CÁC TỘI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA HIỆN NAY TÌNH HÌNH NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chỉ thị số48 – CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về “T
ủ
”, đã chỉ rõ mục đích: “T , ,
k ề ế, à , … à ,
ụ ụ ó ệuqu ệ ụ ể k ế – x , b ệ u
ú à b yê ủ â dâ ”.Chỉ thị này đã và đang được thực hiện ở các cấp, các ngành và các lĩnh vực của đời sống xã hội ở nước ta, trong đó có lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Kết quả nghiên cứu tội phạm học trong nhiều năm cho thấy, trong tình hìnhtộiphạmở nướcta, các tộixâm phạmsởhữuluôn luôn chiếmtỷ trọng vượttrội, chiếm 58,54% tổng các bị cáo ở giai đoạn 1986 – 1988 (giai đoạn còn cơ chế bao cấp); 44,72% ở giai đoạn 2001 – 2003; 41,25% ở giai
đoạn2004 – 2008 [105] và ở giaiđoạn2009 – 2011 giảm xuống còn 37, 87%….
Như vậy, dù ở nước ta hayở nước ngoài, dùở thờikỳbaocấphay thị trường, tuy mức độcó khác nhau, song các tội xâm phạmsở hữumà trong đó“trụcột chính” là các tội xâm phạmsở hữu cótính chiếm đoạt, luôn luôn chiếmtỷphần
lớnhơnrấtnhiều so với các nhóm tội khác, kể cả ma túy, môi trường haybạo
lực. Như vậy, để “k ề ế à à ”nhưChỉthịcủa
Đảngđề ra, thì việc nghiên cứutình hình các tộixâm phạmsở hữucó tính chiếmđoạtlà rấtcầnthiết và hứa hẹnhiệu quả cao vìđã “đánhtrúng xương sống” của tình hình tội phạm.
Còn xétvề mặtkhoa học – tội phạm học, thì một nguyênlý đã được thừa nhận chung, khẳng định rằng, thời gian và không gian là phương thức tồn tại vàvận động của tình hình tội phạm, trong đó không gian là địa bàn đa dạng và rất khác nhau, có địa bàn thành thị và nông thôn; có địa bàn đồng bằng và địa bàn
miềnnúi… Ởmỗiđịa bàn nhưvậyđềucóđặc điểmriêng(đặc thù) về nhiều mặt, nên con người cũng như những sản phẩm được sản sinh ra tại các địa bàn đó cũng khác nhau. Tình hình tội phạm vốn là sản phẩm không mong đợi (tiêu cực) của sự tương tác giữa những yếu tố tiêu cực của con người, chủ thể hành vi
và những yếu tố tiêu cực của môi trường sống mà trong đó địa bàn hành chính –lãnhthổlà yếutốđịnhvịvà quyết định. Các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta
(MNPB) là một địa bàn– địa bàn miềnnúi, ngược nghĩa với địa bàn đồng bằng, nhưng cùng nhau tạo thành một hệ thống đồng bộ mà tội phạm học cần nghiên cứu tình hình tội phạm ở từng địa bàn đó để tìm ra nguyên nhân và điều kiện của hiện tượng tiêu cực này vì mục đích phòng ngừa tội phạm. Thế nhưng, thực tếtình hình nghiên cứu tội phạm học ở nước ta những năm qua cho thấy, địa bàn miềnnúi ở nướcta, tuy rộng lớn, chứa đựng nhiều yếu tố đặc thù, đặc biệt làyếu
tốđịa lý học tội phạm, một nhánh tiên phong của tội phạmhọc ra đời từđầuthếkỷXIX, nghiêncứuchuyên sâu các mốiliênhệ giữa các yếutốđịalý và tình hình tội phạm, song còn rất ít được quan tâm.
Bên cạnh đó, trên thực tế ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta đã áp dụng nhiều biện pháp phòng ngừa tình hình các tội chiếmđoạttài sản song các tội phạm này vẫn còn diễn biếnhếtsứcphứctạp đòi hỏiphải cósựđầutư nghiêncứumột cách cơ bảnvề tộiphạm học đốivới tình hình các tộichiếmđoạttàisảntrên địa bàn khu vực này để có giải pháp phòng ngừa hiệu quả. Vì thế, một sự nghiên cứu cơ bản tội phạm học đối với tình hình các tội chiếmđoạttài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay là đáp ứng yêucầubức thiết từ thực tếcủa tình hình nghiên cứu và từ thực tế địa bàn nghiên cứu với 14 tỉnh, bao gồm
Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Điện Biên, Sơn La, Lai Châu và Hoà Bình.
Vớicách nhìn nhận vấn đề như vậy, tác giả đã chọn đề tài“C ế
à ê ị bà ỉ ề ú í Bắ ệ y: Tình
, uyê â à ừ ”để nghiên cứu.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mụ í ê ứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận án được xác định là phòng ngừa các tội chiếmđoạttàisảntrên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta. Cụ thể là, trên cơ sở nghiên cứu tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội chiếmđoạttài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, Luận án phải kiến giảiđược mộthệ thống các biện pháp phòng ngừa tộiphạm phùhợpvớiđiềukiện kinhtế- xã hộinước ta và đặcbiệt làvớiđịa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam.
2.2. N ệ ụ ê ứu
Các nhiệmvụnghiêncứusauđâycầnphảiđược thực hiệnđể đạtđược mục đích của đề tài luận án:
Thứ nhất, nghiên cứu lý luận và pháp luật. Nhiệm vụ này bao gồm những hoạt động cụ thể như: Tìm, thu thập và nghiên cứu những tài liệu về tội phạm học ởtrongnướcvà ngoàinước,vềpháp luật hìnhsựvà những tài liệu khác liên quanđến đề tài luận án làm cơ sở cho việc nhận thức thống nhất, rõ ràng phương pháp luận nghiên cứu và sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể cho phù hợp;
Thứ hai, nghiên cứu thực tế, bao gồm các hoạt động sau:
– Tìm, thu thập, xử lý, phân tích, so sánh những số liệu thống kê thường xuyêncủamộtsố cơquan tư pháp, đặc biệt là số liệu thống kê xét xử sơ thẩm hìnhsựtừnăm 2006đếnnăm 2015 của Tòa án nhân dân cáccấptrênđịabàn toàn Quốc, đặc biệt là 14 tỉnh miền núi phía Bắc;
– Tìm, thu thập cácbảnán xétxửsơ thẩm hìnhsựtrênđịabàn 14 tỉnh miền núi phía Bắc trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2015 và xử lý, phân tích so sánh theo các tiêu chí tội phạm học cần thiết;
– Tìm, thu thập và nghiên cứu các báo cáo tổng kết năm của cơ quan Công an, Kiểm sát và Tòa án, cũng như các tài liệu về dân tộc học, địa lý học;
Thứ ba, thực hiện các nhiệm vụ cụ thể mà tênđề tàiđã ấn định. Đó là:
– Làm rõ hiện trạng của tình hình các tội chiếmđoạttài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta từ năm 2006 đến năm 2015;
– Xác định các nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội chiếm đoạt tài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta từ năm 2006 đến năm 2015;
– Tìm, thu thập, nghiêncứu các văn bản chỉ đạo của Đảng ủyvà Ủy ban nhân dân các tỉnh về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm đã và đang được áp dụng trên địa bàn;
– Thiết lập hệ thống các biện pháp phòng ngừa các tội chiếm đoạt tài sản trênđịa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, đảmbảocó cơ sởlý luận và thực tế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. ợ ê ứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án thể hiện ở việc làm rõ mối quan hệ phụ thuộc giữa tình hình các tội chiếmđoạttài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta với các hiện tượng, quá trình kinh tế – xã hội khác, tức làlàm rõ quy luật của sự phạm tội chiếm đoạt tài sản trên địa bàn nghiên cứu.
3.2. P ê ứu
– Xét về mặt nội dung, đề tài luận án được nghiên cứu trong phạm vi tội phạm học, thuộc chuyên ngành Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm;
– Về cấp xét xử, luận án tập trung nghiên cứu cấp xét xử hình sự sơ thẩm;
– Về thời gian, đề tài sử dụng chất liệu nghiên cứu trong thời gian từ 2006 đến năm2015, bao gồm số liệu thống kê xét xử sơ thẩm hình sự của Tòa án và510 bản án hình sự sơ thẩm về một số loại tội chiếm đoạt;
– Về không gian, đề tài luận án được thực hiện trên phạm vi 14 tỉnh thuộc miền núi phía Bắc nước ta, bao gồm Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Điện Biên, Sơn La, Lai Châu và Hoà Bình;
4
-Vềtội danh, đề tài nghiên cứu các tội xâm phạmsởhữucó tính chiếm đoạt được quy địnhtại chương XIV, BLHS 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. P ơ uậ ê ứu ềà
Phương pháp luận nghiên cứu đề tài Luận án này được thực hiện trên cơ sở
chủnghĩa Mác –Lênin, tưtưởngHồChí Minh, cũng như các quanđiểmcủaĐảng và nhà nước về các vấn đề của đề tài như: Tội phạm; THTP; quan hệ giữa tội phạm và THTP; nguyên nhânvà điềukiệncủatội phạm, của THTP và mối quanhệ giữa hai phạm trù này;ngườiphạmtộivà nhân thânngườiphạm tội; phòng ngừa tội phạm và phòng ngừa THTP.
4.2. P ơ ê ứu ềà
Đề tàiphải sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, mang tínhđặc trưng tội phạm học đối với từng chương. Cụ thể như sau:
– Ở chương tổng quan tình hình nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu chủyếuđược sửdụng như: Phương pháp nghiêncứutổng hợp; phương pháp phân tích; phương pháp so sánh; phương pháp lịchsử;phương pháphệthống; phương pháp kế thừa. Những phương pháp này giúp cho việc lược thuật và đánh giáđượctình hình nghiêncứuđềtài trên cơ sở củacác công trình khoa học trong nước và nước ngoài, tìm ra những kinh nghiệm, tư tưởng, quan điểm phùhợp, cho phép kế thừa và phát triển đối với các vấn đề then chốt của đề tài;
– Ở chương tình hình các tội chiếmđoạttài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phíaBắcnước ta, các phương pháp nghiêncứuchủyếuđược sửdụng là:
phương pháp kế thừa; biện chứng; logic; thống kê; phân tích; tổng hợp; so sánh; xác định hệ đặc điểmchuyên biệt; hệ thống; liên ngành;
– Ở chương nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội chiếm đoạt tài sảntrênđịabàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, các phương pháp nghiên cứu cần thiết áp dụng bao gồm: kế thừa; biện chứng; logic; phân tích; tổng hợp; hệ thống; so sánh; liên ngành; diễn giải; quy nạp;
-Ởchương phòng ngừa tình hình các tội chiếm đoạt tài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, các phương pháp nghiên cứu thíchứng cầnđược ápdụng gồm: kế thừa; biện chứng; logic; dự báo; phân tích; tổng hợp; liên ngành và đặc biệt là phương pháp hệ thống để hoàn thiện hóa hệ thống các biện pháp phòng ngừa cụthể đối vớitình hình các tội chiếmđoạttài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta.
5. Điểm mới của luận án
M à:Điểmmớibao trùm của Luậnán được thể hiện ở các đặc điểmđịa lý học tộiphạm, tức là làm rõ các đặc điểmnày trong tình hình các tộichiếmđoạttàisảntrênđịabàn các tỉnh miền núi phía Bắc nướcta và sửdụng chúng cho việc tiếp cận vấn đề nguyên nhân, điều kiện cũng như phòng ngừa tình hình các tội chiếm đoạt tài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta.
Hai là: Luận án áp dụng triệt để nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin vềvấn đề nguyên nhânvà điềukiện hay vấn đề nhân – quả để làm sáng tỏ nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội chiếmđoạttài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta vớicơ sở lý luận xuất phátđiểmlà cơ chế hành vi ngườiđã được tâm lý học Mác-xítchỉra và tộiphạm học vậndụng. Theo đó, các yếu tố địa lý học tội phạm, cũng như các yếu tố khác như kinh tế, văn hóa, lịch sử của các tỉnh miền núi phía Bắc phải được thu hút.
Ba là: Lầnđầutiênhệ thống phòng ngừa các tộichiếmđoạttàisảntrênđịa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta được thiết lập trên cơ sở của cả hai nềntảng là tình hình cáctộichiếmđoạttàisảntrênđịa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta ở nghĩa tiềm tàng và sự đánh giá nguyên nhân và điều kiện của hiện tượng tiêu cực này theo hai quá trình biện chứng. Kết quả là một hệ thống phòng ngừa tội phạmđược thiết lập đápứng hai mục đích, cả trước mắtvà lâu dài, tức là ngăn chặn và đẩy lùi tội phạm, như Chỉ thị của Đảng đã chỉ ra.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
6.1. Ý ĩ ề ặ k ọ
Trong quá trình triển khai áp dụng lý luận tội phạm học, Luận án đã làm sángtỏthêm nhữngvấnđề lý luận cơ bản, baogồmlý luậnvề tình hình tội phạm, về nhân thânngườiphạm tội, về nguyên nhân và điều kiện của THTP vàvề phòng ngừa tội phạm. Vì vậy, luận án có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực TPH và pháp luật hình sự.
6.2. Ý ĩ ề ặ ễ
Tăngcườngnhận thức và nâng cao hiệu quả phòng ngừa cáctộichiếmđoạttài sản trênđịa bàncác tỉnh miền núi phía Bắc nước ta là ý nghĩa chính của Luận ánvề mặtthực tiễn. Kết quả nghiên cứu của luận án với những phân tích, nhậnđịnh đưa ra có thể giúp các nhà lập pháp tham khảo trong quá trình hoàn thiện PLHS nói chung, hoàn thiện các tội chiếm đoạt tàisảnnói riêng.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luậnán gồm 4 chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu.
Chương 2. Tình hình các tội chiếm đoạt tài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay.
Chương 3. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội chiếm đoạt tài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta.
Chương 4. Giải pháp phòng ngừa các tội chiếmđoạttàisảntrên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta.
7
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu trên tế giới
1.1.1. Tình hình nghiên cứu các vấn đề cơ bản của tội phạm học
1.1.2. Tình hình nghiên cứu về các tội chiếm đoạt tài sản theo vùng, miền
1.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
1.2.1. Những công trình đề cập đến những vấn đề cơ bản của tội phạm học
1.2.2. Những công trình đề cậpđến cáctộichiếmđoạttài sản tạicác vùng, miền ở nước ta
1.3. Đánh giá tổng quan và những vấn đề mà đề tài cần tiếp tục nghiên cứu 1.3.1. Đánh giá tổng quan
Những công trình khoa học trong lĩnh vực tội phạm học ở nước ngoài vàở trong nước như trình bày ở trên, đã tạo dựng được nền móng lý luận cho các vấnđề mà đề tài phải giải quyết và cungcấpkinh nghiệm nghiêncứuthực tếnhững vấnđề trừu tượng, phức tạp về mặtlý luận trên chất liệu thực tế của tình hình các tội chiếmđoạttài sản ở nhiều mức độ khác nhau. Cụ thể là những vấnđề sau:
T ứ ấ,về tộiphạm học đạicương. Chođếnnay, tộiphạm học Việt namđã cómộtsốcông trình tiếpcậnđược tưtưởng hệ thống về tộiphạm học trong hệ thống các khoa học nói chung và trong hệ thống khoa học pháp lý hình sựnói riêng. Nhờ tưtưởngnày, đề tàiở đâymớicóthểxác địnhrõ phạm vi chuyên ngành trong quá trình thực hiện việc nghiên cứu;
21
T ứ , tình hình tội phạm không phải chỉ được nhìn nhận mặt biểu hiện ra bên ngoài của nó, tức là không phải chỉ là “xu hướng và trạng thái”, mà còn phải thấyđược các bảnchấtvốncó của nó, những cái mà tộiphạm học khách quan và biện chứng đã đúc kết; phải xem tình hình tội phạm không chỉ là khách thể nghiên cứu của tội phạm học nói chung và của đề tài này nói riêng, cái chứa đựngquy luậtcầnphải tìm kiếm và xác định, mà còn là “cáichung” đốitrọng
với“cáiriêng” là tộiphạm–các tộidanh cóđờisống thực tế. Như vậy, mối quan hệ giữa tình hình tội phạm và tội phạm trong tội phạmhọc đã được khẳng
định là mối quan hệ “Chung – Riêng” theo đúng nghĩa triết học của nó. Điều kết luận này cũng có giá trị đối với việc nhận thức cũng như thực hành nghiên cứu vấn đề nguyên nhân, điều kiện và phòng ngừa tội phạm;
T ứ ba, vấn đề nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm. Đây là vấnđề thuộc đốitượngnghiêncứucủatộiphạmhọcnói chung và của đề tài Luận án nói riêng. Nó phảiđược nhìn nhận khách quan và biện chứng, tức làphảidựatrên cơsở đúc kếtcủa triết học, tâm lýhọcvà thựctếvậnđộngcủa hành vi xã hội của con ngườimà cụthể là vận động theo cơ chế hành vi người với hai quá trình có thể phân biệt được, quá trình nhập tâm và quá trình xuất tâm mà trong đó con người vừa là chủ thể của môi trường sống, vừa là sản phẩm của môi trường đó. Theo quanđiểmnày, vấn đề nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội CĐTS trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta sẽ được triển khai nghiên cứu;
T ứ , vấn đề phòng ngừa tội phạm. Vấnđề nàyphảiđược hiểu, thiết kếvà triển khai thực hiện trong mối liên hệ chặtchẽ vớikếtquả nghiên cứu về tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện của nó. Cụ thể, phòng ngừa tội phạm vốnlà mộtchiếnlược vớihai mục đích là ngăn chặntộiphạm và đẩylùi (loại trừ) tội phạm.
22
1.3.2. Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Từ tình hình nghiên cứu và căncứvào mục đích do tênđề tài Luậnán vàchuyên ngành đặt ra, tác giả xác định Luận án này cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ những vấn đề sau:
M à, áp dụng lý luận tội phạm học đã có về tình hình tội phạm và bằng sốliệu thống kê thường xuyên cũng như không thường xuyên, Luận án môtả hiện trạng của tình hình các tội chiếm đoạt tài sản trên địa bàn nghiên cứu. Quađó, một mặtbổ khuyết cho lý luận tội phạm học về vấnđề đã được làmrõ này, mặt khác, tạo dựng cơ sở cho việc giải quyết các vấn đề tiếp theo của đề tài;
Hai là, dựa vào tình hình các tội chiếmđoạttài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta trên cơ sở khái quát số liệu 10 năm và chi tiết hóa sốliệu 5 năm vừa qua, cũng như dựa vào lý luận tội phạm học, Luận án xác định những nguyên nhân và điều kiện cụ thể của tình hình các tội chiếm đoạt tài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta.
Ba là, kết quả nghiên cứu về tình hình các tội chiếmđoạttài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, cũng như về nguyên nhân và điều kiện của hiệntượngtiêu cực này phảiđược sửdụng làm cơ sở để thiếtlậpvà hoàn thiện hệ thống các biện pháp phòng ngừa các tội chiếmđoạttài sản trên địa bàn nghiên cứu.
Kết luận chương 1
Các công trình khoa học đã được nghiên cứu và tham khảođủ để Luậnán giải quyết ba vấnđề cốt lõimà đề tài và chuyên ngànhđặtra.Đólà, thứnhất, vấn đề lý luận về tình hình các tội chiếmđoạttài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay; thứ hai là vấn đề nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội chiếm đoạt tài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay và thứ ba là về phòng ngừa hiện tượng tiêu cực này. Đi vào chi tiết, cả ba vấnđềđã nêuđềucòn cósựkhác biệt giữa tình hình nghiêncứutrong
23
nước và ngoài nước, cái mà luận án chỉ dựa trênnềntảng tội phạm học Mác-xítđể đánh giá. Ở ngoài nước, từ năm 1890, tội phạm học Mác-xít đã có quan niệm biện chứng rằng, tình hình tội phạm là khách thể nghiên cứu, cái chứa đựng đối tượngnghiên cứu. Điềuđócó nghĩa rằng, địnhnghĩa khái niệm tình hình tội phạm nói chung, cũng như định nghĩa tình hình “các tội chiếmđoạttài sản trênđịabàn các tỉnh miền núi phía Bắc nướcta hiện nay” nói riêng, khôngthểchỉdùng đặc điểm, cái biểu hiện ra bên ngoài như xu hướng, trạng thái mà phải bao hàmbảnchất vốn có của nó. Đâylà điềucơ bản để luậnán tiếp thu và kế thừa. Đối với vấn đề thứ hai, điềuquan trọng nhất mà luận án tiếp thu được là lý luận về tính nhân quả trong tội phạm học của Kudrjavcev V.N (1968) – Prichinnost v kriminologii.Hạtnhân của lý luận này cũngđược tìm thấy trongmộtsốcông trình khoa học đã công bố ở Việt nam từ những năm 90 của thế kỷ trước.Điềuđặc biệtở đâylà tính nhân quả được nhìn nhận trongsựvậnhành của cơ chếhành vi phạm tội chiếm đoạt tài sản với hai quá trình hình thành nhân thân nói chung và nhân thânngườiphạm tội nói riêng [139, tr.87]. Vì thế, luận án không thể thoát ly lý luận này khi giải quyết vấn đề thứ hai của đề tài. Còn đối vớivấnđề thứ ba của đề tài, các tài liệu của Hội nghị lần thứ XII của Liên hiệp quốc vềphòng ngừa tội phạm và tư pháp hình sự năm 2009 sẽ được cập nhật trong luậnán như nền tảng lý luận về phòng ngừa tình hình các tội CĐTS trên địa bàn miền núi phía Bắc nước ta. Lý luận này vừa có tínhkế thừa, vừa bảođảmphương pháp thu hút (liên ngành) và phát triển, thíchứngvớiđòihỏithực tế các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta.
24
TÌNH HÌNH CÁC TỘI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN CÁC
TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1. Khái niệm tình hình các tội chiếm đoạt tài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta
Điều trước tiên cho phép khẳng định rằng, tình hình ế à
ê ị bà ỉ ề ú í Bắ chỉlà mộttrườnghợpcụ
thể, một“cáiriêng” của tình hìnhtộiphạm nói chung. Vì thế, khái niệm này
cũng phải tuân theo khái niệm chung, tức là , cáiđã được
GS.TS. Võ Khánh Vinh chỉ rõ, nó là khái niệm cơ bản đầu tiên của tội phạmhọc
và “T à ệ ợ x , ý – ợ y
ổ ề ặ ị ử, í ấ ấ b ồ ổ ể ấ ( ệ
) ệ x (qu ) ấ ị à
k ấ ị ”[121, tr 54].
Khác với nhiều định nghĩa khác chỉ nói về mặt biểu hiện của tình hình tội phạm, trong lời định nghĩa vừa nêu rõ ràng bao hàmcả mặtbản chất, tức là quy luật của sự phạmtội và cảmặtbiểu hiện của bản chất đó. Vì thế, lời định nghĩađó cósựđúc kếtcủalịch sử, tức là có tínhkế thừa, nên nó biện chứng và phùhợp để triểnkhai nghiên cứu vào thực tế. Và để cho dễ hiểu hơn, đặc biệtlà để“côngcụhóa”cái khái niệm trừutượngvà phức tạpnày cho việc triển khai nghiên cứu thực tế tình hình tội phạmở Việtnam, khái niệm THTP đã được xácđịnh “Vớitính cách là khách thể nghiên cứu cơbảncủa tội phạm học, tình hình tội phạm được hiểu là hiện tượng tâm – sinh lý – xã hội tiêu cực, vừa có tính lịch sửvà lịchsửcụthể, vừa có tính pháp lý hìnhsựvớihạtnhân là tính giai cấp,được biểu hiệnbằng tổng thể các hành vi phạmtội đã xảyra và các chủ thể đãthực hiện các hành viđótrongmộtđơnvịhành chính – lãnhthổnhấtđịnhvàtrong một đơn vị thời gian nhất định” [26; tr.55].
25
Áp dụng Lý luận này cho trườnghợpcủa đề tài, cho phép rút ra định
nghĩa khái niệm“tình hình ế à ê ị bà ỉ ề
ú í Bắ ”như sau:
Tình hình ế à ê ị bà ỉ ề ú í
Bắ à ệ ợ â – sinh lý – x êu , ừ ó í ị ử à
ị ử ụ ể, ừ ó í ý â à í ấ, ợ
b ểu ệ bằ ổ ể à ế à x y à
ủ ể ệ à ó ê ị bà ỉ ề ú í Bắ
ơ ị ấ ị .
Như vậy, dướigóc độ của tội phạmhọc Việt Nam, tình hình ế
à ê ị bà ỉ ề ú í Bắ được xem là một
chỉnh thể gồm hai mặt, mặt bản chất và mặt biểu hiện của bản chất đó. Trong hai mặtnày, mặtbảnchất là quy luật, là nguyên lý, nên ổn định, còn mặt biểu hiện của bảnchất, cũng là mộtthuộc tính, nhưng có tính lịchsửcụthể, tức là phụthuộc vào hoàn cảnh, vào môi trường sống cụ thể, cái cần phải được thayđổi để
hạn chế và đẩylùi sự phát tác của quy luật – quy luật của sự phạmtội. Vì thế, mặtbiểu hiện ra của bản chất ở dạng các thông số, tức là các đặc điểm, cần phảiđược ghi nhận, nghiên cứu thường xuyên và nó rất khác nhau, tùy theo thời gian,
địa bàn. Mặt biểu hiện này của tình hình ế à ê ị bà
ỉ ề ú í Bắ là có thể nhận thức được và nhận thức thông
qua đặc điểmđịnhlượngvà địnhtính của hiệntượngcầnnghiêncứuvớicác thông số của nó gồm: Mức độ; Diễn biến; Cơ cấu và tính chất của tình hình các
ế à ê ị bà ỉ ề ú í Bắ . Tuy vậy,
khả năng nhận thức của con người nói chung và con người ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta cũng vậy, lại có hạn. Vì thế, dưới góc độ của lý luận nhận thức
Mác-xít, tình hình ế à ê ị bà ỉ ề ú í
Bắ cũng là một chỉnh thể gồm hai phần, được gọi là Phần hiện và Phần
ẩn, những cái đều có thể và phảiđược làmrõ khi tiến hành nghiên cứu.
26
2.2. Phần hiện của tình hình các tội chiếm đoạt tài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phí Bắc nước ta hiện nay
Phần hiện là một phạm trù của tội phạm học, là một phần cơ bản trong cấu trúc khái quát của tình hình tội phạm. “Phần hiện của tình hình tội phạm là toàn bộ số tội phạmvà người phạmtội đã phảichịu xử lý hình sự, tức là đã bị phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và đưa vào con số thống kê hình sự”.
Như vậy, xét từ thực tế nghiên cứu, các số liệu thống kê về phát hiện, về điều tra, về truy tố và về xétxử đềucầnthiết cho việc nghiên cứu tội phạmhọc
nói chung và nghiên cứu phần hiện của tình hình ế à trên
ị bà ỉ ề ú í Bắ nói riêng, song do yêucầuvề tính
nhất quán, hệ thống và diễn giảiđượccủa số liệu đưa vào nghiên cứu mà trong sốcác loạisốliệuđãnêu, sốliệu thống kê xétxửhìnhsựsơ thẩm là phùhợp
hơn cả, đặc biệt là nó thỏa mãnđược yêucầud ễ ợ . Vì thế, để làm rõphần hiện của tình tình các tội chiếm đoạt tài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, tức là làm rõ các thông số gồmmức độ, diễnbiến, cơ cấu vàtính chất của tình tình các tội chiếmđoạttàisản, đề tàiđã sử dụng số liệu thống kê xétxửhìnhsựsơ thẩm của ngành Tòa án trong 10 nămgầnđây(2006 – 2015), cũng như khai thác thông tin tội phạm học từ 510 bản án hình sự sơ thẩm. 2.2.1. Mức độcủatình hình các tộichiếmđoạttài sản trên địabàn các tỉnh miền núi phía Bắc
Mức độ của tình hình các tội chiếm đoạt tài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta là đặc điểm định lượng tiêu biểu, cho biết về toànbộ số vụphạm tội chiếm đoạt tài sản và số người phạm các tội đó (bị cáo).
Vớichất liệu nghiêncứunhưđãnêu, đềtài thực hiện việc làm rõcả ba mức độmà lý luậntộiphạm học đã chỉra. Đólà mức độtổng quan, mức độnhóm và mức độ hành vi.
2.2.1.1. Mứ ổ qu
Mức độtổng quan được xem xét ở hai hình thức là tuyệt đối và tương đối.
27
Vớiquan niệm rằng, các ỉ ề ú í Bắ giữ vai trò là một
địa bàn, mộtkhông giantộiphạm học độc lập, tức là nó có nhữngđặc điểm riêng của nó và những đặc điểm nàyđược biểu hiệntrướchết ở tổng số vụ và bị
cáo phạm các tội ế à trongmộtđơnvịthời gian nghiêncứuấn
định là 10 năm. Đó chính là ứ ổ qu uyệ và nó đượcthể hiện ởBảng 2.1. (xem Phụ lục 1, Bảng 2.1.)
Như vậy, mức độ tổng quan ở Bảng 2.1. cho thấy, trong thời gian 10 năm,
trênđịa bàn ỉ ề ú í Bắ đã xétxửhìnhsựsơ thẩm
27.778vụ với44.177 bị cáo phạm các tội ế à .Vậycon số tuyệtđối nàylà nhiều hay ít, là cao hay thấp, phảiđược chuyểnthành số tương đối đểso sánh và đánh giá.
b) Mứ ổ qu ơ à
Để cóthể so sánh và đánh giá được mức độ tổng quan, tội phạm học đưa
ra phương pháp so sánh thông qua ơ (bị cáo/100.000 dân), ậ
(bị cáo/km2) hoặc ỷ ệ .Đâylà những ỉ k qu ó
ị ở ều k u, kể à ầu.
b.1. Tỷ lệ tội phạm
Tỷlệ tộiphạm trong trườnghợpcủa đề tài này có tên gọicụthể là ỷ ệ
ế à ở ỉ ề ú í Bắ , tức là nó được
tính trong “nội bộ” tình hình tội phạm trên địa bàn nghiên cứu. Bảng 2.2. tạiPhụ
lục 2 có nhiệm vụ làm rõ tỷ lệ này. Đây là Bảng cho biết về tỷ ệ ế
à ó u ê ị bà ỉ ề ú
í Bắ 2006 – 2015.
Để cóthể đối chiếu và so sánh được (với các giaiđoạnkhác hoặc với các vùng miền khác), thì trong hai tỷ lệ (30,37% về số vụ và 28,57% về số bị cáo)đã được xác địnhở Bảng 2.2, đề tài dùngmộttỷlệ trongđólàmchỉsốkhái
quát, cụ thể là ỷ ệ ế à ó u
28
ê ị bà ỉ ề ú í Bắ 2006 – 2015 là
28,57%, tức là tỷ lệ xét theo số bị cáo. Vậy tỷ lệ này là cao hay thấp, một nghiên cứuso sánhvớiđịa bàn toàn Quốc (thông qua tỷlệ tộiphạm CĐTS) đã được thực hiện và kết quả cụ thể được tóm tắt như sau:
Kếtquảnghiêncứutộiphạm học trong nhiều năm cho thấy, trong tình hình tội phạm ở nước ta, các tội xâm phạm sở hữu (với tỷ phần tuyệt đối là các tội chiếmđoạttài sản, tuyệtđối cả về số lượng tội danh, cả về mức độ của tình hình tội phạm) luôn luôn chiếmtỷ trọng vượttrội, chiếm 58,54% tổng các bị cáoở giaiđoạn1986 – 1988 (giaiđoạncòn cơ chế bao cấp); 44,72%ở giaiđoạn
2001 – 2003; 41,25% ở giai đoạn 2004 – 2008 [1]; ở giai đoạn 2009 – 2011 giảm xuống còn 37, 87% và một nghiên cứu riêng do đề tài thực hiện đối với cả giaiđoạn10 năm (2006 – 2015)để xác địnhtỷlệ các tộichiếmđoạttàisản(8 tội) trên phạm vi toàn Quốc, cũng cho kết quả là 37,30% về số vụ (121.837/326.652) và 34,19% về số bị cáo (202.532/592.392).- Xe P ụ ụ 1, Nr1.
Như vậy, tuy còn dung sai, song các tỷlệ vừa nêu, xét trên phạm vicảnước trong suốt thời kỳ từ bao cấp sang cơ chế thị trường, cho phép dùng làm cơsở để nhậnxét rằng, tỷ lệ các tội chiếm đoạt tài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta là thấp đáng kể. Đâylà một đặc điểmriêng thứ nhất của tình hình các tội chiếm đoạt tài sản trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta giai đoạn 2006 – 2015.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CÁC TỘI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA HIỆN NAY TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA


