Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát  triển và Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong thương mại quốc tế hiện nay, các tranh chấp về chống BPG ngày càng trở nên phức tạp và phổ biến khi mà các biện pháp chống BPG đang được nhiều quốc gia, trong đó chủ yếu là các nước phát triển, sử dụng như một rào cản trong thương mại và bảo hộ cho ngành sản xuất nội địa. Trong vòng 17 năm, tính từ ngày 1/1/1995 cho tới ngày 30/06/2013, đã có tổng cộng 4.358 vụ điều tra chống BPG mới được khởi xướng với 2.795 biện pháp chống BPG đã được áp dụng bởi các thành viên WTO. Các vụ điều tra chống BPG và sử dụng các biện pháp chống BPG của các thành viên WTO mặc dù không tăng nhiều về số lượng nhưng chúng ngày càng trở nên phức tạp và khó kiểm soát hơn. Tínhđến hết tháng 12/2013, khoảng hơn 100 thành viên WTO đã có khung pháp lý về điều tra chống BPG, trong số đó, có đến hơn nửa số thành viên mỗi năm khởi xướng ít nhất 1 vụ điều tra chống BPG [64], và khoảng 70 thành viên WTO đã tiến hành các vụ điều tra chống BPG trên thực tế [54]. Bởi vậy, trước thực trạng nói trên, các thành viên WTO, bên cạnh việc tìm ra những giải pháp để đối phó với các cuộc điều tra về chống BPG và việc áp thuế chống BPG, đã tích cực sử dụng những cơ chế thích hợp để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình. Một trong những cơ chếđược đánh giá là có hiệu quả nhất hiện nay chính là DSM của WTO.

Theo Điều 17 của ADA, các thành viên WTO có thể đưa các tranh chấp vềchống BPG ra giải quyết theo DSM của tổ chức này. Trên thực tế, tính đến hết tháng 12/2013, 102 vụ tranh chấp về chống BPG đã và đang được giải quyết tại WTO [78]. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đạt được, qua hơn 19 năm tồn tại, việc giải quyết tranh chấp về chống BPG nói riêng và DSM của WTO nói chung đã bộc lộ một số điểm hạn chế và bất cập cần phải được hoàn thiện.

Ngày 11/01/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO và được hưởng qui chế dành cho một thành viên đang phát triển. Kể từthời điểm đó, Việt Nam có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ vàđược hưởng sự đối xửđặc biệt và khác biệt dành cho thành viên đang phát triển trong giải quyết tranh chấp tại WTO để bảo vệ những lợi ích chính đáng của mình. Tính đến hết tháng 12/2013, Việt Nam đã tham gia vào chín vụ tranh chấp về chống BPG trên tổng số mười chín vụ kiện có sự tham gia của Việt Nam tại WTO [59]. Qua từng vụtranh chấp, Việt Nam, ở một mức độ nhất định, đã tham gia chủ động và tích cực vào DSM của WTO. Tuy nhiên, sự tham gia đó vẫn còn những hạn chế bởi tính phức tạp của các vụ tranh chấp về chống BPG tại WTO cũng như cơ chếđiều phối của chính Việt Nam.

Việc nghiên cứu pháp luật của WTO, cũng như yêu cầu chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động tham gia vào việc giải quyết các tranh chấp quốc tế là nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước như Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/04/2013 của Bộ Chính trị vềhội nhập quốc tế; Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 05/02/2007 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới; Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế; Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP của Chính phủ ngày 27/02/2007 ban hành Chương trình hành động của Chính phủthực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW; Quyết định số 37/2002/QĐ-TTg ngày 14/03/2002 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủthực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TW; Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 09/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp triển khai chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Bên cạnh đó, thực tiễn tham gia của Việt Nam trong các vụ tranh chấp vềchống BPG đã đặt ra một yêu cầu cấp bách đối với việc nghiên cứu một cách toàn diện pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG

tại WTO, học hỏi kinh nghiệm của các nước cũng như xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan ở trong và ngoài nước, để từ đó, có thể đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO.

Thực hiện các chủ trương mà Đảng đề ra, xuất phát từ thực tiễn tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết các tranh chấp về chống BPG tại WTO cũng như những yêu cầu cấp bách đặt ra cho Việt Nam v.v., cho thấy tính cấp thiết cao, cả về lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài “Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”.

2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm các vấn đề: lịch sử hình thành, phát triển và việc áp dụng pháp luật quốc tế trong giải quyết các tranh chấp vềchống BPG tại WTO; quan niệm hiện hành của WTO về chống BPG, tranh chấp về chống BPG và pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG; nội dung những vấn đề chung và những vấn đề cụ thể của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO; thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG; thực tiễn tham gia của một số nước đang phát triển và thực tiễn tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO.

Tranh chấp về chống BPG và cơ chế giải quyết các tranh chấp này trong khuôn khổ WTO là những vấn đề phức tạp và có phạm vi nghiên cứu rộng. Bởi vậy, trong khuôn khổ hạn định về số trang đối với một luận án, tác giả sẽ chỉ tiến hành: (1) phân tích lịch sử hình thành, phát triển và việc áp dụng pháp luật quốc tế trong giải quyết các tranh chấp về chống BPG tại WTO; (2) phân tích quan niệm hiện hành của WTO về chống BPG, tranh chấp về chống BPG và pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG; (3) phân tích nội dung những vấn đề chung và những vấn đề cụ thể của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, trong đó, tập trung vào những điểm đặc thù của lĩnh vực giải quyết tranh chấp về chống BPG và phạm vi các vấn đề tranh chấp về chống BPG được giải quyết tại DSB. Mặc dù có liệt kê tất cả các phương thức giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO, tuy nhiên, tác giả cũng sẽ chỉ chủ yếu phân tích cơ chế giải quyết tranh chấp vềchống BPG tại DSB/WTO; (4) trình bày khái quát về thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG, tập trung phân tích kinh nghiệm và thực tiễn tham gia vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG của ba nước Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan và thực tiễn của Việt Nam. Tác giả lựa chọn ba nước Ấn Độ, Trung Quốc và Thái Lan bởi lẽ đây cũng là những nước đang phát triển, cùng ở khu vực Châu Á, rất “tích cực” tham gia vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, đồng thời có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam vềcác mặt hàng thường xuyên bị điều tra chống BPG, và một phần nào đó là vềđiều kiện, hoàn cảnh phát triển kinh tế – xã hội.

3. Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu nêu trên, Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp

tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và đối chiếu, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn để đưa ra các giải pháp cụthể và khả thi. Trong khuôn khổ của Luận án này, phương pháp so sánh là phương pháp chủđạo được sử dụng trong hầu hết các chương,đặc biệt làChương 2 khi phân biệt khái niệm “tranh chấp về chống BPG” tại WTO với khái niệm “tranh chấp về BPG” và “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của quốc gia thành viên, đồng thời, tác giả cũng tiến hành phân biệt ba loại tranh chấp liên quan tới các biện pháp khắc phục thương mại có mối liên hệ gần gũi với nhau trong khuôn khổ WTO, đó là “tranh chấp về chống BPG”, “tranh chấp về chống trợ cấp” và “tranh chấp về tự vệ thương mại”. Tương tự, phương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn cũng được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ nội dung của luận án. Phương pháp tổng hợp và phân tích được sử dụng như những phương pháp bổ trợ cho phương pháp so sánh.

4. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Mục đích của Luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn thông qua việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề liên quan

tới giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, vị thế của các nước đang phát triển cũng như làm rõ thực tiễn tham gia của các nước đang phát triển nói chung và của Việt Nam nói riêng vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG,để trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO.

Để thực hiện mục đích trên, Luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

– Phân tích các quan điểm về chống BPG, tranh chấp về chống BPG cũng như những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO;

– Tổng hợp, phân tích và đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, đi sâu vào phân tích một số vụ tranh chấp cụ thể và làm rõ nhữngđiểm bất cập của việc giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ của tổ chức này; đồng thời, phân tích và đánh giá thực tiễn tham gia của Ấn Độ,Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO,từ đó rútra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;

– Phân tích các quan điểm và định hướng cơ bản, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO.

5. Những kết quả nghiên cứu mới của Luận án

– Luận án đã phân biệt “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của WTO với “tranh chấp về BPG” và “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của quốc gia thành viên, đồng thời phân biệt ba loại tranh chấp theo pháp luật của WTO liên quan tới các biện pháp khắc phục thương mại có mối liên hệ gần gũi với nhau, đó là “tranh chấp về chống BPG”, “tranh chấp về chống trợ cấp” và “tranh chấp về tự vệ thương mại”, qua đó, làm rõ quan niệm hiện hành của WTO đối với “tranh chấp về chống BPG”. Đây là những thuật ngữ thường dễ bịnhầm lẫn trong quá trình sử dụng, bởi vậy, các kết quả nghiên cứu nói trên đã góp phần làm sáng tỏ và giúp phân biệt rõ ràng những thuật ngữ này;

– Luận án đã làm rõ nội dung và điểm đặc thù của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG so với việc giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế nói chung tại WTO;

– Luận án đã làm rõ mối quan hệ tương tác giữa giải quyết tranh chấp vềchống BPG theo pháp luật WTO và giải quyết tranh chấp về BPG theo pháp luật quốc gia thành viên;

– Luận án đã làm rõ phạm vi và đặc điểm của bốn vấn đề tranh chấp vềchống BPG được giải quyết tại DSB, bao gồm tranh chấp về thuế chống BPG chính thức, tranh chấp về sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá, tranh chấp về biện pháp tạm thời, và tranh chấp về sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một quốc gia thành viên với nội dung của ADA;

– Luận án đã nhận định được xu hướng vận động và phát triển của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO;

– Luận án đã làm sáng tỏ được thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển; tổng hợp được kinh nghiệm tham gia vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG của Ấn Độ, Trung Quốc và Thái Lan; đồng thời Luận án cũng đã chỉ ra được thực trạng và nguyên nhân sự tham gia hạn chế của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng vào quá trình giải quyết các tranh chấp này;

– Luận án, dựa trên cơ sở những kết quả phân tích và đánh giá khách quan, đã nêu ra được những bài học kinh nghiệm và đưa ra được các giải pháp mới, có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào quá trình giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, chủ yếu là những đề xuất cụ thể khi Việt Nam tham gia với tư cách là nguyên đơn, bị đơn hay bên thứ ba trong các vụ tranh chấp về chống BPG tại WTO.

6. Cấu trúc của Luận án

Luận án bao gồm phần mở đầu, nội dung, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục. Nội dung luận án được bố cục thành bốn chương, có kết luận của từng chương, cụ thể:

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu ở các nước và ở Việt Nam liên quan đến đề tài Luận án.

Chương 2: Những vấn đề lýluận đối với tranh chấp về chống BPG và pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO.

Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG và sựtham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam.

Chương 4: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG.

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở CÁC NƯỚC VÀ Ở VIỆT

NAM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Tình hình nghiên cứu ở các nước

1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.3. Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và phương pháp xử lý vấn đề

Trên cơ sở đánh giá và kế thừa những kết quảđã đạt được của các công trình nghiên cứu ở các nước và ở Việt Nam, Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu vàlàm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn, đồng thời có định hướng về việc xây dựng và đề xuất các giải pháp như sau:

Thứ nhất là, về mặt lý luận:

– Phân tích và nhận định về xu hướng vận động và phát triển của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO. Trên cơ sởphân chia lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO thành các giai đoạn cụ thể, luận án sẽ tiến hành đánh giá tổng thể những thành công và hạn chế của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG, bao gồm cả luật tố tụng vànội dung, qua từng giai đoạn, để từ đó thấy được tính kế thừa và phát triển của pháp luật WTO so với GATT 1947, cũng như xu hướng vận động và phát triển của lĩnh vực pháp luật này trong thời gian tới;

22

– Làm rõ quan niệm hiện hành của WTO đối với tranh chấp về chống BPG. Ngoài việc đưa ra một cách hiểu theo quan niệm hiện hành của WTO đối với tranh chấp về chống BPG, luận án sẽ tiến hành phân tích các đặc điểm cơbản của loại tranh chấp này về tính chất, về chủ thể, về phạm vi các vấn đề tranh chấp được giải quyết tại DSB và về cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp vềchống BPG, cả ở khía cạnh luật nội dung và tố tụng. Bên cạnh đó, để hiểu rõ hơn thuật ngữ “tranh chấp về chống BPG” trong khuôn khổ WTO, luận án sẽ tiến hành phân biệt loại tranh chấp này với “tranh chấp về BPG” và “tranh chấp vềchống BPG” theo pháp luật của quốc gia thành viên, đồng thời phân biệt ba loại tranh chấp liên quan tới các biện pháp khắc phục thương mại có mối liên hệ gần gũi với nhau trong khuôn khổ WTO, đó là “tranh chấp về chống BPG”, “tranh chấp về chống trợ cấp” và “tranh chấp về tự vệ thương mại”;

– Làm rõ nội dung vàđiểm đặc thù của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO. Việc xác định các loại nguồn của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, về cơ bản, cũng dựa trên cách xác định nguồn luật áp dụng truyền thống theoĐiều 38(1) của Qui chế Tòa án Công lý Quốc tế, có tính tới cả những đặc thù của WTO và lĩnh vực chống BPG;

– Làm sáng tỏ mối quan hệ tương tác giữa giải quyết tranh chấp về chống BPG theo pháp luật WTO và giải quyết tranh chấp về BPG theo pháp luật quốc gia thành viên. Việc nghiên cứu về mối quan hệ tương tác nói trên có một vị trí quan trọng trong việc nhận diện và hiểu rõ bản chất của việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, nhằm hạn chế những sự nhầm lẫn,ở cả góc độthuật ngữ và thực tiễn áp dụng;

– Làm sáng tỏ khái niệm và đặc điểm của bốn loại tranh chấp về chống BPG được giải quyết tại DSB trong khuôn khổ WTO, bao gồm tranh chấp về

23

thuế chống BPG chính thức, tranh chấp về sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá, tranh chấp về biện pháp tạm thời, và tranh chấp về sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một quốc gia thành viên với nội dung của ADA. Luận án cũng sẽ tiến hành phân tích những lý do mà các thành viên WTO lựa chọn vàquyết định khởi kiện đối với từng loại tranh chấp này.

Thứ hai là, về mặt thực tiễn:

– Phân tích và đánh giá một cách tổng thể và toàn diện đối với thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO. Sau khi tiến hành thống kê và phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống BPG, Luận án sẽ đưa ra những nhận xét về tình hình giải quyết tranh chấp, về các nhóm mặt hàng và lĩnh vực tranh chấp, sự tham gia của các đối tượng chủ thể khác nhau v.v. Đồng thời, Luận án cũng sẽ tiến hành phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống BPG ở các giai đoạn tham vấn, xét xử hội thẩm, kháng cáo và phúc thẩm, thi hành quyết định của DSB thông qua các số liệu thống kê cụ thể. Đặc biệt, Luận án sẽ tiến hành phân tích các nguyên nhân dẫn đến thực trạng nói trên để từ đó có thể rút ra những nhận xét và những điểm cần lưu ý đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng;

– Làm sáng tỏ thực trạng sự tham gia của các nước đang phát triển vào quá trình giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO. Qua phân tích và đánh giá thực trạng nói trên, Luận án sẽ làm rõ những nguyên nhân của việc tham gia hạn chế của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng như sự hạn chế về năng lực, điều kiện tài chính và nguồn nhân lực để theo đuổi các vụ kiện, thiếu kinh nghiệm trong giải quyết tranh chấp, tâm lý lo ngại “sự trả đũa” v.v.;

– Làm rõ thực trạng tham gia giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO của Ấn Độ, Trung Quốc và Thái Lan. Luận án sẽ làm sáng tỏ thực tiễn tham gia vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO của ba nước này

24

với tư cách là nguyên đơn, bị đơn và bên thứ ba, để từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;

– Làm rõ thực trạng tham gia giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO của Việt Nam, chủ yếu là từ hai vụ kiện DS404 và DS429 với Hoa Kỳ, đồng thời, tiến hành tổng hợp và đánh giá về toàn bộ thực tiễn tham gia vào việc giải quyết tranh chấp của Việt Nam dù là với tư cách nguyên đơn hay bên thứ ba, cũng như đánh giá khả năng Việt Nam phải đối diện với những vụ tranh chấp vềchống BPG tại WTO trong tương lai, trong đó bao gồm cả khả năng trở thành bịđơn trong các vụ tranh chấp.

Thứ ba là, định hướng về việc xây dựng các giải pháp và đưa ra đề xuất:

– Làm sáng tỏ những quan điểm và định hướng cơ bản cho việc nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO vềchống BPG, về cơ bản, sẽ được tiến hành phân tích dựa trên các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động tham gia vào việc giải quyết các tranh chấp quốc tế, những yêu cầu của quá trình hội nhập nói chung và việc tham gia vào WTO nói riêng cũng như điều kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam;

– Kiến nghị một hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG bao gồm việc tổng hợp và kế thừa một số giải pháp đã được trình bày trong các công trình nghiên cứu trước đó, đồng thời, đưa ra một số đề xuất mới, cụ thể đối với Việt Nam trong từng trường hợp khi Việt Nam tham gia với tư cách là nguyên đơn, bịđơn hay bên thứ ba.

25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam luôn là vấn đề thu hút được sựquan tâm nghiên cứu của các chuyên gia và các nhà khoa học pháp lý ở trong và ngoài nước. Một loạt các công trình nghiên cứu được công bố, ở những mức độchi tiết khác nhau, đã phân tích được một số nội dung cơ bản của vấn đề này.

Mặc dù có nhiều nội dung đã được đề cập tới trong các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, nhưng cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào kết hợp nghiên cứu cả khía cạnh lý luận và thực tiễn của vấn đề giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển; phân tích kinh nghiệm của một số nước đang phát triển, đặc biệt đi sâu vào nghiên cứu về trường hợp của Việt Nam để từ đó đề xuất các định hướng, giải pháp thiết thực nhằm giúp Việt Nam tham gia hiệu quả hơn vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO.

Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đó, Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu và làm rõ một số khía cạnh lý luận và thực tiễn của vấn đề giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp phù hợp với Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG.

26

CHƯƠNG 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ĐỐI VỚI TRANH CHẤP VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ ÁP DỤNG TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TẠI WTO

2.1. Lịch sử hình thành, phát triển và việc áp dụng pháp luật quốc tếtrong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO

Pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO là sự kế thừa và phát triển pháp luật của GATT 1947. Lịch sử hình thành và phát triển của lĩnh vực pháp luật này có thể được chia thành ba giaiđoạn với những cột mốc phát triển quan trọng.

2.1.1. Giai đoạn trước năm 1947

Không phải tới khi có GATT 1947, pháp luật quốc tế mới có những qui định đầu tiên được áp dụngđể giải quyết tranh chấp về chống BPG. Sau những nỗ lực đơn phương của một số quốc gia như Hoa Kỳ, Ôxtrâylia, Canađa v.v, nhằm xử lý thực tiễn thương mại không lành mạnh những năm đầu thế kỷ 20, tại một diễn đàn đa phương được tổ chức tại Giơnoa (Italia) vào tháng 5 năm 1922, Hội Quốc liên, tổ chức tiền thân của Liên Hợp quốc, đã soạn thảo và cho ra đời một Bản ghi nhớ về BPG (Memorandum on Dumping). Tuy nhiên, bản ghi nhớnày không có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý đối với các quốc gia thành viên, bởi vậy tầm ảnh hưởng của văn bản này rất hạn chế [43, tr. 1404-1405]. Đến hội nghị Bretton Woods (1944-1945), các bên tham gia đã chính thức đưa vấn đềBPG ra để thảo luận trong khuôn khổ đa phương. Tại hội nghị này, Tổ chức thương mại quốc tế (International Trade Organization – ITO) cũngđược dự kiến thành lập cùng với một số thiết chế thương mại quốc tế khác. Ngày 05/03/1946, Hội đồng Kinh tế và Xã hội của Liên Hợp quốc đã thông qua một nghị quyết thành lập một ủy ban chuẩn bị cho Hội nghị của Liên Hợp quốc về Thương mại

27

và Phát triển. Sau đó, các bên tham gia đã tiến hành thông qua Hiến chương Havana vào năm 1948, trong đó có những điều khoản cơ bản để thành lập ITO. Tuy rằng ITO sau đó không được thành lập nhưng những nội dung liên quan tới chính sách thương mại trong Chương 4 của bản Hiến chương này đã tiếp tục được ghi nhận trong GATT 1947, tại Điều VI [12, tr. 44-45].

Có thể thấy, giai đoạn trước năm 1947 là giai đoạn khởi đầu ghi nhận những nỗ lực đơn phương của một số quốc gia trong việc xây dựng các qui tắc đa phương điều chỉnh vấn đề chống BPG. Các qui tắc được ra đời trong giaiđoạn này, mặc dù có tầm ảnh hưởng rất hạn chế, nhưng rõ ràng, chúng là sự“khởi nguồn” cho một loạt các qui định sau này của GATT và WTO.

2.1.2. Giai đoạn từ năm 1947 cho đến năm 1995

Ngày 01/01/1948, GATT 1947 chính thức có hiệu lực. Trong giai đoạn từnăm 1947 cho đến năm 1995, các bên ký kết của GATT đã tiến hành tám vòngđàm phán và kết thúc là sự ra đời của WTO cùng một loạt các hiệp định làm nền tảng cho hoạt động của WTO sau này, trong đó bao gồm cả lĩnh vực pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG, cụ thể:

Thứ nhất là, về mặt tố tụng, cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ GATT 1947 là Điều XXII và Điều XXIII của GATT 1947. Tuy nhiên, những qui định này đã không ghi nhận các thủ tục cụ thể và rõ ràng, và do đó, trên thực tế, hiệu quả giải quyết tranh chấp còn hạn chế. Sau đó, lần lượt ADC 1967 và ADC 1979 ra đời tại các Vòng đàm phán Kenơđi và Vòng đàm phán Tôkyô, được xem là sự bổ sung quan trọng cho Điều XXII và Điều XXIII của GATT 1947. Nếu Điều 17 của ADC 1967, chỉdừng lại ở việc khẳng định về thủ tục tham vấn và dẫn chiếu đến Điều XXII vàĐiều XXIII của GATT 1947, thì Điều 15 của ADC 1979 đã đề cập tới ba thủ tục bao gồm: tham vấn, hòa giải và giải quyết tranh chấp, và đặc biệt, nó đã bước

28

đầu đặt ra phạm vi các tranh chấp về chống BPG liên quan tới ba vấn đề: (i) thuếchống BPG chính thức; (ii) biện pháp tạm thời; và (iii) sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá (Điều 15.3, ADC 1979). Ngoài ra, trong khoảng thời gian này còn diễn ra một số sự thay đổi liên quan tới các qui định về giải quyết tranh chấp nói chung [26, tr. 43-44]. Sự ra đời của DSU, một hiệp định điều chỉnh riêng về

các qui tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp tại Vòng đàm phán Uruguay (1986 – 1994) chính là bước ngoặt quan trọng cho sự phát triển của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO [42, tr. 5].

Thứ hai là, về mặt nội dung, Điều VI của GATT 1947 đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý cơ bản để các bên ký kết của GATT 1947 ứng phó với các vụ việc BPG. Tuy nhiên, trước thực trạng Điều VI được giải thích và áp dụng theo những cách thức không phù hợp, các bên ký kết đã bắt đầu tính tới sự cần thiết phải cho ra đời một hiệp định riêng điều chỉnh trong lĩnh vực này, nhưng trong suốt khoảng thời gian sau đó, đã không có bất kỳ sự thay đổi căn bản nào diễn ra với Điều VI của GATT 1947, ngoại trừ một số kết quả đạt được trong các nghiên cứu của Ban thư ký GATT năm 1958 về pháp luật chống BPG của các quốc gia và kết quả hoạt động của Nhóm chuyên gia (Group of Experts) [43, tr. 1413- 1415],[89, tr. 3-4]. Khi ADC 1967 và ADC 1979 ra đời, mặc dù có những qui định mới vàcụ thể hơn về vấn đề chống BPG, nhưng trên thực tế, vai trò của các ADC này còn hạn chế bởi chúng chỉ là những hiệp định nhiều bên, không bắt buộc đối với tất cả các bên ký kết GATT [18, tr. 25-26]. Sau một loạt các bản dựthảo “Carlisle I”, “Carlisle II”, “New Zealand I”, “New Zealand II”, “New Zealand III”, “Ramsauer Text”, và “Dunkel Draft”, kết thúc Vòng đàm phán Uruguay, ADA đã ra đời [38, tr. 549-586].

Ngoài ra, thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống BPG trong suốt giai đoạn 1948 – 1995, mới chỉ ghi nhận tám vụ tranh chấp (xem Phụ lục số 1). Thực

29

tiễn của GATT cũng như các báo cáo của Ban hội thẩm GATT đã trở thành các nguồn bổ sung quan trọng cho việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO sau này. Một số báo cáo của Ban hội thẩm GATT vẫn thường xuyên được viện dẫn trong quá trình giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO như vụ

Cộng đồng kinh tế Châu Âu – Khăn trải giường, vụ Hoa Kỳ – Thuế chống BPG

đối với cá hồi nhập khẩu từ Nauy; và vụ Thụy Điển – Thuế chống BPG v.v.

Rõ ràng, pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG ở giai đoạn từ năm 1947 cho đến năm 1995 đã đạt được những thành công quan trọng với sự ra đời của hàng loạt các hiệp định đa phương có giá trị pháp lý bắt buộc, cung cấp một khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ cùng với một phạm vi ảnh hưởng rộng lớn khi WTO ra đời. Tuy nhiên, bên cạnh những thành côngđó, pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG ở giai đoạn này vẫn còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế, bất cập. Có những điểm hạn chế, bất cập nảy sinh trong quá trình áp dụng ADA và DSU nhưng cũng có nhữngđiểm bất cập đã được chỉ ra từ giai đoạn đàm phán, soạn thảo ADA và DSU với rất nhiều ý kiến khác nhau được nêu trong các bản đề xuất, bản dự thảo và tại các phiên đàm phán. Điều này đủ để cho thấy sự xung đột lớn về mặt lợi ích giữa các nhóm nước cũng như tính phức tạp của lĩnh vực này. Bởi vậy, sau khi WTO ra đời, các thành viên WTO vẫn cần phải tiếp tục đàm phán và nỗ lực hơn nữa đểhoàn thiện pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG.

2.1.3. Giai đoạn từ năm 1995 cho đến nay

Ngay khi WTO vừa ra đời, rất nhiều các hiệp định được ký kết tại Vòng đàm phán Uruguay đã đặt ra thời gian biểu cho các cuộc đàm phán trong tương lai. Trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp, cuối năm 1998, các thành viên WTO cũng đã tiến hành một hoạt động rà soát toàn diện các qui tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp, nhưng không đạt được một kết quả rõ rệt nào. Sau đó, trong

30

khuôn khổ Chương trình nghị sự phát triển Đôha (Doha Development Agenda –DDA) được khởi động từ năm 2001, những vấn đề liên quan tới pháp luật quốc tếáp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO được các thành viên WTO tiếp tục đàm phán, chủ yếu là về ADA và DSU, cụ thể:

Thứ nhất, theo DDA, các thành viên WTO, sẽ tiến hành đàm phán vềnhững sửa đổi đối với ADA. Tại Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ tưởĐôha (Quata), các Bộ trưởng đã thống nhất tiến hành đàm phán về ADA với mục đích là làm rõ và cải tiến các qui định bên cạnh việc vẫn giữ lại những nguyên tắc, khái niệm và nội dung căn bản của hiệp định, có tính tới lợi ích của các nước

đang phát triển và chậm phát triển [67]. Tại Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ 5 ở Cancun (Mêxicô), vấn đề chống BPG lại được đưa ra thảo luận với nhiệm vụchủ yếu là tiếp tục đàm phán và tiến hành các công việc khác trong khuôn khổDDA. Nhìn chung, nội dung của các cuộc đàm phán về ADA thường xoay quanh những chủ đề chính như nghiêm cấm sử dụng cách tính “Qui về không” trong xác định biên độ bán phá giá (Zeroing), về cách xác định thiệt hại, vấn đề cam kết giá, thủ tục rà soát cuối kì bắt buộc, vấn đềđối xử với các nước đang phát triển v.v [82],[83],[90, tr. 48-64]. Cho đến thời điểm này, khó có thể dự đoán trước được về diễn biến của những cuộc đàm phán sửa đổi ADA, tuy nhiên, theo như chính tuyên bố ban đầu tại Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ 4 ở Đôha thì có lẽ sẽ không có mấy thay đổi lớn trong các vấn đề cơ bản của ADA.

Thứ hai, theo DDA, đối với DSU, các thành viên thống nhất sẽ tiến hành đàm phán nhằm cải tiến và làm rõ DSU [92]. Tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứnăm ở Cancun (Mêxicô), các cuộc thảo luận về DSU đã nhận được sự tham gia đông đảo, tích cực và chủ động hơn của các thành viên so với các cuộc đàm phán khác (ngoại trừ lĩnh vực nông nghiệp) với hơn 40 đề nghị từ hơn 80 thành viên WTO. Tiếp theo đó, ngày 16/05/2003, một bản dự thảo đã được đưa ra để các

31

thành viên WTO tiến hành đàm phán [79]. Các thành viên WTO đã thảo luận bản dự thảo này cho đến tận cuối tháng 05/2003 nhưng vẫn còn nhiều điểm bất đồng. Sau đó, tại Hội nghị Bộ trưởng WTO ở Hồng Kông, các thành viên đã tiến hành thảo luận một số nội dung chính như vấn đề quyền của bên thứ ba, thẩm quyền trả hồ sơ để xét xử lại, vấn đề hậu quả cũng như thủ tục và thời hạn để xửlí trong trường hợp bị đơn không thi hành quyết định v.v [60]. Tại Hội nghị Bộtrưởng ở Giơnevơ diễn ra vào năm 2006 và 2008, các cuộc đàm phán về DSU vẫn tiếp tục được tiến hành nhưng cũng chưa thể đạt được sự đồng thuận [66].

Tính đến hết tháng 12/2013, đã có 102 vụ tranh chấp về chống BPG được đưa ra giải quyết tại DSB, tiếp tục bổ sung loại nguồn quan trọng là các báo cáo của Ban hội thẩm và AB cho pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO.

Có thể thấy, pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp vềchống BPG tại WTO ở giai đoạn từ năm 1995 cho đến nay vẫn tiếp tục được bổsung và hoàn thiện thông qua thực tiễn giải quyết tranh chấp và từ những nỗ lực của các thành viên WTO. Tuy nhiên, với những bất đồng và xung đột lợi ích còn tồn tại, những điểm hạn chế và bất cập của lĩnh vực pháp luật này cũng chưa thể

sớm được khắc phục và hoàn thiện. Điều này đòi hỏi phải có sự thiện chí và những nỗ lực nhiều hơn nữa của các thành viên WTO, trong đó có cả Việt Nam.

2.2. Quan niệm hiện hành của WTO về chống bán phá giá, tranh chấp vềchống bán phá giá và pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá

2.2.1. Quan niệm hiện hành của WTO về chống bán phá giá và tranh chấp vềchống bán phá giá

Trong thương mại quốc tế thời kỳ trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai, đặc biệt là trong quá trình đàm phán cho ra đời Hiến chương Havana, những

32

nước tham gia đàm phán đã chia BPG thành bốn nhóm: BPG về giá, BPG dịch vụ, BPG hối đoái và BPG xã hội. Sau này, chỉ có BPG về giá là tiếp tục được qui định trong Điều VI của GATT 1994 và trở thành khái niệm BPG trong thương mại quốc tếđược sử dụng phổ biến ngày nay [12, tr. 19]. Theo qui định của GATT 1994 và ADA, một sản phẩm bị coi là BPG nếu giá xuất khẩu của sản phẩm thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó [34],[36]. BPG trong thương mại quốc tế tác động tới nền kinh tế của cả nước nhập khẩu và nước xuất khẩu [12, tr. 22-25], do đó, trong một số trường hợp, đểđối phó và hạn chếnhững tác động tiêu cực từ việc hàng nhập khẩu BPG, nước nhập khẩu có thểtiến hành các biện pháp chống BPG.

Như vậy, chống BPG được hiểu là “việc các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu áp dụng các biện pháp phù hợp tác động trực tiếp lên sản phẩm nhập khẩu BPG để loại bỏ những thiệt hại mà sản phẩm nhập khẩu BPG đó gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa tương tự của nước mình” [12, tr. 26].

Liên quan tới vấn đề BPG và chống BPG, quan điểm của WTO thể hiện ởnhững nội dung cơ bản sau đây: thứ nhất, WTO không có qui định cấm việc BPG và cũng không điều chỉnh lĩnh vực này bởi BPG là hành vi của doanh nghiệp. WTO chỉ tập trung qui định cách thức mà các Chính phủ thành viên cóthể hoặc không thể tiến hành các hành động để chống lại hàng nhập khẩu BPG [61]; thứ hai, không phải mọi trường hợp hàng nhập khẩu BPG thì các Chính phủ thành viên đều có quyền tiến hành các hành động để chống lại. Hàng nhập khẩu cũng phải BPG và gây ra những thiệt hại đến một mức độ nhất định thì mới bị áp dụng các biện pháp chống BPG; thứ ba, việc áp dụng các biện pháp chống BPG là quyền, chứ không phải là nghĩa vụ, của Chính phủ thành viên là nước nhập khẩu. Việc thành viên là nước nhập khẩu có ra quyết định khởi xướng các cuộc điều tra chống BPG cũng như có áp dụng các biện pháp chống BPG đối với

33

hàng nhập khẩu hay không hoàn toàn là sự lựa chọn của họ cho dù tất cả các căn cứ và yêu cầu đều đã được đáp ứng đầy đủ.

Trong trường hợp nước nhập khẩu muốn đối phó với hàng nhập khẩu BPG thì họ có quyền áp dụng các biện pháp chống BPG (Anti-dumping measures) [12, tr. 40]. Các biện pháp chống BPG thường được các nước nhập khẩu qui định vàáp dụng bao gồm: thuế chống BPG chính thức, biện pháp cam kết giá và biện pháp tạm thời. Có thể thấy, các biện pháp chống BPG nói trên chủ yếu là các biện pháp hành chính, là công cụ tài chính – phi thuế quan mà nước nhập khẩu cóthể sử dụng để chống lại hàng nhập khẩu BPG, và về bản chất, chúng mang nặng tính chính trị và bảo hộ cho ngành công nghiệp nội địa trước sức ép cạnh tranh của ngành công nghiệp nước ngoài, chứ không hoàn toàn dựa trên những tính toán về lợi ích tổng thể của nền kinh tế hay của người tiêu dùng [12, tr. 37].

Khi một nước nhập khẩu, bằng công cụ pháp luật về chống BPG của nước mình, khởi xướng các cuộc điều tra và áp dụng các biện pháp chống BPG nhằm đối phó với hàng nhập khẩu BPG thì cũng chính là cách thức mà nước đó đã sửdụng để giải quyết những tranh chấp về BPG giữa các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm BPG với các doanh nghiệp nội địa của họ hiện đang sản xuất các sản phẩm tương tự với sản phẩm nhập khẩu. Bởi lẽ, trong trường hợp này, xét về bản chất, đã có một tranh chấp thương mại (tranh chấp về BPG) giữa các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm BPG với các doanh nghiệp nội địa sản xuất các sản phẩm tương tự với sản phẩm nhập khẩu về việc có sự chênh lệch về giá của sản phẩm. Để bảo vệ quyền lợi của mình, một hoặc một nhóm các doanh nghiệp có đủđiều kiện đểđược coi là đại diện cho ngành sản xuất trong nước theo pháp luật về chống BPG của nước nhập khẩu có thể đứng đơn kiện và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của quốc gia mình tiến hành các thủ tục điều tra chống BPG đối với hàng nhập khẩu. Trên cơ sở yêu cầu đó, cơ quan có thẩm quyền của nước

34

nhập khẩu sẽ tiến hành các thủ tục điều tra và giải quyết tranh chấp về BPG, xem xét và quyết định việc liệu có áp dụng các biện pháp chống BPG đối với sản phẩm nhập khẩu hay không.

Đểđược thực hiện một cách hợp pháp và có hiệu quả, hầu hết các quốc gia đều xây dựng hệ thống pháp luật về chống BPG hàng nhập khẩu của nước mình, với nội dung thường bao gồm một số các chế định cơ bản như chế định về xác định việc BPG, chế định về xác định thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu, chếđịnh về xác định mối quan hệ nhân quả giữa việc BPG và thiệt hại vật chất, chế định về các biện pháp chống BPG cụ thể, chế định về thủ tục rà soát việc áp dụng thuế chống BPG [12, tr. 27]. Việc chống BPG sẽđược tiến hành theo một trình tự nhất định căn cứ vào pháp luật về chống BPG của nước nhập khẩu. Trong trường hợp các doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài là đối tượng bị áp dụng các biện pháp chống BPG không đồng ý với quyết định của cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu, thì có thể lựa chọn hoặc sửdụng đồng thời hai biện pháp sau:

Một là, tiến hành các thủ tục khiếu kiện tư pháp để yêu cầu xem xét lại quyết định đã được ban hành [12, tr. 126]. Trên thực tế, các quốc gia có thể lựa chọn và xây dựng thủ tục này theo một trong các mô hình sau đây: (i) thủ tục và thiết chế tư pháp; (ii) thủ tục và thiết chế tài phán hành chính; (iii) thủ tục và thiết chế trọng tài; và (iv) thủ tục khiếu nại hành chính. Ví dụ như, ở Hoa Kỳ, Tòa án thương mại quốc tế (The United States Court of International Trade) là cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu kiện các quyết định hành chính vềchống BPG, hoạt động giống như một tòa án hành chính chứ không phải là một tòa án tư pháp. Phán quyết của Tòa án thương mại quốc tế có hiệu lực ngay sau khi được tuyên và có thể bị kiện lên Tòa phúc thẩm Hạt Liên bang (The Court of Appeals for the Federal Circuit) đểđược xem xét lại. Trong khi đó ở EU, các

35

bên liên quan trong một vụ kiện chống BPG có thể khiếu kiện lên Tòa sơ thẩm Châu Âu (The Court of First Instance). Phán quyết của Tòa sơ thẩm Châu Âu có thể bị kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm lên Tòa án Công lý Châu Âu (The European Court of Justice). Phán quyết của Tòa án Công lý châu Âu là chung thẩm. Theo Điều 13 của ADA, tất cả thành viên WTO đều phải qui định các thủ

tục hoặc các thiết chế nhất định trong pháp luật quốc gia để thực hiện việc xem xét lại các quyết định cuối cùng về chống BPG một khi các bên liên quan thực hiện quyền khiếu kiện tư pháp của mình. Tuy nhiên, cho dù thuộc mô hình nào thì các thiết chế giải quyết khiếu kiện chống BPG trên đây cũng phải độc lập với cơ quan có quyết định về chống BPG bị khiếu nại, nhằm bảo đảm cho việc giải quyết khiếu kiện một cách khách quan và công bằng [12, tr. 127-128].

Hai là, vận động Chính phủ của nước mình khởi kiện Chính phủ nước nhập khẩu và sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tếgiữa các quốc gia.

Như vậy, theo pháp luật về chống BPG của một quốc gia thành viên, có hai loại tranh chấp khác nhau liên quan tới lĩnh vực chống BPG: (1) “tranh chấp về BPG” là tranh chấp giữa các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm BPG với các doanh nghiệp nội địa của nước nhập khẩu sản xuất các sản phẩm tương tự với sản phẩm nhập khẩu; (2) “tranh chấp về chống BPG” là tranh chấp giữa tưnhân (doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài) với Chính phủ (nước nhập khẩu áp dụng biện pháp chống BPG) về việc áp dụng các biện pháp chống BPG. Theo pháp luật quốc tế, tranh chấp về chống BPG được hiểu là tranh chấp giữa các quốc gia liên quan tới vấn đề áp dụng các biện pháp chống BPG.

Tranh chấp về chống BPG (Anti-dumping dispute) giữa các thành viên WTO là loại tranh chấp có thể được đưa ra giải quyết theo DSM của WTO. Mặc dù đây là một trong những loại tranh chấp phổ biến nhất tại WTO nhưng bản

36

thân WTO lại không đưa ra một khái niệm chính thức nào đối với loại tranh chấp này. Trong khuôn khổ GATT 1947, cũng không có bất kì qui định nào, ngay kểcả Điều VI có đề cập tới khái niệm này. Trong ADC 1967, tại Điều 17, có nêu ra, một phần nào đó, khái niệm tương đối rộng và còn rất chung chung, đối với tranh chấp về chống BPG, đó là tranh chấp về “các vấn đề liên quan tới việc vận hành hệ thống chống BPG tại bất kì thành viên và vùng lãnh thổ hải quan nào mà có thể tác động tới hoạt động của ADC”. Đến ADC 1979, lần đầu tiên, bộluật này đã nêu lên một khái niệm chính thức trong phần chú thích của Điều 15,

theo đó, tranh chấp về chống BPG được hiểu là “những tranh chấp phát sinh giữa các Bên liên quan tới các quyền và nghĩa vụ theo Hiệp định”. Khái niệm tương đối khái quát và rộng này, sau đó, đã không còn được nêu lại trong ADA.

Mặc dù WTO chưa có một khái niệm cụ thể đối với tranh chấp về chống BPG, tuy nhiên, có thể thấy, loại tranh chấp này cũng có một số đặc điểm nhất định: một là, tranh chấp về chống BPG là tranh chấp giữa các thành viên WTO, bởi vậy, trước hết, nó là một loại tranh chấp quốc tế, là “sự bất đồng về một qui phạm pháp luật hoặc sự kiện nào đó giữa các chủ thể nhất định” trong quan hệquốc tế [23, tr. 385]. Cụ thể, đối với tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổWTO, đó là sự bất đồng giữa các thành viên WTO về một chính sách hoặc pháp luật không phù hợp của một thành viên hoặc liên quan tới một quyết định về việc áp dụng các biện pháp chống BPG làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của những thành viên khác theo các hiệp định của WTO; hai là, theo Điều 1.1 của DSU, các qui tắc và thủ tục của DSU “phải được áp dụng cho những tranh chấp được đưa ra theo các qui định về tham vấn và giải quyết tranh chấp của những hiệp định được liệt kê trong Phụ lục 1 của Thỏa thuận này”, và trong Phụ lục 1 đó có liệt kê GATT 1994 và ADA [35]. Như vậy, tranh chấp về chống BPG là một trong những tranh chấp có thể được giải quyết tại WTO. Dựa trên cách diễn đạt của

37

các Điều XXII, XXIII của GATT 1994 và DSU, thì có thể hiểu, những tranh chấp được giải quyết tại WTO là những tranh chấp giữa các thành viên WTO vềcác vấn đềpháp lý liên quan đến các quyền và nghĩa vụ theo các hiệp định và các cam kết trong khuôn khổ WTO. Bởi vậy, cùng với nội dung quiđịnh tại Điều 17 của ADA, theo tác giả, có thể hiểu:

Tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO là những bất đồng giữa các thành viên WTO về các vấn đề pháp lý liên quan đến các quyền và nghĩa vụtrong lĩnh vực chống BPG theo các hiệp định của WTO.

Khi phát sinh một tranh chấp về chống BPG, các thành viên của WTO có thể tìm kiếm các giải pháp khác nhau để giải quyết loại tranh chấp này, bao gồm cả việc khởi kiện ra DSB. Tuy nhiên quan điểm của WTO là các thành viên có thể tiến hành tham vấn hoặc sử dụng những phương thức khác để giải quyết các tranh chấp về chống BPG giữa họ nhưng không phải mọi tranh chấp về chống BPGđều có thểđược giải quyết tại DSB. Sau khi tham vấn không thành công, nếu bên khiếu kiện muốn đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại DSB thì DSB cũng chỉ tiến hành xem xét đối với bốn loại tranh chấp về chống BPG sau đây: (i) tranh chấp về thuế chống BPG chính thức; (ii) tranh chấp về sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá; (iii) tranh chấp về biện pháp tạm thời; (iv) tranh chấp về

sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một thành viên với nội dung của ADA [94],[95].

Qua những phân tích trên đây, theo tác giả, các tranh chấp về chống BPGđược giải quyết tại WTO có những đặc điểm cơ bản sau đây [17, tr. 39-42]:

Một là, tranh chấp về chống BPG là tranh chấp thứ phát.

Hai là, về chủ thể, đây là những tranh chấp giữa các thành viên WTO.

Ba là, về phạm vi các vấn đề tranh chấp được giải quyết tại DSB, bao gồm bốn vấn đề sau đây: (i) thuế chống BPG chính thức; (ii) sự chấp thuận một biện

38

pháp cam kết giá; (iii) biện pháp tạm thời; (iv) sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một thành viên với nội dung của ADA.

Bốn là, về cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp về chống BPG, về mặt nội dung cũng như về tố tụng, sẽ tuân theo pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO.

Để hiểu rõ hơn thuật ngữ “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của WTO thì cũng cần phải có sự phân biệt loại tranh chấp này với hai loại tranh chấp, đó là “tranh chấp về BPG” và “tranh chấp về chống BPG”, theo pháp luật của một quốc gia thành viên.

Trước hết, sự khác biệt giữa “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của WTO với “tranh chấp về BPG” theo pháp luật của một quốc gia thành viên thể hiện ở một số điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, về chủ thể, “tranh chấp về chống BPG” trong khuôn khổ WTO là tranh chấp giữa các Chính phủ, còn “tranh chấp về BPG” ở các quốc gia thành viên là tranh chấp giữa các doanh nghiệp.

Thứ hai, về đối tượng tranh chấp. Theo qui định của WTO, đối tượng tranh chấp của các tranh chấp về chống BPG tại WTO là những quyết định vềviệc áp dụng các biện pháp chống BPG hoặc các chính sách và pháp luật vềchống BPG hàng nhập khẩu không phù hợp của thành viên nhập khẩu.Đối tượng tranh chấp trong các vụ tranh chấp về BPG theo pháp luật của quốc gia thành viên là sự chênh lệch về giá giữa giá xuất khẩu của sản phẩm với giá trị thông thường của sản phẩm tương tự trong điều kiện thương mại thông thường.

Thứ ba, về pháp luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp, đối với các tranh chấp về chống BPG giữa các thành viên WTO, thì đó là pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO; còn đối với các tranh

39

chấp về BPG giữa các doanh nghiệp, thì đó là pháp luật quốc gia (pháp luật của nước nhập khẩu tiến hành điều tra chống BPG).

Thứ tư, về thời điểm phát sinh tranh chấp, thông thường, tranh chấp vềchống BPG chỉ có thể phát sinh sau khi đã có một tranh chấp về BPG. Tranh chấp về chống BPG là loại tranh chấp thứ phát.

Tiếp theo, sự khác biệt giữa hai loại “tranh chấp về chống BPG” theo phápluật của WTO và theo pháp luật của quốc gia thành viên thể hiện ở một số điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, về chủ thể, “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của WTO là tranh chấp giữa các Chính phủ, còn “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của quốc gia thành viên là tranh chấp giữa các doanh nghiệp với Chính phủ.

Thứ hai, về pháp luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp, đối với “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của WTO, thì đó là pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, còn đối với “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của một quốc gia thành viên, thì đó là pháp luật quốc gia (pháp luật của nước nhập khẩu áp dụng các biện pháp chống BPG).

Ngoài ra, trong khuôn khổ WTO, để hiểu rõ hơn “tranh chấp về chống BPG” thì cũng cần phân biệt loại tranh chấp này với hai loại tranh chấp khác trong cùng nhóm các biện pháp khắc phục thương mại, đó là “tranh chấp vềchống trợ cấp” và “tranh chấp về tự vệ thương mại”. Đây là ba loại tranh chấp phổ biến nhất, chiếm khoảng hơn 50% tổng số các tranh chấp được giải quyết tại WTO tính đến hết tháng 12/2013 [80].

Các biện pháp khắc phục thương mại (Trade remedies), hay còn gọi là các biện pháp phòng vệ thương mại (Trade defence measures), là những công cụchính sách thương mại cho phép nước nhập khẩu tiến hành các hành động chống lại hàng nhập khẩu nhằm khắc phục những thiệt hại vật chất mà hàng nhập khẩu

40

đang gây ra cho ngành công nghiệp trong nước. Nhóm biện pháp khắc phục thương mại bao gồm: các biện pháp chống BPG, các biện pháp đối kháng và các biện pháp tự vệ thương mại [50]. Theo qui định của WTO, các biện pháp khắc phục thương mại là những biện pháp được phép áp dụng riêng rẽ hoặc có thểđược áp dụng đồng thời. Tuy nhiên, trên thực tế, trong một số trường hợp, một số thành viên đã và đang lạm dụng nhóm biện pháp này hoặc áp dụng chúng một cách không rõ ràng, gây cản trở cho sự phát triển của thương mại quốc tế.

“Tranh chấp về chống trợ cấp” (Anti-subsidy dispute), hay còn gọi là“tranh chấp về các biện pháp đối kháng” (Countervailing-measure dispute), làmột loại tranh chấp giữa các thành viên WTO trong lĩnh vực trợ cấp. Theo Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (Hiệp định SCM) [33], trợ cấp làhành vi của một Chính phủ hoặc một cơ quan công quyền hành động, hoặc chi trả cho các khoản trợ cấp một cách trực tiếp, hoặc yêu cầu các công ty của họ trợcấp cho những đối tượng nhất định (Điều 1). Hành vi trợ cấp là hành vi của Chính phủ, hoàn toàn khác với hành vi BPG là hành vi của các doanh nghiệp. WTO là một tổ chức liên chính phủ, do vậy, WTO không điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp bao gồm cả hành động BPG của họ. Vì lẽ đó, ADA không qui định về hành vi BPG của doanh nghiệp mà chỉ qui định những hành động của các Chính phủ được tiến hành nhằm chống lại việc BPG. Với lĩnh vực trợ cấp thìkhác, Chính phủ thành viên của WTO có thể đóng một trong hai vai trò: là nước cung cấp trợ cấp hoặc là nước hành động để chống lại việc trợ cấp của một nước khác. Do đó, Hiệp định SCM qui định cả hai nội dung: trợ cấp, bao gồm cả trợcấp bị cấm và trợ cấp có thể bị đối kháng [61], và các hành vi chống lại trợ cấp. Như vậy, trong khuôn khổ WTO, bên cạnh thuật ngữ “tranh chấp về chống trợ

cấp”, còn có cả thuật ngữ “tranh chấp về trợ cấp” (Subsidy dispute). “Tranh chấp về trợ cấp” theo pháp luật của WTO là tranh chấp giữa các thành viên WTO,

theo đó, thay vì sử dụng biện pháp đối kháng với hàng nhập khẩu có trợ cấp, thành viên nhập khẩu có thể khởi kiện ra DSB để yêu cầu thành viên cung cấp trợ cấp xóa bỏ trợ cấp hoặc loại bỏ những tác động tiêu cực của trợ cấp. Bị đơn trong các vụ tranh chấp về trợ cấp tại WTO là thành viên cung cấp trợ cấp, trong khi đó, bị đơn trong các vụ tranh chấp về chống trợ cấp tại WTO là thành viên sửdụng các biện pháp đối kháng để chống lại hàng nhập khẩu có trợ cấp.

Theo qui định của WTO [37], tự vệ thương mại là hành động phản ứng của nước nhập khẩu trước tình trạng số lượng hàng nhập khẩu tăng đáng kể vàđột biến. Nước nhập khẩu có thể sử dụng biện pháp tăng thuế nhập khẩu hoặc hạn chế số lượng để tự vệ. Tự vệ thương mại là một công cụ bảo hộ hợp pháp có sức mạnh “ghê gớm” nhưng nó lại không phải là một biện pháp “miễn phí”. Nước xuất khẩu (hoặc các nước xuất khẩu) có thể đòi bồi thường thông qua tham vấn khi nước nhập khẩu sử dụng biện pháp tự vệ thương mại [61]. Nếu nước xuất khẩu hàng hóa nhận thấy có sự vi phạm của nước nhập khẩu trong việc sửdụng biện pháp tự vệ thương mại hoặc nếu việc sử dụng biện pháp tự vệ thương mại của nước nhập khẩu ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của họ thì họcó thể khởi kiện ra DSB.

Về tố tụng, điểm chung trong việc giải quyết tranh chấp về chống BPG, các tranh chấp về chống trợ cấp và các tranh chấp về tự vệ thương mại là phải tuân theo qui định của DSU, được khẳng định tại các Điều 17 của ADA, Điều 30 của Hiệp định SCM và Điều 14 của SA. Tuy nhiên, bên cạnh những nguyên tắc và thủ tục chung đó, việc giải quyết tranh chấp về chống BPG và tranh chấp vềchống trợ cấp tuân theo những nguyên tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp được nêu trong Tuyên bố tại Hội nghị Bộ trưởng ở Marrakesh về giải quyết tranh chấp theo Hiệp định thực thi Điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 hoặc Phụ lục V của Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng [55].

42

Ngoài ra, việc giải quyết hai loại tranh chấp nói trên còn phải tuân theo những qui định cụ thểđược liệt kêtrong Phụ lục 2 của DSU, theo đó, cụ thể làĐiều 17.4 đến 17.7 của ADA đối với các tranh chấp về chống BPG; Điều 4.2 đến 4.12, Điều 6.6, từ Điều 7.2 đến 7.10, Điều 8.5, chú thích cuối trang 35, Điều 24.4 và Điều 27.7 của Hiệp định SCM đối với tranh chấp về chống trợ cấp.

Về luật nội dung, pháp luật của WTO, bao gồm các hiệp định có liên quan và các loại nguồn khác, sẽ được áp dụng để giải quyết từng loại tranh chấp này. Về các hiệp định của WTO có liên quan, ngoài qui định chung là Điều VI của GATT 1994, việc giải quyết tranh chấp về chống BPG sẽ căn cứ vào ADA, còn việc giải quyết các tranh chấp về thuế đối kháng sẽ căn cứ vào Hiệp định SCM. Đối với các tranh chấp về tự vệ thương mại, việc giải quyết tranh chấp sẽ căn cứvào Điều XIX của GATT 1994 và SA.

2.2.2. Quan niệm hiện hành của WTO về pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá

Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát
triển và Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2 Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *