng tư sản –thời kỳ Khai sáng với mục tiêu đầu tiên “ ghi nhận vàbảo vệ quyền”
Giaiđoạnnày đánhdấumộtbướcngoặtlớntrongsựphát triểncủaloài người: nhân loại chuyển từ xã hội thần dân sang xã hội công dân, khẳng địnhvai trò
29
làmchủcủangườidân trong xã hội. Trong giaiđoạnthứnhất này, việcbảovệquyền của người dân là một sự cổ vũ cho chủ nghĩa Hiến pháp khi các nội dung đấu tranhchủyếuliên quanđếnviệc ghi nhận trong Hiến pháp các quyềnvềdân sự, chính trị, những quyền gắn liền với phạm trù tự do cá nhân, vốn xuất phát từ những quyền tự nhiên của con người.
Trong tương quan vớiNhà nước, quyền công dânở thời kỳnày chính là các quyền phòng vệ, “quyền đối kháng” trước sựlạmquyền của Nhà nước. Nghĩa là bản thân việc xác lập, ghi nhận và bảo vệ cho các quyền cho người dân là nhằm thiết lập một cơ chế cương tỏa, kìm hãm sự lạm quyềntừNhà nước, buộc nhà cầm quyền phải
tựràng buộc, giới hạn quyền lực trong phạm vi luật định. Thực thi, sử dụng quyền của người dân cũng đồng nghĩa với việc giới hạn, thu hẹp quyền lực nhà nước.
Nhìn chung, trách nhiệm của Nhà nước đốivới công dân thời kỳnày còn kháthụ động, mới chỉ dừng ở mức độ ghi nhận, bảo vệ quyền đối với công dân. Bên cạnh đó, do Nhà nước được quan niệm là chủ thể có khả năng xâm hại quyền công dân một cách mạnhmẽ và thường xuyên nhất, nên việc đấu tranh ghi nhận và bảovệ quyền công dân trước tiên hướng tớimục tiêu ngăn chặn những xâm hạitrực tiếp lẫngián tiếp từ phía chủ thể này.
Giai đoạn thứhai: thời kỳcận và hiện đại-bước phát triển mới vớiyêu cầu “bảo đảm quyền”
Đây là giai đoạn các giá trị dân chủ và nhân đạo hướng tới việc tạo lập các điều kiện vàsựđối xửbình đẳng, công bằng cho mọi công dân trong xã hội. Xuhướngnày xuất phát từcuối thế kỷXIX, khi cuộc khủng hoảng của Chủ nghĩa Tư bản dẫn tới tình cảnh khốn khó của các tầnglớpbình dân trong xã hội, đặc biệt là giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Trách nhiệm của Nhànước đối với công dân trong thời kỳnàyđã có biến chuyển rõ rệt. Dưới các áp lực của xã hội (như sự khủng hoảng kinh tế, trào lưu phát triển quyền con người), Nhà nước không còn là người mang thái độ thụ động khi ghi nhận, bảo vệ các quyền công dân trong Hiến pháp như giai đoạn trước, mà đã đóng vai trò chủ động hơn với tư cách là người bảo đảm, thúc đẩy thực thi các quyền này trong thực tế. Nội dung trách nhiệm củaNhànước đốivớicông dânđãđược mở rộng từ
30
phạm vi bảo vệ các quyền, tự do cá nhân sang các lĩnh vực liên quan đến yêu cầu bảo
đảm thực thi các quyền của con người về kinh tế – văn hóa – xã hội.
Giaiđoạnthứba:từsau những năm 80củathếkỷXXđếnnay -yêu cầu bảo hộ quyền
“Chiến tranh lạnh” (vốn hình thành từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai) vẫn tiếp tục trong những năm 80 của thế kỷ XX đem lại những hậu quả tiêu cực cả hai phía: sựbế tắc trong một số đường lối phát triển của các nước phương Tây và sự trì trệ của các nước trong hệ thống XHCN. Sau khi bức tường Berlin sụp đổ, phe XHCN tan rã, yêu
cầu thayđổi cả về nhận thức và thực tiễn trong mốiquanhệ giữaNhà nước và công dân ngày càng trở nên bức thiết đối với hầu hết các quốc gia. Mối quan hệ giữa Nhànước vàcông dân được khuyến khích thiết lập dựa trên mô hình hợp tác:mộtbên là Nhà nước có trách nhiệm trước công dân, thực thi tính chính đáng của mình, còn bên kia là công dân với vai trò chủ động và hợp tác với Nhà nước trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ.
Mô hình về mối quan hệ này dựa trên nhận thức rằng: trong xã hội hiện đại, con người nói chung và công dân nói riêng, luôn tiềm ẩn những rủi ro có tính truyền thống
và phi truyền thống6 … Vì vậy, Nhà nước với tính chất là tổ chức quyền lực công, thay mặtnhân dân quản lý xã hội, phải có trách nhiệm tích cực trong việc bảođảmcho công dân được sống trong tình trạng an ninh tối thiểu về mọi mặt.
Trong những tình huống này, mặc dù nằmngoài phạm vi quyền tài phán của quốc gia, hoặc chưa có cơ sở pháp lý được quy định theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ7, Nhànước vẫn buộc phải thực hiện trách nhiệm của mình một cách chủ động, bằng nhiều cách thức, con đường khác nhau (pháp lý hoặc phi pháp lý) đối với công dân, nhằm che chở, giữ gìn sự an toàn, an ninh của công dân, cũng nhưbảođảmkhả năng thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của công dân một cách hiệu quảtrong thực tế. Có thể nói, bảo hộ của Nhà nước đối với công dân, suy cho cùng, chính là tính chịu
6Các rủi ro truyền thống gồm các trường hợp như: thiên tai,địchhọa, các trường hợp khẩn cấp, những xâm hại
từ các chủ thể trong xã hội, mà trước tiên là Nhà nước… Những rủi ro phi truyền thống gồm các trường hợp như:
khủng bố, chủ nghĩa sắc tộc, tôn giáo, ứng phó với các tổ chức cực đoan, biến đổi khí hậu, môi trường…
7Ví dụ các trường hợp: khi công dânđang ở nướcngoài, trong các vùng chiến sự, ở các điểm nóng về thiên tai,
trên các lãnh thổ có tranh chấp hay các trường hợpbảovệ nhân chứng…
31
trách nhiệm toàn diện và chủđộng của Nhà nước đối vớisố phận pháp lý cho công dân của mình xuất phát từ yêu cầu về tính chính đáng của Nhà nước.
Như vậy, trong giai đoạn mới với những biến đổi mạnh mẽ về xã hội cũng nhưquan hệ quốc tế, các biện pháp bảo đảmvà bảo vệdường như đã không còn có đủ hiệu quả, không đủ bao quát, nhằm ngăn chặn những xâm hại quyền công dân có thể xảy ra. Nhu cầu phải nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả thực thi, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân đã thúc đẩy sự biến đổi về chất trong mối quan hệ pháp lý
giữa Nhà nước và công dân: xuất hiện đòi hỏi mới đối với vai trò của Nhà nước – vai trò bảo hộ của Nhà nước đối với công dân.
Tóm lại có thể thấy, mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân – phân tích dưới
khía cạnh quyền công dân –qua các thời kỳlịchsử,đã có sựphát triển theo hướng ngày càng tích cực. Các quyền công dân phát triển theo hướng mở rộng từlĩnh vực
dân sự – chính trị sang kinh tế – văn hóa – xã hội, từyêu cầu được bảo vệ đến bảo đảm và bảohộ.Đồngthời, Nhà nướctừtháiđộthụ độngdầnchuyển sang vị tríchủ động,đóng vai trò ngày càng tích cực hơn trong trách nhiệm trước công dân, bảo đảm tính chính đáng của Nhà nước trong trật tự NNPQ.
2.1.3. Khái niệm“bảo hộ”trong các giai đoạn phát triển mối quan hệgiữa Nhànước và công dân
Về mặtlịchsử, thuậtngữ“bảohộ”(dưới góc độ là một chức năng củaNhà nước) đã được sửdụng từrất lâu, nhưng không theo cách hiểu hiện đại, mà theo cách hiểu về một trạng thái do Nhànước đôhộ áp đặt cho quốc gia bịđô hộ. Nghĩa “che chở, giúp đỡ, chăm lo” ở đâychỉthuần túy mang cái nhìnbề trên từphía Nhà nước. Từsau sự thành công của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước và các vùng thuộcđịa trên thế giới, nghĩa “bảo hộ” của“mẫu quốc” đối với vùnglãnh thổ bị đô hộ, thuộcđịa không còn được sửdụng nữa. Chuyển sang thời kỳ Chiến tranh lạnh, thuật ngữ nàyđược biếttớirộng rãi trên phương diện ngoại giao, thể hiện trách nhiệm của Nhànước với công dân của mình ở nước ngoài.
Cuối những năm 80củathếkỷ XX, Chiến tranh lạnhkếtthúc,dẫnđến những thay đổinhận thứcvềmốiquanhệ giữaNhà nước và công dân. Quá trình
toàn cầu hóa cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội – văn hóa ở mỗi quốc gia song
32
song với các rủi ro và mối nguy cơ xâm hại quyền xuất hiện ngày càng nhiều dẫn tới yêu cầu phải có một cơ chế mới bảo đảm, bảo vệ các quyền của công dân hoàn
bị,đầy đủvà hiệuquảhơn bên cạnh các cơ chế, biện pháp cũ. CơchếBHCDđã ra đời trong bối cảnh như vậy.
Thuật ngữ“bảo hộ pháp lý” (Rechtsschutz –tiếng Đức) chính thức xuất hiện khi Luật cơ bảntrở thành Hiến pháp của nước Đức thống nhất vào năm 1990 (được sửa đổilần cuối ngày 28.08.2006) tại quy định về việc CHLB Đức khi tham gia phát triển Liên minh Châu Âu (EU) sẽ“tuân thủcác nguyên tắc dân chủ, xã hội, và liên bang, nguyên tắc pháp quyền, nguyên tắc tương hỗ, và đảm bảo một mức độbảo hộcác quyền cơ bản tương đương với quy địnhcủa Luật cơ bản này”.[106] Tuy nhiên, tinh thần về BHCD đã được ghi nhận ngay từ thời điểm đạo luật này ra đời (23/5/1949) và ngày càng được hoàn thiện qua các thời kỳ.
Ở Việt Nam, khi nghiên cứu các tư liệu lịch sử, cũng có thể tìm thấy những nét manh nha trong tư tưởng về vai trò bảo hộ của Nhà nước với người dân trong thời kỳphong kiến. Dưới ảnh hưởng của Nho giáo, các triều đại phong kiến Việt Nam đã vận dụng và khai thác cácyếu tố tưtưởng có lợi, phù hợp với việc cai trị đất nước dựa trên các đặc thù của Việt Nam, trong đó có tưtưởngnhân chính,bảodân. TưtưởngnàyđượcMạnhTửphát triển trên cơsởhọcthuyếtvề“tính thiện’’và“nhântrị” của Khổng Tử. Theođó,“Dân di quý, xã tắc thứ chi quân vi khinh”,nghĩa là, có dân mới cónước,cónước mới cóvua thậm chí dân quan trọng hơn vua. Nếu không cósự ủng hộcủadân, thìchếđộsớmmuộnsẽsụpđổ.Vuanếukhônghợplòng dân vàýtrời,
không còn mang tính chính danh nữa, thì trước sau cũngsẽ bị phế bỏ8…
Bên cạnhđó,chủ trương “bảo dân’’yêu cầu người cai trị phải lo cái lo của dân, vui cái vui của dân, tạo cho dân của cải ruộngđất,sản nghiệp và cuộc sống bình yên nođủ.Dođó,quanlạiđượcgọilà quan “phụmẫu chi dân”: quan phải yêu thương,
chăm lo cho dân như cha mẹ yêu thương, chăm lo, chở che cho con…
8Xem thêm: http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/su-du-
nhap-va-anh-huong-cua-nho-giao-den-gia-tri-truyen-thong-van-hoa-viet-nam
33
Đặc biệt,tưtưởng “thân dân”,“dĩ dân vibản” (“lấy dân làmgốc”),ngay từ rất sớm – thời Lý – Trần, đã được tiếp nhận một cách sáng tạo và luôn được các triều đại Việt Nam chú trọng vận dụng, phát triển9,10.
Đây có thể coi là những tiền đề, hạt nhân hợp lý về mặt tư tưởng để xây dựng nhận thức về BHCD ở Việt Nam hiện nay. Tuy vậy, cần phải khẳng định rằng các tưtưởng vềnhân chính, bảo dân, thân dândưới các triều đại phong kiến chỉđược xây dựng nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị. Thực chất các tư tưởng này chỉ là phương tiện để giai cấp thống trị đạt được mục đích chính trị. “Dân” trong tư tưởng bảo dân, thân dân không phải là mục đích của nền chính trị, mà chỉlà các “thần dân”trong vị thế thấp kém so với Nhà nước, còn Nhà nước ở vai trò bề trên, ban phát sự chăm lo, bảo vệ, và do đó, tưtưởng về “dân” trong thời kỳ phong kiến mới chỉdừng lại ở “dân quý” chứ chưa có“dân quyền”. Người dân chưa có được địa vị công dân, bìnhđẳngvớiNhà nước trong mối quan hệpháp lý giữa cácchủthể, mà ởđó, quyền của chủthểnày là nghĩa vụcủa chủthểkia, và ngược lại. Do vậy, xét vềbản chất và mục đích, quanniệm “bảo dân”, “thân dân” hoàn toàn khác với quan niệm về“BHCD” mà Luận án hướng tới. Tư tưởng BHCD của Luận án được xuất phát từ nhận thức vềchủquyền nhân dân, tính chính đáng của Nhà nướcvàsựđềcao các giá trịtiến bộ của nhân loại về nhân quyền và dân quyền.
Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thời kỳ thuộc địa Pháp, từ “bảo hộ” chính thức được sửdụng ởViệt Nam với cách hiểu là một chức năng của Nhà nước, tuy nhiên, chỉbó hẹp ởkhía cạnh vai trò của một Nhà nướcđô hộđối với mộtquốc giađược đô hộ, theo nghĩa áp đặt sự cai quản, che chở từ Nhà nước bề trên đối với người dân ở quốc gia thuộc địa có vị trí thấp kém hơn. Từ “bảo hộ” trong thời kỳ này đãbị
lợi dụng đểche đậycho mục đích thực sự: phục vụcho sựcai trị, bóc lột của Nhà
9Trong “Chiếudời đô“, Lý Công Uẩn đã nói: “Trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân…“. Trong bài “Văn lộbố“
khi tiến hành cuộc chiến tấn công quân Tống ở biên giới phía Bắc, Lý Thường Kiệt đã nói: “Trời sinh ra dân chúng, vua hiền tất hoà mục. Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân“. Nguồn:
http://www.cla.temple.edu/vietnamese_center/handbook/vietnam_people-philo_viet.html
10ĐếnNguyễn Trãi, ông đã phát triển quan điểm thân dân lên một tầm cao mới, tiến bộ, nhân văn hơn, theođó,
“việc nhân nghĩacốt ở yêndân” (Đại cáobình Ngô) và“dân như nước,nước cóthể đẩy thuyền, cũng có thể lật thuyền. Nguồn: http://www.cla.temple.edu/vietnamese_center/handbook/vietnam_people-philo_viet.html
34
nước thực dân, hoàn toàn trái ngược với bảnchất và mục đích tốt đẹp của “bảo hộ” trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân giai đoạn mới với những nguyên tắc vàtrật tự của NNPQ. Vấn đề lịch sử này cũng tạo nên một ấn tượng xấu trong nhận thức về khái niệm “bảo hộ”ở Việt Nam.
Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền vềtay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập. Lần đầu tiên, người dân Việt Nam bước lên vũ đài chính trị, làm chủ đất nước. Hiến pháp năm 1946 rađời,đặt nền móng cho tưtưởng bảo hộcủa Nhà nước đối với công dân thông qua những nguyên tắc được
khẳng định ngaytừlời nói đầu: “(…) Hiến pháp Việt Nam (…)phải xây dựng trên những nguyên tắc”:“đảm bảo các quyền tựdo dân chủ” và “thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”.[61]Vấn đề bảo hộ của Nhà nước đối với công dân trực tiếpđược đềcập trong Hiến pháp từnăm 1959, vớiý nghĩa mới, hoàn toàn khác với sự bảo hộ của Nhà nước thực dân trong giai đoạn thuộc địa. Các quy địnhvềbảo hộ thời kỳ này liên quan đến quyền sở hữu và thừa kế của công dân, quan hệ hôn
nhân và gia đình, quyền lợi của bà mẹ và trẻ em… Ở đây, mục đích bảo hộ xuất phát từ lợi ích của người dân. Nhà nước đóng vai trò là thiết chế quyền lực công có trách nhiệm và nghĩa vụ chăm lo, bảo vệ người dân. Tuy nhiên, bảo hộ trong giai đoạn này mang nặng tư duycủathời kỳquan liêu bao cấp. Phương thức bảo hộmới chỉmột chiều: vẫn còn tư duy bao biện, làm thay, chủ quan duy ý chí trong quá trình Nhà nước thực hiện trách nhiệm bảo hộ. Người dân còn bị động khi thực thi các quyền của mình
Chính vì những vấn đề lịch sử và sai lầm trong nhận thức này mà lâu nay vai tròcủa cơ chếBHCD trong nước ởViệt Nam chưa được đánh giá, quan tâm một cách thích đáng, thậm chí có những cách hiểu sai lầm, tiêu cực, không đúng với ý nghĩa tiến bộ và nhân văn của nó.
Quan điểm, chủ trương của Đảng về vấn đề bảo hộ pháp lý đối với công dân:
Quan điểm tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân bắt đầu được khởi xướng từChỉ thị số 12/CT-TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủtrương của Đảng ta”và tiếp tục được khẳng định trong các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước (Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm
35
1991, bổ sung và phát triển năm 2011[17];Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư về công tác nhân quyền trong tình hình mới [16]). Đặc biệt, tại Nghị quyết 48/NQ-TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị vềChiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Namđếnnăm 2010, định hướng đến năm 2020 [18], Đảng đãchính thức khẳng định yêu cầu hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước liên quan đến xây dựng và hoàn thiện phápluật về bảođảm quyềncon người, quyền tự do, dânchủcủa công dân. Theo đó:
[Hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhànướcđối với các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, nhất là toà án trong việc bảo vệ các quyềnđó; xử lýnghiêm minh mọi hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; khắc phục việc xử lý oan, sai; khẩn trương ban hành Luật về BTNN. Xây dựng các đạo luật về lập hội, biểu tình nhằm xác định rõ quyền, trách nhiệm của công dân trong việc thực thi quyền dân chủ và trách nhiệm của Nhà nước trong việc duy trì, bảo đảm kỷ cương, trật tự công cộng.]Đây làmộttiền đề chính trị hết sức quan trọng cho việc bảo đảm, bảo vệ quyền
con người, quyền công dân nói chung, cũng như đối với bảo hộ pháp lý cho công dân ở Việt Nam nói riêng.
Có thể khẳng định rằng việc xây dựng CCPLBHCD ở Việt Nam đã có những tiền đề về tư tưởng, nhận thức và thực tiễn pháp lý trong lịch sử. Tuy có những hạn chế, nhưng không thể không ghi nhận những hạt nhân hợp lý mà chúng ta cóthểvận dụng, kế thừa, phát huy, phục vụ cho quá trình xây dựng và hoàn thiện CCPLBHCDởnước ta.
2.2. Khái niệm bảo hộ công dân trong mối quan hệ với các cơ chế bảo đảm, bảo
vệ quyền con người, quyền công dân
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CƠ PHÁP LÝ VỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM
Cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam Cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam

