CÁC NGUYÊN TẮC LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN TẠI ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH)
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết củađềtài
Bộ luậttố tụng hìnhsựđược Quốc hội khóa XI thông quatạikỳhọp thứ 4, ngày 26/11/2003 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2004, thay thế cho Bộ luật TTHS năm 1988. Qua 10 năm áp dụng, Bộluật TTHS đã đóng góp rất lớn vào công tácđấutranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, qua thời gian dài áp dụngBộluật TTHS đã bộc lộnhững quyđịnhkhông còn phùhợp vớithực tiễn côngtác đấutranh phòng, chống tội phạm; với Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cảicách tư pháp đến năm 2020. Nghị quyết số 49-NQ/TWđược Bộ Chínhtrị ban hành sau thời điểm Quốc hội thông qua Bộ luật TTHS nên nhiều nội dung của Chiếnlược cải cách tư pháp trong Nghị quyếtsố 49-NQ/TW của Đảng chưa được thể chếhóa vào các quy định của Bộ luật TTHS
Bên cạnh đó, trong bối cảnhmộtloạt các lĩnhvựcvề bổ trợ tư pháp, thi hành án hìnhsự mớichỉ có các văn bản dưới luật quy địnhvề mộthoặc một số vấn đề cụ thể nênkhi ban hành Bộ luật TTHS, nhiều nội dung của các lĩnh vựcnàyđượcquyđịnhngay trongBộluật TTHS nhưngmứcđộquyđịnh nhiều khichỉmang tính nguyên tắc,địnhhướngcơ bản. Nhữngvấnđềcần phảisửađổitrong Bộ luật TTHS mớiđólà: Định hướng tăngcườngcông tác tranh tụng trong hoạtđộngxétxửcủaTòa án.Mặtkhác, nhằmbảođảm nguyêntắcđộclập trong hoạt động xét xử, Nghị quyết số 49-NQ/TW đã đưa rađịnh hướng tổ chứcTòa án theo khuvựcvà vẫn bảo đảmnguyên tắc xét xử hai cấp. Có thể nói, đây là thay đổi lớn về thẩm quyền xét xử của Tòa án hiện quy định theo cấp hành chính trong Bộ luật TTHS. Việc thể chế hóađịnh hướngtrong Nghị quyết 49-NQ/TW và quyđịnhcụthểnguyêntắctổchức hoạt động xét xử trong Hiến phápđã đượcQuốc hội thông qua là một yêu cầu quan trọng đặt ra trong Bộ luật TTHS sửa đổi. Tuy nhiên, nội dung này không thể chỉ đượcgiải quyết bằng các quy địnhcủa Bộ luậtTTHS mà việcsửa đổi, bổ sung các quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án khu vực cần phảiđặt trongmốiquanhệvớiviệcsửađổiLuậttổchức Tòa án nhân dân, Luậttổchức Viện kiểm sát nhân dân và Luậttổ chứcđiềutra hìnhsự,nhất là trongđiều kiện tổ chứccủa cơ quan điều tra hình sự vẫn theo cấp hành chính.
Hiến phápcủanướcCộng hòa xãhộichủnghĩa Việt Namđãđược Quốc hội thông qua và có hiệu lựctừngày 01/01/2013 trongđóđã quiđịnh rất rõ tại Điều 103 của Hiến pháp: “Nguyên tắc tranh tụng trongxét xử được bảođảm”.Gầnđâynhất vào ngày 24/11/2014tạikỳhọpthứ8 Quốc hội Khóa 13 đã thông qua Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi). Tại Điều 13 củaLuậtđãquiđịnh:“Nguyêntắctranh tụng trong xétxửđượcbảođảm. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho những người tham gia tố tụng thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử. Việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử theo quiđịnh của luật tố tụng”. Vì vậy, cần thiết phải đưa thêm nguyên tắc bảođảmtranh tụng trong xét xử vàohệthống các nguyêntắcliên quanđến hoạt độngxét xử và phải được coi là nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự khi sửa đổi Bộ luật TTHS.
Xét xử vụán hình sự là giai đoạn thứ tư và cuối cùng, trung tâm và quan trọng nhất của hoạtđộng tố tụng hình sự,mà trong đócấp Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành:
áp dụng các biện pháp chuẩn bị cho việc xét xử, đưa vụ án hình sự ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm để xem xétvề thựcchất vụ án, đồng thời trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của hai bên (buộc tội và bào chữa) phán xét về vấn đề tính chất tội phạm (hay không) của hành vi, có tội (hay không) của bị cáo (hoặc xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm – nếu bản án hay quyếtđịnhsơ thẩmđã được tuyên và chưa có hiệu lựcpháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng nghị hoặc kiểm tra tínhhợppháp và có căn cứ củabảnán hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm -nếubảnán hay quyếtđịnhđó bị kháng nghị) và cuối cùng, tuyên bản án (quyếtđịnh)của Tòa án có hiệu lựcpháp luật nhằm giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục. Mặt khác, bản án và các quyết định của toà án là căn cứ pháp lý để tiếnhành hoạt động thi hành án, biến việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngườiphạm tội của các cơ quan tiến hành tố tụng phát huy tác dụng trên thựctế vì vậyquá trình xét xửcácvụ án hình sự Toà án phải tuân thủ pháp chế và các nguyên tắc của luật tố tụng hình sự [13].
Giai đoạn xét xử vụ án hình sự là trung tâm của hoạt động TTHS [13] vì vậy, luận văntậptrung làm sáng tỏ những nguyên tắc được áp dụng trong giai đoạn này. Từ việc nghiên cứu cho thấy, việc qui định các nguyên tắc liên quanđến hoạtđộng xét xử trong Bộ luật TTHS 2003 còn chưa hợp lý nên cần thiết phải sửa đổi bổsung cho phù hợp.
Mặtkhác, thực tiễn xét xử tại địaphương cho thấy việc thực hiện các nguyên tắc này trong quá trình xét xử còn nhiều hạn chế như sự vận dụng chỉmang tính hình thức và còn có sự vi phạm các nguyên tắc liên quan đến hoạtđộng xét xử đặcbiệt là nguyêntắckhi xétxửThẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Nguyêntắckhi xét xửcó Hội thẩm tham gia Những hạn chế đó có nguyên nhân từ việc qui định của pháp luật TTHS chưa chặt chẽ, chưađầyđủ,chưađảmbảodân chủ, công bằng, chưa thựcsự bảo đảm quyền con người. Một nguyên nhân quan trọng khác là việc áp dụng các nguyên tắc trên của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân chưa được chính xác, còn nhiều biểu hiện xa rời nguyên tắc khi xét xử, khi ra bản án, quyết định.
Từ lý luận cũng như tình hình thựctếvận dụng nguyên tắc chủ yếu liên quanđến hoạtđộngxétxử trong thực tiễn ở nước ta hiện nay cũng như các quan niệm khác nhauvề các nguyên tắc cơ bản củaluật tố tụng hình sự thì vấn đề nghiên cứu một cách toàn diện, sâu rộng về các nguyên tắc này là rất cầnthiết và có ý nghĩa to lớn góp phần đem lại một cách hiểu đúng đắn, toàn diện và thống nhất trong lý luận cũng như trong thựctếáp dụngđồng thời góp phần hoàn thiện các nguyên tắc tố tụng này.
Do đó, việc tiếptụcnghiêncứucác nguyên tắcchủyếu liên quanđến hoạt động xét xử trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng đểlàm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các nguyên tắc đó không chỉ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng mà còn là lý do luận chứng cho sự cần thiết đểchúng tôilựa chọn đềtài: “Các nguyên tắc liên quan đến hoạtđộngxétxửtrong pháp luậttố tụng hìnhsựViệt Nam (trên cơsởnghiên cứu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Nam Định)”làm luận văn thạc sĩ luật học.
1.1. Mục tiêu nghiên cứu 1.1.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử dưới khía cạnh lập pháp hìnhsựvà áp dụng chúng trong thực tiễn,từđóluận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quyđịnh về các nguyên tắc liên quan đếnhoạt động xét xử trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng nguyên tắc này trong thực tiễn
1.1.2. Mục tiêu cụ thể
Từ mục tiêu tổng quát nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
-Từ cơ sởkết quả tổng hợp các quan điểmcủa các tácgiảtrong vàngoài nước về các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử, luận văn nghiên cứu làm sángtỏmộtsố vấn đềchung về các nguyên tắc liên quanđến hoạt động xét xử như: Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử.
– Khái quát sự phát triển của các nguyên tắc chủ yếu liên quan đến hoạtđộng xét xử trong lịch sử pháp luật tố tụng hình sự của nước ta từ năm 1945đến nay để rút ra những nhận xét, đánh giá;
– Nghiên cứu nội dung các nguyêntắc chủ yếuliên quan đến hoạtđộng xétxử trong pháp luậttốtụng hìnhsựhiện hànhcủaViệt Nam,từđórút ra những nhận xét, đánh giá;
– Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng các nguyên tắc liên quan đến hoạtđộng xét xử củađịa phương,đồngthời phân tích làm rõ những tồntại, hạn chế xung quanh việc áp dụng và những nguyên nhân cơ bản của nó;
– Từ đóđề xuấtnhững địnhhướngvà giải pháp hoàn thiện các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử trong phápluật tốtụng hình sự Việt Nam hiện hành, cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc vận dụng các nguyên tắc này trong thực tiễn
1.3. Tính mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thốngởcấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về các nguyên tắc liên quan đến hoạtđộng xétxử trong luật tốtụng hình sự, mà trongđógiải quyết nhiềuvấnđềquan trọng về lý luận và thực tiễn. Những điểm mới cơ bản của luận văn là:
– Nghiên cứu chỉ ra những đặc điểmchủ yếu của quá trình hình thành và phát triển của các nguyêntắcliên quan đến hoạt động xét xử trong luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 cho đến nay;
– Nghiên cứu, đánh giá làm sáng tỏ bức tranh về tình hình áp dụng các nguyên tắc này của Tòa án các cấp ở địa phương công tác; những tồn tại, hạn chế của thực tiễn áp dụng, cũng như những nguyên nhân cơ bản củacác tồn tại, hạn chế đó;
– Trên cơ sở kếtquảnghiêncứulý luận và thực tiễn, luận vănđã đềxuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao hiệu quả áp dụng các nguyên tắc này trong giaiđoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho không chỉ các nhà lập pháp, mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán bộgiảngdạypháp luật, các nghiêncứusinh, họcviên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đàotạo luật. Kết quả nghiên cứucủa luận văn còn phục vụ cho việc trangbị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại ngành Tòa án trong quá trình xét xử các vụ án hình sự được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật.
1.4.Đốitượng và phạm vi nghiêncứu
Trên cơ sở xem xét nội dung một sốnguyên tắc liên quan đếnhoạtđộng xét xử, cũng như tham khảo những tài liệu liên quan đến các nguyên tắc này,đối tượngnghiên cứucủa đề tài là những nội dung cơ bản của các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xétxửthông qua việc nghiên cứu sự hình thành một số nguyên tắc chủ yếu liên quan đến hoạt động xét xử trong lịch sử và thực tiễn của việc áp dụng để giúp mọi ngườihiểu rõ hơnvề nguyên tắc này. Mặt khác, ở một mức độ nhất định luận văn có đề cập đến các nguyên tắc chung của TTHS. Ngoài ra, luận văn cũngđưara những nhận xét, nhận định, những biện pháp tháogỡ những vướngmắc còn tồntạitrong quá trình phát triển của nguyên tắc liên quan đến hoạtđộng xét xử để từ đóđóng góp một sốý kiến nhằm hoàn thiện hơn.
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn vận dụng các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử tại ngành tòa án tỉnh Nam Định trong vòng 5 năm (từ 2009 đến 2013).

Thực tế, các nguyên tắc của luật tố tụng hình sự được đề cập rất nhiều ở một số giáo trình chuyên ngành luật, các bài tham luận tại các diễn đàn khoa học, các luận án, luận văn…Điển hình như giáo trình Luật tố tụng hình sự – Đại học luật Hà Nội; giáo trình Luật tố tụng hình sự – Khoa luật, Đại học Quốc gia HàNội; Tác giả Lê Cảm với bài “Những vấn đề lý luận cơ bản về chế định các nguyên tắc củaluật tốtụng hình sự”được đăngtạiTạpchí kiểm sát và bài viết “Nhà nước pháp quyền trong việcbảovệ an ninh quốc gia, an ninh quốc
tế và các quyền con người bằng pháp luật hìnhsự”cũng đượcđăng trong cuốn Tạp chí Kiểm sát. TácgiảNguyễn Ngọc Chí với một loạt các bàiviết vềcác nguyên tắcnhư “Đảm bảosự vô tư của người tiến hành tốtụng, người phiên dịch, người giám định trongtố tụng hình sự”được đăng tại TạpchíNhà nước và Pháp luật; “Hoàn thiện các nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS”, Tạp chí Khoa học ĐHQG; “Mộtsố yếutố ảnh hưởngtới nguyên tắc “Thẩm phán và Hộithẩm xétxử độclậpvà chỉtuân theo pháp luật” Tạp chí Nhànước và Pháp luật; “Hoànthiện nguyên tắc“Thẩmphán và hộithẩm xétxửđộc lập và chỉ tuân theo pháp luật” trongtố tụng hình sự”,Tạp chí Dân chủ vàpháp luật;“Lựachọn mô hình tố tụng hìnhsự”, Tạp chí Nhànướcvà pháp luật; “Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật và Đề cương bài giảng môn xét xử vụ án hình sự, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội. Các luận văn thạc sĩ của các học viên cao họcchuyên ngành luật Hình sự các khóa 13, 14. Ngoài ra còn có các bài viết liên quan đến các nguyên tắc của luật tố tụng hình sự được đăng trên các
tạp chí chuyên ngành.
Tuy nhiên, việc nghiên cứuthành một nhóm các nguyên tắc liên quanđến hoạt động xét xử hiện nay vẫn còn chưađược đề cập đến.Do đó, chúng tôi chọn đề tài này để nghiên cứu một cách có hệ thống nhóm nguyên tắc liên
7
quanđến hoạt động xét xử. Làmthếnào để nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử cũng như làm thế nào đểkhắc phục những khó khăn vướngmắctrong việc áp dụng cũng như hoàn thiện các nguyên tắcnày.Đó chính là nhữngđiều mà rấtnhiều nhà nghiên cứu pháp luật quan tâm. Chính vì vậy, vấn đề nghiên cứunhóm nguyên tắc này luôn nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu pháp luật, các thầy cô giáo và các học viên.
2. Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu 2.1.Nộidung nghiêncứu
Luận văn nghiêncứulàm sáng tỏmột sốvấn đề chungvềcác một số nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử như: Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa các nguyêntắcliên quan đến hoạt động xét xử.
– Khái quát sự phát triển của các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử trong lịch sử pháp luật tố tụng hình sự của nước ta từ năm 1945 đến nay.
– Nghiên cứu nội dung các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử trong pháp luật tố tụng hình sự hiện hành của Việt Nam, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá;
– Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng các nguyên tắc này, đồng thời phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế xung quanh việc áp dụng và những nguyên nhân cơ bản của nó;
– Từ đóđề xuấtnhững địnhhướngvà giải pháp hoàn thiện các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử trong phápluật tốtụng hình sự Việt Nam hiện hành, cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc vận dụng các nguyên tắc này trong thực tiễn
2.2. Phương pháp nghiêncứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả dựavào phương pháp của chủ nghĩa duyvậtbiện chứng và chủ nghĩa duyvậtlịch sử kết hợpvới việc sử
8
dụng các phương pháp như: phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê và phương pháp so sánh,đốichiếu. Qua đó,rút ra nhữngkết luận, đề xuấtnhững biện pháp nhằm hoàn thiện các nguyên tắc bảo đảm cho việc xét xử cả vềmặtlý luận và thực tiễn áp dụng.
2.3. Địa điểm nghiêncứu
Việc nghiêncứuđược tiến hànhdựatrên thực tiễn xét xử của địa bàn tỉnh NamĐịnh.
3. Kết cấucủa đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đềtài gồm 3 chương:
Chương 1: Một sốvấnđề lý luậnvề các nguyên tắc liên quanđến
hoạt động xét xử.
Chương 2: Các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xétxửtrong pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các nguyên tắc liên quan đến hoạt động
xét xử trên địa bàn tỉnh NamĐịnhvà một sốkiến nghị.
9
MỘTSỐVẤN ĐỀLÝ LUẬNVỀCÁC NGUYÊNTẮC
LIÊN QUAN ĐẾN HOẠTĐỘNGXÉT XỬ
1.1. Khái quát về các nguyêntắccủa luật tố tụng hình sự1.1.1. Khái niệm các nguyên tắccủa tố tụnghình sự
“Nguyên tắc” theo Từ điểnTiếng Việt là“Điềucơ bảnđịnh ra, nhất thiết phải tuân theo trong mộtloạt việc làm”[50, tr.672]. Như vậy, nguyên tắc được hiểu vớinghĩa là tư tưởng chỉ đạo, qui tắc cơ bản của một hoạt động nào đó. Trong quá trình giải quyếtvụán hình sự để thực hiện được mục đích phát hiện nhanh chóng, kịp thời, xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cần phải có những định hướng trong việc xây dựng và áp dụng pháp luậttố tụnghình sự. Những định hướng này thể hiện quan điểm, đường lối và chính sách hình sự của Nhà nước ta trong việc trong việc đấu tranh, xử lý tội phạm trong từng giai đoạn của quá trình giải quyếtvụ án và đượcgọi là nguyên tắc của Luật tố tụng hình sự
Các nguyên tắc của luậttố tụng hình sự là những phương châm,định hướng chi phối toàn bộ haymột sốgiai đoạn quan trọng của tố tụng hình sựtrong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự. Những nguyên
tắc này thể hiện chính sách hình sự,quanđiểmgiải quyếtvụán hình sự củaĐảng và Nhà nước ta đảm bảo mọi tộiphạm đềuđược pháthiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật, khôngbỏ lọttộiphạm và không làm oan người vô tội. Vì vậy, trong quá trình xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật để giải quyếtvụ án hình sự những nguyên tắc cơ bản của LTTHScầnđượcquán triệt và thực hiện nghiêm chỉnh.
Các nghiên cứu hiện nay ở nước ta khi đưa ra khái niệm về nguyên tắc của luật TTHS khá thống nhất, theođó:các nguyên tắc củaluật TTHS là
10
những phương châm, định hướng, quan điểm chi phối toàn bộ hay một số giaiđoạn của hoạt động TTHS trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự [28, tr.72].
1.1.2. Đặc điểm các nguyên tắc của luậttố tụnghình sự
Giáo trình luật TTHS Việt Nam của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng luật TTHStồntại hệthống các nguyên tắc chứkhông phải lànhững nguyên tắc rời rạc và có những đặc điểmsau: a. Các nguyên tắccủa luật TTHS là những tư tưởng, định hướng của hoạt động TTHS thể hiện quanđiểmcủa Đảng và Nhà nước đốivới quá trình giải quyết vụ án là dân chủ, kỷcương và theo định hướng XHCN; b. Các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS chi phối toàn bộ quá trình khởi tố, điều tra, truytố,xét xử, thi hành án hoặc chi phối một số giaiđoạntrong quá trình giải quyếtvụ án hình sự; c. Các nguyên tắc của luật TTHS được ghi nhận trong các văn bản pháp luật của Nhà
nước như Hiến pháp,Bộluật TTHS…; Các nguyên tắc của luật TTHS có tính ổn định cao, bởi lẽ nó phản ánh những nguyên lý cơ bản nhất trong quá trình giải quyết vụ án hình sự [28, tr.72].
Chúng tôiđồngývới quan niệm này,đồng thời bổ sung và phân tích thêm về các nguyêntắc củaluật TTHS:
Thứ nhất, các nguyên tắc của luật TTHS là nhưng tư tưởng mang tính xuất phát điểm, có tính chủ đạo định hướng cho toàn bộ hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Nguyên
tắc củaluật TTHS được hình thành từ những đòi hỏi của đời sống xã hội, từ thựctiễn đấutranh phòng ngừa và xử lý tội phạm được nhà làm luật ghi nhận dưới các hình thức văn bản pháp luật. Như vậy nguyên tắc này nó chi phối từkhi hình thành ý thức pháp luật TTHS đến khi xây dựng các dự án pháp luật TTHS, và thảo luận thông qua. Toàn bộcác điều khoản phải chi tiết,cụthể hoá các tư tưởng quan điểm chỉ đạođó.Do đó, các quy phạm, chế định cụ thể
11
của luật TTHS đều phải được xây dựng trên cơ sở và nhằm thực hiện các nguyêntắccơ bản của luật TTHS. Hay nói một cách khác nguyên tắc cơ bản của luật TTHS là cơ sở pháp lý quan trọng để hoạt động xây dựng pháp luật TTHS đi đúng hướng đạt được mục đích đề ra trong từng giaiđoạn,thời kỳ. Trong hoạt động áp dụng pháp luật TTHS đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hànhtố tụng khi“vậtchất hoá” các quy phạm pháp luật TTHS vào đời sống thực tế, tức là mô hình hoá các yêu cầu khách quan thành những hành vi thực tế của các chủ thể pháp luật TTHS một mặt cần phải dựa trên cơ sở thực tế, mặtkhác cầnphảidựatrên cơ sở pháp luật mà cái quan trọng nhất của pháp luật TTHS là những nguyên tắc cơ bản, có nghĩa rằng cần phải cân nhắcđến sự phù hợp của các nguyên tắc cơ bản.Đặc biệt trong trường hợp luật TTHS quy định các phương án hành vi khác nhau có thể áp dụng cho một trường hợp cụ thể thì lựa chọn phương án hành vi này hay phương án hành vi khác phải đảmbảolà chúng không được tráivới nguyên
tắccơ bản đã được ghi nhận trong luật TTHS.
Với sựxuất hiện các nguyên tắccơ bản thì quá trình xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật được vậnhành một cách chính xác, thống nhất vàtoàn diện.
Thứ hai, các nguyên tắc của luật TTHS chi phối toàn bộ quá trình TTHS hoặc một số giai đoạn trong quá trình giải quyếtvụán. Nguyên tắc của luật TTHS phải chi phối toàn bộ các giai đoạn TTHS từ khởi tố vụ án hình sự,điều tra truy tố, xét xử đến thi hành án hình sự hoặc là một số giai đoạn TTHS quan trọng. Đa số các tác giả đều bằng lòng với quan điểm này và họ cho rằng nếu như nó chi phối chỉ ở một thời điểm nhấtđịnhtrong một giai đoạn thì đókhông phải là nguyên tắccủaluật TTHS. Có tác giả còn cho rằng “Đặc điểm này cho phép chúng ta phân biệt một cách rõ ràng các nguyên tắc cơ bản với nguyên tắc khác của luật TTHS” [28, tr.73].
12
Thứ ba, các nguyên tắc của luật TTHS quyếtđịnhsựtồntại và phát triển của luật TTHS. Chúng ta biết rằng linh hồn của một ngành luật đó chính là tập hợp các nguyên tắc cơ bản của ngành luật đó,theo GS.TSKH Đào trí Úc thì các nguyên tắc của luật TTHS là sự trung chuyển giữa chính sách pháp luật TTHS và các qui phạm pháp luật TTHS. Do vậy, nếu thiếu đi các nguyên
tắcthì ngành luật đó chỉ là tổng thể các quy phạm giản đơn không theo một trình tự logic, thậm chí chúng còn mâu thuẫn chồng chéo lên nhau làm cho khó thực hiệndẫnđến vi phạm pháp luật là tất yếu,vậythì chỗ đứngcủa ngành luật đó trong hệ thống pháp luật liệu có tồntại không. Ngược lại nếu cáctư tưởng đó đượcnhận thức quán triệt trong toàn ngành luật hơn nữa đó lànhững tư tưởng quan điểm tiến bộ hoàn thiện, thấm nhuần dânchủcông bằng thì đương nhiên ngành luật đó sẽ có vị trí vai trò quan trọng trong đời sống xãhội. Nguyên tắccơbảncàng tiến bộ bao nhiêu thì giá trị củangành luật đó càng cao bấy nhiêu.
Thứ tư, các nguyên tắc của luật TTHS là yếutố cấu thành là nên bản chất của luật TTHS. Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất yếu, tươngđối ổnđịnh bên trong sựvật, quyđịnh sự vậnđộngvà phát triển củasự vậtđó. Với tư cách là một ngành luật trong hệ thống pháp luật, luật TTHS cũng thể hiện bản chất của mình trên hai phương diện là tính xãhội và tính giai cấp. Nhưng cái sắc thái biểu hiện này không như các ngành luật khác bởi bản chất của luật TTHS không giống với bản chất của các ngành luật khác. Trong khi các nguyên tắc của luật TTHS chứa đựng các quan điểm, tư tưởng định hướng cho toàn bộ ngành luật TTHS. Tập hợp tất cả các nguyên
tắc cấu thành lên bản chất của luật TTHS. Nếu thiếu một trong các nguyên tắc thìlập tứchoạt động TTHS bị “méo mó” đi, không theo một trình tự thủ tục hoặc mục đích nhiệm vụ của ngành luật đố không thể đạt được. Vì nó làyếu
tốcấuthành lên bản chất của luật TTHS nên nóthểhiệnbảnchất của luật
13
TTHS. Bản chất của một ngành luật nó được thể hiện qua từng quy phạm chếđịnh cụ thể nhưng được thể hiện tập trung nhất tại các nguyên tắc cơ bản.
Thứ năm, các nguyên tắc của luật TTHS Việt Nam được ghi nhận và thểhiện qua các quyđịnh pháp luật TTHS.Nếunhư cácđặcđiểmnêu trên,thểhiện nội dung của các nguyên tắc của luật TTHS thì đặc điểm này thể hiện hình thức của nguyên tắc đó. Những phương châm, định hướng nhà nước là nguyên tắc củaluật TTHS phải được thể hiện ở những qui phạm pháp luật TTHS nên khi xem xétmộtnguyên tắc nào đó có phải là nguyên tắc của luật TTHS hay không trước tiên cần phải xem xét xem nó có được quy định trong luật TTHS hay không?. Nếu như nó không được quy định trong luật thì cho dù nguyên tắcđócó quan trọngđếnđâu chăng nữa thì đó không phải là nguyên tắc cơ bản.Đặcđiểmnày cóýnghĩa quan trọng trong việc bảo đảmtính pháp chế, dân chủ, tiến bộ, công minh của nhà nước. Chỉ những nguyên tắc nào được nhà lập pháp thừa nhận và ghi nhận chính thức trong đạo luật TTHS thì buộc phải vận dụng một cách bắt buộc trong giải quyết vụ án hình sự.
1.1.3. Phân loại các nguyên tắc của luật tố tụng hìnhsự
Luật TTHS không phải chỉ tồntạicó mộtnguyên tắc mà là một hệthống các nguyên tắc. Mỗi một nguyên tắc chứa đựng các cách thức và mứcđộ chi phối khác nhau đến các giai đoạn TTHS. Do vậyđể nắm chắc hiểusâu nội dung của từng nguyên tắc cũng như để thấy được tầm quan trọng cuả nó trong TTHS thì cần thiết phải phân loại chúng, có như vậy thì việc vận dụng mới khách quan toàn diện đem lại hiệu quả cho hoạt độngtốtụng.
Để phânloại các nguyên tắc cơ bản thành nhóm các nguyên tắccó đặcđiểmchung nào đó thì cần phải căncứvào những tiêu chí nhấtđịnh.Trong khoa học pháp lý hiện nay tồn tại nhiều cách phân loại khác nhau.Có thể kểđến một vài tiêu chí mang tính phổ biến sau:
– Căn cứ vào việc có được Hiến Pháp ghi nhận hay không thì người ta
14
phân chia các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS thành hai loại: Nguyên tắc mang tính hiến định và các nguyên tắc khác. Theo đó, nguyêntắc Hiến định
tứclà những nguyêntắcđược ghi nhận trong Hiến pháp vàđượcquán triệt trong luật TTHS như: Nguyên tắc pháp chế; Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bảncủa công dân. Nguyên tắc khác là nguyên tắc không được ghi nhận chính thức trong Hiến pháp nhưng được ghi nhận trong các văn bản khác như Luật tổ chức Toà án, Viện kiểm sát, BLTTHS. Cách phân chia này có tác dụng lưu ý đến tầm quan trọng, tính chất hiến định của một số nguyên
tắc TTHS. Nhưng có nhược điểm là khi nhấn mạnh nguyêntắcHiến định thì dễ làm cho người ta xem thường các nguyên tắc khác.
– Căn cứ vào tính chấtcủacác nguyêntắccó thể được phân chia thành hai nhóm: Nguyên tắc chung và nguyên tắc riêng biệt của luật TTHS.
Nhóm 1: Những nguyên tắc chung của luật TTHS, đó là những nguyên tắcchung của pháp luật, khôngchỉđượcthểhiện trong pháp luật TTHS màcòn tồn tại trong các ngành luật khác như luật dân sự, luật tố tụng dân sự, luật
hành chính… Trong nhóm này cóthể kể đếncác nguyêntắcnhư: Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật …
Nhóm 2: Những nguyên tắc riêng của luật TTHS, đó là những nguyên tắc đặc trưng của luật TTHS được tạo thành xuất pháttừ đặcthù của hoạtđộng TTHS. Ví dụ: Nguyên tắc bảođảmquyền bào chữacủabị can bị cáo; Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án; Nguyên tắc suy đoán vô tội.ở đây cần
lưu ý một số nguyêntắcriêng liên quan đến hoạt động xét xử của luật TTHS có tên gọinhư nguyên tắccủa luật TTDS; Nguyên tắc bảođảmquyền bình đẳngtrướcpháp luật; Nguyên tắc toà án xétxử tậpthể; Nguyên tắc giám đốc việc xét xử; Nguyên tắc khi xétxử thẩmphán và hội thẩm nhân dânđộc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Sở dĩ có sự giống nhau như vậy bởi vì giải quyết vụ án dân sự, hình sự đều là sự thực hiện chức năng xét xửcủatoà án.
15
– Căn cứ vào phạm vi tác động của các nguyên tắc cơ bản có thể chia nguyên tắc của luật TTHS thành hai nhóm: Những nguyên tắc là định hướng chung cho toàn bộ quá trình TTHS và những nguyên tắc địnhhướngcho một số hoạt động TTHS. Theo đó: a. Những nguyên tắc định hướngcho toàn bộ quá trình tố tụng là những nguyên tắc mà tất cả các giai đoạn TTHS phải tuân theo. ví dụ:Nguyên tắc pháp chế; Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền cơ
bản của công dân…b. Những nguyên tắc địnhhướng cho một sốhoạtđộng TTHS nhất định là những nguyên tắc định hướng chomột số hoạtđộng cụ thểcủa quá trìnhtốtụng hay một giai đoạn nhấtđịnhcủaquá trình đó: Ví dụ Nguyên tắc thẩm phán và hộithẩm nhân dân độc lậpvà chỉ tuân theo pháp luật; Nguyên tắc toà án xét xử tập thể.
Với cách phân loại nàyngườita có thểchủđộng trong việc thực hiện pháp luật TTHS.
– Dựa vào nội dung và mục đích cóthểchia ra các nguyên tắc thành các nhóm sau:
Thứ nhất, các nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa: Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật;
Nguyên tắc giám đốc việc xét xử…;
Thứ hai, các nguyên tắc bảo đảmquyền tựdo dân chủcủa công dân bao gồm: Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của công dân; Nguyên
tắc bảođảm quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật; Nguyên tắc suyđoán vô tội…;
Thứba, các nguyên tắc bảođảmtính đúng đắnkhách quan trong giải quyếtvụán hình sự, như: Nguyên tắc xác định sự thật vụ án; Nguyên tắc bảođảmsựvô tư của những người tiến hànhtốtụng; Nguyên tắc thẩm phán vàhội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Thứ tư, các nguyên tắcthể hiện tính dânchủtrong hoạtđộng TTHS,
16
nhóm này bao gồm: Nguyên tắcvềviệc tham gia TTHS của cáctổchức xã hội và công dân; Nguyêntắc về sựphối hợp giữa tổ chức xã hội và công dân; Nguyên tắc về sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nướcvớicác cơ quan khác; Nguyên tắctrách nhiệmvềkhởi tốvà xử lý vụán hình sự; Nguyên tắc phát hiện và khắc phục nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Hiểu rõ mục đích của các nguyên tắc từ đó có những hành động tương ứng hoàn thành những mục đíchđề ra củacác nguyên tắc.
-Dựavào tính chất,tầmquan trọngcủacác nguyên tắcđối với hoạt động TTHS, người ta có thể phân chia thành: Nguyên tắc cơ bản và nguyên
tắc thông thường của luật TTHS. Theođó,“Nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự”là những phương châm, định hướng quan trọng chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn của hoạt động tố tụng hình sự trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luậttốtụng hìnhsự.Những nguyên tắc nàochỉchi phối ở một giai đoạn hay một sốhoạt độngTTHS thì được xem là các nguyên tắc thông thường.
Có nhiều cách phân chia khác nhau nhưngmộtđiềudễnhận thấy rằng sự phân chia này chỉ mang tính tương đối bởi các nguyên tắc của luật TTHS có quanhệchặtchẽvớinhau, việc nghiêncứunguyêntắcnày hay nguyêntắckhác phảiđặttrong từngđiềukiện hoàn cảnhcụthểvà trong mỗi quan hệ chặt chẽ đó.
1.2. Khái niệm,đặcđiểm,phân loại các nguyên tắcliên quan đến hoạt động xét xử
1.2.1. Khái niệm
Giải quyếtvụán công khai, dân chủ, không để lọttộiphạm, không làm oan người vô tội, đảm bảo công lý, công bằng là trách nhiệm không chỉ thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng mà còn là quyền của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, đồng thời cũng là đòi
17
hỏi củaxã hội ta trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá trình TTHS giải quyết vụ án thì tòa án chiếm vị trí trung tâm. Sự ra đời của tòa án gắn liền với hoạt động xét xử vàxét xử trở thành đặc điểm quan trọng nhất khi nói đến tòa án. Ngay từ khi nhànước xuất hiện đã có xét xử và có tòa án. Theo GS.TS Nguyễn Đăng Dung thìtư pháp tức là pháp đình, là tòa án, là y theo pháp luật mà xétđịnh các việc trong phạm vi pháp luật do vậy, “hệ thống cơ quan tư pháp có chức năng xét xử các hành vi vi phạm các qui định của pháp luật nhà nước” [21, tr.23]. Tuy nhiên, ngaytừ đầu không phải tòa án đócó một hệ thốngđộclậpnhư ngày nay mà người ta thường đồng nhất tòa án với các cơ quan hành pháp từ trungương đến địa phương. Trong nhà nước quân chủ tuyệt đối Nhà vua ban hành pháp luật, thực hiện pháp luật và đồng thời lại là người xét xử các hành vi vi phạm pháp luật nên không có hệ thống tòa án chuyên thực hiện chức năng xét xử mà chức năng nàyđược giao cho hệ thống cơ quan hành pháp từ trung ương đến địa phương. Xã hội phát triển, nhằm hạn chế quyềnlựcvô hạn của nhà vua, các nhà tư tưởng tư sản đã xây dựng mô hình nhà nước phân quyền, mà ở đócác quyền lực nhà nước được giao cho các cơ quan chuyên trách thực hiện. John Locke và Montesquieu là những người đại diện cho học thuyết này và các Ông đã phân chia hoạt động nhànướcthành ba nhánh quyền lực: quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trên cơ sở những học thuyết tiếnbộ này, nhà nước tưsảnrađời đã đấu tranh và khẳngđịnh cho sự độc lậpcủa quyền tư pháp với chức năng của các cơ quan lập pháp và hành pháp. Sự độc
lập tư pháp là một trong những đảmbảo quan trọng trong việc bảo đảm quyền bìnhđẳng,quyền tựnhiên của con người, nhất là trong việc chốnglạitình trạng tham nhũng,lợidụng quyền lực của những người cầmquyền do đam mê quyền lực và vụ lợi họ đã xâm phạm đến các quyền của con người trong xã hội. Với sự ra đời của nhà nước tư sản thì quyền tài phán của tòa án là một
18
nhánh quyền lực nhà nước, là hoạt động của nhà nước xét xử các tranh chấp trong xã hội giữa các cá nhân với nhau và phán quyết hành vi của công dân có vi phạm pháp luật nhà nước hay không. Theo sự phát triển của xu thế dân chủ,đối tượnghoạt độngxét xử của tòa án cũng ngày càngđượcmở rộng. Lúc mới rađời hoạt độngxét xử chỉ được áp dụng cho các “thần dân” có hành vi chống lại nhà nước,các vi phạm giữa các cá nhânđược giải quyết chủ yếu bằngcon đường “tựxử”. Càngvề sau, các quyền tự do dân sự, chính trị của công dân dầndần được pháp luật thừa nhận,sự vi phạm các quyềnđó được nhìn nhận như là xâm phạmtớilợiích, trật tự chung và do đó chúng làđối tượng của hoạt động xét xử của tòa án. Ngoài các vấn đề hình sự, dân sự, hoạtđộng xét xử cònmở rộng đến các vấn đề thương mại,đất đai, lao động, đặc biệt ngày nay tòa án xử những hành vi vi phạm pháp luật của các quan chức hành pháp trong việc ban hành các quyếtđịnh của mình. Ngoài việc xử dân, xử quan, tòa án đã hình thành hệ thống xét xử cả hành vi của các cơ quan lập pháp, hành pháp nếu hành vi đó vi phạm pháp luật và hiến pháp với sự rađời của tòa hành chính và tòa án hiến pháp.
Với chức năng xétxử thì Tòa án làđạidiện cho quyền lựctư pháp – một trong ba nhánh quyền lực ở nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền, không những có thẩm quyền xét xử những tranh chấp, vi phạm thông thường mà còn có thẩm quyền phán xửcả những vi phạm hiến pháp. Trong nhà nước pháp quyền tòa án có vai trò quan trọng, là nơi biểu hiện tập trung của quyền lực tư pháp đồng thời là nơi thể hiện nền công lý, sự đối xử bình đẳng,công bằng trong tất cả các mối quanhệ và cũng là nơi thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống tư pháp. Trong thế giới hiện đại, các quốc gia đều khẳngđịnh xét xửlà một chức năng của nhà nước, pháp luật khôngđể cho aitựxử,ngoại trừ những những chế địnhphi nhà nước được pháp luật cho phép như hòa giải hoặc trọng tài. Và, ngaycảtrong những
19
trường hợp này các phán quyết của trọng tài,tổhòa giải,nếucácđươngsựkhông đồng ý vẫn có thể đưa ra tòa án giải quyết.
Để đảmbảo cho việc xétxử được bình đẳng, dân chủ, khách quan thìnguyên tắc Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là tiềnđề nền tảng của tư pháp trong nhà nước pháp quyền. Sự độc lập xét xửxuất phát từbản chất của hoạt động tư pháp mà tòa án thực hiện:
Đó nhân danh công lý và dựa vào công lý thì tòa án phải xét xử như là một người đứng giữa, trung lập không phụ thuộc vào bên nào. Tuy nhiên, xét xử có tính đặc thù,đó làhoạt động tư duy của thẩm phán trong việc áp dụng pháp luật bị ảnh hưởng bởi các yếutố bên ngoài như: sức ép của các thế lực nhà nước, dư luận xã hội nhất là của báo chí, sức épcủacácđảngphái, tôn giáo, sự căng thẳng,
hung hãn của các đương sự…Dovậy, để bảo vệcông lý thẩm phán phải vượt lên tất cả các sức ép ngoại cảnh để có những phán quyết khách quan, nên hoạtđộng xét xử tự thân nó đã phát sinh nhu cầu phải độclập. Chỉ xétxử độc lập Tòa án mới tồn tạiđúng vớibản chất của mình là cơ quan bảo vệ công lý [41, tr.43].
Theo J.Clifford Wallace – Thẩm phán toà án Tối cao Hoa kỳ thì: “Độc
lập tư pháp đảm bảo rằng các quan chức cũng phải tuân theo pháp luật; với việc xét xử độc lậpkhông có ai ở phía trên hayởbên dưới luật”[26, tr.41]. Và độc lập tư pháp cần được nhận thức rộng rãi như việc bảo đảm nhân quyền “Mọi người đều có quyền tham gia phiên toà một cách công khai và được các Thẩm phán xét xử một cáchđộc lậpvà vô tư, khách quan” [26, tr.41]. Như vậy, sựthừa nhận về mặt pháplý đối với độc lậptư pháp phải bao gồm 3 yếu
tố: 1) Toà án phải được trao thẩm quyền giải quyết mọi vấn đề mang tính chất tư pháp; 2) Toà án phải là cơ quan duy nhất có quyền quyếtđịnhvụviệc đang yêucầugiải quyết có thuộc thẩm quyền xét xử của mình hay không; 3) Quyết
20
định cuối cùng của Toà án không phải chịu bấtkỳ sựxét duyệtcủa bất kỳ cơquan hay quyền lực nào [20]. Thực hiện nguyên tắc độc lập xétxử,các quốc gia tập trung vào xây dựng một hệthống tòa án theo hướngphânđịnh thẩm quyền giữa tòa án với với các cơ quan lập pháp, hành pháp, đồng thời với việc đề cao trách nhiệm của thẩm phán. Pháp luật qui định trách nhiệm của thẩm phán phải độc lập trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và chỉ chỉ tuân theo pháp luật trước hết là các qui tắc xét xử. Việc tuân thủ các qui tắc xét xử tạo điều kiện cho chính thẩm phán tránh được mọi áp lựctừphía các quan chức nhà nước và ngay cả áp lực của các thẩm phán tòa án cấp trên. Đồng thời, sựràng buộc của các qui tắc xét xử không cho phép xảy ra sựlạmdụng quyền
lựccủa chính các thẩm phán. Pháp luật các nước đều qui định thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu có căn cứ cho rằng họ sẽ không vô tư khi tiến hành tố tụng [7].
Ở nước ta quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp. Với cách thứctổ chứcquyềnlựcnhà nước theo nguyên tắc này thìvị trí quyền tư pháp và cơ quan tư pháp khác với quan niệm truyền thống của các nước phương tây.Họcho rằng tư pháp là một bộ phận hợp thành của cơ cấu quyền lực nhànước,trong đóquyền tư pháp độc lập với quyền lập pháp và hành pháp. Quyền tư pháp do tòa án đảm nhiệm thông qua hoạt động xétxử.Ở nước ta, xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn quá trình tổ chức và hoàn thiện bộ máy nhà nước thì quyền tư pháp và hệ thống cơ quan tư pháp được hiểu là: a) Quyền tư pháp là một bộ phận hợp thành của quyền
lựcnhà nước và gắn liền với hoạt động bảo vệ pháp luật nhằm duy trì trậttựxã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, duy trì trật tự chung của xã hội: b) Hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp là thước đo của nền công lý trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mà hiệuquả đó
21
được dựatrên các tiêu chí về tính minh bạch, sự công bằng và độ tin cậy của người dânđốivới hệ thống cơ quan tư pháp: c) Xét dưới góc độ thể chế nhànước thì tư pháp là một bộphận hợp thành quyền lựcnhànước gắn bó chặt chẽ với quyền lậppháp và hành pháp,tạothành quyềnlựcnhà nướcthống nhất. Do vậy, hoạt độngtư pháp là một trong những phương thức thực hiện quyền lực nhà nước thông qua hoạt động xét xử, hoạt động thực hành quyền côngtố,hoạt độngđiều tra và hoạt động thi hành án nên, cơ quan tư pháp không chỉ có tòa án mà còn bao gồmViện kiểm sát, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án và những cơ quan bổ trợ tư pháp khác. Tuy nhiên, quan niệm về quyền tư pháp và cơ quan tư pháp trong nhà nước XHCN như trên khôngđồng nghĩa với việc lẫn lộn, xóa nhòa ranh giới chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội, chức năng xét xử củanhững cơ quan này trong quá trình giải quyếtvụ án. Cho dùđược tổchức theo nguyên tắc tậptrung quyền lực vàquyền lực nhà nước thống nhất không thể phân chia nhưng cách thức tổ chức và hoạt độngcủa nhànước XHCN cũng phải dựa trên cơsởcủa sựphân công, phân nhiệm giữa các cơ quan nhà nước với nhau căn cứ vào chức năng của từng loại cơ quan. Do vậy, Viện kiểm sát không thể thực hiện những hoạtđộng thuộc chức năng xétxử củatòa án và tòa án cũng không thể thực hiện nhiệm vụ phát hiện tội phạm và khởi tố vụ án hình sự hay cơ quan điều tra lại thực hiện những nhiệm vụ thuộc chức năng xét xử và thực hành quyền công tố của Tòa án và Viện kiểm sát.
Trong hệ thống cơ quan nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa thì Tòa án có chức năng năng xét xử và được đặt dưới sự giám giám sát của cơ các cơ quan quyền lực nhà nước và quyền giám sát tối cao thuộc
về Quốc hội – Cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Trên cơ sở nguyên tắc này, Hiến pháp 2013 ngoài điều luật qui định về chức năng xét xử và thực hiện quyền
22
tư pháp của tòa án: “Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” [40, Điều 103]. Như vậy, Hiến pháp đã khẳng định chức năng xét xử chỉ thuộc về tòa án chứ không thuộc bất kỳcơ quan nhà nước nào và đồng thời tòa án chỉ có chức năng xét xử chứ không cóbấtkỳchức năng nào khác. Theo tinh thần này thì gán cho tòa án những chức năng khác như: trách nhiệm phát hiệntộiphạm và khởi tố vụ án hìnhsự,
trách nhiệm thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm… không thuộc về xét xử là không phù hợp với bản chất, vị trí, chức năng của tòa án trong nhà nước hiện đại và đồng thời cũng là sự vi Hiến.
Trên cơ sở chính sách pháp luật TTHS, Hiến pháp Luật TTHS qui định hệ thống các nguyên tắc của TTHSvềvai trò bảovệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ trật tự xã hội và chế độ chính trị của tòa án. GS.TSKH Đào Trí Úc cho rằng: các nguyên tắc của TTHS là sự trung chuyển chính sách pháp luật tố tụng hình sự để nó được thể hiện ở các qui phạm pháp luật TTHS và được áp dụng trong thực tiễn giải quyết vụ án. Do vậy,đã hình thànhhệthống các nguyên tắc liên quan đếnhoạt động xét xửnhằm bảo đảmvai trò của tòa án đối với xã hội.Hệ thống các nguyên tắc này bao gồmnhững nguyên tắc liên quan trực tiếp đếnviệc xétxửcông bằng trong TTHS vànhững nguyên tắc chung của TTHS mà quá trình hoạt động xét xử của tòa án góp phần thực hiện.
Từ những phân tích trên có thểhiểu những nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử là những phương châm, định hướng chi phối các hoạt động trong giai đoạnxét xử vụ án hình sự,được ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật tố tụng hình sự hướng tới việc xét xử công bằng, bảo vệ công lý, bảo vệquyền con người, quyền công dân, bảovệchế độxã hội chủ nghĩa,bảo vệ lợiích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
23
1.2.2. Đặc điểm của các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xétxửCác nguyên tắc liên quan trực tiếp đến hoạt động xét xử mang đầyđủ
nhữngđặc điểmchung của các nguyên tắctrong tố tụng hìnhsự,đồng thời còn thể hiện những đặc thù riêng, có thể kể ra một số đặc thù sau:
Thứ nhất, các tắc liên quanđếnhoạtđộngxét xử là những phương châm, định hướng trong hoạt động giải quyết vụ án hình sự nói chung và xét xử vụ ánhình sự nói riêng.Điều này đượcthể hiện ở chỗ các nguyên tắc này chi phối toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự, là căncứ để những người THTT áp dụng khi ra bản án, quyếtđịnh
Thứ hai, các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xửđược quántriệt trong quá trình xây dựng pháp luật TTHS và quá trình áp dụng pháp luật TTHS. Các nguyên tắc liên quan đếnhoạt động xét xử đã được các nhà lập phápsửa đổi để phù hợp với sự pháttriển của các quan hệ xã hội trong từng giai đoạn lịchsử của đấtnước.
Thứ ba, các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xétxử được qui định trong Hiến pháp, Bộ luật tố tụng hình sự, và các văn bản pháp luật khác. Đây chính là hình thức thể hiện của các qui phạm pháp luật nói chung và các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử nói riêng.
Thứ tư, các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử có vị trí là trọng tâm cho hoạt động TTHS giải quyết các vụ án hình sự. Vì hoạt động xét xử có vịtrí là trọng tâm trong hoạt động tốtụng hìnhsự nên trong giai đoạn này những người tiến hànhtốtụngcầnphải tuân thủ các nguyên tắc củaluậttố
tụng hình sự trong đó có các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử.
Thứ năm, các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử liên quan trực tiếpđếnviệc bảo đảmquyền con người. Thể hiện ở các nguyên tắc nhưnguyên tắc xét xử công khai, nguyên tắc xét xử có hội thẩm tham gia, nguyên
tắc xét xử tập thể, nguyên tắc hai cấp xét xử…
24
1.2.3. Phân loại các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử
Các nguyên tắc liên quanđến hoạt động xétxử ảnh hưởng tới mục tiêu của các hoạt động này và suy rộng ra nó cònảnh hưởng tớibản chất của nền tư pháp quốc gia. Vì vậy, cần xem xét và phân chia các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử những nguyên tắc này.
Trong khoa học pháp lý việc phân loại nguyên tắcliên quanđến hoạt động xét xửcó thể dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau, cụ thể:
– Dựa vào tính chất của các nguyên tắc thì các nguyên tắc liên quan đến hoạtđộng xét xử được phân chia thành: Nguyên tắc cơ bản và nguyên tắc thông thường. Cách phân loại này nhằm khẳng định tính vượt trội của nguyên tắc cơ bản cả về tính chất và phạm vi áp dụng. Chẳng hạn nguyên tắc bảo đảm pháp chế là nguyên tắc mang tínhhiến địnhlàm nền tảng không chỉ cho hoạtđộng TTHS mà cònđược quántriệt trong việc tổ chức các cơ quan tiến hành tốtụng, khôngchỉáp dụng ở một giai đoạn màđược áp dụng trong toàn bộ
quá trình giải quyếtvụán từ giaiđoạn khởi tố vụ ánđến giai đoạn thi hành án hìnhsự;Hoặc nguyên tắc bảođảman toàn tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người cũng có tính chất và phạm vi áp dụng tương tự nhưnguyêntắcbảo đảm pháp chế như phân tích trên và không chỉ áp dụng trong hoạt động xét xử mà áp dụngcảtrong các hoạt độngđiềutra, truytố và thi hành án hình sự.
Theo cách phân loại này thì nguyên tắc cơ bản: Là những nguyên tắc chi phối toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự trong đó có hoạt động xétxử,còn nguyên tắc thông thường chỉ chi phối một hoặc một phần của một giaiđoạn trong TTHS.
– Dựa vào các tiêu chí quốc tế về quyền con người, các nguyên tắc liên quanđến hoạt động xétxử có thể được phân chia thành hai nhóm: a. Nhóm các nguyên tắc bảo đảman toàn, an ninhvề tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người; b. Nhóm các nguyên tắc bảo đảm xét xử công bằng.
25
-Dựavào phạm vicủacác nguyêntắcliên quanđếnhoạtđộngxét xửcóthểphân loại các nguyêntắcliên quanđếnhoạtđộngxétxửthành các nguyên tắc chungcủahoạtđộngTTHS và các nguyêntắcriêng của hoạt động xét xử.
Việc phân chia các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử cũng như phân chia các nguyên tắc của luật TTHS nói chung đều mang tính chất tương đối. Tuy nhiên, nó cũng có ý nghĩa nhất định trong việc nghiên cứu khoa học. Luận văn này không có tham vọng nghiên cứutất cảcác nguyêntắccủa TTHS hìnhsự liên quanđến hoạtđộng xétxử mà chỉ tập trung nghiên cứu các nguyên tắc liên quan trực tiếp đến hoạt độngnày, mà cụ thể là những nguyêntắc bảo đảmcho việc xét xử khách quan, công bằng.
1.3. Hệ thống các nguyêntắcliên quanđến hoạtđộng xét xử
HoạtđộngTTHS là hoạtđộngcủacác cơ quan tiến hànhtốtụng vànhữngchủthểtham giatốtụng. Hoạtđộngnàyđượchiểu nhưmộthệthống các hành vi tố tụng có trình tự chặt chẽ và làm phát sinh các quan hệxã hội. Những hoạtđộng,những quanhệnàyđược phápluậttốtụng hình sự điều chỉnh. Theo GS.TSKH Đào Trí Úc thì các quy định của pháp luật làmột trong ba yếu tố hợp thành Tố tụng hình sự, trong đó có các nguyên tắc của tốtụng hình sự.
Nguyên tắc của tố tụng hìnhsự là căncứtrước mô hình cấu trúc của Tố tụng hình sự và trước cả các quy định của pháp luậttố tụng hìnhsự.Nguyên tắc không phải là pháp luật thực định mà lànhững đòi hỏi pháp lý có tính khái quát cao, mang màusắclýtưởng, là những yêu cầu, đòi hỏi, là cái cần có. Trong khi đó, pháp luật tố tụng hình sự là cái tồn tại. Cáitồn tạiphải được cảibiến cho phù hợp với yêu cầu của cái cầncó, nhưng trong hiện thực luôn luôn có một khoảng cách giữa hai phạm trù đó [48, tr.54].
26
Hệ thống các nguyên tắc củaluật TTHS nói chung và các nguyên tắc liên quanđếnhoạt động xét xử nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà biểu hiện tập trung nhất vào việc xác định mô hình TTHS. Các nguyên tắc của Tố tụng hình sự đóng vai trò là phương thức,công cụ đểđạtđượccác mục tiêu và nhiệm vụ của Tố tụng hình sự. Trong khi đó, mục tiêu và nhiệm vụcụ thể của Tố tụng hìnhsựkhông thể giống nhau, thậm chívề hình thức có lúc là “trái chiều” với nhau mà chỉ trong tổng thể, với mục tiêu và nhiệmvụchung thì chúng mới nhất quán được với nhau. Vì vậy, gắn với nguyên tắc công tố làcác đòi hỏi về pháp chế trách nhiệmkhởi tốvà xử lývụ án hìnhsự,đòi hỏi xác định chođượcsựthật khách quan của vụ án; không thừa nhận sự suyđoán vô tội. Có thể nói rằng, nhữngđòihỏi này cũng chính là các nguyên tắc của Tố tụng hình sự và chúng là những nguyên tắc đặc trưng cho Tố tụng xét hỏi. Ngược lại, chức năng tranh tụng phát sinh trên cơ sở tôn trọng lợi ích tưcủa các bên tham gia tố tụng. Nguyên tắc tranh tụng đặt ra các yêu cầu về tính tùy nghi truy tố, cho phép xem xét tính hợp lý của việc truy tố và xử lý trách nhiệm hình sự coi kết luận của Tòa án là chân lý cuối cùng của vụ án hình sự (sự thật hình thức), thừa nhận sự suy đoán vô tội. Đây cũng là các nguyên tắc đặc trưng cho mô hình tố tụng tranh tụng. Tuy nhiên, trong xu thế ngày nay các quốc gia đều tìm đến một mô hình TTHS hướng tới việc đạt hiệu quả cao trong quá trình giải quyếtvụ án, đólà một hệ thống có khả năng phản ánh vàghi nhận sự giao thoa của các nguyên tắc với sự bắt nhịp nhạy bén với khuynh hướng của nhận thức xã hội tiến bộ, phản ánh tính trội của những nguyên tắc thể hiện bản chất dân chủ và tiến bộ của Tố tụng hình sự hiện đại. Tư tưởng về sựtôn trọng quyền và tự docủacác bên, về tranh tụng trong Tố tụng hình sự, nguyên tắc suy đoán vô tội phản ánh sự triệt để tôn trọng quyền con người là những tư tưởng nhân văn lớn và có tính pháp quyền cao phảiđược coi lànhững điểm trội trong hệ thống các nguyên tắc củaTố tụnghình sự tiến bộ.
27
Trên cơ sở nhận thức này, thì hệ thống các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xửphải làđiềukiện cho việc thực hiện các mục đích củatố
tụng hình sự. Nếu như mục đích của tốtụng là cái mà các hoạt động của Tố tụng hình sự cần đạt được thì nguyêntắc chỉcho chúng ta thấy rằng,cần đạt được kết quả đó như thế nào. Điều đó có nghĩa là, nguyên tắc có vai trò hỗ trợ cho việc thực hiện mục đích của Tố tụng hình sự trong đó có vaitrò đặcbiệt quan trọng củacác nguyên tắcliên quan đến hoạtđộng xét xử.Theo cách phân loại các nguyên tắc như đã trình bày ở trên thì các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử nằm trong nhóm nguyên tắc về tính chất của hoạt động tốtụng hình sự,đó là các nguyên tắc: Nguyên tắc đảmbảo pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự; Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa cóbảnán kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Nguyên tắc thực hiện chế độhai cấpxét xử;Nguyên tắcbảođảmsựvô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng; Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có hội thẩm tham gia; Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể; Nguyên tắc xét xử công khai và đề xuất đưa thêm nguyêntắcbảođảmtranh tụng trong xét xửvào hệ thống các nguyên tắc liên quanđến hoạt động xét xử.
28
Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, vì thếmà mọi nguyên tắc của tốtụng hìnhsự cũng mang tưtưởng dân chủ và pháp chế. Hoạt động tố tụng hình sự mang tính khách quan tồn tạitrongtất cả các xã hội có giai cấpvà nhà nước, nó là đòi hỏi tấtyếu của Nhà nước khi trừng trịngười phạm tội. Bản thân các hoạt động tốtụng hìnhsựđã có những nguyên tắc (qui luật) cơ bản của nó (những qui luật tự thân của sự việc)hướng tớigiải quyếtvụán khách quan, công bằng. Nhà làm luật, trên cơ sở nhận thức các qui luật khách quan đó ghi nhận trong các qui phạm pháp luật và trở thành những nguyên tắc của luật TTHS. Chính vì vậy, mà luật tố tụng hình sự một quốc gia có nguyên tắc này nhưng nó lại không có trong luật tố tụng hình sự của một quốc gia khác.
Do ®ã t¹i ch¬ng nµy t¸c gi¶®· tËp trung nghiªn cøu các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử, phân tích một số đặc điểm của các nguyên tắc này đồng thời cũng nêu ra các nguyêntắc cụ thểcó liên quan đến hoạt động xétxử mà luận văn đề cậpđến. Hệ thốngcác nguyên tắc liªn quan ®Õn ho¹t®éng xÐt xö không chỉ có ý nghĩa là kim chỉ nam cho toàn bộ hoạtđộng xÐt xö vô ¸n h×nh sù mà còn làtiền đề,căn cứ quan trọng để xây dụng BLTTHS.
29
CÁC NGUYÊNTẮCLIÊN QUAN ĐẾN HOẠTĐỘNGXÉT XỬ
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển các nguyên tắc liên quanđến hoạt động xétxử từ 1945
2.1.1. Các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xétxử giai đoạn từ 1945 đến trước năm 1988
Nói đến hoạt động tư pháp là nói đến hoạt động xét xử của Tòa án cũng như nói đếncơ quan tư pháp là nói đếnTòa án. Thuậtngữ“Tưpháp” có nguồn gốc La tinh là “Justice” có nghĩa là công lý, mà đã là công lý thì phải gắn liền với hoạt động xét xử tức là hoạt động của tòa án.
Hiến pháp năm 1946 rađời đánh dấumột bước ngoặt về tổchức của ngành tòa án. Theo quyđịnh tại Điều63 Hiến pháp 1946, cơ quan tư pháp gồmcó: Tòa án tối cao, các tòa phúc thẩm, các tòa đệ nhị cấp và sơ cấp. Tòa án tối cao được thành lập, nhưng chịu sự quản lýcủaChính phủ. Các thẩm phán của Tòa án do Chủ tịch nước bổ nhiệm nhưng thực chất là do Chính phủbổ nhiệm bởi Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước cũng là thành viên của Chính phủ.Hệthống tòa ánđượctổchức theo các nguyên tắc: Tòa án độc lập đối với hành chính; các thẩm phán do Chính phủ bổ nhiệm; xử các việc hình cóphụthẩm nhân dân tham gia; khi xétxử các viên thẩm phán chỉtuân theo pháp luật, các cơ quan khác không đượcphép can thiệp; các phiên tòađều được công khai,trừnhững trường hợp đặc biệt; bị cáo có quyền tự bào chữa lấyhoặc tìm luật sư; quốc dân thiểu số có quyền dùng tiếng nói của mình trước Tòa án. Đây có thể coi là nền móng của các nguyên tắc như nguyên tắc bảo đảmquyền bào chữa của bị can,bịcáo và nguyên tắc tiếng nói vàchữviết trong tố tụng hình sự của các Bộ luật tố tụng hình sự sau thời kỳ này.
30
Hiến pháp năm 1959 ghi nhận Tòa án quân sự (Tòa án quân sự trungương và các tòa án quân sự quân khu, quân binh chủng, sư đoàn trực thuộc Bộquốc phòng và tương đương) cũng thuộc hệthống Tòa án nhân dân, nhưng được tổchức trong quânđội.Hệ thống Tòa án nhân dân đượctổchức theo nguyên tắc haicấpxétxửkếthợp với đơn vị hành chính lãnh thổ. Các nguyên tắc tổchức và hoạtđộngkhác củaTòa án thờikỳ1946-1959vẫnđượckế thừa và phát triển. Ví dụ như: Khi xét xử, Tòa án nhân dân có quyềnđộclậpvàchỉtuân theo pháp luật(Điều100 Hiến pháp 1959); việc xétxử
của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia… Hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm phán (Điều 99 Hiến pháp 1959); Tòa án nhân dân xét xửcông khai;đảmbảoquyền bào chữa của bị cáo(Điều101 Hiến pháp 1959); Tòa án xét xử theo nguyên tắc mọi côngdân đềucó quyền bìnhđẳng
trước phápluật…
Đối với nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đã được quiđịnhtrong các quyđịnh về hoạtđộng xét xử củaToà án đã thể hiện việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người.Cụthể Thông tưsố2225/HCTPvềchấn chỉnh việc thực hiện quyền bào chữa của bị can ngày 24/10/1956 của Bộ Tư pháp đã hướng dẫn:“Không nên có định kiếnrằng hễ ngườibịtruy tố là nhất định có tội mà đối xửnhưvớingườicó tội; bị can trước khi tuyên án được coi như vô tội để Toà án cótháiđộ hoàn toàn khách quan” [3].Để đảmbảo việc khách quan, vô tư, không định kiến bị cáo có tội trước khi xét xử của Toà án. Ngoài ra, Thông số16/TATC ngày 27/9/1974 của Toà án nhân dân tối cao đã đưa ra hướng dẫn có tính nguyên tắc trong hoạt động xétxửnói chung và xét hỏi tại phiên toànói riêng như sau:
Việc xét hỏi tại phiên toà nhằm trực tiếp và công khai thẩm tra lại các chứng cứ củavụán. Dođó,Hội đồngxét xử phải xét hỏi
31
một cách khách quan. Cần tránh tư tưởng quá tin vào hồ sơ mà coi nhẹ tác dụng của việc xét hỏi tại phiên toà hoặc cho rằng việc xét hỏi chỉ nhằm buộc tội bị can phải xác nhận những lời mà họ đã khai ở cơ quan điều tra [43].
Như vậy, những nội dung của nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trong giai đoạn xét xửđã được thểhiện trong các văn bản hướngdẫncủacơ quan xét xử cao nhất. Tuy chưa trở thành nguyên tắc nhưng những tư tưởng này đã góp phần định hướng cho hoạt động xét xử của Toà án..
– Sự phát triển của nguyên tắc xét xử công khai.
Nguyên tắc xét xử công khai được quy định trong Hiến pháp các năm của nước ta. Tại Điều67 – Hiến pháp 1946 quyđịnh:“Các phiên tòa phải công khai, trừ trường hợp đặc biệt” [31, Điều 67]..TạiĐiều 101 – Hiến pháp 1959 quyđịnh:“Việc xétxử tại các tòa án nhân dânđềucông khai, trừ
trường hợp Luật định…” [32, Điều 101].
– Sự phát triển của nguyên tắc haicấpxét xử.
Ngay từ ngày đầu tồn tại Nhà nước dân chủ nhân dân, Nhà nước ta đãthực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử.
Vềmặttổchức,Điềuthứ63 Hiến pháp năm 1946 quyđịnhcơ quan tưpháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà gồm có Toà án tối cao, các Toà án phúc thẩm, các Toà án đệ nhị cấp và sơ cấp. Theo Sắc lệnh số 85-SL ngày 22-5- 1950 thì các Toà án ở nước ta gồm có Toà án nhân dân huyện, Toà án nhân dân
tỉnh, Toà án nhân dân phúc thẩm khu hoặc thànhphốvà Toà án nhân dân tối cao; trong đó các Toà án nhân dân huyện và Toà án nhân dân tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án. Đến năm 1959, các Toà án phúc thẩm thành phố, liên khu được nhập lại thành các Toà án nhân dân phúc thẩm Hà Nội, Hải Phòng vàVinh với nhiệm vụ chủ yếu là xử lại những án bị kháng cáo của các Toà án nhân
32
dân thành phố và tỉnh. Các Toà án nhân dân phúc thẩm là một cấp Toà án ở giữa Toà án nhân dân tỉnh, thành phố và Toà án nhân dân tối cao (Thông tư số 92-TC ngày 11-11-1959 của Liên bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao).
Đếnnăm 1952, Nghị định số32-NĐ ngày 6-4-1952 quyđịnhthẩm quyền các các Toà án nhân dân, trong đó Toà án nhân dân huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm hoặc xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm một số loại vụ án; Toà án nhân dân tỉnh xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm (chung thẩm)đối với cácvụ án mà Toà án nhân dân huyện đã xét xử sơ thẩm.
Như vậy, từ góc độ tổ chức và tố tụng nguyên tắc haicấp xét xử ở nước ta thời kỳ này được thực hiện tương đối linh hoạt. Từ chỗ tổ chức toà án theo cấpxét xử kết hợpvới hành chính lãnhthổvớichức năngtố tụng rõ ràng chuyển sangtổchức toà án theo đơnvị hành chính lãnh thổ làchủyếuvà phân công thực hiện chức năng tố tụng trong mỗi Toà án. Việc xét xử sơ thẩmđồng thờichung thẩm được thựchiện đốivới một số vụ án dân sự, thương sựcó giá ngạch thấp, một số vụ án hình sự về tội vi cảnh. Các Toà án phúc thẩmđộc lập vớiToà án nhân dân tối cao.
Ngày 14-7-1960, Luậttổ chức Toà án nhân dân đầutiên được ban hành. Và cũng trong Luật này,lầnđầu tiên về mặtluật định nguyên tắc hai cấpxét xử được ghi nhận. Điều 9 của Luật khẳng định: Toà án nhân dân thực hành chế độ hai cấp xét xử. Đương sự có quyền chống bản án hoặc quyếtđịnh của Toà án nhân dân xử sơ thẩm lên Toà án nhân dân trên một cấp. Viện kiểm sát nhân dân cũng cấp và trên một cấp có quyền kháng nghị bản án hoặc quyếtđịnhsơ thẩmcủaToà án nhân dân.Nếuđương sự không chống án và Viện kiểm sát nhân dân không kháng nghị trong thời hạn do pháp luật qui định thì bản án, quyếtđịnhsơ thẩmcủaTòa án nhân dân địa phươngsẽcó hiệu lực pháp luật. Bản án, quyếtđịnh phúc thẩm của các Toà án nhân dân,bảnán, quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân tối cao là chung thẩm. Các bảnán tử
33
hình phảiđược Hội đồng toàn thể thẩm phán Toà án nhân dântốicao duyệt lại trước khi thi hành.
– Sự phát triển của nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lậpvà chỉ tuân theo pháp luật.
Ở Việt Nam, ngày 24/01/1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủcộng hòa đãban hành Sắc lệnh 13/SLvề tổ chức Tòa án và ngạch Thẩm phán. Sắc lệnh 13/SL lần đầu tiên quy định về độc lập xét xử, theo đó,Điều47 Sắc lệnh 13/SL quy định: “Tòa án tư pháp sẽ độc lập đối với các cơ quan hành chính, các vị Thẩm phán sẽ chỉ trọng pháp luật và công lý, các cơ quan khác không được can thiệp vào việc tư pháp” [15].
Để bảođảmsựđộc lậpcủa Thẩm phán,Điều50 Sắc lệnh 13/SL quyđịnh: “Mỗi Thẩm phán xử án quyếtđịnh theo pháp luật và lương tâm của mình, không quyền lực nàođược can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào công việcxử án”[15].
Việc tuyển chọn Thẩm phánđược Sắc lệnh 13/SL ghi rõ: “Tuyển bổvào ngạch tư pháp sau này sẽ khó khăn để gây cho ngạch ấy một uy tínđược tôn trọng”[15].Bộ trưởngBộ Tư pháp Vũ Trọng Khánh khi trình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh:
Thà không có Thẩm phán còn hơn có ngườimà vô tài, vô hạnh. Khilậpmột hạng người có quyền xét xử và làm tội người khác, bản Bộ thấy rõ trách nhiệm đối với nội trị và cả đối với ngoại giao nữa. BảnBộ không quên rằng, người ngoại quốc khi tới một nước, trước khi hoạt động về kinh tế hay làm một việc gì vẫn tự hỏi luật lệvà Thẩm phánở nướcấy có đủ minh bạch và công bằng để bảo đảmcho họ không? [27].
Để bảo đảm Thẩm phánxét xửđộc lậpvà công minh, Điều 75 Sắc lệnh 13/SL quy định:
34
Không ai có thể bắt bớ, giamcầm mộtThẩm phánbấtcứ lý lẽgì, nếu không được Bộ trưởngBộ Tư pháp thỏa thuận trước. Nếu một Thẩm phán can trọng tội hay khinh tội thì Chưởng lý Tòa thượng thẩm tự mình hay giao cho một Thẩm phán Công tố viện đi điều tra rồi đệ trình lên Bộ trưởng Bộ Tư pháp để vị này quyếtđịnh có nên hay không nên truy tố [15, Điều 75].
Hiến pháp năm 1946 quy định:
Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gồm có: Tòa án tối cao, Các Tòa án phúc thẩm, Các Tòa ánđệ nhị cấp và sơcấpvà tiếptụckhẳngđịnh:Trong khi xétxử,các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp [31, Điều 63].
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng, trong giai đoạn đầu tiên hình thành hệ thống Tòa án ở Việt Nam, tư tưởng về độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật đã được quy địnhtrong Sắc lệnh 13/SL và Hiến pháp năm 1946.
Tháng 4 năm 1958, Quốc hội quyết định thành lập Tòa án nhân dân tối cao và Viện công tố nhân dân trung ương, tách hệ thống Tòa án và Viện công tố ra khỏi Bộ Tư pháp. Quyết định này sau đó được ghi nhận trong Hiến pháp 1959, đánh dấumốchình thành và phát triển ngành Tòa án.Điều100 Hiến pháp 1959 quyđịnh:“Khi xét xử,Tòa án có quyền độc lậpvà chỉ tuân theo pháp luật” [32, Điều 100].
Điều131 Hiến pháp 1980 quy định: “Khi xétxử,Thẩm phán và Hội thẩm độc lậpvà chỉ tuân theo pháp luật” [33, Điều 131], Điều 6 Luật tổ chức Tòa án năm 1981 cũng quy định: “Khi xét xử,Thẩm phán và Hội thẩm độc lậpvà chỉ tuân theo phápluật”[34, Điều 6].
Tóm lại, những nội dung của các nguyên tắcliên quan đếnhoạtđộng xét xử cũng được thừa nhận ở mức độ này hay mức độ khác ở những vănbản
35
hướng dẫn áp dụng pháp luật khác nhau đồng thờisự phát triển của các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử cũng gắn liền với sự hình thành vàphát triển củahệthống tòa án nước ta.
2.1.2. Các nguyên tắc liên quan đến hoạt động xét xử theo Bộ Luật tố tụng hình sự năm 1988
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CÁC NGUYÊN TẮC LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN TẠI ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH)
CÁC NGUYÊN TẮC LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN TẠI ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH) CÁC NGUYÊN TẮC LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN TẠI ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH) CÁC NGUYÊN TẮC LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN TẠI ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH) CÁC NGUYÊN TẮC LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN TẠI ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH)

