Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử xã hội loài người, là một trong những giá trị tinh thần quý báu và cao cả nhất của nền văn minh nhân loại trong thờiđạihiện nay. Quyền conngườibaogồmnhững quyền không thể tước bỏ, do đó, bảo vệ quyền con người chính là những bảođảmpháp lý toàn cầu, có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hànhđộnghoặcsựbỏmặclàmtổnhạiđếnquyền con người. ỞViệt Nam, bảo vệ quyền con người đã được Đảng và Nhà nước Việt Namđặc biệt quan tâm, chú trọng. Điều này được thể hiện ở thành quả về xây dựng lý luận về bảovệ quyền con người cũng như thực tiễnbảo đảmquyền con người, nhưCương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã chỉ rõ: “Con ngườilà trung tâm của chiến lược phát triển, đồngthời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợiíchcủadân tộc, đấtnướcvà quyền làmchủcủanhândân” [31, tr.76];“Nhà nướctôn trọng vàbảođảmcác quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người” [31, tr.85]. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) tại Đại hội lần thứ XI của Đảng khẳngđịnh:“Nhànướcchăm lo, phục vụnhân dân, bảođảmquyền, lợiích chính đáng của mọi người dân” [31, tr.247]. Chiến lược phát triển kinh tế – xãhội 2011 – 2020 cũng nhấn mạnh: “Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tốcon người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêucủa sựpháttriển”;“Phảibảo đảmquyền con người, quyền công dân và các điều kiệnđể mọi người được phát triển toàn diện” [31, tr.100].
Đốitượngngườichưa thành niên (nói chung) vàtrẻem (nói riêng),bộphận chiếm tỷ lệ khá lớn, là những chủ thể đặc biệt (có những đặc điểm riêng vềtâm sinh lý và sự phát triển), do chưa biết cách tự bảo vệ mình khi đứng trước những sự kiện pháp lý (là những tình huống, hiện tượng, quá trình xảy ra trong
2
đời sống có liên quan với sự xuất hiện, thay đổi và chấm dứt các quan hệ pháp luật) có liên quan, nên cần phải có những bảo đảm pháp lý đầy đủ, cần thiết vàđáp ứng phù hợp. Nhận thức được tầm quan trọng này, trong những năm qua,Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều hoạt động thiết thực nhằm thúc đẩy việc bảo vệ trẻ em và người chưa thành niên. Việt Nam là quốc gia thứ 2 trên thếgiới ký Công ước về quyền trẻ em. Việt Nam cũng đã xây dựng được một hệthống pháp luật khá đầy đủ tạo căn cứ pháp lý quan trọng cho các cơ quan bảo vệ pháp luật để bảo vệ trẻ em nói chung và người chưa thành niên trong các vụán hình sự nói riêng.
Liên quanđếnlĩnhvựctư pháp hìnhsự,trong thời gian qua, NCTNPTđang có xu hướng gia tăng về số lượng và mức độ nguy hiểm của hành vi (theo VKSND tối cao “tỷ lệ tội phạm vị thành niên bị VKSND truy tố đã tăng lên; tỷlệ tăng bình quân 10% hàng năm”). Do đó, khi phải đối mặt với những sự kiện pháp lý như đã nêu, NCTN cần một sự bảo đảm vững chắc và hữu hiệu từ phía những quy định của pháp luật TTHS. Yêu cầu này đòi hỏi, bên cạnh các biện pháp nhằm bảo đảm và bảo vệ NCTN trong xã hội, thì Nhà nước, các cơ quan tiến hành tố tụng cần có những điều chỉnh kịp thời, thích hợp (về chính sách hình sự cũng như thủ tục tố tụng) dành cho đối tượng này để bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của họ khi tham gia tố tụng. Điều này không ngoài mục đích bảo vệquyền conngườitrongtốtụng hìnhsự;phùhợpvớixuthếnhânđạohóa của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự trong nhà nước pháp quyền.
Hiện tại Việt Nam chưa có hệ thống tư pháp dành riêng cho NCTN theođúng ý nghĩa của thuật ngữ này. Về thể chế, chúng ta mới chỉ có Chương XXXII (từ Điều 301 đến Điều 310) BLTTHS quy định về thủ tục tố tụng đối với NCTN. Tuy nhiên, các quy định này chưa đủ chi tiết, cụ thể để các cán bộ tiến hành tốtụng bảo đảm hệ thống được vận hành phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Dođó, trên thực tế, như nhận định của của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 08/NQ- TƯ ngày 02/01/2001: Công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người
3
vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp. Điều này đồng nghĩa với việc quyền, lợi ích của con người (trong đó có thể có NCTN) chưa thực sựđược bảo vệ.
Chính vì vậy, tácgiảchọn việc nghiêncứuđềtài Luận án “Bảovệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hìnhsựViệt Nam”vớimong muốn có những đóng góp khôngchỉcho việc bảovệ tốt nhấtquyền và lợi ích chính đáng của NCTN mà còn thực hiện thắng
lợi công cuộc cải cách tư pháp, góp phần xây dựng thành công nhà nước pháp quyền XHCN.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu
– Mục đích tổng quan: Luận án giải quyết toàn diện, đầy đủ sâu sắc và cóhệ thống những vấn đề lý luận về quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong tốtụng hìnhsự;thông qua việc phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạtđộng tố tụng hình sự liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên và đề ra các giải pháp. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự, tố tụng hình sự; nâng cao nhận thức của các chủthể tiến hành tố tụng, cũng như toàn xã hội trong việc bảo vệ tốt hơn quyền vàlợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS.
– Mục tiêu cụ thể:
Hướng tới việc hoàn thiện hệ thống tư pháp trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN. Chỉ ra những yêu cầu của việc bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của NCTN trong điều kiện xây dựng xã hội công bằng, tất cả vìgiá trị của con người; theo đó:
+ Đề xuất kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật thực định trong lĩnh vực tư pháp hình sự bảo vệ quyền của NCTN tại Việt Nam;
+ Đề xuất những giải pháp hoàn thiện hệ thống tư pháp hình sự bảo vệquyền của NCTN của Việt Nam và các thiết chế gia đình – xã hội bảo đảm khác.
4
2.2. Nhiệm vụ
Trên cơ sở mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể, đề tài hướng tới các nhiệm vụ sau:
Một là, làm rõ hệ thống quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam;
Hai là, làm rõ những quy định và yêu cầu của pháp luật tư pháp hình sựQuốc tế trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN;
Ba là, chỉra nhữngbấtcập,hạnchếtrong các quyđịnhcủapháp luật TTHS Việt Nam trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN, cũng nhưnhững tồn tại trong thực tiễn áp dụng của hệ thống tư pháp hình sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
Bốnlà, kiến giảihướngtớihoàn thiện các quyđịnhcủapháp luật thựcđịnh và hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng đặc thù nhằm bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của NCTN.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu
Căn cứ trên mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên, đối tượng mà đề tài Luận án tập trung nghiên cứu là những vấn đề sau:
Thứnhất,hệthống pháp luật quốctế vàpháp luật Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Người chưa thành niên;
Nếucăncứquyđịnhcủapháp luật Việt Nam, khái niệm“ngườichưa thànhniên”hoàn toàn khácvới“trẻem”.Mặcdù còn nhiều quanđiểmkhác nhau, nhưng trong Luận án, tác giả nghiên cứu về “người chưa thành niên” làngười dưới 18 tuổi, do độ tuổi này phù hợp với quy định chung về “trẻ em” theo pháp luật quốc tế (Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989), đồng thời, độ tuổi này cũng được yêu cầu bảo vệ khá phổ biến trong các văn kiện pháp luật quốc tế. Do đó, khi nghiên cứu các quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chuẩn mực
5
quốc tế, thuật ngữ “trẻ em” nhằm chỉ nhóm đối tượng tất cả những người dưới 18 tuổi, hoàn toàn phù hợp vớiđối tượngNCTN mà tác giả nghiên cứu trong luận án.
Khi xem xét đánh giá đối với hệ thống pháp luật TTHS Việt Nam, mặc dùtênĐềtàichỉphạm vi “theo pháp luật TTHS Việt Nam” nhưng do pháp luật TTHS là luật hình thức, việc nghiên cứu không thể toàn diện nếu không gắn với việc nghiên cứu các quy định của luật nội dung – pháp luật Hình sự. Do đó, trong Luận án, tác giả sẽ nghiên cứu các quy định của cả hai Bộ luật này để làm rõ các quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN.
Thứ hai, nghiên cứu về cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
NCTN tham gia trong TTHS với các tư cách chủ thể khác nhau như người phạm tội, người bị hại, người làm chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan… Tuy nhiên, do TTHS thực chất là mối quan hệ quyền lực, trong đó bên cóquyền lực áp dụng các biện pháp cưỡng chế là Nhà nước mà đại diện là các cơquan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị tình nghi, bị can, bị cáo là những người thuộc phíayếuthế(do trong quan hệ này, quyền lực nhằm vàohọ, họ phảiđối mặtvới cả bộ máycác cơ quan nhà nước buộctộihọvớiđộingũ cánbộđược trảlương và cungcấpcác trangbịcần thiết, có các kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ và kiến thức pháp luật, người bị buộc tội có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn và khó có khả năng bìnhđẳng với bên buộc tội trong việc chứng minh, thu thập chứng cứ và trình bày chứng cứ; không dễ dàng gì trong việc sử dụng quyền tiếpcậncông lý như thuê luật sư, tìm và hiểu các quy định của pháp luật, các thủ tục tố tụng). Mặt khác, do những đặc điểm riêng biệt về tâm sinh lý, nhận thức của lứa tuổi, nên đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật, nguy cơ bị các cơ quan tiến hành
tố tụng/người tiến hành tố tụng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họlà có biểu hiện rõrệtnhất trong suốt quá trình tiến hànhtốtụng. Dođó,
6
trong phạm vi nghiên cứu của Đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu về nhóm đối tượngNCTN phạm tội, và trong Luận án, tác giả sử dụng cụm từ NCTN trong quá trình phân tích các thủ tục TTHS chính là nói đến nhóm chủ thể này.
Mặtkhác, theo pháp luật TTHS Việt Nam, TTHSgồmcác giaiđoạn:
Điều tra – Truy tố – Xét xử – Thi hành án. Tuy nhiên, xuất phát từ quan điểm thi hành án không phải là một khâu trong chuỗi các hoạt động tố tụng hình sự màcần phải tách ra thành một hệ thống pháp luật, ngành khoa học nghiên cứu riêng và do giai đoạn Thi hành án đã được điều chỉnh chi tiết bằng Luật Thi hành án hình sự, nên trong Luận án, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN phạm tội trong ba giai đoạn: Điều tra, Truy tố và Xét xửsơ thẩm.
3.2. Phạm vi nghiên cứu – Phạm vi về không gian:
+ Quốc tế: Đặc điểm của quyền con người là có tính phổ biến (cái chung), tuy nhiên quyềncủaNCTNlạicó tínhđặcthù (cái riêng). Dođó,phạm vi nghiên cứu trước hết là quyền của NCTN nói chung trong các lĩnh vực của đời sống xã hội trên phạm vi quốc tế, được ghi nhận trong hệ thống pháp luật quốc tếnhư các công ước, điều ước quốc tế. Trong phạm vi này, tác giả sẽ phân tích nội dung, tính chất, đặc điểm các quyền của NCTN trong Tư pháp hình sự quốc tế; những biện pháp, cơ chế bảo vệ các quyền này. Những nghiên cứu này sẽ làm cơsở để so sánh, đánh giá pháp luật, thực tiễn Việt Nam trong việc bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS.
+ Việt Nam: tác giả nghiên cứu về quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong phạm vi các quy định của Việt Nam, bao gồm: các quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề quyền con người, quyền của NCTN, quyền và lợi ích hợp phápcủaNCTN trong TTHS;vềvai trò, nhiệmvụbảovệquyền con người (trong đó có quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN) của pháp luật TTHS trong
nhà nước pháp quyền…; những quy định của PLHS và TTHS về vấn đề bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN, cũng như các vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn áp dụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng khi giải quyết các vụán liên quan đến NCTN.
– Phạm vi về thời gian: Việc nghiên cứu được tác giả phạm vi trong mốc thời giantừthờiđiểmcó hiệulực củaBLTHS 2003 (ngày 1/7/2004) đến thờiđiểm hiện tại.
4. Ý nghĩa và các đóng góp mới của luận án 4.1. Ý nghĩa
-Ýnghĩa về lý luận: Kếtquả nghiêncứu củaluận án làm giàu thêm lýluận về quyền của NCTN nói chung và quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong tố tụng hình sự nói riêng. Góp phần luận giải tính phổ biến và tính đặc thùcủaquyền con người, đólà:đồngthờivớiviệc coi quyền conngườilà giátrịđược thừa nhận chung, thì nó cũng được cụ thể hóa trong các lĩnh vực của đời sống xã hội (như tố tụng hình sự), với từng đối tượng cụ thể (người chưa thành niên) và ở từng quốc gia (Việt Nam).
– Ý nghĩa về thực tiễn: Thực tiễn công tác tư pháp hình sự của chúng ta trong thời gian qua cho thấy, quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS vẫn chưa được bảo vệ tốt nhất. Điều này xuất phát từ việc xã hội, nhà nước nói chung và các nhân viên tư pháp hình sự chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ quyền của NCTN trong TTHS. Với việc đưa ra nhận thức đầy đủ, toàn diện, cóhệthống lý luậnvềquyềncủaNCTN trong TTHS và phân tích thực trạng của vấn đề này sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật TTHS, đem đến sựnhận thức đúng đắn đối với các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm mục đích cuối cùng là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong thực tế.
4.2. Những đóng góp mới của luận án
Với phương pháp tiếp cận hiện đại, phương pháp tiếp cận liên ngành khoa học xã hội: Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Tội phạm học, Nạn nhân học, Xã
hộihọc, Giáodụchọc, Tâm líhọc…tácgiảmong muốn trên cơsởluận giải
8
những vấn đề lý luận và thực tiễn cần thiết, Luận án sẽ đưa ra những giải pháp, kiến nghị có giá trị thực tiễn cao nhằm hoàn thiện thể chế, thiết chế (các cơ quan tiến hành tố tụng) cũng như các thiết chế gia đình – xã hội, bao gồm:
Thứ nhất, nghiên cứu, đề xuất một số khái niệm về ” Quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” và “Bảo vệ Quyền vàlợi ích hợp pháp của NCTN theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam”;
Thứ hai, đánh giá đầy đủ, hoàn chỉnh qua đó làm rõ những bất cập, thiếu sót, vướng mắc đối với các quy định của BLTTHS 2003 trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN cũng như thực tiễn áp dụng;
Thứ ba, nghiên cứu, đề xuất việc xây dựng bổ sung những quy định thểchế; thiết chế TTHS; gia đình – xã hội đặc thù cho NCTN nhằm tăng cường hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN vi phạm pháp luật.
5. Kết cấu của luận án
Ngoài phầnmởđầu,kếtluận, danhmụctài liệu tham khảo vàphụlục, luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự
Chương 3: Thực trạng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 4: Các giải pháp nhằm bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
9
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Quyền conngười(nói chung) và quyềncủaNCTN làmộttrong những vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong suốt các giai đoạn phát triển của lịch sử nhân loại. Trong luận án này, khi nghiên cứu vấn đề bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của NCTN, tác giả sẽ tập trung xem xét trong khoa học pháp lý Quốc tế và Việt Nam: vấn đề này đã được đặt ra từ khi nào? ở đâu?đã giải quyết được đến đâu? Còn những vấn đề gì về lý luận cũng như thực tiễn cần tiếp tục đặt ra và giải quyết? Đây chính là cơ sở cho việc đưa ra những kết quả nghiên cứu mới trong lĩnh vực này.
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.2. Tình hình nghiêncứu ởViệt Nam
1.1.3. Đánh giá
Qua nghiên cứu các công trình nêu trên, chúng tôi có thể đưa ra một sốnhận xét như sau:
Thứ nhất, vấn đề quyền con người là vấn đề cơ bản, mang tính thời sự cóý nghĩa quan trọng về tư tưởng, lý luận và thực tiễn. Nó đã và đang được quan tâm nghiên cứu không chỉ dừng lại ở phạm vi chuyên môn hẹp của ngành khoa học nào đó mà đang trở thành đối tượng nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực của khoa học xã hội, trong đó có khoa học pháp lý, cũng đi theo hướng nghiên cứu này. Các công trình nghiên cứu về quyền con người sẽ là nền tảng để tác giả tiếp cận sâu hơn quyền con người của nhóm “yếu thế” là NCTN và trong lĩnh vực cụthể là TTHS.
Thứhai, quyền conngườitrong khoahọcpháp lý cóthểtiếp cận theo lĩnhvựcpháp luật hoặc theođốitượngcụthể(nhưphụnữ,trẻem, người bị buộctội…) hoặc kết hợp cả hai xu hướng này,vấn đề”quyền và
20
lợiíchhợpphápcủaNCTN trong TTHS” làmộtvídụcho xu hướng nghiên cứu kết hợp này.
Thứ ba, vẫn còn “khoảng trống” trong nghiên cứu với đối tượng đặc biệt là NCTN; cụ thể là: chưa có nghiên cứu đầy đủ, toàn diện, chuyên sâu, có hệthống cả về lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn TTHS các vấn đề liên quanđến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN. Các công trình nghiên cứu vềNCTN chỉ tập trung vào các quyền tố tụng của họ trong so sánh với các quyền của người đã thành niên. Từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện thủ tục tố tụng cho NCTN mà không chỉ rõ cơ sở lý luận của việc quy định những đặc thù vềthủ tục tố tụng với NCTN xuất phát từ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Nói cách khác chỉ tiếp cận vấn đề quyền của NCTN dưới góc độ TTHS mà chưa cócách tiếp cận rộng hơn dưới góc độ quyền con người. Bởi lẽ, bảo vệ quyền và lợiíchhợppháp của NCTN trong TTHS hoàn toàn rộng hơn sovớibảovệbằng pháp luật TTHS, bởi còn phải xuất phát từ yêu cầu bảo đảm thực hiện bằng các thiếtchếgia đình – xã hội. Dođó,việc nghiêncứuthủtụcTTHSvớiNCTN nhằm hoàn thiện nó chỉ là một trong nhiều giải pháp khác nhau.
Chính vì vậy, liên quanđếnlý luậnvềquyền vàlợiíchhợppháp của NCTN trong TTHS, tác giả thấy cần phải làm rõ một số vấn đề như: quyền con người nói chung và quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong lĩnh vực TTHS; Tác động qua lại trong mối quan hệ giữa quyền con người và quyền của NCTN trong TTHS… Những nghiên cứu này được đặt ra trên cơ sở mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái phổ biến và cái đặc thù. Do đó, khi chưa làm rõ những vấnđềlý luận này thìtấtyếukhôngthểcó những đánh giá khoa học, có sức thuyết phục về thực trạng vấn đề này trong thực tiễn và đề ra biện pháp, cơ chếhữu hiệu nhằm bảo vệ hiệu quả nhất quyền và lợi ích hợp pháp của nhóm đối tượng này trong tố TTHS. Nếu không tiếp cận dưới góc độ quyền con người thìviệcđềxuất hoàn thiện cácthủtụcTTHSđốivớiNCTNsẽkhó toàn diện vàthiếu thuyết phục.
21
1.2. MỘT SỐ NỘI DUNG CẦN TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT TRONG LUẬN ÁN
Thứ nhất, khái niệm quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN tuy đã đươc một số nhà nghiên cứu trong nước sử dụng, đề cập nhưng lại chưa có sự nghiên cứu luận giải để đưa ra khái niệm và phân tích nội hàm của khái niệm “quyền vàlợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS Việt Nam”; chưa được các công trình nghiên cứu trong nước giải quyết thấu đáo, thuyết phục. Bởi vì, quyền và lợi ích hợp pháp không chỉ dừng lại ở việc pháp luật thực định quy định như thế nào. Nói cách khác, không phải chỉ xuất phát từ ý chí chủ quan của nhà làm luật mà
chúng ta cần dựa vào chính đòi hỏi, nhu cầu của NCTN và xu hướng của pháp luật TTHS trong nhànướcpháp quyền mà chú trọngđặcbiệtđếnnhómđối tượng “yếu thế” này.
Mặt khác, chính tính đặc thù trong nội hàm của khái niệm “quyền và lợiích hợp pháp của NCTN trong TTHS” sẽ quy định thủ tục TTHS và rộng hơn làchính sách hìnhsự,TTHScủaNhànướcta.Từđó,tácgiảsửdụnghệthống pháp luật TTHS, tổ chức các cơ quan và thiết chế khác tham gia vào TTHS để lýgiải, đánhgiá và đềxuất kiến nghị nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS.
Thứ hai, vấnđề Bảo vệ quyềnvà lợi ích hợp pháp của NCTN trong hệ thống tư pháp hình sự (thế giới và Việt Nam) cần được so sánh, phân tích vàluận giải.
Thứ ba, cần so sánh các quyền của NCTN với người đã thành niên tham gia TTHS để tìm sự khác biệt, qua đó tìm những “khoảng trống pháp lý” còn tồn tại;
Thứ tư, thực trạng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong các hoạt động TTHS ở Việt Nam hiện nay cần được quan tâm nghiên cứu, bởi vì đây là cơsởđểđưara các giải pháp. Vì vậy, tácgiảđã nghiên cứu đánh giá thực trạng thực hiện quyền của NCTN ở Việt Nam từ 2004 đến 2011 (nhận thức vềquyền và lợi ích hợp pháp của NCTN từ phía các cơ quan, người tiến hành tốtụng và bản thân họ hiểu thế nào về các quyền tố tụng của mình; thực tế việc sử
22
dụng quyềncủacácchủthểNCTN tham gia TTHS; vai trò tham giacủahọtrong giải quyết VAHS);
Thứ năm, các nghiên cứu nước ngoài đã phân tích và làm sáng tỏ về việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN, đồng thời đã áp dụng thành công trên thực tiễn. Tuy nhiên, ở Việt Nam, các cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong pháp luật TTHS chưa hề được đề cập nghiên cứu ở mứcđộ cần thiết.
Thứ sáu, các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và hoàn thiện các thiết chế bảo đảm quyền của NCTN trong TTHS phù hợp với tình hình của Việt Nam hiện nay và hướng phát triển đến năm 2020.
1.3. CÁC CÂU HỎI ĐẶT RA KHI NGHIÊN CỨU
Với mục đích tiếp cận Quyền con người của NCTN trong TTHS, làm sâu sắc thêm TTHS cả về phương diện lý luận và thực tiễn, tác giả cần làm rõ mối quanhệgiữa Quyền conngười(trongđócó quyền vàlợiíchhợppháp của NCTN) với TTHS); mối quan hệ này, tiếp theo, sẽ đóng vai trò là “cầu nối” giữa Luật Hình sự – Tố tụng hình sự – Quyền con người. Để giải quyết được hai vấnđề lớn này, cần đặt ra giả thuyết nghiên cứu như sau:
Quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN theo pháp luật TTHS Việt Nam chưa được bảo vệ hiệu quả do BLTTHS chưa thể chế hóa đầy đủ, cụ thể các tiêu chí bảo đảm, bảo vệ quyền của NCTN theo pháp luật quốc tế; ngoài ra, chưa tổ chức được thiết chế đặc thù hoặc đã có nhưng hoạt động kém hiệu quả trên thực tế.
Từ đó, tác giả cần nghiên cứu và giải đáp có hệ thống các câu hỏi, cụ thể:
1. Khái niệm quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN? Khái niệm quyền vàlợiíchhợpphápcủaNCTN trong TTHS? Quyền vàlợiíchhợppháp của NCTNPT trong TTHS Việt Nam? Lịch sử bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS Việt Nam; xu hướng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong hệ thống tư pháp hình sự thế giới và Việt Nam?
23
2. Thực trạng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong các giaiđoạn TTHS ở Việt Nam từ năm 2004 đến nay: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam? Tổ chức các thiết chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS?
3. Các yêu cầu về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN ở Việt Nam giaiđoạnhiện nay,hướngđếnnăm 2020? Các giải pháp hoàn thiệnhệthống pháp luật TTHS Việt Nam nhằmbảovệhiệuquảquyền vàlợiích hợp pháp của NCTN? Các giải pháp hoàn thiện các thiết chế bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS ở Việt Nam?
1.4. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơsởlý thuyết làm phương pháp luận cho nghiên cứu: Luận ánsửdụngmộtsốhọcthuyết, quanđiểmlàm quanđiểmtiếpcậntrong quá trình nghiên cứu, cụ thể:
– Phương pháp luận biện chứng duyvậtđượccungcấpbởiHọcthuyết Mác – Lê Nin, phương pháp luận này đáp ứng được yêu cầu xem xét đối tượng nghiên cứu trong môi trườngvậtchất mà nótồntại,từ đóđánh giávấnđềtừnhững yếu tố quy định chúng;
– Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam vềcon người và quyền con người để làm rõ những vấn đề bản chất, các mối liên hệvà các yêu cầu của việc bảo đảm và bảo vệ các quyền con người nói chung và quyền con người của người chưa thành niên nói riêng.
– Các lý thuyết về phát triển tâm sinh lý trẻ em như: Thuyết Xã hội-tâm lýcủa Erick Erikson1 (phân chia cuộc đời con người thành 8 giai đoạn. Mỗi giaiđoạn cósự khủng hoảng xã hội – tâm lý và từ đó đưa đên sự chuyển hóa các mối liên hệ xã hội. Trong đó giai đoạn thứ 5 – giai đoạn vị thành niên là giaiđoạn NCTN nghi ngờ các hành vi trước đây đã hình thành, giai đoạn này con ngườitrải qua một cuộc “cách mạng sinh lý” để hình thành bản sắc riêng) và
1 Nhà phân tâm học người Mỹ (1902-1994).
24
thuyếtvềsựphát triểncủatrẻemcủaJean Piaget2 (phân chia các giaiđoạn phát triển của trẻ em thành 4 giai đoạn, và vì thế cần căn cứ trên đặc điểm của mỗi giai đoạn phát triển để có sự hỗ trợ cần thiết cho trẻ em phát triển). Những lý thuyết này giúp cho người nghiên cứu nắm bắt rõ các giai đoạn phát triển của NCTN, những đặc điểm về tâm lý, thể chất của NCTN, trên cơ sở nàyđưarađượcnhững luậnđiểmđảmbảotính khoahọccho việc hoàn thiệnhệthống tư pháp bảo vệ quyền của người CTN.
-Đặcbiệt phương pháp nghiêncứutiếpcậnđa ngành, liên ngành, đa ngành khoa học xã hội được vận dụng tối đa. Ngoài việc tiếp cận vấn đề nghiên cứu quyền con người của người CTN trong TTHS dưới góc độ luật học, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu trong mối liên hệ với các ngành khoa học xã hội khác như triết học, xãhộihọc,đạođứcvà chínhtrịhọc. Chẳnghạnđểlý giảiđặcđiểm của NCTN phải dựa trên các kiến thức của nhân học, tâm lý học và xã hội học. Khi nghiên cứu cơ chế bảo vệ quyền con người của người của NCTN trong TTHS phải đặt nó trong mối quan hệ liên ngành luật học như luật Hiến pháp, đặc biệt là luật hình sự và tội phạm học.
Tác giả chú trọng phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh luật học nhằm phân tích, bình luận các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam liên quan đến bảovệquyền conngườicủaNCTN và thực tiễn áp dụng nó trong hoạtđộng TTHS của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng ở Việt Nam trong thời gian qua. Trong đó nêu lên những ưu điểm, hạn chế cũng như bất cập.
Tácgiảvậndụng các phương pháp xãhộihọcpháp luậtđểđưara các quan điểm, các giải pháp về việc hoàn thiện pháp luật TTHS, các biện pháp kinh
tế, xã hội, văn hóa, giáo dục…nhằm bảo vệ tốt hơn nữa các quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu: Để đạt được các mục tiêu và nhiệm vụ đề ra, trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu dự kiến được áp dụng cụ thể:
2 Nhà tâm lý học người Thụy Sỹ (1896-1980).
25
– Chương 2: Đề cập đến một số vấn đề lý luận tổng quan về quyền và lợiíchhợpphápcủaNCTN và cơchếbảovệquyềncủaNCTN bằng TTHS. Phương pháp nghiên cứu là phân tích văn bản, phân tích thuần túy quy phạm, tổng hợp, đối chiếu văn bản, so sánh liên ngành và nghiên cứu lịch sử.
– Chương 3: Đánh giá thực trạng những quyđịnhcủapháp luật TTHS hiện hành và thực tiễn hoạt động của các cơ quan tư pháp hình sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS ở Việt Nam hiện nay. Vìthế trong chương này, các phương pháp nghiên cứu chính sẽ là tổng hợp, phân tích văn bản, thống kê việc bảo vệ các quyền của NCTN tham gia trong quá trình giải quyết VAHS,cụthể: khái quát(dướihình thức mô hình hóa) cácthủtục TTHS trong giải quyết vụ án có liên quan đến NCTN; làm rõ những vướng mắc, tồntạitrong thực tiễn giải quyết cácvụán hìnhsựcó liên quanđếnNCTN. Những vướng mắc này sẽ được phân tích từ hai phía chủ thể, là người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng. Từ đó, rút ra những nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập, làm tiền đề cho các nhóm giải pháp ở Chương 4.
– Chương 4: Tác giả tập trung đưa ra các giải pháp trong từng giai đoạn trước mắt và lâu dài, trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, diễn giải. Các giải pháp tác giả đề xuất bao gồm ba nhóm chính: giải pháp về tăng cường thểchế(thiếtkế01 Chương riêng trong BLTTHS quyđịnhvềcácthủtụcTTHS dành riêng cho NCTN); giải pháp về tăng cường tổ chức và hoạt động của các cơquan tiến hành tố tụng (trong đó đề xuất đến việc thành lập Tòa án chuyên trách
NCTN); giải pháp về tăng cường hiệu quả của các thiết chế gia đình – xã hội…
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Từnhữngýtưởngcũng như luận giảiđãtrình bày, chúng tôi xin rút ra một số kết luận như sau:
1. Quyền con người là thiêng liêng vàbấtkhảxâm phạm. Nó đượcthểhiện trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội trong đó có lĩnh vực tốtụng hìnhsự-mộtlĩnhvực“nhạycảm”và tiềmẩnnhiều nguy cơbịxâm
26
phạm rất cao. Quyền con người có tính phổ biến và tính đặc thù, trong đó có đặc thù về đối tượng, mà người chưa thành niên là một trong những đối tượng như
vậy. Việc luận giải khái niệm, đặc điểm, các yếu tố tác động…đến quyền và lợiích hợp pháp của NCTN là vấn đề phải đặt ra đầu tiên trước khi xây dựng các cơchế bảo vệ nó.
2. Từ những đặc thù về đối tượng (người chưa thành niên), đặc thù của lĩnh vực quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự điều chỉnh,đòi hỏi cần có những cơ chế bảo vệ đặc biệt, trong đó có các quy định của pháp luật TTHS thựcđịnh,thiếtchếđặcbiệt (cơ quanđiềutra chuyên biệt, tòa án
chuyên trách NCTN…). NCTN tham gia trong TTHS gồm nhiều chủ thể khác nhau, tuy nhiên, trongđónổibậtnhất là nhómđốitượng:ngườibịbuộc tội. Nhóm đối tượng này có quyền đặc thù và đương nhiên, nguy cơ xâm phạm đến họ cũng rất đặc thù. Do đó, các quy định của pháp luật cũng như các thiết chếbảo vệ cần phải được thiết kế phù hợp với đặc điểm về quyền và lợi ích của họ.
3. Việc bảo vệ quyền của NCTN trong đó có quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS mang đặc tính hiện thực. Tính hiện thực của việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS thông qua các hoạtđộng cụ thể của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và cả sự tựbảovệ quyền của những người tham gia tố tụng. Chính vì vậy, việc đánh giá thực trạngbảovệ quyền vàlợiíchhợpphápcủaNCTN trong TTHS là việc làm hết sức cần thiết.
4. Quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS là vấn đề được các ngành khoahọctrongđócó luậthọcvà khoahọctốtụng hìnhsựquan tâm nghiên cứu, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền “của dân, do dân, vì dân”, công cuộccảicách tư pháp mà chúng ta đang tiến hành cũng không nằm ngoài mục đích này. Điều đó cho thấy tính phức tạp của vấn đề. Chính vì vậy, việc tiếp cận vấn đề nghiên cứu dưới góc độ quyền con người trong TTHS là một cách tiếp cận mới, sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật tốtụng hình sự và đề ra các giải pháp đồng bộ nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợiích hợp pháp của NCTN trong TTHS.
27
Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀLÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN
VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
2.1. KHÁI NIỆM BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
2.1.1. Khái niệm, đặc điểm của người chưa thành niên 2.1.1.1. Khái niệm của người chưa thành niên
Theo cách gọi thông thường thì một chu kỳ sống của con người được chia thành nhiều giai đoạn, lứa tuổi khác nhau như: Nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, trung niên và cao niên; còn theo thuật ngữ pháp lý thì các giai đoạn, lứa tuổi chia thành: NCTN (trong đó có trẻ em) và Người đã thành niên.
Ở mỗi quốc gia, thuật ngữ “trẻ em” và “NCTN” được hiểu và quy định khác nhau phụ thuộc vào những đặc điểm riêng về sự phát triển sinh học, tâm sinh lý cũng như quan điểm của mỗi nước về chăm sóc, bảo vệ và giáo dục đối với trẻ em: BLHS Liên bang Nga 1996 quy định, trẻ em được hiểu là NCTN và
là người chưa đủ 18 tuổi; Thái Lan quy định NCTN là người dưới 17 tuổi…
Về phương diện quốc tế, tại Điều 1 CƯQTE thông qua ngày 20/11/1989 quy định: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớmhơn”.QuytắctốithiểuphổbiếncủaLiênHợpQuốc (LHQ)vềbảovệNCTNbịtướcquyềntựdođượcLHQ thông qua ngày 14/12/1992 quyđịnh NCTN là người dưới 18 tuổi.
ỞViệt Nam, trong nhiều nămtrướcđây, NCTNđượcgọilà“vịthành niên” nhưng từ khi chúng ta có hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh, thuật ngữ “vị thành niên” được đổi thành NCTN nhằm phân biệt với người thành niên. Trong khoa học pháp lý và trong các văn bản pháp luật, thuật ngữ NCTN, trongđó có NCTNPT được sử dụng với ý nghĩa là một người đang ở độ tuổi chưa đủ
28
18. Theo từ điển Tiếng Việt: “Vị thành niên là người chưa đến tuổi được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ hay là người chưađủ 18 tuổi“. Cũng theo từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng năm 2002) thì: “NCTN là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trítuệ, tinh thần cũng như chưa cóđầyđủquyền và nghĩavụcông dân“.Định nghĩa này phùhợpvớitinh thần của CƯQTE đã nêu trên, tuy nhiên,lạiđồng nhất hai thuật ngữ: NCTN và Trẻ em.
Theo pháp luật Việt Nam,từnhững kinh nghiệmđượcthừa nhận trong quá khứ, dựa trên những thành tựu do các ngành khoa học khác mang lại cũng như tiếp thu các văn bản pháp luật quốc tế mà các nhà làm luật đã đưa ra khái niệm về NCTN, tuỳ theo từng lĩnh vực điều chỉnh của từng ngành luật. Trong Hiến Pháp năm 1992, BLHS năm 1999, BLTTHS năm 2003, Bộ luật Lao động, Bộluật Dânsự,Pháp lệnhXửlý vi phạm hành chính vàmộtsốvăn bản quy phạm pháp luật khác, đều quy định tuổi của NCTN là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với NCTN trong từng lĩnh vực cụ thể. Điều 18 Bộ luật dân sự quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là NCTN” và Bộ luật lao động sửa đổi, bổsung năm 2002 cũng quy định: “Người lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi“. Bên cạnh đó, Điều 1 Luật Giáo dục, chăm sóc và bảo vệ trẻ em quyđịnh rõ: “Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi“. Như vậy, có thể thống nhất một quan điểm là NCTN là người dưới 18 tuổi.
Dưới góc độ luật hình sự và luật TTHS Việt Nam, NCTN được phân biệt thành hai nhóm(độtuổi) khác nhauđểbuộc phải chịu TNHS. Cụthể, theoĐiều 12 BLHS, NCTN có thể được phân chia thành hai nhóm, mỗi nhóm cóđặc điểm riêng:
Nhómthứnhất,từđủ14 tuổiđếndưới16 tuổi (thuộc nhómđốitượngđược quy định là trẻ em), đặc điểm của nhóm này là: Vừa vượt qua giai đoạn trẻcon, gần gia đình và sống phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình.
29
Nhóm thứ hai, từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nhóm này có đặc điểm đangở giai đoạn sắp bước vào tuổi thành niên, nhận thức xã hội khá hơn nhóm thứnhất nhưng vẫn chưa tách khỏi gia đình, kinh tế còn phụ thuộc vào gia đình.
Như vậy, cóthểnói rằng khái niệm “trẻ em” trong pháp luật Việt Nam không đồng nhất với khái niệm “người chưa thành niên”. Trẻ em là người dưới 16 tuổi, NCTN là người dưới 18 tuổi, nên trẻ em là NCTN, nhưng NCTN có thểkhông phải là trẻ em. Từ đó chúng tôi đưa ra khái niệm NCTN như sau: NCTN là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên.
2.1.1.2. Đặc điểm của người chưa thành niên * Đặc điểm tâm sinh lý
Với tư cách là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù, NCTN có những dấu hiệu đặc trưng về mặt thể chất, tâm lý, nhân cách cũng như các đặc điểm về xãhội học như sau:
Thứ nhất, đặc điểm về trạng thái xúc cảm
NCTN là người đang trong quá trình phát triển cả về sinh lý cơ thể và tâm lý, ý thức. Giai đoạn này diễn ra biến cố là sự phát triển cơ thể mất cân bằng nênđã dẫn tới tình trạng mất cân bằng tạm thời về cảm xúc của NCTN. Ở giai đoạn này, tuyến nội tiết ở NCTN phát triển và hoạt động mạnh (nhất là tuyến sinh dục và tuyến giáp trạng) gây ra sự mất cân bằng trong hoạt động của hệ thần kinh trung ương làm cho NCTN có những cơn xúc động mạnh, những phản ứng nóng nảy vô cớ, những hành vi bất thường [90].
Những nét tính cách quan trọng nhất của NCTN giúp cho việc phán đoán khả năng phạm tội sau này là Tính hiếu động và hay bốc đồng: Tính cách hiếu độngthể hiện ở chỗ trẻ không thể ngồi yên một chỗ, không thể tập trung chú ý, khôngthểkiềmchếnhữngcảmxúccủamình cũng như thiếukhảnăng phánđoánsựviệc trong tương lai; Tính cáchbốcđồngthểhiện ởviệc phô trương, khoe khoang trưng bày phẩm chất tiêu cực thiếu lành mạnh của mình, làm ra vẻanh hùng rơm… NCTN thường thoả hiệpvớinhững tính cáchcủamình như:
30
sống không có lý tưởng, hoài bão, dễ chịu ảnh hưởng tiêu cực từ những người khác, thiếu tínhđiềmđạm,bình tĩnh màchỉquen ăn chơi,lườibiếng, nghiện ngập [40, tr.127].
Trên thực tế, trạng thái thần kinh, cảm xúc không cân bằng có thể là yếu tố gây nên các hành vi lệch chuẩn của các em nên có thể chỉ xuất phát từ những mâu thuẫn nhỏ, nhưng do không kiềm chế được sự nóng giận quá khích mà các emđãcó các hànhđộngsai lầm, thậm chí là thực hiện hành vi phạm tội. NCTNPT có tính chất cônđồthường là nhữngngườicó khí chất nóng hoặc những người thuộc khí chất ưu tư, họ thực hiện hành vi giết người đôi khi chỉ làdo ghen tuông [56, tr.39]. Phần lớn NCTN thực hiện hành vi phạm tội cố ý gây thương tích (81,82%) và giết người (75%) đều cho rằng việc các em phạm tội trong nhiều trường hợp là do nóng nảy, bị kích động và không kiềm chế được bản thân [Xem phụ lục 1].
Sự mất cân bằng tạm thời trong cảm xúc của NCTNPT còn được thể hiện rõ nét trong thời gianhọchấp hành hình phạttạitrại giam hoặc trường giáo dưỡng. Phần lớn các em có tâm lý nặng nề như mặc cảm, tự ti, bi quan, chán nản, nhiều lúc tuyệt vọng, có thái độ thờ ơ, bất cần, liều lĩnh. Chính những đặcđiểm này đã gây nhiều khó khăn cho công tác giáo dục, cải tạo đối với các em [15, tr.57-63]. Sự mất cân bằng tạm thời về trạng thái cảm xúc của NCTN là một trong những nhân tố dẫn đến hành vi phạm tội khi các em không làm chủ được bản thân và trong điều kiện kết hợp với một số yếu tố tâm lý có tính tiêu cực khác. Trong trường hợp, các em ý thức tốt về hậu quả của sự mất cân bằng tạm thời về cảm xúc, làm chủ được bản thân, khắc phục được sự mất cân bằng này thì sẽ không dẫn tới các hành vi phạm tội.
Thứ hai, đặc điểm về nhu cầu độc lập
Những phát triển mạnh mẽ về thể chất và sự hoàn thiện cơ bản của các chức năng sinh lý làm cho NCTN có nhữngấntượngrấtsâusắclà mìnhđãtrưởng thành, không còn trẻ con nữa và có các biểu hiện nhu cầu độc lập, mong muốn tự hành động, tự đưa ra quyết định theo ý kiến riêng của mình mà không
31
muốn bị ảnh hưởng bởi người khác. Nhu cầu độc lập cũng là một xu hướng phát triển tất yếu và rất cần thiết của NCTN. Đây là cơ sở quan trọng để giúp các em trưởng thành. Thực tế cho thấy, không phải tất cả các em khi hình thành và phát triển nhu cầu độc lập đều có nguy cơ phạm tội; nhu cầu độc lập của các em chỉtrở thành nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của NCTN trong một số trường hợp cụ thể:
Đó là, khi các em mong muốn tự hành động, tự quyết định để phù hợp với nhận thức, thái độ của mình. Điều này đã làm giảm sự phụ thuộc vào các quyết định của cha mẹ, nhu cầu độc lập sẽ là tiêu cực khi nó phát triển theo hướng thái quá và biểu hiện ra bên ngoài dưới các dạng hành vi ngang bướng, ngỗ ngược, cốchấp,bảothủ,dễtựái, thích gâygổ,thích khoe khoang, phô trương, hànhđộng mang tính bột phát, tức thời, phiêu lưu mạo hiểm. NCTN có những quyết định “táo bạo” hơn nhiều để chứng tỏ mình là một người lớn thực thụ như: thích làm những việc mình thích, lười học, thích đi chơi, hút thuốc lá, uống rượu bia, chơi cờ bạc, đua xe máy, sử dụng ma túy, tụ tập, đàn đúm, đua đòi, ăn diện, yêuđươngvà có quanhệtìnhdụctrướchôn nhân… Những lúc như vậy, NCTN thườnggặpphảisự“phản ứng”gaygắthoặc“ngăncấm”củagia đình, nhàtrường và điều đó có thể dẫn đến những “xung đột” bất đồng. NCTN cảm thấy rất ấm ức,thất vọng vì những việc mình làm, hay những quyếtđịnhmà mìnhđưa ra đều không được công nhận và ngay lập tức tỏ thái độ phản đối, bất bình, cãi bướng, hoặc nhiều bạn khôn khéo hơn bằng cách bề ngoài “gọi dạ, bảo vâng” nhưngvẫnlàm theoýmình bằng cách hoạtđộng“rútvào bímật”,nói dối… Hoặc, do luôn có ý thức tự trọng và mong muốn được người khác tôn trọng nhưngườilớnnên NCTN thường có tâm lý phóngđạicáckhảnăngcủamình vàđánh giá chúng cao hơn thực tế, ví dụ như hành vi đua xe trái phép đối với họ làmàn trình diễn độc đáo, khám phá và phô diễn năng lực của bản thân mà họ ý thức rằng không phải ai cũng làm được. Hầu hết các hành vi đua xe của NCTN không phải vì tiền mà chủ yếu là tìm cảm giác mạnh hoặc tạo ra sự chú ý của những người xung quanh đối với mình và để người khác thán phục nhưng các
32
em không thể nhận thức được tiềm ẩn của những hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thể xảy ra do hành vi của mình (Xem phụ lục 2).
* Đặc điểm về thái độ đối với học tập
Hoạt động học tập là hoạt động chủ yếu ở lứa tuổi chưa thành niên và có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của NCTN. Các em có thái độ học tập tốt thì sẽ dành hầu hết tâm huyết, sức lực cho hoạt động này nên không có thời gian cho việc chơi bời, lêu lổng tham gia vào các nhóm bạn tiêu cực. Khi các em có thái độ học tập không tốt, không đúng mức sẽ dẫntớithái độthờơ, sao nhãng việc học hành và giao duvớinhóm bạn xấu. Trìnhđộhọc vấnthấp là mộttrong những lý do khiến NCTNPT cósựnhận thức hạnchế, lệch lạc. Qua thực tiễn giải quyết các vụán có NCTN tham gia cho thấy NCTNPT có trìnhđộvăn hoá, học vấnrấtthấp (có 35%đang đi học, 65% đã bỏ học; có 10% số NCTNPT có trình độ học vấn tiểu học, 63% có trình độ học vấn cấp trung học cơ sở, 27 % có trình độ học vấn cấp phổ thông trung học) [Xem phụ lục 1].
* Đặc điểm về nhận thức xã hội, pháp luật
Trong giai đoạn chưa thành niên, các em có sự phát triển rất nhanh, mạnh về mặt sinh học, nhưng lại thiếu cân đối về mặt trí tuệ, các em còn thiếu kinh nghiệm sống và khả năng nhận thức về pháp luật, xã hội còn nhiều hạn chế. Do nhận thức và quan niệm về pháp luật của NCTN chưa hình thành đầy đủ hoặc bịlệch lạc theo cách hiểu chủ quan của các em nên nhiều em thường thờ ơ, lãnh
đạm với các quy định của pháp luật. Không ít em còn cho rằng, những yêu cầu vàđòihỏicủa các chuẩnmựcpháp luật chỉđượcquyđịnhtrong các văn bản pháp lý và hoàn toàn mang tính hình thức, còn hành động thì phải căn cứ vào nhu cầu cụ thể của cá nhân mới thể hiện được cuộc sống tự do [56, tr.44]. Nhiều NCTNPT đặc biệt nghiêm trọng, nhưng lại không biết rằng mình đã phạm tội, không thấy được hết tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình gây ra, các em cho rằng hành vi của mình là hợp pháp, là tự vệ hoặc bảo vệ quyền lợi của mình. Một số em thực hiện hành vi phạm tội chỉ để thoả mãn nhu cầu, hứng thú
33
không đúng của mình, không quan tâm đến hậu quả nguy hiểm cho xã hội, một sốem kháclạicho rằng, hành vi phạmtộicủamình (trộm cắp,cướptài sản, cưỡng đoạt tài sản, cố ý gây thương tích…) là đúng đắn và cần thiết để góp phần tạo ra sự công bằng trong xã hội [70, tr.16-17]. Trong nhiều phiên toà xét xử về
tội cướp giật tài sản, nhiều em còn cho rằng “giật cho vui” và nếu có ai biết được thì trả lại, chứ không biết hành động như vậy là phạm pháp, chỉ khi được giải thích, phân tích các em mới hiểu rằng hành vi của mình là phạm tội, “nếu cháu biết là phạm tội thì không bao giờ cháu làm”. Điều đó chứng tỏ sự hiểu biết và ýthức pháp luật của các em rất kém hoặc không có [Xem phụ lục 2].
Như vậy, nhận thứcvềpháp luật cũng làmộttrong những nhântốảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của NCTN và là nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của các em.
* Đặc điểm về nhu cầu khám phá cái mới
NCTN khao khát tìm hiểu, khám phá cái mới để qua đó tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm sống, các kiến thức của người lớn tuổi và những bạn bè cùng trang
lứa. Tuy nhiên, trongbốicảnh các phương tiện thông tinđạichúng phát triển mạnhmẽ,nhất làsựbùngnổcác thông tin trên internet nên bên cạnh những thông tin lành mạnh, phù hợp với các chuẩn mực xã hội là những thông tin thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, trái với đạo đức luân thường đạo lý vàpháp luật. Các em rất tò mò, hiếu động, có xu hướng tìm kiếm, khám phá những cái mới lạ, hay bắt chước nên rất dễ bị lôi cuốn vào những hoạt động tiêu cực. Trong điều kiện như vậy, những tật xấu, thói quen xấu dần được hình thành nhưnghiện thuốc lá, rượu bia, ham mê những trò chơi điện tử có nội dung bạo lực,đồi trụy, xem băng phim ảnh đồi trụy. Theo số liệu điều tra 300 NCTN phạm pháp về ma túy, có tới 24,3% em nghiện ma túy cho rằng, mình nghiện là do tòmò [81]. Để thoả mãn nhu cầu tiêu cực này thì các em cần phải có tiền. Trong khi đó các em chưa có nghề nghiệp và chưa có khả năng kiếm tiền nên các em có thể làm bất cứ việc gì để kiếm tiền thoả mãn nhu cầu của mình (bớt tiền học, cắm xe đạp, trộm cắp, cướp tài sản, giết người). Hầu hết NCTNPT trộm cắp tài
34
sản,cướptài sản,cưỡngđoạttàisảnvà mua bán trái phép các chất ma túy thường tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí tiêu cực, thiếu lành mạnh vàcác tệ nạn xã hội như chơi điện tử, cờ bạc, nghiện hút các chất ma túy. Ngoài ra,động cơ phạm tội của NCTN còn do muốn có tiền để chiêu đãi bạn bè, chiến hữu, hoặc có tiền tiêu xài cho bản thân [Xem phụ lục 2].
* Đặc điểm về quan hệ xã hội
Trong giaiđoạnvịthành niên, nhu cầu giao tiếpvớibạn bè của NCTN phát triển rất mạnh và xuất hiện thêm nhiều mối quan hệ. Bạn bè đã trở thành một phần rất quan trọng của họ. Lối sống, văn hoá, cách cư xử của NCTN chịu ảnh hưởng rất lớn của bạn bè và dễ bị tiêm nhiễm những thói hư, tật xấu từ các
bạn. Ở lứa tuổi này, NCTN thường thích giao du thành nhóm, có nhóm bình lặng, có nhóm sôi nổi, có nhóm “siêu quậy”…
Các nhóm bạn bè (dù là kiểu nào thì mỗi thành viên trong nhóm đều rất mật thiết với nhau và coi nhóm như gia đình thứ hai của mình) đóng một vai tròquan trọng trong các bước trưởng thành của NCTN. Đây là bước đầu NCTN tập hoà mình vào tập thể, mỗi người có một tính cách và suy nghĩ riêng nhưng trong quá trình chơi với nhau, NCTN sẽ học tập ở bạn mình những đức tính tốt, biết chia sẻ, biết phấnđấu,giúpđỡnhau.Họ cóthểđưara chính kiến, quyếtđịnh hoặc “thả cửa”sángtạonhữngýtưởngmàhọkhó cóthểthực hiện nóởmôi trường khác, họ có thể tha hồ tâm sự, “buôn dưa lê” về tất cả những vấn đề màhọ hoặc nhóm bạn của họ quan tâm… Rất nhiều nhóm bạn chơi với nhau rất chân thành, nên mỗi người đều dễ dàng trao đổi, tâm sự những điều thầm kín, riêng tư, những khó khăn, vấp váp, nhắc nhủ, phê phán khi có điều sai trái nên tình bạn ởhọ bình đẳng và rất khăng khít, nhiều khi tình bạn ấy được duy trì và phát triển trong suốt cả cuộc đời của họ. Tuy nhiên, đôi khi “tinh thần hội” trở thành cực đoan, phát triển thành hiện tượng “bè phái”, coi thường các bạn ngoài hội một cách vô lý, gây gổ, đố kỵ giữa các nhóm bạn dẫn đến xô xát, hoặc có nhóm bạn lạiphát triển theohướng“tiêucực”,chuyên gâygổđánh nhau,tỏrarất“tay
35
chơi” “anh chị”… Do ảnh hưởng của nhóm bạn mà đôi khi NCTN từ một cô bé, cậu bé ngoan ngoãn, hiền lành trở thành những cô nàng, anh chàng “cá biệt”.
Từ việc nghiên cứu đặc điểm của NCTN, tác giả có thể khái quát như sau:
dosựphát triển chưa hoàn thiệnvềtâm, sinh lýcủalứatuổi này, NCTN cónhững tháiđộ, nhậnthức chưa hoàn chỉnh tronghọctập, giao tiếp xãhội; từnhững đặc thù này, đòi hỏi xã hội phải công bằng khi đánh giá về họ, phải giành cho họ những quyền được đối xử phù hợp với lứa tuổi của họ. Điều này cũngđồng nghĩa với đòi hỏi chính đáng của nhóm đối tượng xã hội đặc thù này khi họvi phạm pháp luật hìnhsự,đólà, phải có cơ chếđặcthù trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đối với họ.
2.1.2. Khái niệm quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên 2.1.2.1. Khái quát về quyền con người
Quyền con người gắn chặt với hoạt động xã hội, các mối quan hệ xã hội và các phương thức sống của cá nhân. Quyền con người là biểu hiện của tiêu chítác động qua lại, củng cố các mối liên hệ, phối hợp hành động và hoạt động giữa con người với con người, ngăn ngừa các mâu thuẫn đối đầu và xung đột giữa họtrên cơ sở kết hợp tự do cá nhân với tự do của những người khác, với hoạt động bình thườngcủaNhàNướcvà xã hội. Những quyền như quyềnđượcsống, quyền được tôn trọng danh dự nhân phẩm, được bất khả xâm phạm về thân thể,được tự do ngôn luận, tự do chính kiến, tự do chính kiến, tự do tín ngưỡng, được tham gia vào các quá trình chính trị là những điều kiện cần thiết để con người tổchức đời sống trong xã hội văn minh và cần phải được Nhà Nước thừa nhận vàbảo vệ một cách vô điều kiện.
Cũng nhưbấtkỳmộthiệntượngxã hội nào khác, Quyền conngườicómột số đặc điểm cơ bản thể hiện ở các thuộc tính của nó, bao gồm:
– Tính phổ biến, thuộc tính này thể hiện ở chỗ được thể hiện ở mọi quốc gia, không phụ thuộc vào chế độ chính trị- kinh tế của quốc gia đó.
– Tính không thể tước đoạt thể hiện ở việc quyền con người không thể bịtướcđoạtmộtcách tùy tiệntrừtrườnghợpđượcpháp luật quyđịnhvà lý do
36
nhằm bảo vệ quyền con người của người khác do hành vi vi phạm pháp luật của người bị tước đoạt. Điều này thể hiện rõ nhất trong các trong tố tụng hình sự.
– Tính không thể phân chia. Thể hiện ở chỗ quyền con người là tổng thểcác quyền và tự do của con người gắn bó với nhau, không quyền nào quan trọng hơn quyền nào. Các quyền chính trị- dân sự cũng cần thiết được tôn trọng và bảo vệnhư các quyền kinhtế,văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, không loạitrừtrong hoàn cảnh, điều kiện nào đó người ta có thể nhấn mạnh và chú trọng bảo vệ một số quyền nhất định. Ví dụ đối với các quyền trẻ em có riêng các công ước vềquyền của đối tượng này. Điều này không có nghĩa là có sự phân chia các quyền của các đối tượng khác nhau mà là ở việc đối tượng trẻ em thường là nạn nhân của việc vi phạm quyền con người vì nhiều yếu tố khách quan. Vấn đề ở đây lànếu chúng ta quan tâm thích đáng đến nhóm đối tượng trẻ em thì trên thực tế cóthể ngăn chặn tốt hơn các hành vi vi phạm quyền con người;
– Tính liên quan, phụthuộc lẫnnhau, các quyền conngườicụthể không tồn tại một cách biệt lập, quyền này là cơ sở, tiền đề thực hiện quyền kia vàngượclại. Nhữngđặc điểmtrênđâyđược coi là tínhphổbiến của quyền con người.
Ngoài ra, quyền con người còn có các đặc điểm là giá trị xã hội biểu hiện sự tôn trọng nhân phẩm cá nhân của con người; Là giá trị xã hội đặt ra nghĩa vụđối với tấtcả mọi người phảitôn trọng (bởi họ có thể vi phạm); Là giá trị xã hội được ghi nhận bằng pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế; Là giá trị xãhộivừa có tính phổ biến, vừa có tính đặc thù. Thực vậy, nếu tính phổ biến của quyền con người thể hiện ở chỗ không giới hạn, cóthể phổ cậpở mọi lúc, mọi nơi, được lặp lại ởphạm vi quốc tế, khu vực, quốc gia, có thể ápdụng với tất cảmọi người; thì tính đặc thù thể hiện ở chỗ chỉ nhưng đặc điểm, những mặt riêng nhất định và chỉ áp dụng cho một nhóm người nhất định [83]. Tính đặc thù của quyền conngườiđượcquyđịnhbởicácđiềukiện lịchsử,văn hóa, dân tộc, kinh tế và xã hội.
37
Giữa tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người có mối liên hệhữu cơ, tồn tại khách quan, biểu hiện ở chỗ:
+ Tính phổ biến của quyền con người chỉ tồn tại trong tính đặc thù của quyền con người, thông qua tính đặc thù của quyền con người mà biểu hiện sựtồn tại của mình, nghĩa là không có tính phổ biến thuần túy của quyền con người tồn tại bên ngoài tính đặc thù của quyền con người (ví dụ: không có quyền con người nói chung tồn tại bên cạnh quyền được sống, quyền bất khả xâm phạm vềthân thể);
+ Tính đặc thù của quyền con người chỉ tồn tại trong mối liên hệ với tính phổbiếncủaquyền con người. Nghĩa là không cóđặcđiểmđặcthù nào của quyền con người tồn tại tuyệt đối độc lập, không có liên hệ với tính phổ biến của quyền con người (ví dụ: mỗi quyền con người là một biểu hiện của tính đặc thùcủa quyền con người, nhưng mỗi quyền con người không thể tồn tại ngoài mối liên hệ với các quyền con người, bởi vì các quyền con người là các quyền không thể chia cắt, không thể tách biệt một cách cơ học.
Tính phổ biến của quyền con người là những đặc điểm, đặc tính sâu sắc, bản chất chi phối tính đặc thù của quyền con người, nên nhận thức về quyền con người phải nhằm tìm ra tính phổ biến và trong hoạt động thực tiễn về quyền con người phải dựa vào tính phổ biến của quyền con người để điều chỉnh tính đặc thùcủa quyền con người. Chính vì vậy khi nghiên cứu quyền con người, trước hếtđòi hỏi phải nghiên cứu những vấn đề chung về quyền con người. Mặt khác, tính phổ biến của quyền con người lại biểu hiện thông qua tính đặc thù của quyền con người, nên khi áp dụng tính phổ biến của quyền con người phải căn cứ vào tình hình cụ thể của từng thời kỳ lịch sử ở mỗi nước để vận dụng cho thích hợp.
2.1.2.2. Vấn đề bảo vệ quyền con người tại Việt Nam
TrongbảnTuyên ngônĐộclậpđọctạiQuảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết nhắc tới quyền con người, rồi suy rộng ra quyền tự quyết dân tộc, để từ đó khẳng định tính chất chính nghĩa của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam. Việc gắn kết
38
giữa quyền con người với quyền độc lập của dân tộc là một sángtạo của ChủtịchHồChí Minh.Điềunày cho thấy,Ngườikhôngchỉlàmộtnhà cộng sản quốc tế, một nhà yêu nước chân chính mà còn là một nhà tư tưởng xuất sắc vềquyền con người. Đáng chú ý là các điều mà Hồ Chí Minh “suy rộng ra” ấy, thìngày nay, Hội nghị thế giới về quyền con người họp ngày 25 tháng 6 năm 1993 coi như là quy phạm của luật quốc tế hiện đại với tuyên bố: “Quyền dân tộc tựquyết khôngthểbịtướcđoạt”và coi việc “khước từ dântộctự quyết làsựvi phạm quyền con người”.
Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam – là đảng cầm quyền, là tổ chức duy nhất lãnh đạo xã hội, lãnh đạo Nhà nước và hệ thống chính trị- cùng Nhànước ViệtNam càng ngày càng có nhận thức rõ hơnvềvấn đềquyền con người. Từ chỗ không đề cập trực tiếp vấn đề nhân quyền trong các văn kiện của Đảng đến chỗ có đề cập và đề cập ngày càng đầy đủ hơn, nhất quán hơn. Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam gắn vấn đề quyền con người với quyền công dân, gắn quyền của cá nhân với quyền của tập thể, quyền của dân tộc, nhân dân, quyền làm chủ; quyền đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ. Vềđường lối đối ngoại, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương: Việt Nam là bạn, làđối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; thực hiện
tận tâm các cam kết quốc tế xuất phát từ các điều ước quốc tế mà mình là thành viên, trong đó có các cam kết quốc tế về quyền con người. Không thể phủ nhận các thành quả về xây dựng lý luận về bảo vệ quyền con người cũng như thực tiễn bảo đảm quyền con người của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, phải từ 1992, vấn đề quyền con người mới thực sự được quan tâm có một vị trí xứng đáng, chúng ta có thể điểm qua một số văn kiện quan trọng sau:
– Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa VII) về vấn đề quyền con người và quan điểm chủ trương của Đảng ta; trên cơ sở này, ngày 16/4/2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số63/2004/QĐ-TTgvề“Quyđịnhnhiệmvụ,quyềnhạnvà thành phần BanChỉđạovềNhânquyền”;Chỉthịsố41/2004/CT-TTG ngày 2/12/2004củaThủ
39
tướngChínhphủvề“Tăngcườngcông tácbảovệ,đấutranhvềnhân quyền trong tình hình mới”.
– Chỉ thị số 44/CT-TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư “về Công tác nhân quyền trong tình hìnhmới”;Quyếtđịnhsố366/2011/QĐ-TTgvềngày 14/3/2011 Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai Chỉ thịsố 44-CT/TW.
– Gần đây nhất, tạiĐạihội lầnthứ XI của Đảng, Cương lĩnh xây dựngđất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã chỉ rõ: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảovệquyền con người, gắnquyền con ngườivớiquyền vàlợiích của dân tộc,đất nước và quyền làm chủ của nhân dân” [31, tr.76]; “Nhà nước tôn trọng và bảođảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triểntựdocủamỗingười”[31, tr.85]. Báo cáo chínhtrịcủaBan Chấp hành Trungương Đảng (Khóa X) tại Đại hội lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Nhà nước chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của mọi người dân” [31, tr.247]. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 cũng nhấn mạnh: “Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người làchủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự pháttriển”;“Phảibảo đảm quyền con người, quyền công dân và cácđiềukiệnđểmọingườiđượcphát triển toàn diện” [31, tr.100].
2.1.2.3. Quyền con người của người chưa thành niên – Quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên
* Quyền con người của người chưa thành niên
Nếu trong thời kỳ phong kiến trước đó, NCTN chưa được thừa nhận nhưmột chủ thể bình đẳng phụ thuộc hoàn toàn vào cha mẹ thậm chí là một dạng “tài sản” của họ thì với sự xuất hiện của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con
người 1948 nêu rõ: “Mọi trẻ em… đều có quyền được hưởng sự bảo hộ của giađình, xã hội và nhà nước“. Ngoài ra, tinh thần này cũng được thể hiện trong hai
40
Công ước về quyền dân sự và chính trị, quyền kinh tế xã hội 1966, theo đó, thừa nhận trẻ em là một chủ thể bình đẳng với người lớn trong việc hưởng các quyền tự do cơ bản. Không dừng lại ở đó, các văn kiện quốc tế về quyền con người còn có bước tiến quan trọng trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền trẻ em bằng việc xác định trẻ em là đối tượng cần bảo vệ đặc biệt bởi đối tượng này có những quyền con người đặc thù.
Năm 1959, Liên hợp quốc đã thông qua một văn kiện riêng về quyền trẻem gọi là Tuyên bố Liên hợp quốc về quyền trẻ em. Đây là tiền đề quan trọng đểLiên hợp quốc xây dựng và thông qua Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989. Côngướcnày khôngchỉđưarađịnhnghĩatrẻem mà còn nêu lên các nguyên tắc cơ bản trong việc bảo vệ quyền của nhóm đối tượng này; đó là việc khẳngđịnhtrẻem làchủthểcủaquyềnchứkhông phải làsựban phát hay thương hại của lòng từ thiện thuần túy; trẻ em là nhóm xã hội dễ bị tổn thương
nhất, có những nhu cầu đặc biệt… do đó, có quyền hưởng sự chăm sóc, đối xửvà bảo vệ đặc biệt. Có thể nói CƯQTE năm 1989 đã bao quát được tất cả các khía cạnh của quyền trẻ em, là điều ước quốc tế đa phương phản ánh tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ quyền trẻ em cũng như sự quan tâm của các quốc gia đối với thế hệ trẻ. Lần đầu tiên, Công ước về quyền trẻ em đã khái quát được các khía cạnh của quyền trẻ em và xác định rõ nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảođảmquyềncủatrẻem vàmốiquanhệgiữa quyềntrẻem và Quyền con người, đó là:
Ngay trong phần Lời nói đầu CUQTE đã nhắc lại khẳng định trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người mà Liên hợp quốc, rằng trẻ em có quyền được
chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt… và tin tưởng rằng gia đình với tư cách là nhóm xã hội cơ bản và môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của tất cảcác thành viên trong gia đình, đặc biệt là trẻ em cầm có sự bảo vệ và giúp đỡ cần
thiết để có thể đảm đương đầy đủ trách nhiệm của mình trong cộng đồng… vàđểphát triểnđầyđủvà hài hoà nhân cáchcủamình,trẻemcầnđượclớnlên
41
trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và cảm thông. Lý do để bảo vệ các quyền trẻ em là vì “do còn non nớt về thể chất và trítuệ, trẻ em cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp vềmặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”. Với khẳng định trong phần Lời nóiđầu, các quốc gia thành viên tiếp tục khẳng định một cách cụ thể, chi tiết hơn các quyền của trẻ em, gồm các quyền cụ thể như: Quyền về không phân biệt đối xử; Quyền được có họ tên và quốc tịch ngay từ khi ra đời; Quyền được bảo vệ vàchăm sóc đặc biệt, trước cũng như sau khi ra đời; Quyền không bị cách ly khỏi cha mẹ; Quyền được chăm sóc sức khoẻ; Quyền được học hành; Quyền được sống trong môi trường lành mạnh vàtựnhiên; Quyềnđượcvui chơi, giải trí; Quyền được thông tin phù hợp với lứa tuổi của các em; Quyền được tự do kết giao và tập hợp nhau theo những nhóm bạn cùng chung sở thích;Quyền được nhận sự chăm sóc đặc biệt; Quyền được tự do bày tỏ ý kiến; Quyền được bảo vệchốnglạisựngượcđãi; Quyềnđượcbảovệchốnglạisựlạmdụng tình dục; Quyền được nhận làm con nuôi dưới hình thức hợp pháp; Cấm mọi hành vi mua bán trẻ em. Quyềnđượcbảovệ chốngmọihình thức tratấnvàđốixửtàn tệ; Quyền có các quyền đặc thù khi có hành vi vi phạm pháp luật; Quyền được bảo vệ trước nạn ma tuý.
* Quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên
Cho đến hiện nay, thuật ngữ “Quyền và lợi ích hợp pháp” chưa có khái niệm chính thống. Bởi, đây là một cách gọi khác của Quyền con người được ghi nhận trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế,
xã hội, tập quán quốc gia…; được bảo vệ, bảo đảm bởi pháp luật và các thể chếkhác nhau. Do đó, khi nói đến “quyền và lợi ích hợp pháp”, chỉ có thể hiểu trên phạm vi Quốc gia mà thôi và trong phạm vi Luận án, chúng tôi chỉ đề cập đến phạm vi Việt Nam.
TạiViệt Nam, do khái niệmTrẻem và NCTN chưađồngnhất, nên “Quyền và lợi ích hợp pháp của Trẻ em” đương nhiên thuộc “Quyền và lợi ích
42
hợp pháp của NCTN”, nhưng nếu hiểu ngược lại thì không hoàn toàn đúng, bởi luôn tồn tại một “khoảng trống” quy định với các đối tượng thuộc nhóm tuổi từđủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Do đó, hiện nay tại Việt Nam, “quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN” cơ bản là “quyền và lợi ích hợp pháp của Trẻ em”.
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 1à một đường lối, chính sách xuyên suốt trong sự nghiệp lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Hiến pháp 1959,đạo luật cơ bản thứ hai ra đời, tại thời điểm chính quyền cách mạng Việt Nam vừa trải qua một bước ngoặt vĩ đại, giành độc lập miền Bắc và chuyển miền Bắc sang thời kỳ quá độ lên CNXH. Đây chính là một minh chứng cho sự nhất quán về đường lối, chính sách trong vấn đề trẻ em của Đảng ta. Đến năm 1960, thực hiện Chỉ thị số 197 của Ban bí thư Trung ương, toàn dân đã có phong trào chăm lo vàbảovệthiếu niên, nhiđồngdiễn ra rộng khắp cácđịaphương trongcảnước. Năm 1975, giành độc lập tại miền Nam và thống nhất đất nước, cả nước ta bước vào thời kỳ quá độ tiến lên Chủ nghĩa Xã hội. Vẫn nhất quán với tư tưởng về con người, về trẻ em, Đảng ta tại có thêm những điều kiện mới để chăm lo, giáo dục trẻ em. Năm 1979, chính sách, đường lối của Đảng về trẻ em được cụthểhoá trong“PháplệnhBảovệ,Chăm sóc và Giáodụctrẻem”. Cóthểcoi pháp lệnh này là một trong những nền tảng pháp lý đầu tiên cho công tác Bảo vệ, Chăm sóc và Giáodục(BVCSGD)trẻem. Chođếnnửacuối những năm 80,Đảng và Nhà nước ta tiến hành công cuộc đổi mới Nhà nước về nhiều phương diện. Vấn đề bảo vệ quyền trẻ em (BVQTE) cũng 1à một bộ phận quan trọng của công cuộc đổi mới này. Đường lối, chính sách đổi mới của Đảng về công việc đối với trẻ em được tiến hành theo cả chiều sâu và chiều rộng. Đường lối của Đảng về BVCSGD trẻ em được cụ thể hoá trong pháp luật. Và chúng ta đãđạt được những thành tựu đáng kể trong suốt một thời gian dài kể từ khi đổi mới cho đến nay. Đầu tiên về thành tựu lập pháp, hàng loạt các văn bản có hiệu lực pháp lý cao đã ra đời nhằm thể chế hoá đường 1ối, chính sách của Đảng về trẻem vào trong hệ thống pháp luật cho phù hợp với điều kiện mới. Ngoài ra, chúng
43
ta còn tổ chức và thực hiện nhiều Chương trình hành động Quốc gia Vì trẻ em trên nhiều lĩnh vực như giáo dục, y tế, dinh dưỡng.
Tiếp theo làsựrađờicủaChỉthịsố38-CTlTWcủaBan bí thư TrungươngĐảngkhóa VII ngày 30/5/1994, việc thực hiện Luật BVCSGDtrẻem, Công ước quốc tế về QTE, Chương trình hành động Quốc gia Vì trẻ em 1991- 2000 đã đạt được nhiều kết quả tốt. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, chúng tađangbướcvàothếkỷXXI, công tác BVCSGDtrẻemđặttrướcnhững thách thức mới. Đảng ta ban hành những văn bản quan trọng giúp định hướng cho phùhợp với hoàn cảnh mới. Điển hình là Chỉ thị số 55 – CT/TW của Bộ Chính trị vềtăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng ở cơ sở đối với công tác BVCSGD trẻem ngày 28-6-2000.
Gần đây nhất, trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 55-CT/TW, ngày 28/6/2000cuảBộChínhtrịkhóa VIII,BộChínhtrịvừaraChỉthịsố20/CT/TW về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới. Đặc biệt, Chỉ thị đã chỉ ra một sốhạn chế, yếu kém trong hệ thống pháp luật, chính sách về chăm sóc, giáo dục vàbảo vệ trẻ em chưa hoàn thiện và yêu cầu: Rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn
thiện hệ thống pháp luật, chính sách về chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em… Đẩy mạnh xã hội hóa công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em theo hướng nâng cao trách nhiệmcủagia đình, nhà trường, cộngđồngdân cư và cáctổchức chính trị – xã hội.
Trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam vềbiện pháp giáo dục,xửlý vàbảovệquyềnlợiíchhợpphápcủangườichưa thành niên vi phạm pháp luật, Nhà nước Việt Nam đã cố gắng tới mức cao nhấtđể nội luật hóa những nguyên tắc của Công ước quyền trẻ em vào hệ thống pháp luật quốc gia.Việt Nam là quốc gia đầu tiên và thứ hai trên thế giới gia nhập vàphê chuẩn CUQTE. Đồng thời những tư tưởng, quan điểm, nội dung tiến bộ vànhân đạo của công ước này đã được từng bước cụ thể hóa trong hệ thống pháp
44
luật quốc gia, từ Hiến pháp, các đạo luật đến các văn bản dưới luật. Chúng ta cóthể khái quát như sau:
i) Trong Hiến pháp
Ngaytạibản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam năm 1946 đã quy định tạiĐiều 14 “…Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng” thể hiện sự quan tâm của Nhà nước ta đối với trẻ em. Đến Hiến pháp năm 1959, Điều 24 quy định “ Nhànước bảo hộ quyềnlợi của người mẹ và trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đỡđẻ,nhà giữ trẻ và vườn trẻ”. Trong Hiến pháp năm 1980, vấn đề chăm sóc vàgiáo dục trẻ em cũng dần được hoàn thiện tạiĐiều41: “Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, gia đình và xã hội cùng với nhà trường có trách nhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng”,và Điều 65 quy định“Nhà nước và xãhội chú trọng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng, mở rộng dần việc đảm nhiệm nuôi dạy trẻ em, làm cho sinh hoạt, học tập và trưởng thành củatrẻ em được bảođảm”. Hiến phápgầnđâynhất là Hiến pháp năm 1992 không những chỉ kế thừa các quy định về chăm sóc và bảo vệ trẻ em của các Hiến pháp trước mà phát triển với những nội dung mới thể hiện sự coi trọng công tácbảovệ, giáo dục NCTN. Trong Hiến pháp 1992, quyền trẻ emtrởthành một chế định hoàn chỉnh chứ không còn là những quy định riêng lẻ nhưcác Hiến pháp trước. Quy định về quyền trẻ em Quyền trẻ em được quy định trong 10 điều với nội dung bao quát toàn diện, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chung của cả xã hội, phù hợp với công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền và phùhợpvớicác tiêu chuẩn quốc tếvớisựphát triểncủanềnvăn minh nhân loại, xuất phát từ những góc nhìn, bình diện khác nhau trên phương diện rộng, thể hiện nhân sinh quan, một nhận thức mới đối với vấn đề quyềntrẻem. Hiến pháp đặc biệt nhấn mạnh rằng: nghĩa vụ bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ là của gia đình, Nhà nước và xã hội.
ii) Trong các bộ luật
– Luật Bảo vệ chăm sóc và Giáo dục trẻ em quy định 10 nhóm hành vi bịnghiêm cấm, đây là 10 nhóm hành vi mang tính đặc thù với việc chăm sóc giáo
45
dục và bảo vệ trẻ em [Quyền được khai sinh và có quốc tịch (Điều 11); Quyềnđược chăm sóc và nuôi dưỡng (Điều 12); Quyền được sống chung với cha mẹ
(Điều 13); Quyền được tôn trọng và bảo vệ cuộc sống của họ, cơ thể, nhân phẩm và danh dự (Điều 14); Quyền được chăm sóc sức khỏe (Điều 15); Quyền được học tập (Điều 16); Quyền tham gia vui chơi giải trí, vui chơi giải trí, văn hóa, nghệ thuật,thểdục,thểthao và các hoạtđộngdu lịch(Điều17); Quyền phát triển năng khiếu (Điều 18); Quyền có tài sản (Điều 19); Quyền tiếp cận thông tin, bàytỏýkiến và tham gia các hoạtđộngxãhội(Điều20)].Mộtsốnhóm hành vi mới phát sinh trong những năm gần đây như tình trạng bỏ rơi trẻ em, lôi kéo trẻ em đi lang thang, lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi, lạm dụng laođộng trẻ em, cản trở việc học tập của trẻ em. Một số nhóm hành vi có xu hướng gia tăng như tình trạng bắt trẻ em mua bán, vận chuyển ma tuý, văn hoá phẩmđộchại, tình trạng xâmhạitìnhdụctrẻem, buôn bántrẻem, xâm phạm tính mạng, thân thể trẻ em. Vì vậy, cùng với việc đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cần xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật đối với trẻ em, bảo đảm cho trẻem được sống trong môi trường an toàn và lành mạnh. Bên cạnh đó Luật cũng quyđịnhtrách nhiệmbảovệ,chăm sóc và giáodụctrẻemcủagia đình, nhànước, xã hội. Ngoài ra luật này còn chú trọng đến đối tượng là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong đó trẻ em vi phạm pháp luật và phạm tội.
– Trong luật Quốc tịch Việt Nam, trẻ em với tư cách là một cá nhân, nên quyền có quốc tịch là một trong những quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của trẻ em.
– Luật Hành chính coi trẻ em làmộtđốitượngđặc biệt nên khi quyđịnh trách nhiệm hành chính đối với trẻ em, Luật Hành chính đều có quy định riêngáp dụng đối vớitrẻ em vi phạm hành chính. Luật Hành chính còn tạo ra một cơ chế quản lý đối với trẻ em vi phạm hành chính bao gồm các biện pháp xửlý hành chính như giáo dục tạixã phường,thịtrấn; đưa vào trường giáo dưỡngvà các tổchức, cơsởnhằm giáo dục trẻ em, đưa trẻ em trởlạicuộc sống bình thường.
46
– Pháp luật Hình sự Việt nam có chính sách hình sự riêng đối với người chưa thành niên nhằm bảo vệ người chưa thành niên khi họ là đối tượng bị tội phạm xâm hại, đồng thời cũng quy định trách nhiệm hình sự nhưng theo hướng giảmnhẹđốivớingườichưa thành niên khihọchính làngườithực hiện tội phạm. Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội thể hiện thống nhất trong những quy định cụ thể của pháp luật hình sự về trách nhiệm hình sự, về nguyên tắc xử lý, về hệ thống hình phạt và các biện pháp tư pháp khác. Ngoài ra, luật Tố tụng Hình sự-ngành luật hình thức quy định trình tự, thủ tục thực hiện các quy định của luật Hình sự -cũng bảo vệ quyền của người chưa thành niên theo tính chất đặc thù riêng của mình.
* Khái niệm
Từ những phân tích nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm “Quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN”, theo đó:
Quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN là những quyền con người đặc thùchỉ dành cho người chưa thành niên, là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm thần, dễ bị tổn thương, mà Nhà nước có nghĩa vụ phải ghi nhận trong Hiến pháp và hệ thống pháp luật quốc gia; được Nhà Nước bảo đảm thực hiện và bảo vệ khi bị xâm hại.
2.1.3. Khái niệm Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam
2.1.3.1. Khái quát về cơ chế bảo vệ quyền con người
Cơ chế bảo vệ quyền con người là khái niệm có ý nghĩa quan trọng trên nhiều phương diện:
Cơ chế “được hiểu là tổng thể các đảm bảo vật chất, chính trị, tư tưởng, pháp lý, tổ chức nghiệp vụ cho việc thực hiện một quyền nào đó hoặc một việc nào đó”[95, tr.25]. Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ định nghĩa: cơ chếlà cách thức mà theo đó một quá trình thực hiện.
Bảo vệ,theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ định nghĩa: “chống lại mọi sự xâm phạm để giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn“
47
Như vậy, nói đến cơ chế là nói đến cơ cấu tổ chức, quá trình vận hành của một hệ thống nào đó. Dưới góc độ pháp lý, quyền con người là tổng thể các quyđịnh của Hiến pháp, pháp luật ghi nhận và bảo vệ nó và ở trong trạng thái tĩnh. Quá trình vật chất hóa, đưa các quy định đó vào trong thực tiễn bằng các cách thức, các bảo đảm khác nhau như vật chất, chính trị, tư tưởng, pháp lý, tổ chức chính là cơ chế bảo vệ quyền con người. Trên lĩnh vực quyền con người, cụm từ“cơ chế của Liên hợp quốc về quyền con người” (United Nations human rights mechanism) hay được sử dụng trong các tài liệu chuyên môn để chỉ bộ máy các cơ quan chuyên trách và hệ thống các quy tắc, thủ tục có liên quan do Liên hợp quốc thiết lập để thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người [82].
Ngoài ra, khi nói về cơ chế, người ta thường đề cập đến hai nội dung: Thểchế và Thiết chế.
Thể chếcó thể được hiểu bao gồm hai khía cạnh khác nhau:
Thứ nhất, đó là các quy định pháp luật, các quy tắc được ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục nhất định có tính ràng buộc đối với các chủ thể;
Thứ hai, thiết kế hệ thống các cơ quan được lập ra để thực thi những chức năng, nhiệm vụ nhất định.
Thiết chế là sự vận hành các cơ quan, tổ chức đã được xây dựng, quy địnhđể thực hiện các nhiệm vụ đã được phân công.
Do vấn đề quyền con người được thể hiện ở cấp độ toàn cầu, khu vực vàtừng quốc gia, nên cơ chế bảo vệ quyền con người được hiểu là những thể chế, thiết chế do toàn nhân loại xã hội, do Nhà nước tạo ra nhằm bảo vệ con người ởcấp độ toàn cầu, khu vực và ở từng quốc gia.
Về thể chế,quyền con người được long trọng công bố trong Hiến pháp. Chính vai trò giá trị của quyền con người, quyền công dân mà trong tư duy chính trịcủanhân loại,vấnđềquyền con người, quyền công dântrởthànhmộtnội dung chínhcủalịchsửlậphiến, dùởchếđộxãhộinào (tư bản, XHCN, các nước đang phát triển) đều có chế định quyền con người, quyền công dân. Đó là
48
nộidung cơbảnnhấtcủamỗihiến pháp,nộidung quan trọngđếnmứcnếu không có chế định quyền con người, quyền công dân, thì cũng không thể có bản thân hiến pháp, nội dung đó chi phối kết cấu của bản hiến pháp, chế định quyền công dân thường được đặt lên hàng đầu trong hiến pháp của nhiều nước.Chính vìtầm quan trọng của vấn đề quyền con người, quyền công dân nên hiến pháp của các nước thường dành riêng một chương hoặc một phần ghi nhận các quyền con người, quyền công dân. Trong trường hợp hiến pháp không ghi nhận thì đã cóvăn bản riêng về quyền con người, quyền công dân. Như vậy, dù quy định theo cách nào, các quốc gia đều coi quyền con người, quyền công dân là nội dung cơbản, không thể thiếu của hiến pháp. Ghi nhận, bảo đảm, bảo vệ quyền con người là sứ mệnh của Hiến pháp, là mục tiêu của Hiến pháp.
Ở ViệtNam, sau Hiến pháp, các đạo luật liên quan đến các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa đã được ban hành khá nhiều. Đó là Luật Bầu cử Quốc hội, Luật Bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, Luật Xuất bản, Luật Báo chí, Luật Công nghệ Thông tin, Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu Trí tuệ, Luật Doanh nghiệp, Luật Nhà ở, LuậtĐấtđai, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí, BộluậtTốtụng Dânsựvà đặcbiệt làBLHS, BLTTHS.
Về thiết chế, hiện nay ở Việt Nam, ngoài có một số cơ quan Nhà nước cótrách nhiệm chăm lo đến việc bảo vệ quyền con người (như Ủy ban Dân tộc, Ban
Tôn giáo, Cục Bảo vệ chăm sóc Trẻ em…) thì Thiết chế Tư pháp, bao gồm hệthống các cơ quan tiến hành tố tụng, sẽ được khởi động khi quyền con người, quyền công dân bị vi phạm; hay nói một cách khác, ở bất cứ đâu, bất kể lúc nào, một khi quyền con người bị xâm phạm ở mức độ phát sinh tội phạm, ở đó phải có mặt của các cơ quan tiến hành tố tụng để tiến hành bảo vệ.
2.1.3.2. Pháp luật tố tụng hình sự – phương tiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên
Bảovệquyền conngười(nói chung) và quyền vàlợiích hợp pháp của NCTN (nói riêng) trong tố tụng hình sự chính là cách thức, phương thức thực
49
hiện việc xử lý các hành vi xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của con người và giải quyết các tranh chấp trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
* Vai trò của pháp luật TTHS trong việc bảo vệ quyền con người
Theo quan điểm của chúng tôi, vấn đề bảo vệ quyền con người trong tốtụng hình sự có thể được coi là trục xoay của toàn bộ các hoạt động tố tụng hình sự,do nó phản ánh nhữngmốiliênhệđa chiều và mang trong mình nhiều nghịch lý của các mối quan hệ. Tố tụng hình sự của bất kỳ quốc gia và hệ thống pháp lý nào cũng đều phải thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ: vừa phải xácđịnh cho được sự thật của vụ án, bảo đảm để công lý được thực thi, nhưng lại vừa phải làm thế nào để trên con đường đi tìm sự thật và công lý thì quyền của tất cả những người có liên quan đều phải được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ.
Chính vì thế, vấn đề “bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự” làmột vấn đề có nhiều phương diện thể hiện khác nhau trong một tổng thể thống nhất – nhất quán của chính sách hình sự và của tư pháp hình sự.
Ở nghĩa rộng nhất, đó là sự bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự bất kể vị trí và vai trò cụ thể của con người đó trong tố tụng hình sự là gì: làngười bị hại đang tìm kiếm sự bồi thường thiện hại và công lý của mình do hành vi tội phạm gây ra; là người bị buộc tội đang tìm cách để chống lại sự buộc tội nhằm phủ nhận cáo buộc hoặc giảm nhẹ mức độ cáo buộc. Nói cách khác, “bảođảm quyền con người trong tố tụng hình sự” hàm chứa hai thành tố không trùng hợp với nhau, thậm chí trái chiều với nhau cả về hình thức và nội dung: 1) Khôi phục lại các quyền bị tội phạm xâm hại và 2) Bảo đảm các quyền do sự cáo buộc phạm tội có thể gây ra.
Từ hai tuyến chính của việc bảo đảm các quyền con người trong tố tụng hình sự còn có thêm nhu cầu không kém phần quan trọng, cần được quan tâmđúng mức. Đó là quyền và lợi ích của những chủ thể không phải là nạn nhân của tội phạm, cũng không phải là đối tượng của việc buộc tội, nhưng lại can dự vào quá trình thực hiện các hoạt động và hành vi tố tụng: người làm chứng, người có
50
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan… Đương nhiêu cũng không thể không nói đến việc bảo đảm quyền của những người thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng nhưThẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, những người tham gia tố tụng như luật
sư, bào chữa viên, người giám định, người phiên dịch v.v…
Tuy nhiên, trọng tâmcủanhiệmvụbảođảmquyền conngườitrongtốtụng hình sự vẫn là việc bảo đảm quyền con người cho người bị buộc tội: người bị tình nghi, bị can, bị cáo.
Điều đó xuất phát từ một điểm mấu chốt: tâm điểm của tố tụng hình sự làviệc xác định trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạtđối với người phạm tội. Tố tụng hình sự thực chất là mối quan hệ quyền lực, trong đó bên có quyền lực áp dụng các biện pháp cưỡng chế là Nhà nước mà đại diện là các cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị tình nghi, bịcan, bị cáo là những người thuộc phíayếu thế, do trong quan hệ này, quyền lực nhằm vào họ, họ phải đối mặt với cả bộ máy các cơ quan nhà nước buộc tội họvới đội ngũ cán bộ được trả lương và cung cấp các trang bị cần thiết, có các kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ và kiến thức pháp luật, người bị buộc tội có thểáp dụng các biện pháp ngăn chặn và khó có khả năng bình đẳng với bên buộc tội trong việc chứng minh, thu thập chứng cứ và trình bày chứng cứ; không dễ dàng gì trong việc sử dụng quyền tiếp cận công lý như thuê luật sư, tìm và hiểu các quy định của pháp luật, các thủ tục tố tụng. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấyđiều này thông qua những quy định về áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam:
khoảng 40% bị cáo trước khi bị đưa ra xét xử đã từng bị tạm giam, đa số trongđó đã bị giam giữ. Theo quy định của BLTTHS, thời hạn tạm giam để điều trađược quy định là tối thiểu là 2 tháng, tối đa là 16 tháng (với các loại tội phạm nói chung). Như vậy, trong một khoảng thời gian dài, bị cáo đã phải đối diện song phương với Điều tra viên và vì vậy số phận, việc bảo đảm quyền và lợi ích của họ hoàn toàn phụ thuộc vào Điều tra viên, chưa nói đến tính bí mật khép kín của hoạt động điều tra. Giai đoạn được coi là công bằng, công khai nhất là giai đoạn
51
xét xử thì trừ những vụ án phức tạp, còn phần lớn các vụ án thông thường, thời gian xét xử chỉ từ 1- 2 ngày.
Chính vì vậy, mặc dù không thể coi nhẹ việc bảo đảm quyền con người, màtrướchếtlà danhdựnhân phẩm, tính mạng tàisảncủatấtcảcác bên vànhững con người trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự, tâm điểm chú ý của pháp luật quốc tế và của pháp luật quốc gia, của cải cách tư pháp vẫn là việc bảođảm quyền con người đối với “phía” người bị buộc tội tại tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự, tức là bảo đảm để bảo vệ các quyền do sự cáo buộc phạm tội có thể gây ra.
* Vấn đề Bảo vệ quyền con người trong pháp luật quốc tế
Bảovệquyền conngườibằnghệthống tư pháp hìnhsựlà việc các cơquan tiến hành tố tụng trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của mình vàcác quy định của pháp luật, xử lý những hành vi xâm phạm đến quyền con người hoặc giải quyết các tranh chấp trong xãhộinhằmbảovệquyền con người. Quyền được bảo vệ quyền con người là một trong những quyền cơ bản của con người. Theo Điều 8 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) thì mọi người đều có quyềnđượcbảovệbởimộtphương thức khắc phụchữuhiệu (right to an effective remedy). Theo đó: “Mọi người đều có quyền được các toà án quốc gia có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp hữu hiệu để chống lại những hành vi vi phạm các quyền cơbảncủahọmàđãđượchiến pháp hay luật pháp quyđịnh”[82]. Như vậy, việc bảo vệ quyền con người bằng hệ thống cơ quan tòa án quốc gia (hay cơ quan tài phán quốc gia) là nghĩa vụ của nhà nước và là quyền của người dân.
Chúng ta có thể tìm thấy trong các văn kiện Quốc tế về quyền con người trong TTHS như Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948; Công ước quốc tếvề các quyền dân sự, chính trị năm 1966; Những nguyên tắc cơ bản trong việcđối xử với tù nhân; Công ước chống tra tấn, đối xử vô nhân đạo và hạ nhục con
người năm 1985… Đây được coi là tiêu chuẩn về nhân quyền trong TTHS. Theođó,quyền conngườitrong TTHS baogồmnhững quyền sau(Điều10, 11
52
UHDR, Điều 14, 15 và 11 ICCPR): Quyền được xét xử công bằngbởi một thủtụcTTHS và tòa án công bằng, công khai; Quyềnbấtkhảxâm phạmvềtính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và quyền tự do cá nhân khác. Mọi trường hợp áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS phải trên cơ sở luật định; Quyềnđược suy đoán vô tội; Quyền được bào chữa và biện hộ, quyền không bị xét xửquá mức chậm trễ; Áp dụng thủ tục TTHS đặc biệt với NCTN; Quyền kháng cáo bản án để xét xử phúc thẩm, quyền được nhanh chóng minh oan. Quyền không
bị kết tội hai lần về cùng 1 hành vi…
Các quyền đó được ghi nhận, được khuyến cáo thực hiện và đòi hỏi thực hiện trong tất cả các văn kiện pháp lý quốc tế và khu vực. Có thể nói, đó chính lànhững chuẩn mực pháp lý quốc tế về quyền con người trong tố tụng hình sự.
Tuyên ngôn phổ quát về quyền con người năm 1948 (UHDR)
Ngày 10 tháng 12 năm 1948ĐạihộiđồngLiênhợpquốcđãcôngbốTuyên ngôn phổ quát về quyền con người với những tuyên bố cơ bản sau đây:
“Mọi người đều cóquyền sống, quyền tự do và bất khả xâm phạm thân thể” (Điều 3); “Mọi người đềubình đẳng trước pháp luật và không vì một sựkiện khác biệt nào mà không có quyền được pháp luậtbảovệ” (Điều 7); “Mọi người, để xác định các quyền và nghĩa vụ của mình và để làm rõ lý do mình bịbuộc tội,đềucó quyền bìnhđẳnghoàn toàn trong việcđểvụviệccủamìnhđược xétxử một cách công khai bởi một Tòa án độc lập, vô tư với sự tuânthủcác đòi hỏi về sự công bằng” (Điều 10); “Không ai có thể bị bắt, giữa hoặc trục xuất một cách tùytiện” (Điều9); “Không ai cóthểbịtratấnhoặcđốixửvàchịu hình phạt dã man, phi nhân tính hoặc làmmấtphẩm giá của mình” (Điều 5); “Mỗi người, khi bị cáo buộc phạmtội, đềucó quyền được coi là vô tội khi mà tội của người đó chưa được xác định bởi một trình tự luật định thông quá sựxét xử công khaicủaTòa án theo đó các khả năngbào chữa được bảođảm” (Khoản 1, Điều 11); “Không ai có thể bị can thiệp tùy tiện vào đời sống riêng tư và gia đình, bị xâm phạm tùy tiệnsự bấtkhả xâm phạmvề chỗ ở, bí mậtthư
53
tín, danh dự và uy tín.Mọi ngườiđều có quyềnđược phápluậtbảovệtrong những trường hợp ấy” (Điều 12).
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16 tháng 12 năm 1966 đã tiếp tục khẳngđịnh những quyền cơ bản của người bị buộc tội đã ghi trong Tuyên ngôn phổquátvềquyền conngườinăm 1948: Khẳngđịnhnhững nguyêntắcvềsựbìnhđẳng trước Tòa án, quyền được một Tòa án vô tư xét xử kịp thời, quyền được bảo vệ bí mật đời tư và đạo đức trong quá trình xét xử (Điều 13). Toàn bộ nội dungĐiều 14 của Công ước tập trung vào việc xác định quyền của người bị buộc tội, theo đó, nguyên tắc suy đoán vô tội và những bảo đảm thực hiện quyền bào chữađã được xác định rất rõ ràng và cụ thể. Công ước đã xác định nguyên tắc suy đoán vô tội như sau: “Người bị buộc tội về hình sự có quyền được coi là vô tội khi màtội của người đó chưa được chứng minh theo pháp luật”; Các bảo đảm thực hiện quyền được bào chữa của người bị buộc tội được liệt kê tại Khoản 3 Điều 14 này dưới hình thức là những quyền phát sinh của quyền được bào chữa (như quyềnđượcthông báo không chậm trễ; cóđủthời gian vàđiềukiện cần thiết có việc chuẩn bị bào chữa; được xét xử trong thời hạn hợp lý; được xét xử với sự có mặt của mình và được tự bào chữa hoặc thông qua người bào chữa được mình chọn;được lấy lời khai người làm chứng có chứng cứ chống lại mình hoặc được triệu tậpvàlấylờikhaingườilàm chứngcủamình theo những cách nhưngườilàm chứng chống lại mình; được sử dụng phiên dịch miễn phí; được quyền không đưa ra những lời khai chống lại mình hoặc không bị ép nhận tội; không ai có thể bị xét xử hoặc chịu hình phạt hai lần vì một tội phạm khi việc kết tội hoặc tha tội đãxong hoàn toàn theo pháp luật và thủ tục tố tụng hình sự của mỗi nước).
Ngoài Công ước này, các văn kiện có tính toàn cầu còn bao gồm: Bộ các nguyêntắccơbảncủaLiênHợpquốcvềvai tròcủaluật sư (United Nations Basic Principles on the Role of Lawyers), Quy chế Rôm về Tòa án hình sự quốc tế(Rome Status of the International Criminal Court).
54
Bên cạnh các văn kiện pháp lý có ý nghĩa toàn cầu là các văn kiện có tính chất khu vực, theo đó, có thể thấy: Công ước châu Âu về quyền con người năm 1950, Công ước châu Mỹ về quyền con người năm 1969, Hiến chương châu Phi về quyền con người và quyền các dân tộc năm 1981. Ở châu Á hiện nay chưa cómột văn bản pháp lý chính thức đưa ra những chuẩn mực riêng cho khu vực vềquyền con người, trong đó có liên quan đến quyền con người trong tố tụng hình sự. Năm 2008 ASEAN đã thông qua bản Hiến chương của mình. Theo đó, Hiến chương, tại Điều 14, đã xác định việc thành lập cơ quan nhân quyền khu vực. Trên có sở đó các nước ASEAN đã nhất trí thành lập Cơ quan bảo vệ và thúcđẩyquyền conngườichung (ASEAN Human Rights Body). Tuy nhiên, vẫn chưa có những thỏa thuận liên quan đến quyền của người bị buộc tội.
* Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong tư pháp hình sựquốc tế
Trong số các văn bản quốc tế về tư pháp người chưa thành niên, đầu tiên phải kể đến Công ước về quyền trẻ em do Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989, có hiệu lực từ ngày 2/9/1990. Đây là văn kiện pháp lý cósố thành viên lớn nhất phê chuẩn so với tất cả các Công ước quốc tế khác đề cập tới một số khía cạnh về tư pháp người chưa thành niên, các vấn đề liên quan đến trẻ em và quyền con người.
Ngoài ra, còn có các văn kiện đề cập trực tiếp đến vấn đề tư pháp người chưa thành niênđượcthông quatạicácHộinghịcủaLiênhợpquốc do các Chính phủ nhóm họp 5 năm một lần về pháp luật liên quan đến công tác ngăn ngừa tội phạm và đối xử với người phạm tội. Đó là các văn kiện:
(1) Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luậtđốivớingườichưa thành niên doĐạihội đồngLiên hợp quốc thông qua 29/11/1985 (từ đây gọi tắt là Quy tắc Bắc kinh);
(2) Hướng dẫn Riyadh về việc phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 14/12/1990 (từ đây gọi tắt là Hướng dẫn Riyadh);
55
(3) Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 14/12/1990 (từ đây gọi tắt là Quy tắc 1990).
Bên cạnh đó, Nghị quyết do Hội đồng các vấn đề kinh tế và xã hội của Liên hợp quốc thông qua tháng 07/2002 và “Các nguyên tắc cơ bản về việc áp dụng các Chương trình tư pháp phục hồi trong các vấn đề hình sự” nhấn mạnh các nguyên tắc về tư pháp phục hồi là cơ sở để giải quyết các xung đột.
Các văn kiện này có tính hướng dẫn, đưa ra những khuyến nghị về việc thiết lập một hệ thống tư pháp người chưa thành niên trong khuôn khổ pháp luậtở mỗi quốc gia nhằm vừa tôn trọng quyền và bảo vệ trẻ em, vừa duy trì trật tự, an toàn trong xã hội. Dođó,các văn kiện này nhằm giúp các quốc gia hoạchđịnh các chính sách về tư pháp người chưa thành niên, đồng thời để giải thích cách áp dụng trong thực tế những quy định của Công ước về quyền trẻ em liên quan đến tư pháp người chưa thành niên.
Trên cơ sở hệ thống các văn bản pháp luật quốc tế, chúng tôi tổng hợp, liệt kê các Nhóm quy định đặc thù trong tố tụng hình sự nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên
Công ước Quyền Trẻ em
4 quy tắc chung về đối xử với NCTNPT (Điều 40 CUQTE): (1) đối xửtheo cách thức phù hợp với việc tôn trọng nhân phẩm, danh dự của các em; (2) Tăng cường sự tôn trọng của trẻ em đối với các quyền con người và các quyền tựdo cơ bản của người khác; (3) Phù hợp với lứa tuổi, và từ đó là tâm sinh lý của trẻ em; (4) thúc đẩy sự tái hoà nhập và vai trò của trẻ em trong xã hội.
8 bảo đảmcho quá trình tố tụng đối với trẻ em bị truy cứu trách nhiệm hình sự và những chuẩn mực nhằm thúc đẩy hình thành hệ thống tư pháp NCTNởcác quốc gia: (1) luật hìnhsựkhông có hiệu lực hồitố;(2)được hưởng nguyêntắcsuy đoán vô tội; (3) trước khi bịđưara xét xử, trẻ em phảiđược thông báo nhanh chóng, trực tiếpvềnhữngđiềubịbuộctộivà phảiđượcsựgiúp đỡ về mặtpháp lý hoặc sự giúp đỡ thích hợp khác để thực hiện việc bào
56
chữa; (4) tại phiên toà, trẻ em phảiđược sự giúp đỡ pháplý để tham gia cùng với cha mẹ hoặc người giám hộ vào một cuộc tường trình, thẩm vấn công bằng,đúng pháp luật trước một Hội đồng xét xử có thẩm quyền, độc lập, vô tư và cókhả năng ra quyết định một cách không chậm trễ; (5) trẻ em không bị ép buộc làm chứng hay nhận tội; có quyền thẩmvấnhaynhờngườithẩmvấnnhững nhân chứng chống lại mình đồng thời có quyền đưa ra những người làm chứng cho mình trong những điều kiện bình đẳng; (6) quyền được kháng cáo đối với những quyết định sơ thẩmđể được xétxử phúc thẩm bởi một Hội đồng xétxửcó thẩm quyền cao hơn, độc lập và vô tư; (7) được có người phiên dịch miễn phí trong những trường hợp cần thiết; (8) được giữ bí mật những điều riêng tưtrong suốt quá trình tố tụng.
3 chuẩnmựcnhằm thúcđẩyhình thànhhệthống tư pháp NCTNởcác quốc gia: (1) nên có những đạo luật, thủ tục, thiết chế riêng để áp dụng cho trẻem ở độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự; (2) nên áp dụng hệ thống các biện pháp xử lý không phải tố tụng tư pháp trong những trường hợp thích hợp đảm bảo tôn trọng các quyền con người và trật tự pháp luật; (3) ngoài những cơ quan vàtổchức trongthểchếtư pháp,cầnthiếtlậpcác biện pháp mang tính cộngđồng (tư vấn, sự chăm sóc thay thế của cha mẹ, các chương trình giáo dục và dạy
nghề…) để đảm bảo cho trẻ em được đối xử phù hợp với lợi ích và tương xứng với hành vi phạm tội của các em.

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự

