Định tội cướp giật tài sản trong giai đoạn điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công tácđấu tranh phòng, chốngtộiphạm xâm phạm quyền sởhữuđược Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm nhằm giữ gìn an ninh quốc gia vàtrật tự, an toàn xã hội. Với sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, những năm gần đây các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu đang là mối quan tâm hàng đầu của các cơ quan chức năng nói riêng và toàn xã hội nói chung. Trong các tội xâm phạm sở hữu, nổi lên tội cướp giật tài sản xảy ra khá phổ biến, xâm phạm nghiêm trọng đến an ninh trật tự xã hội, quyền sở hữu và thậm chí là tính mạng của công dân. Tội phạm xâm phạm quyền sở hữu nói chung vàtộicướp giật tài sản nói riêng vẫn là vấn đềnhức nhốivớicác cơquan tư pháp khisốlượngcácvụánxảyra ngày càng gia tăng với tính chất, thủđoạn ngày càng tinh vi, có tính nguy hiểm cao vàtrẻhóavềđộtuổi, gây thiệt hại đáng kể về tài sản, tính mạng, sức khỏe của công dân.
Hà Nội làthủđô, thànhphốtrực thuộc trung ương và cũng là một đô
thị loại đặc biệt của Việt Nam. Thành phố Hà Nội là trung tâm kinh tế – chính trị, văn hóa, khoa học quan trọng của cả nước. Dòng người di cư từ nông thôn ra thành phố Hà Nội ngày càng tăng là một vấn đề lớn phải đối mặt. Một mặt, dòng người di cư vào Hà Nội có những mặt tác động tích cực như: góp phần đápứng nhucầuvềcác loại laođộng mà Hà Nội đang cầnvà qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Mặt khác, tình trạng di dân tự do cũng đang đặt ra những vấn đề cấp bách cần giải quyết. Điều này đặt ra nhiều thách thức trong công tácđảmbảoan ninh chính trị, trậttựan toàn xã hội. Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, tình hình tội cướp giật tài sản có chiều hướng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp ảnh hưởng xấuđếnsựổn định về trật tự xã hội tại địa phương và gây tâm lý bất an cho nhân dân đang sinh sống và làm việc tại thành phố Hà Nội.
Từthực tiễn công tác điều tra, truytốcác vụáncướpgiật tài sản trên địa bànthành phốHà Nội trong những năm qua cho thấy việc định tội danhđối với tội cướpgiật tài sảncòn nhiều bất cậptrong thực tiễn do có nhiều quan điểmtrái chiều giữa Cơ quan Cảnh sátđiềutra (CQĐT) và Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) trong quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Định tội danh tội Cướp giật tài sản trong giai đoan điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ nhằm nghiên cứu, đóng góp phần nhỏ vào công tác định tội danh và quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sởlàm rõ những vấnđềlý luận vềđịnh tội danhđối với tội cướpgiật tài sản và qua thực tiễnđịnh tội danh đối với tội cướpgiật tài sản của các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn thành phố Hà Nội, luận văn đềxuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động định tội danh trong giai đoạn điều tra đối với tội Cướp giật tài sản của thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt được những mục đích nghiên cứu đã nêu, luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
– Phân tích các khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý và những yếu tố bảo đảm của định tội danh đối với tội cướp giật tài sản;
– Phân tích, đánh giá những ưu điểm, kết quả đạt được, những hạn chế, thiếu sótđồng thời nêu ra nguyên nhân của những hạnchế, thiếu sót trong việc định tội danh đối với tội cướp giật tài sản trong giai đoạn điều tra của các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn thành phố Hà Nội.
– Phân tích sự cần thiết và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảviệc định tội danh đối với tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu
Căncứvào các luận điểmcủa các nhà nghiêncứukhoa học, các quyđịnh của pháp luật hình sự, thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự trong quá trình định tội danh đối với tội phạm cướp giật tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian qua làmđối tượng nghiên cứu của đề tài.
4.2. Phạm vi nguyên cứu
Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ pháp lý chuyên ngành Luật hình sựvà Tốtụng hìnhsựvềđịnhtội danhđốivới tội cướpgiật tài sản, thực tiễn định tội danh đối với tội phạm này trong giai đoạn điều tra của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trên địa bàn thành phố Hà Nội trong khoảng thời giantừnăm 2018 đến năm 2022.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận
Đềtàilấynhững quanđiểmcốtlõiđượcrút ratừphương pháp luậnvề
phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tội phạm học, các quan điểm, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước về chính sách hình sự, tội phạm học, về công tácđấutranh, phòng chống tội phạm trong quá trình xây dựng Nhànướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa làm phương pháp luận cho việc nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đềtài sửdụng các phương pháp nghiên cứunhư: phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp, lấy ý kiến của chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực hình sự để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý đặc trưng cấu thành tội cướp giật tài sản, nâng cao hiệu quả hoạt độngđịnh tội danh đúng đối với tội cướp giật tài sản của các cơ quan tiến hành tố
tụng trong quá trình điều tra, truy tố; góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự, tăng cường chất lượng áp dụng pháp luật hình sự trên tinh thần cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra trong tiến trình cải cách tưpháp hiện nay.
Ngoài ra, những ưu điểmcủa kết quảnghiên cứucủa luận văn cóthểđược dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảngdạyhoặc nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu thành 03 Chương:
Chương 1:Những vấn đề lýluận về định tội danh đối với tội cướp giật tài sản
Chương 2: Thực tiễn định tội danh đối với tội cướp giật tài sản của các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn thành phố hà nội
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả việc định tội danhđối với tội cướp giật tàisản
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANHĐỐI VỚI TỘI
CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc định tội danhđối với tội Cướp giật tàisản
1.1.1. Khái niệm
Trong khoa học luật hình sự, khái niệm định tội danh hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau, mỗi nhà nghiên cứu khoa họcđều có quanđiểmvà lý luận khác nhau. Theo quanđiểmtrong cuốn sách“Các nghiên cứuchuyên khảo về Phần chung luật hình sự” của Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Lê Cảm thì: “Địnhtội danh làmộtquá trình nhận thức lý luận có tính chất logic, là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thậpđược và các tình tiết thực tếcủa vụán hìnhsựđểxác địnhsựphù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệucủacấu thành tội phạm (CTTP) tương ứng do luật hìnhsựquy định, nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự(TNHS) một cách công minh, có căncứvà đúng phápluật”. Còn theo Giáo sư, Tiến sĩ Võ Khánh Vinh thì: “Định tộidanh là một hoạt động nhận thức, hoạtđộngáp dụng pháp luật hình sựnhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tìnhtiết cụ thểcủa hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định CTTP tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của CTTP với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định” [24, tr. 26-27].
Qua đó, có thể nhận thấy rằng, các tác giả cùng thống nhất quan điểm như sau: Định tội danh là hoạt động nhận thức của người tiến hành tố tụng, với nội dung là sự đối chiếu, so sánh nhằm xác định sự phù hợp khách quan giữa hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế với các quy định của BLHS để kết tội, quyết định hình phạt và các trách nhiệm pháp lý khác.
Hoạt động định tội danh có vai trò rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụán hình sự, nó là cơ sởcho việc xác địnhhành vi phạm tội của tội phạm, làtiền đề đểphân hóa TNHS và cá thể hóa hình phạt chính xác, toàn diện, khách quan, đảm bảo cho pháp luật được áp dụng được công minh, công bằng và hợp lý. Ngoài ra, định tội danh còn làm cơ sởcho việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp tư pháp, xác địnhthẩm quyềnđiềutra, truy
tố, xét xử, thi hành án của các chủ thể và cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần quan trọng vào công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ sựnghiêm minh của pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích củaNhà nước, tổchức và cá nhân. Việc định tội danh sai hoặc không chính xác sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý rất lớn, không đảm bảo tính có căncứcủa quá trìnhđiềutra, truytốvà quyết định hình phạt trong hoạtđộng xét xử. Đây là nguyên nhân và điều kiện dẫn đến việc làm oan người vô
tội, bỏ lọt tội phạm hoặc không chứng minh được hành vi phạm tội.
Như vậy, trên cơ sởphân tích, cóthểđưara khái niệmđịnh tội danh như sau: Định tội danh là một quá trình nhận thức logic, một dạng hoạt động củathực tiễn áp dụng pháp luật hìnhsựvàtốtụng hìnhsựđược tiến hành trên cơ sởcác chứng cứ, tài liệu thu thậpđược, xác định sựphù hợpgiữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do luật Hình sự quy định.
Từ những cơ sở lý luận trên, có thể khái niệm về định tội danh tội cướp giật tài sản như sau: Định tội danh đối với tội cướp giật tài sản là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự của các cơquan có thẩm quyền và người có thẩm quyềnđược tiến hành trên cơ sởcác chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án để xácđịnh, so sánh và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể trong thực tế đã được thực hiện với các dấu hiệu củacấuthành tội phạm cụ thể được quy định trongBộluật hình sự, từđó xác định một người có phạm tội cướp giật tài sản hay không và phạm tội theo khoản nào, qua đólàm tiềnđềphân tích, đánh giá và ra quyết định vềtrách nhiệm hìnhsựcũng như hình phạtđối với ngườiphạm tộiđểáp dụng vào thực tiễn công tác khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự về tội cướp giật tài sản, bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm
Từ khái niệm định tội danh như đã nêu trên đây, ta có thể thấy định tội danh có những đặc điểm cơ bản sau:
Một là, định tội danh đối với tội cướp giật tài sản gắn với một vấn đề cụthể là tài sản.
Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá vàquyền tài sản”.
Vật là một bộ phận của thế giới vật chất có thể đáp ứng một nhu cầu nhấtđịnhcủacon người,tồntạidướimộtdạng nhấtđịnh,nằmtrongsựchiếm hữu của con người, có đặc trưng giá trị và trở thành đối tượng của giao dịch dân sự. Vật là một hình thức tài sản và có thể trở thành đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản. Khi làđốitượngtácđộngcủatộicướpgiật tài sản,vậtphải nằm trong sự chiếm hữu của con người.
Tài sản là đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản còn có thể là tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền.
Cóthểnhận thấy, không phảibấtcứtàisảnnào cũng làđốitượngtácđộngcủatộicướpgiật tài sản. Có những tàisảnmàtộiphạm khôngthểcướp giậtđược,và có những tàisảnkhôngđượccoi làđốitượngtácđộngcủatội phạm. Cụ thể như sau: Thứ nhất, đó là “Quyền tài sản”. “Quyền tài sản” là một dạng tài sản vô hình, không nhìn thấy được, nó gắn liền với quyền nhân thân vàcố định với một chủ thể cụ thể được pháp luật công nhận. “Quyền tài sản” phảiđược pháp luật thừa nhận thì mới có giá trị. Do đó, nó không thể bị dịch chuyển trái phép, bị chiếm đoạt bởi người khác; Thứ hai, tài sản là bất động sản có tính chất vật lý cố định, ví dụ như: đất đai, nhà cửa, ao hồ. Những loại tài sản này làkhông dịch chuyển được bởi người thực hiện hành vi cướp giật, nên không thể làđối tượng tác động của tội cướp giật tài sản; Thứ ba, tài sản là tài nguyên, thiên nhiên như không khí, gió biển, tài nguyên trong lòng đất.
Hai là,địnhtộidanhđốivớitộicướpgiật tàisảnlà hoạtđộngáp dụng pháp luật, nếu chủ thể định tội danh là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vàngười có thẩm quyền
Địnhtộidanhtộicướpgiật tàisảntrong giaiđoạnđiềutra là hoạtđộngđược tiến hành bởi các cơ quan tiến hành tố tụng gồm CQĐT, VKS và một số cơquanđượcgiao nhiệmvụtiến hànhmộtsốhoạtđộngđiềutra như:Hảiquan,
Cảnh sát biển, Kiểm lâm, Bộ đội biên phòng… thông qua những người tiến hành
tố tụng như Điều tra viên (ĐTV), Kiểm sát viên (KSV)… thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS)
Ba là,địnhtộidanhđốivớitộicướpgiật tàisảnliên quanđếnvấnđềchứng cứ đã được thu thập, kiểm tra, đánh giá
Đốivớihình thứcđịnhtộidanh chính thức, do trách nhiệm chứng minh tộiphạm thuộcvềcác cơ quan tiến hànhtốtụng nênđịnhtộidanhđốivớitội cướpgiật tàisảnlà hoạtđộngđượctiến hành song song và tiếp liềnvớihoạtđộng thu thập, củng cố, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, định tội danh đối với tội cướp giật tài sản gắn liền với hoạt động chứng minh tội phạm và người phạm tội của các cơ quan tiến hành tốtụng. Nếu định tội danh không dựa vào các căn cứ pháp luật có thể sẽ dẫn đến việc tùy tiện, không chính xác là nguyên nhân dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội.
1.1.3. Ý nghĩa
Định tội danh với tính chất và mục đích rất quan trọng trong quá trình áp dụng pháp luật, có ý nghĩa to lớn khi giải quyết vụán hìnhsựtrên nhiều phương diện cụ thể sau:
Một là, định tộidanhđối với tội cướpgiật tàisảnđúng là tiềnđềcho việc phân hoá trách nhiệm hình sựvà cáthểhoá hình phạt một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật, đồng thời để áp dụng chính xác các quy định khác trong Bộ luật hình sự như: các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, khung (khoản) với mức và loại hình phạt tương xứng với tính chất và mức độcủa hành vi phạm tội cướpgiật tài sản, xác định chính xác tái phạm, tái phạm nguy hiểm, quyết định hình phạt trong những trườnghợpkhác nhau;Định tội danh đúngsẽđảmbảocho việc áp dụng pháp luật hình sự, TTHS trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử được thuận lợi và hiệu quả, đảm bảo mọi quyền con người, quyền công dân, quyền bào chữa củabịcan, bịcáo, người bịtạmgiữ, tạmgiam theo đúng tinh thần Hiếnđịnh và tiếnbộchung của thế giới về quyền con người.
Hai là,định tội danh đúngsẽthểhiệnđược tính nghiêm minh, công bằng và tiếnbộcủa Nhà nước và pháp luật xã hội chủnghĩa (XHCN). Tôn trọng quyền con người, nguyên tắc tiếnbộcủa Nhà nước pháp quyền như:
Nguyên tắc pháp chế XHCN; Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước
pháp luật; Nguyên tắc trách nhiệm cá nhân và cá thểhóa hìnhphạt;…góp phần thực hiện tốt nhiệmvụvà các chức năng củaBộluật hình sự-bảovệ chếđộxã hội chủnghĩa, quyền làmchủcủa nhân dân, bảovệquyền bìnhđẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợppháp của công dân, tổchức, bảovệtrật tựpháp luật xã hội chủnghĩa, chống mọi hành vi phạm tội;đồngthời giáo dục mọi người ý thức tuânthủtheo pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm; góp phần xây dựng lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng nhưnâng cao uy tín, chất lượng, hiệu quả của các cơ quan tiến hành tố tụng và cảhệ thống chính trị của nước ta.
Ba là, định tội danh đối với tội cướp giật tài sản đúng sẽ làmột cơ sở đểáp dụng chính xác và đúngđắncác quyđịnh của Bộluật tốtụng hình sựvềtạm giam, thời hạn tạm giam, khởi tố vụ án hình sự, thẩm quyền điều tra, truy tố và xét xử; qua đó, góp phần hữu hiệu cho việc bảo vệ các quyền và tự do của công dân nói chung với một bên là quyền và tựdo của người phạm tội cướp giật tài sản;
Bốn là, định tội danh đối với tội cướp giật tài sản đúng sẽ góp phần đảm bảo công lý và công bằng trong xã hội, người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự và hình phạt trước pháp luật và quyền lợi của người bị hại được đền bù; làm cho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh.
Và bên cạnh đó, nếu địnhtộidanh sai đối với tội cướpgiật tàisảnsẽdẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực như:
Một là, không đảm bảo được tính công minh có căn cứ đúng pháp luật, truy cứu trách nhiệm hình sự người vô tội, bỏ lọt người phạm tội, xâm phạm thô bạo danh dự nhân phẩm các quyền tự do dân chủ của công dân là giá trịxã hội cao quý nhất được thừa nhận trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa;
Hai là, làm giảm uy tín của cơ quan tư pháp, vi phạm pháp chế xã hội chủ nghĩa, ảnh hưởng đến hiệu quả của đấu tranh phòng chống tội phạm.

1.2. Căn cứ và những yếu tố bảo đảm cho việc định tội danh đối với tội Cướp giật tài sản
1.2.1. Căn cứ cho việc định tội danh đối với tội Cướp giật tài sản
Khái niệm tội cướp giật tài sản: Theo quy định tại Điều 171 của BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015) các nhà lập pháp chỉquy định chung về tội cướp giật tài sản như sau: “Người nào cướp giật tài sản
của người khác, thì bị phạt….” từ đó, ta thấy các nhà lập pháp không quy định cụ thể những dấu hiệu đặc trưng của tội cướp giật tài sản mà chỉ nêu tội danh. Từ khái niệm này ta có thể hiểu rằng tội cướp giật tài sản là một trong những tội xâm phạm quyềnsởhữunhằm thực hiện hành vi chiếmđoạt tài sảncủa
người khác một cố ý và công khai. Người thực hiện hành vi cướp giật tài sản phải nhằm mục đích chiếmđoạttài sản từtrướcvà thực hiện hành vi chiếmđoạt tàisảncủa chủ sởhữubằng cách nhanh chóng chiếmđoạt tài sảnbằng hành vi giật hoặc giành lấy tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát.
Theo lý luận và thực tiễn của công tác định tộidanh tội cướp giật tài sản thì hành vi cướp giật tài sản là hành vi công khai dùng tay giật lấy tài sản củachủsởhữu hoặc trong sựquản lý của người khác rồi nhanh chóng tẩu thoát mà không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác đểuy hiếp tinh thầncủahọmà nhanh chóng giật lấytài sảnrồi chạy thoát làm chủ sở hữu không kịp phản ứng.
Qua nghiên cứu, phân tích về hành vi cướp giật tài sản có thể khái niệm tội cướp giật tài sảnlà hành vi nguy hiểm cho xã hội đượcquyđịnhtrong
BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện với lỗi cốýbằng cách công khai, bất ngờgiậtlấytài sản của ngườikhác rồi nhanh chóng tẩuthoát. Đểnhận thức và hiểu rõ bản chất, đặc điểm của tội cướp giật tài sản ta cần nghiên cứuđầyđủ, toàn diện các dấu hiệu pháp lý cơ bản, đặc trưng củanó nhằm phân biệt giữa tội cướp giật tài sản với các tội phạm khác có cấu thành cơ bản
tương tựnhau giúp cho công tác định tội danhđược chính xác, đúng người,đúng tội và đúng quy định của pháp luật hình sự.
– Khách thể của tội cướp giật tài sản
Khách thểcủa tội phạm là những quan hệxã hội được Nhà nước quyđịnh và bảo vệ bị tội phạm xâm hại và bị xử lý theo các quy phạm pháp luật hình sự được nêu cụ thể tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015. Không có hành vi xâm hại đến quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ thì không có tội phạm xảy ra.
Như đã phân tích nêu trên, vềbảnchất của các tội có tính chất chiếmđoạt được quyđịnh trong chương các tội phạm xâm phạmsởhữu, chúng có cùngđặc điểmchung là nhằm mục đích chiếmđoạt tài sảncủa người khác. Tuy nhiên, xét vềbảnchất của tội cướpgiật tài sảnlàđược thực hiện một cách công khai, nhanh chóng tẩuthoát đểtránh sựphản kháng, truy bắt của chủ sở hữu và của người khác cho nên tội cướp giật tài sản trực tiếp xâmhạiđến quyền sở hữu của người khác đối với tài sản của họ. Như vậy, kháchthểcủa tội cướp giật tài sản chính là quan hệ sở hữu về tài sản được Nhà nước vàpháp luật hình sự bảo vệ tuyệt đối, khách thể của tội cướp giật tài sản có thể là trường hợpcông khai chiếmđoạt tài sảnmột cách nhanh chóngđểtránhsựphản kháng của chủtài sản, tội cướpgiật tài sảnxâm hại quyềnsởhữuđối với tài sản. Khi phân biệt giữa tộicướp giật tài sản vớicáctộiphạm xâm phạm sở hữu khác ta không chỉ dựa vào yếu tố khách thể mà còn phải căncứvào các dấu hiệu khách quan và chủquan khác trong cùng một vụán, trong đócác dấuhiệu khách quangiữvai trò quan trọng. Kháchthểcủa tội cướp giật tài sản cũng tương tự khách thể của tội cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản hoặc bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản ở chỗ cùng một lúc xâm phạm đến hai khách thểlà quan hệsởhữuvà quanhệnhân thân (tính mạng, sức khỏe) nhưng chủ yếu là quan hệ sở hữu về tài sản.
Chủ thể thực hiện tội cướp giật tài sản luôn luôn nhằm vào tài sản nhấtđịnh của chủthểnhất định, không phân biệt chúng là hình thức sởhữunào nên tài sản đó thuộc bộ phận của khách thể cụ thể, nó chính là quan hệ sở hữu và là đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản. Do đặc thù của tội cướp giật tài sảnlà chiếmđoạttài sảncủa chủsởhữuhoặc người quản lý tài sảnmột cách nhanh chóngđểtẩuthoát nên tài sảnlàđối tượng chiếmđoạt của tội cướp giật tài sản có những đặc điểm cơ bản khác với tài sản tác động của các loại tội phạm khác. Theo quy định tại Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” cho nên cóthểkhẳngđịnhtài sảnlàđối tượng của tội cướpgiật tài sảnthường có thuộc tính chung là được thể hiện dưới dạng vật chất như: tiền, vật có giátrị(gọn, nhẹ), giấy tờ có giá hoặc phi vật chất (quyền tài sản) có giá trị hoặc giátrị sử dụng để thỏa mãnmột nhu cầu nhất định và đang nằm trong sự chiếm hữu, quản lý và sử dụng của chủ sở hữu. Sau khi chiếm đoạt được tài sản thìngười phạm tội dễ dàng cất, giấu, dịch chuyển mới có thể nhanh chóng chiếmđoạtvà tẩu thoát cũng như mang đi tiêu thụtránhbịngườikhác phát hiện. Tuy nhiên, một sốvật tuy nhỏ, gọnvà dễdịch chuyển nhưng do tính chất nguy hiểm và công dụng đặc biệt của nó được Nhà nước quy định phải chịu sựquản lýđặc biệt của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì khôngđược xem làđối tượng tác động của tội cướp giật tài sản, ví dụnhư: súng quân
dụng, vật liệu nổ, chất phóng xạ … nếu bị chiếm đoạt thì người phạm tội phải chịu TNHS về một tội phạm khác được quy định trong BLHS và đương nhiên không được xem là tội cướp giật tài sản.
Từ đó có thể khẳng định khách thể của tội cướp giật tài sản là quan hệsở hữu và quan hệ nhân thân. Khẳng định này không chỉ đúng về lý luận mà còn phù hợp với thực tiễn công tác định tội danh tội cướp giật tài sản của các cơ quan tiến hành tố tụng trong thời gian qua.
– Chủ thể của tội cướp giật tài sản
Chủthểcủa tội phạm làyếutốbắt buộc phải có của tội phạm khi nghiêncứuvềmột tội phạmcụthể. Pháp luật hình sựViệt Nam quy định “Chủ thể của tội phạm làcon người cụ thể đã cố ý hoặc vô ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định trong tình trạng có năng lực TNHS và đạt độtuổi nhất địnhdo pháp luật quyđịnhvà trong một sốtrường hợp khác có dấu hiệu đặc biệt được chỉ ra trong điều luật tương ứng”
và nó được thể hiện trong các điều luật của BLHS đã sử dụng các khái niệm:
“người phạm tội”, “người nàophạm tội”, “người bị kết án”… Do vậy, cóthểkhẳng địnhchủthểcủa tội phạm theo pháp luật hìnhsựhiện hành (BLHS năm 2015) chỉ có thể là con người cụ thể nhưng không phải ai cũng có thể trởthành chủ thể của tội phạm khi thực hiện một trong các hành vi được BLHS quy định. Chủthểcủa tội phạm làngườicó lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và bịpháp luật cấm, họcó năng lực TNHS vàđủtuổi chịu TNHS theo quy định. Pháp luật hình sựnước ta không quyđịnhcụthểthếnào là người có năng lực TNHS nhưng cơ sở pháplý để xác định chủ thể của
tội cướpgiật tài sảncăncứvào quyđịnh tại các Điều12, Điều171 BLHS năm 2015, cụ thể như sau:
“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này quy định khác.
2. Người từđủ14 tuổi trởlên, nhưng chưa đủ16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng quyđịnh tại một trong các điều123, 134, 141, 142, 134, 144, 150, 151, 168, 169, 170,
171, …. của Bộ luật này”
Như vậy, người phạm tội từđủ14 tuổi đếndưới 16 tuổi không phải chịu TNHSvềtội cướpgiật tài sảnthuộc trườnghợpquyđịnhtại khoản 1
Điều171 BLHS năm 2015, bởi vì khoản 1Điều171 quyđịnhvềtội phạm nghiêm trọng (có mức cao nhất của khung hình phạt đến 5 năm tù).
Theo quy định tại khoản 1 Điều 13 BLHS năm 2015 quy định người có năng lực TNHS là người không mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Người có hành vi cướp giật tài sản chỉ trở thành chủ thể của tội cướp giật tài sản khi họ có khảnăng nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sựvề hành vi của mình thực hiện hoặc có khả năng điều khiển hành vi của mình.
Trong chương các tội xâm phạm về sở hữu nói chung, tội cướp giật tài sản nói riêng thì chủ thể của tội phạm phải thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cốý. Điềunàythểhiệnthái độtâm lý củachủthểphạm tội đối với hành vi của mình và đối với hậu quả pháp lý xảy ra. Người thực hện hành vi cướp giật tài sản phải có ý định chiếm đoạt tài sản từ trước (cố ý với hành vi), chính ý thức đó họ mới điều khiển hành vi cướp giật tài sản của mình và mong muốn hậu quả xảy ra (cố ý với hậu quả) và chính yếu tố nàylà điều kiện cần và đủtrong hoạt động định tội danh tội cướp giật tài sản được thuận lợi, đúng luậtđịnh. Nói cách khác, chủ thể của tội cướp giật tài sản là bất kỳ người nào có năng lực TNHS và từ đủ 16 tuổi (khoản 1) hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên (khoản 2, 3 và 4 BLHS năm 2015).
Trên cơsởquyđịnh tại Điều9 BLHS năm 2015 thì Điều 171 BLHS năm 2015 quyđịnhcóbốnkhung (khoản) hình phạt gồm: tội phạm nghiêm trọng (khoản 1), rấtnghiêm trọng (khoản 2 và 3), đặc biệt nghiêm trọng (khoản 4). Do người thực hiện tội phạm cướp giật tài sản với lỗi cố ý, khi đối chiếu với Điều 12 BLHS năm 2015 thì chủ thể của tội cướp giật tài sản là một cá nhân cụ thể có năng lực TNHS, từ đủ 16 tuổi trở lên (đối với khoản 1 Điều 171) hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên (đối với khoản 2,3 và 4 Điều 171). Vì vậy, các cơ quan tiến hànhtốtụng, người tiến hànhtốtụng trong các giaođoạnđiều
tra, truy tố, xét xửđối với tội cướp giật tàisảncầnhết sứcchú ýxác định chính xác độ tuổi của người phạm tội và các tình tiết định khung hình phạt đểxác định chính xác tội danh cũng như tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội làm cơ sở để xử lý vụ ánđược chính xác, đúng quy định của pháp luật, tránh tình trạng xử lý sai người phạm tội hoặc làm oan người vô tội.
– Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản
Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản được hiểu là mặt bên ngoài của tội phạm, là sự tổng hợp các dấu hiệu pháp lý do BLHS quy định và các dấu hiệu phản ánh hành vi ra bên ngoài (công cụ, phương tiện, cách thức, thủ
đoạn, thời gian, địađiểm…) của hành vi xâm hại quanhệsởhữu gây nguy hiểm đáng kểcho xã hội và xâm hại đếnkháchthểđược quyđịnh tại Điều 171 BLHS năm 2015. Bất cứ tội phạm nào xảy ra đều gây nguy hiểm cho xãhội và có mối quanhệnhânquảvới nhautạonênhậuquảtrên thực tếmà người phạm tội phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng. Mặt khách quan của tộicướpgiật tàisảnđược thểhiện ởhành vi công khai và nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi chiếm đoạt ở tội cướp giật tài sảncó 2dấuhiệuđểphân biệt với những hành vi chiếmđoạt ởcác tội phạm khác đó là “công khai” và “nhanh chóng”.
+ Công khai: về mặt khách quan, hành vi chiếm đoạt ở tội này cho phép chủ tài sản biết ngay khi hành vi này xảy ra. Về ý thức chủ quan của người phạm tội, người phạm tội khi thực hiện hành vi chiếm đoạt biết hành vi chiếm đoạt của mình có tính chất công khai và hoàn toàn không có ý định che giấu hành vi đó.
+ Nhanh chóng: là dấu hiệu phản ánh thủ đoạn của người phạm tội, đó làthủ đoạn lợi dụng sự sơhở của chủ tài sản (sơ hở này có thể có sẵn hoặc do người phạm tội chủđộng tạora), nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếmđoạtvà nhanh chóngtẩuthoát. Thủđoạn nhanh chóng nàyđược thểhiệnởnhiều hình thức khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm của tài sản, cách thức giữ
tài sản…,thông thường đâylà những tài sảngọnnhẹ, dễlấy,dễmang đi.
Cũng được xem là hành vi cướp giật tài sản trong trường hợp người phạm tội có tác động nhẹ đến người chiếm giữ tài sản, song không làm cho họ lâm vào
tình trạng mất khả năng chống cự (ví dụ như xô ngã, giật ví rồi tẩu thoát…). Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội giật được tài sản từ người khác, kểcảtrường hợpngườiphạmtộibỏlại tàisảnđã cướp giật được đểtẩu thoát. Người phạm tội thực hiện hành vi một cách nhanh chóng với mong muốn chủtài sản không kịp phản ứng và ngăn cản việc chiếm đoạt, và do vậy họ không có khả năng bảo vệ tài sản.
+ Dấuhiệu công khai:Đâylàđặctrưng cơ bảncủahành vi cướpgiật tài sản và căn cứ để phân biệt với một số tội phạm khác, nó thường thể hiện dưới dạng dùng tay giật, giằng lấy tài sản một cách nhanh chóng và ngay tức khắc mà khônghềche giấu hành vi của mình với chủsởhữu và mọi người xung quanh. Chính vì thế, dấuhiệu công khai là mặc nhiên không thểthiếu khi nghiêncứumặt khách quan của tội cướpgiật tài sản, là cơ sởpháp lý quan trọng trong hoạt động định tội danh tội cướp giật tài sản. Dấu hiệu công khai của tội cướpgiật tài sảnthểhiệnởviệc người thực hiện hành vi cướp giật tài sản khi phạm tội phải công khai đối với người đang sở hữu, quản lý tài sản và những người xung quanh mà không hề lo sợ sẽ bị phát hiện. Nghĩa là khi sựviệc phạmtộixảyra thì mọi người xung quanh, chủsởhữucókhảnăng nhận biết và phản ứng ngay nhưng do hành vi cướp giật tài sản diễn ra rất nhanh và bất ngờ nên không có khả năng can thiệp hoặc ngăn cản hành vi phạm tội xảy ra để bảo vệ tài sản của mình đang chiếm hữu hoặc quản lý. Do vậy, để phân biệt giữa tội cướp giật tài sản và các tội xâm phạm sở hữu khác như lừa đảochiếmđoạt tài sản, công nhiên chiếmđoạt tài sản, trộmcắptài
sản… thì ý thức, khả năng nhận biết, thái độ của người bị hại có ý nghĩa rất quan trọng và mang tính quyết định.
Nếu hành vi cướp giật tài sản của người phạm tội chỉ công khai với mọi người xung quanh nhưng không công khai với người bịhại thì không thểlàhành vi công khaivềmặt khách quan của tội cướpgiật tài sảnđược. Tuy nhiên, trong thực tiễn cóthểxảyra trườnghợphành vi của người phạm tội xảy ra lén lút với chủ sở hữu và người xung quanh để chiếm đoạt tài sản như
tội trộm cắp tài sản nhưng khi được chủ sở hữu và người xung quan phát hiện vây bắt thì người phạm tội vẫncốýchiếmđoạt tài sảnđếncùng bằng cách giằng, giật lấy tài sản một cách công khai rồi nhanh chóng tẩu thoát thì hành vi đó đã chuyển hóa từ tội trộm cắp tài sản sang tội cướp giật tài sản.
Nếu người phạm tội thực hiện hành vi công khai chiếm đoạt tài sản vào banđêmhay có những thủđoạnlàm cho người bịhạikhông nhận thấymặt
như: đeo mặt nạ, hóa trang, mang khẩu trang… thì hành vi vẫn cấu thành tội cướp giật tài sản.
Ngoài ra, người phạm tội có thể lợi dụng việc người bị hại không chú ý, sơ hở, đang bị vướng mắc không có khả năng truy đuổi hoặc giằng giật lại tài sản hoặc đangđiềukhiển phương tiện giao thông đường bộrồi bất ngờgiật
lấy tài sản. Đây cũng là dấu hiệu đặt trưng để phân biệt giữa tội cướp giật tài sản với một số tội phạm tương tự khác.
Dấu hiệu nhanh chóng: Đây là dấu hiệu đặc trưng nhất và bắt buộc phải có trong mặt khách quan của tội cướpgiật tàisảngiúp cho chủthểđịnhtội danh tội cướp giật tài sản được chính xác và phân biệt với CTTP của các loại tội phạm khác có cùng khách thể bị xâm hại. Nó phản ánh phương thức thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản một cách khẩn trương, nhanh chóng của người phạm tội. Hành vi cướp giật tài sản một cách nhanh chóng thông thường là lợi dụng sự sơhở của người bị hại (sự sơ hở nàycó thể là do bản thân người bịhại tạo ra hoặc do bản thân người phạm tội chủ động tạo ra) rồi tạo ra yếu tố
bất ngờlàm chohọkhông cókhảnăng hoặc không kịpgiữlại được tài sản
của mình đang sở hữu, quản lý hoặc sử dụng. Sau khi tiếp cận được người bịhại thì người phạm tội sẽ nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng tẩu thoát. Dấu hiệu này nó hiện hữu trong suốt quá trình diễn ra tội phạm từ lúc bắt đầucho đến khi kết thúc hành vi phạm tội. Tuy nhiên, khi định tội danh chúng ta cần đánh giá được thế nào là nhanh chóng nhờ vào đặc điểm tài sản bịchiếmđoạt có gọn, nhẹ, dễgiật và dễdịch chuyển ngay tức khắc hay không? Vị trí, cách thức chiếm giữ, tài sản đó đang ở vị trí nào và được quản lý ra sao như: đang đeo dây chuyền, mang túi xách, đang sử dụng điện thoại
hoặc tài sản tư trang khác… Ngoài ra, hoàn cảnh khách quan khác như yếu tốđịahình,địavật,mậtđộphương tiện lưu thông vàngườiqualạicũng ảnh hưởngrất lớn đến hành vi của người phạm tội xem có nhanh chóng hay không. Do vậy, nhờ thủ đoạn nhanh chóng chiếm đoạt mà người phạm tội làm chochủsởhữu không đủđiều kiện đểkịp phản ứngvà ngăn cản còn dấu hiệu nhanh chóng tiếp cận và nhanh chóng tẩu thoát làphụtrợcho việc nhanh chóng chiếm đoạt nhưng không bắt buộc phải có của tội phạm cướp giật tài sản.
Hành vi cướpgiật tài sản được thực hiện dễdàng và thuậnlợinó còn nhờvàoyếutốquan trọng khácđó chính là sựsơ hởcủa người bịhại. Nếu người bị hại cảnh giác hoặc kịp thời phản ứng ngăn cản được thì người phạm
tội dù cóýđịnhnhanh chóng chiếmđoạttàisảnthì hành vi chiếmđoạt vẫn không thể được.
Trong mặt khách quan của tội cướp giật tài sản tùy từng trường hợp cụthể nó còn xuất hiện dấu hiệu dùng vũ lực của người phạm tội để nhằm mụcđích đe dọa hoặc tácđộng đếnthân thể, sựan toàn của ngườibịhại đểtẩu thoát sau khi đã thực hiện xong hành vi chiếm đoạt nếu người bị hại hoặc khi có ai đó truy đuổi, ngăncảnvàbắtgiữ. Dấuhiệu này ít xảyra nhưng hoàn toàn có thể xảy ra nên không thể xem nhẹ chúng khi tiến hành định tội danh. Thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử chúng ta hay nhầm lẫn nó với tội cướp tài
sảnhoặc cưỡng đoạttài sản, hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc trong tội cướp tài sản là nhằm khống chế làm tê liệt ý chí kháng cựcủa bịhại, làm cho họrơi vào tình trạng bịđộng rồichiếmđoạt tài sản nhưng đối với hành vi dùng vũ lực (nếu có phát sinh) trong tộicướp giậttài sản thì ngược lại, nó không phải để làm tê liệt ý chí của người bị hại và không nhằm đe dọa gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của người bịhại hoặc người khác truy đuổi mà chỉ là những hành động nhằm mục đích tẩu thoát sau khi đã thực hiện hành vi chiếmđoạt tài sản. Như vậy, hành vi dùng vũ lực trong tội cướp giật tài sản là biện pháp hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện hành vi chiếmđoạt được nhanh chóng nên không cósựchuyển hóa từtội cướp giật tài sản sang tội cướp tài sản. Việc dùng vũ lực trong hoàn cảnh này chỉ được coi là tình tiết định khung tăng nặng “Hành hung để tẩu thoát” theo điểmđ, khoản 2, Điều171 BLHS năm 2015 của tội cướpgiật tài sảntùy thuộc vào thời điểm và mục đích của hành vi dùng vũ lực.
Ngoài ra, nếu hành vi dùng vũ lực nhằm mục đích tẩu thoát khi đang bịngười bị hại hoặc người khác vây bắt mà gây thương tích đáng kể cho những người này thì họ phải chịu TNHS theo cấu thành định khung tăng nặng tươngứng với thương tích của người này được quy định cụ thể trong các khoản 2, 3, 4 Điều 171 BLHS năm 2015.
Tóm lại, tội cướp giật tài sản là tội phạm có cấu thành hình thức, nghĩa là tội phạmđã hoàn thành ngay khi bản thân người phạm tội đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản mà không cần đến việc có hậu quả xảy ra hay không và mối quan hệ nhân – quả trong quá trình định tội danh.
– Mặt chủ quan của tội cướp giật tài sản
Mặt chủquan là một trong bốnyếutốCTTP, mặt chủquan của tội phạm làđặc điểm tâm lýbên trong của tội phạm hay nói cách khác là tâm lý bên trong của người phạm tội được thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý. Hoạt
động tâm lý này diễn ra liên tục và bao gồm nhiều nội dung khác nhau, những nội dung thuộc mặt chủ quan của tội phạm có ý nghĩa quan trọng về mặt hình sự, nó trả lời cho những câu hỏi: “Động cơ nào thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội?”; “người phạm tội nhằm mục đích gì?”;
“lýtrí và ýchí của họra sao?”… Như vậy, mặt chủquan của tội phạm suy cho cùngchỉbaogồmcác yếutốvềlỗi, động cơ, mục đích của tội phạm. Trong đó, yếutốlỗi được phản ánh trong tất cảcác CTTP còn mục đích vàđộng cơphạm tội tuy không thể thiếu được trong CTTP nhưng không phải lúc nào nó cũng có ý nghĩa quyết định đến tính chất nguy hiểm cho xã hội.
Như đã phân tích ở trên, người thực hiện hành vi phạm tội cướp giật tài sản luôn nhận thức và điều khiển được hành vi của mình một cách công khai, nhanh chóng và hoàn toàn không cóý địnhche giấu hành vi đó nhằm làm cho người bịhại rơi vào thếbịđộng, họkhông kịp có bất kỳphản ứng nàođểngăn cản hay đối phó với hành vi chiếm hữu tài sản của người khác một cách bất hợp pháp đó. Tương tự như các tội cướp tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt
tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản hay tội trộm cắp tài sản… thì tội cướp giật tài sảncũngđược thực hiện với lỗi cốýnhằm mục đích chiếm đoạt tài sảncủa ngươi khác cho nên mục đích chiếm đoạt tài sản cho dù là trực tiếp hay gián tiếp (thông qua đồng phạm khác) là một dấu hiệu bắt buộc để định tội danh vàtruy cứu TNHS đối với người phạm tội cướp giật tài sản.
Tội cướp giật tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, bởi vì khi phát hiện thấy người bị hại có sở hở khi quản lý tài sản thì họ nảy sinh ý thức chiếmđoạt cho bằng được tài sản đó và để thực hiện mong muốn đó thì người phạm tội phải dùng thủ đoạn công khai và nhanh chóng chiếm đoạt tài sản dù biết rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật và sẽ bị xử lý bằng pháp luật hình sự khi bị phát hiện bắt giữ. Những trường hợp lầm tưởng tài sản nào đó là
củamình hoặc tài sản không có người quản lý hoặc không có mục đích chiếmđoạt tài sản (mục đích đùa giỡn) đều không cấu thành tội cướp giật tài sản.
Mụcđích chiếmđoạttài sảnlàdấuhiệu bắt buộc trong mặt chủquan của tội cướp giật tài sản, mặt dù nó có thể là kết quả trong tương lai mà người phạm tội thấy trước hậu quả đó và mong muốn đạt được. Chiếm đoạt tài sản là hành vi cố ý dịch chuyển quyền quản lý, chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của ngườikhác một cách trái pháp luật thành tài sản của riêng mình hoặc của một nhóm người và đã được thực hiện trong thực tế.
Như vậy, mặt chủ quan của tội cướp giật tàisản được thể hiện do lỗi cốý trực tiếp nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội biết được hành vi của mình là nhằm mục đích chiếmđoạt tài sản, đâylàdấuhiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của tội cướp giật tài sản.
1.2.2. Những yếu tố bảo đảm
1.2.2.1. Năng lực chuyên môn của người định tội danh
Trong hoạt động định tội danh đối với tội Cướp giật tài sản trong giaiđoạnđiềutra, những người tiến hành tốtụng thực hiện hoạt động này bao gồmThủtrưởng, Phó thủtrưởng Cơ quanđiềutra, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cán bộ điều tra và Kiểm tra viên.
Các chức danh tư pháp nêu trên là những người được tuyển chọn khắt khe qua các kỳ thi tuyển, bổ nhiệm, được Nhà nước trao thẩm quyền để giải quyết các vụán. Theo Luật Tổchức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 vàLuật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 thì năng lực chuyên môn làmột trong những tiêu chí quan trọng để bổ nhiệm cán bộ.
Đối với Viện trưởng, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên và Kiểm tra viên, năng lực chuyên môn là khả năng trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo thẩm quyền.
Đối với Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên vàCánbộđiềutra, năng lựcchuyên môn là khảnăng được thểhiện trong quátrình điều tra các vụ án hình sự theo thẩm quyền.
Nói tóm lại, điều kiện quan trọng hàng đầuđảmbảocho việc định tội danh đối với tội phạm cướp giật tài sản là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật phụthuộc chủyếuvào năng lực chuyên môn của người định
tội danh. Người định tội danh khi tiến hành hoạt động định tội danh sẽ có đủsự tự tin trong hoạt động nghề nghiệp của mình chỉ khi họ có năng lực chuyên môn vững vàng. Để có năng lực chuyên môn vững vàng, người định tội danh trước hết phải là người nắmchắc những kiến thức được giảng dạyởtrường đạihọc, các cơ sở đàotạo chuyên môn, nghiệp vụ. Hơn thế nữa, người định
tội danh phải thường xuyên trau dồi chuyên môn, thường xuyên cập nhật quyđịnh trong các văn bản pháp luật mới về tội phạm cướp giật tài sản, chịu khó học hỏi, lĩnh hội kinh nghiệm của những thế hệ đi trước.
Trước thực trạng các vụ án cướp giật tài sản xảy ra ngày càng phức tạp,đa dạng và thường có nhiều đối tượng. Mỗi vụ án cướp giật tài sản lại xảy ra rất khác nhau, mỗi vụ án lại có những tình tiết, chứng cứ phức tạp, đặc thù vàcó những vụánđối tượng phạm tội không chỉlà một người mà hoạt động thành nhóm, có tính chất phạm tội có tổ chức, phân công nhiệm vụ giữa các thành viên rõ ràng. Do đó, khi đảmbảo được khảnăng chuyên môn vững vàng, người định tội danh mới có thể xem xét cân nhắc, đánh giá toàn bộ các tình tiết của vụ án dựa trên các chứng cứ xác thực, đối chiếu hành vi đã thực hiện với quy định trong BLHS và cụ thể là các quy định tại Chương Các tội xâm phạmsởhữuđểtừđó xác định hành viđó phạm tội gì tương ứng vớiđiều luật nào của BLHS.
Năng lực chuyên môn chính làyếutốảnhhưởngrất nhiềuđếnhoạt động định tội danh. Người định tội danh phải biết vận dụng pháp luật hình sự
một cách linh hoạt nhất để đảm bảo được tính đúng đắn và phát huy tính khảnăng sáng tạocủa mình trên cơ sởđườnglối, chính sách của Đảngvà pháp luật hình sự của Nhà nước trong hoạt động nghề nghiệp.
1.2.2.2. Đạo đức nghề nghiệp của người định tội danh
Theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 thì tiêu chuẩn chung để bổ nhiệm Kiểm sát viên và Điềutra viên là “Công dân Việt Nam trung thành với Tổquốc vàHiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cóphẩm chất đạo đức
tốt, liêm khiết, trung thực, bảnlĩnh chínhtrịvững vàng, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”.
Sinh thời, ChủtịchHồChí Minh luôn chăm lo giáo dục cán bộ, đảng viên phải rèn luyện phẩmchất, đạo đứcvà đặtlên hàng đầu vấn đề”tư cách người cách mạng”. Người luôn làm gương và yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng.
Phẩm chất đạo đức ở đây bao gồm không chỉ phẩm chất đạo đức xã hội mà còncảphẩm chấtđạođứcnghề nghiệp. Phẩm chấtđạođứcnghề nghiệpđược coi là điều kiện hàng đầu, không thể thiếu, đảm bảo cho việc định tội danhđốivớitộicướpgiật tàisảnchính xác, đúngđắn.Phẩm chấtđạođứcnghềnghiệp của người định tội danh thể hiện ở chỗ: “là người có ý thức tuân thủ pháp luật cũng như gươngmẫutrong việc chấp hành pháp luật, làngườicó trách nhiệm và lương tâm trong hoạt động nghề nghiệp, là người chiến sỹ kiên cường, dũng cảm trên mặt trận chống tội phạm, bảo vệ công bằng xã hội và là người cóthái độ làm việc khách quan và vô tư trong công việc nhằm bảo vệ công lý”.
Đối với cán bộ của ngành Kiểm sát nhân dân, cùng với những yêu cầu chung vềđạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên, ChủtịchHồChíMinh dạyrằng: “CánbộKiểm sát phải công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”.
Trong quá trình xây dựng và trưởng thành của VKSND đã minh chứng rõ, lờidạycủa Bác là chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, là kimchỉnam cho mọi hoạt động của người cán bộ Kiểm sát để mỗi cán bộ, đảng viên của ngành Kiểm sát nhân dân phấn đấu rèn luyện, coi đó là phương châm giáo dục, bồi dưỡng đội ngũ cánbộcảvềchínhtrịtư tưởng, vềkiến thức pháp luật vànghiệp vụ công tác.
Ngày 07/02/2023, Viện trưởng VKSND tối cao ký Quyết định số21/QĐ-VKSTC ban hành Quy tắc chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của người cánbộKiểm sát. Quytắcchuẩn mựcđạo đứcnghề nghiệp củangườicán bộKiểm sát (Quy tắc)gồm03 Chương, 10Điều,quyđịnh vềnhững tiêu chíchuẩn mực của người cán bộ Kiểm sát theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh;điều chỉnh thái độ, hành vi, cách ứng xử, việc thực hiện chức trách, nhiệm vụcủa người cán bộ Kiểm sát khi thi hành công vụ. Quytắc được áp dụngđối với cán bộ, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Kiểm tra viên, công chức khác, viên chức công tác tại VKSND, Viện kiểm sát quân sự các cấp; khuyến khích áp dụng đối với cán bộ Kiểm sát đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác.
Quy tắc là cơ sở để các cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền thực hiện việc giám sát, đánh giá về phẩm chất, đạo đức, bản lĩnh, trách nhiệm, sự tận tâm, chuyên nghiệp trong thi hành côngvụcủa người cánbộKiểm sát; khi xem xétbổnhiệm các chức danh tư pháp, chức vụlãnh đạo,quản lý; khen thưởng, kỷ luật cán bộ. Đồng thời, là cơ sở để cán bộ Kiểm sát tu dưỡng, rèn luyện bản thân, tạo nền nếp, tác phong, hành vi ứng xử trong xử lý công việc, góp phần xây dựng môi trường công vụ văn minh, hiện đại, chuyên nghiệp.
Về yêu cầu chung đối với người cán bộ Kiểm sát, Quy tắc quy định:
– Tuyệt đối trung thành với Tổquốc và Hiến phápnước Cộng hòa xãhội chủnghĩa Việt Nam, với ĐảngCộng sảnViệt Nam; nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật, nguyên tắc tổ chức hoạt động của VKSND.
– Luôn nói, viết và làm theo đúng cương lĩnh, điềulệ, nghị quyết, chỉthị, kết luận, quy định, quy chế, quyết định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quyđịnhcủa ngành Kiểm sát nhân dân trong thi hành công vụ; tậntụy, chuyên nghiệp trong xử lý công việc.
– Cóbảnlĩnh chínhtrịvững vàng, không né tránh trách nhiệm, dũng cảm đấu tranh với vi phạm, tội phạm và với những hành vi tham nhũng, tiêu cực; kiên quyết bảo vệ Hiến pháp, pháp luật, lẽ phải và sự công bằng.
– Có phẩm chất đạođức tốt, liêm khiết, trung thực, nghiêm túc, đúng mực và nhân văn; luônđặt lợi íchcủa Đảng, của Nhà nước, của Nhân dân và
tập thể lên trên lợi ích của cá nhân mình.
– Chuyên tâm tu dưỡng, rèn luyện bản thân, thường xuyên cảnh giác, kiênđịnh lý tưởng, ý chí, ý thức tổ chức kỷ luật, thực hành lối sống lành mạnh.
Nội dung Quy tắc quyđịnh vềchuẩn mực đạođức nghề nghiệp của người cán bộ Kiểm sát, gồm các đức tính: Tính Công minh, tính Chính trực, tính Khách quan, tính Thận trọng, tính Khiêmtốntheo lời dạycủa Chủtịch Hồ Chí Minh đối với người cán bộ Kiểm sát.
Cùng với việc thực hiện Quy tắc này, người cán bộ Kiểm sát cần áp dụng, vậndụngđồngbộcác quyđịnhcủaĐảng,Nhànướcvà quyđịnhkhác của Ngành về đạo đức, văn hóa ứng xử của người cán bộ, công chức, viên chức.
Đối với người cán bộ điều tra, là một chiến sĩ CAND thì phẩm chất đạo đức, lối sống phải có: có đạo đức, lối sống trong sáng, giản dị; thường xuyên học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tinh thần thân ái, giúp đỡ, có ý thức giữ gìn đoàn kết nội bộ; biết nghiêm khắc tự phêbình và thành thật trong phê bình đối với đồng chí, đồng đội; trong phê bình không né tránh, không ngại va chạm, thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh, không lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉtrích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng,
lành mạnh; nghiêm khắc với bản thân, tự rèn luyện trau dồi đạo đức, lối sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.Những yếu tố đạo đức nàyđược nêu ra trong 6 điều Bác Hồ dạy, 5 lời thề, 10 điều kỷ luật CAND cần nhớ.
Tóm lại, yếutốđạođức đòi hỏi người địnhtội danhđối với tội phạm cướp giật tài sản phải có ý thức tuân thủ pháp luật, luôn gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật dù trong hoạt động nghề nghiệp và ngaycảtrong cuộc sống hàng ngày. Lương tâm và trách nhiệm trong hoạt độngnghề nghiệp làđiều vô cùng quan trọng trong phẩm chất đạo đức của người định tội danh đối với tội phạmcướpgiật tài sản. Ngườiđịnh tội danhđốivớitộiphạmcướp giật tài sảnlà người nhân danh Nhànướcđểxácđịnhmột người có tội hay không, trong trường hợp có tội thì đó là tội gì, và căn cứ theo điều khoản nào của Chương Các tội xâm phạm sở hữu trong BLHS.
Trong quá trình định tội danh đối với tội phạm cướp giật tài sản, người định tội danhcầnphải cẩntrọng, nghiêm túc, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Nếu người địnhtội danh có thái độthờơ, không quan tâmđến chất lượng của công việc mình đang làm, đến số phận của người phạm tội hoặc có thái độ làm việc nhũng nhiễu, thiếu khách quan cũng cóthể đưa đến hậuquảxửlý oan sai. Trong trường hợpngười định tội danh thiếu sựcẩn trọng cầnthiết, làm việc đại khái, qua loa sẽdẫnđếnhệquảlàbỏsót một hoặc nhiều tình tiết nào đó, từ đó sẽ dẫn đến định tội danh sai.
1.2.2.3. Hệ thống pháp luật hình sự
Hệ thống pháp luật hình sự hoàn chỉnh là yếu tố quan trọng để đảm bảo hoạt động định tội danh đối với tội phạm cướp giật tài sản được chính xác. Dựa trên cơ sở hệ thống pháp luật mà trước tiên là hệ thống pháp luật hình sự hoàn chỉnh, người tiến hành định tội danh mới có thể có đủ điều kiện phát huy được khả năng làm việc của mình trong quá trình giải quyết án cướp giật tài sản.
Trong BLHS năm 1999, tộicướpgiật tài sảnđược quyđịnh tạiĐiều 136.Bộluật Hình sựnăm 2015 quyđịnh tội cướpgiật tài sảntạiĐiều171. BLHS năm 2015 môtảcụthểhơn hành vi phạmtộivà mức hình phạt với hành vi cướp giật tài sản.
Ngoài Bộ luật Hình sự là văn bản cao nhất quy định việc định tội danhđối với tội Cướp giật tài sản, còn các văn bản khác như Nghị định, Thông tư, Thông tư liên tịch, cụ thể:
– Thông tư liên tịchsố01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT- VKSNDTC ngày 29/12/2017 quyđịnh việc phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 vềtiếp nhận, giải quyết tốgiác, tin báovềtội phạm, kiến nghị khởi tốdo Bộtrưởng BộCông an -BộQuốc phòng -BộTài chính -BộNông nghiệp vàPhát triển nông thôn – Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành.
– Thông tư liên tịchsố01/2021/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT- VKSNDTC ngày 29/11/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNNPTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 do Bộ trưởng Bộ Công an – Bộ Quốc phòng – Bộ Tài chính – Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn – Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành.
– Thông tư số 129/2021/TT-BCA ngày 31/12/2021 sửa đổi, bổ sung một sốđiềucủa thông tư số 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/2020 củabộtrưởng bộcông an quyđịnh trình tự, thủtục tiếp nhận, phân loại, xửlý, giải quyết tốgiác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của lực lượng công an nhân dân.
1.3. Quy trình định tội danh đối với tội Cướp giật tài sản
1.3.1. Thu thập, kiểm tra, đánh giá toàn diện chứng cứ chứng minh sự thật của vụ án trộm cắp tài sản
Một vụ ánhình sự xảy ra bao giờ cũngđể lại những dấu vết, được thểhiện dưới những hình thức khác nhau, có ý nghĩa quan trọng nhằm xác định
có hay không có hành vi phạm tội. Các cơ quan tiến hànhtốtụng sẽcăncứvào những dấu vết đã thu thập được để khởi tố, truy tố hay xétxử một ngườiđã có hành vi phạm tội,đâychính là những chứngcứcủa vụán hình sự. Muốn giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, kết luận đúng về hành vi phạm tộiđã xảy ra thì cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải có chứng cứ để chứng minh bản chất của người phạm tội.
Chứng cứ là phương tiện của việc chứng minh trong việc giải quyết vụán hình sự, có vai trò rất quan trọng, là cơ sở, phương tiện duy nhất để chứng minh trongvụán hình sự. Trong quá trình thực hiện các hoạt động tốtụng, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cần xác minh những sự việc có liên quan đến tội phạm đangđược tiến hành xem xét, cầnphải khẳng định được rằng tội phạm đã xảy ra, xác định được người cụ thể đã thực hiện tội phạm và họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đã thực hiện. Để làm được điều đó, cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa vào chứng cứ. Việc nghiên cứu, xác định các sự kiện, tình tiết của vụánđược tiến hành trên cơ sởcủa các chứng cứvà chỉbằng cách dựa vào các chứngcứmới làm sáng tỏđược những vấn đềcầnchứng minh trong vụ án hình sự. Mọi giaiđoạn của tố tụng hình sự đều được mở ra và kết thúc từ vấn đề chứng cứ, xuất phát từ chứng cứ.
1.3.2. So sánh, đối chiếu các tình tiết củavụán đãlàm rõ với quy định của Bộ luật hình sự để xác định sự tươngđồng
Đâylà giai đoạn thứ hai – giai đoạn so sánh, đối chiếu các tình tiết của vụáncướpgiật tài sảnđã được làm rõ với quyđịnh của Bộluật hìnhsựđểxácđịnhsựtương đồng vềmặt pháp lý giữa hành vi cướpgiật tài sảnđược thực hiện trong thực tế với cấu thành tội phạm của tội cướp giật tài sản được quyđịnh trong Bộluật hình sự. Đâylà giai đoạntrung tâm trong quá trìnhđịnh tội danh đối với tội cướp giật tài sản.
Giai đoạn này, chủ thể định tội danh thực hiện những việc sau đây:
Một là, đối chiếu từng tình tiết của vụánxảyra với các dấuhiệu cấu thành tội phạm tương ứng của tội cướp giật tài sản. Sau đó, phải đối chiếu, so sánh tổng thể tất cả các tình tiết của vụ án với tổng thể các dấu hiệu cấu thành
tội phạm của tội phạm này.
Hai là, phát hiện, tìm ra sự đồng nhất giữa các tình tiết điển hình của vụán với các dấu hiệu pháp lý mà Bộ luật hình sự mô tả trong Bộ luật hình sự,được bổ trợ bởi các văn bản pháp luật hình sự liên quan hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự.
Trường hợp có căn cứ khẳng định không có sự đồng nhất thì phải kiểm tra lại. Nếukiểm tra lại vẫnxác địnhchắc chắn không cósựđồng nhất với cấuthành tội phạm tội cướpgiật tài sản thì cóthểchuyển sang kiểm tra các quy phạm pháp luật hình sự khác để kết luậncó hay không có tội phạm xảy ra, nếucó tộiphạmxảyra không thuộc trường hợp tội cướpgiật tài sảnthìcấu thành tội phạm nào khác theo quy định của Bộ luật hình sự.
Trường hợp có căn cứ xác định có dấu hiệu của tội cướp giật tài sản thìchủthểđịnh tộidanh vẫn cần phải kiểm tra lại trướckhi điđến kếtluận đối tượng vụ án phạm tội cướp giật tài sản.
Sau khi xác định được đối tượng vụán là người có hành vi phạm tội cướp giật tài sản thì phải xác định các khoản cụ thể của Bộ luật hình sự. Tiếp theo đó, phải xác định xem cótồntại yếutốđồngphạm không, ai là ngườiđồng phạm, thực hiện hành vi phạm tội với vai trò gì.
Tiếpđó phải xác định tội trộmcắptàisảnđược thực hiện ởgiai đoạn hoàn thành hay chưa; kiểm tra các vấn đề khác có liên quan như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 46 và Điều 48 Bộluật hình sự.
Kết thúc giai đoạn này, chủ thể định tội danh đã có căn cứ để xác định đối tượng vụ án đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản và hành vi nàyđã cấu
thành tội cướp giật tàisảnquyđịnh tại Bộluật hình sự, xácđịnh đượccácđiềuluật khác trong phần chung của Bộluật hình sựđượcáp dụng đểgiải quyết vụ án.
1.3.3.Đưara kết luận vềtội danh người đãthực hiện hành vi quyđịnh của Bộ luật hình sự
Đâylà giai đoạn đưa ra kết luận về việc đối tượng vụ ánđã thực hiện tội phạm cướp giật tài sản. Trong trường hợp định tội danh chính thức, các cơquan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng ra các quyết định tố tụng cần thiết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sựđối với người phạm tội vềtội phạm nêu trên. Giai đoạnnày là giai đoạn cuối cùng trong quá trình định tội danh. Chủthểđịnhtội danh phải khẳngđịnh một cách dứt khoát rằng đối tượng vụ án đã phạm tội cướp giật tài sản vànêu ra các điều luật được áp dụng.
Đối với định tội danh không chính thức, quá trình định tội danh có thểđược xem là đã kết thúc. Chủ thể định tội danh (có thể là các nhà nghiên cứu, luật gia, nhà báo…) thể hiện quan điểm của mình trong các bài báo, bài viết, công trình khoa học hoặc các hình thức khác.
Đối với định tội danh chính thức, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hànhtốtụng làchủthểđịnh tội danh phải thểhiệnsựđánh giá pháp lý của mình trong các quyết định và văn bản tố tụng và tiếp tục nghĩa vụ chứng minh về kết luận của mình theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Chương 2:
THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA, VIỆN KIỂM SÁT TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Khái quát tình hình tội phạmCướpgiật tài sản trên địabàn thành phố Hà Nội.
Nhìn chung, sốvụvi phạm pháp hình sựtrênđịa bàn Thành phốHàNội tặng mạnhcảvềtính chất và mức độnghiêm trọng của các vụvi phạm pháp luật hình sự. Gầnđâynhiềuvụcướpgiật liều lĩnh, tànbạoxảyra trênđường phốđã gây tâm trạng bất an cho người dân. Người phạm tội sửdụng xe mô tô không có biển kiểm soát, chạy lòng vòng trên các tuyến đường tìm kiếm “conmồi”sơ hở, như: đeo túi xách trên người hoặc cầmđiệnthoại diđộng trên tay, sau đó tăng tốc, áp sát nạn nhân để thực hiện hành vi cướp giật tài sản là những thủ đoạn không mới. Tuy nhiên vẫn có nhiều người trở thành “nạn nhân” của loại tội phạm này.
Ví dụ: Đểcó tiền ăn tiêu, Nguyễn TiếnĐức (sinh năm 1991; HKTT:
Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội; là đối tượng nghiện ma tuý, có tới 4 tiền án vềcác tội Gây rối trật tự công cộng, Tàng trữ trái phép chất ma túy, Chống người thi hành công vụ, Cướp giật tài sản) đã lên kế hoạch đi cướp giật tài sản. Đối tượng sử dụng xe máy tháo biển số, lang thang trên các đường, phố thuộc địa bàn thành phốHà Nội vào buổi tối, đêm muộn, tìm kiếm “con mồi”để thực hiện hành vi cướp giật tài sản.
Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 9/2012 đến tháng 10/2022 (trước khi bị bắt), Đức đã gây ra hàng loạt vụ cướp giật tài sản trên địa bàn các quận, huyện: Hà Đông, Thanh Xuân, Đống Đa, Thanh Trì… Nạnnhân chủyếulàphụnữdi chuyển trên những tuyếnđường vào thời điểmvắng người đi lại. Toàn bộtài sảnsau khi cướp được, Đức mang bán cho Lê Tuấn Dũng (sinh
năm 1983; HKTT: Đại Nghĩa, MỹĐức,Hà Nội), chủcửa hàng kinh doanhđiện thoại di động “Dũng Linh Mobile” ở Đa Sỹ, Kiến Hưng, Hà Đông.
Theo số liệu thống kê của Viện KSND thành phố Hà Nội, từ năm 2018đến năm 2022, trên địa bàn Thành phố Hà Nội xảy ra 49.051 vụ vi phạm pháp luật hình sự. Trong đó, Cơ quan điều tra – Công an hai cấp thành phố Hà Nộiđãđiều tra, khám phátổng số882vụcướp giậttài sản,đạttỷlệ1,80%, bình quân mỗi năm xảy ra khoảng 176 vụ.
Xét tương quan giữa tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội phạm Cướp giật tài sản trong thời gian qua diễn biến tương đối ổn định, tỷ lệkhông tăng, giảm mạnh. Diễn biến của tội cướp giật tài sản tăng giảm tương tự diễn biến của tội phạm nói chung dù không đáng kể.
Bảng 01. So sánh tình hình tội phạm Cướp giật tài sản với tình hình tội
phạm trên địa bàn Thành phố Hà Nội
| Theo số vụ án | Theo số bị can | |||||
| CGTS | Tổng | Tỷ lệ (%) | CGTS | Tổng | Tỷ lệ (%) | |
| 2018 | 116 | 8.470 | 1,37% | 140 | 13.161 | 1,06% |
| 2019 | 163 | 9.272 | 1,76% | 154 | 14.009 | 1,10% |
| 2020 | 174 | 10.315 | 1,69% | 134 | 14.860 | 0,90% |
| 2021 | 225 | 10.638 | 2,12% | 156 | 15.092 | 1,03% |
| 2022 | 204 | 10.356 | 1,97% | 161 | 15.753 | 1,02% |
| Tổng | 882 | 49.051 | 1,80% | 745 | 72.875 | 1,02% |
Về số vụ vi phạm pháp luật hình sự: Trong 05 năm, tình hình Tội phạm nói chung tăng mạnh, có nhiều diễn biến phức tạp, nổi lên là tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe chủ yếu do mâu thuẫn gia đình, thù tức, mâu thuẫn và các nguyên nhân bộc phát; tình trạng tâm thần, ngáo đá vẫn tiềm ẩn nguy cơ gây ra cácvụtrọng án; cácvụcướp ngân hàng; tình trạng đối tượng sửdụng vũ khí đểgiải quyết mâu thuẫn; các băng nhóm cướp, cướpgiật hoạt
động lưu động, lợi dụng các lễ hội, điểm du lịch để hoạt động…
Vềsốvụcướpgiật tàisản: Trong 05 năm, tình hình Tội cướpgiật tài sản nhìn chung có tăng, tuy nhiên số lượng không lớn, không có biên độ dao động mạnh, chỉ chiếm 1,80% tổng số vụ và 1,02% tổng số bị can.
Xem xét mối tương quan và tỷlệgiữa tội phạmCướpgiật tài sản với tội phạm nói chung cho thấy loại tội phạm Cướp giật tàisản chỉ chiếm tỷ lệ tỷlệ rất nhỏ trong cơ cấu tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Hà Nội. Cơ
cấunày phần nào cho chúng ta thấytộiphạmCướpgiật tàisảntrênđịa bàn thành phốHà Nội là rất nhỏso với tổng sốtội phạm hình sự và cũng ít hơn đángkểso với một sốtộixâm phạmsởhữukhác như Trộmcắptài sản vàLừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Bảng 02. Một số tội xâm phạm sở hữu có tính phổ biến
| Tội danh | 2018 | 2019 | 2020 | 2021 | 2022 | Tổng số |
| Cướp tàisản | 182 | 236 | 179 | 189 | 180 | 966 |
| Cưỡng đoạt tài sản | 63 | 97 | 61 | 65 | 74 | 360 |
| Cướp giật tài sản | 116 | 163 | 174 | 225 | 204 | 882 |
| Trộm cắp tài sản | 1.367 | 2.116 | 2.353 | 2.458 | 2.035 | 10.329 |
| Lừa đảo chiếm đoạt tài sản | 339 | 491 | 574 | 721 | 958 | 3.083 |
| Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản | 93 | 129 | 111 | 112 | 185 | 630 |
*Tình hình điều tra, truy tố, xét xử tội phạm Cướp giật tài sản
Tình hình hiện nay, loại tội nàyđối tượng phạm tội thường sửdụng côngcụphương tiện nguy hiểm, địa điểmdiễn ra tội phạm thường vắng vẻ, người bị hại thường không nhận dạng được đối tượng cướp giật tài sản, người làm chứng ít nhưng nếu bị phát hiện thì chứng cứ thường rất rõ ràng. Do vậy, tỷ lệ khám phá thấp nhưng nếu bị khám phá thì đa phần đều bị xử lý hình sựbởi chỉcầnđối tượng cóđủnăng lực pháp lý hìnhsựlà cóthểbịtruy cứu trách nhiệm hình sự.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\Định tội cướp giật tài sản trong giai đoạn điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội
Định tội cướp giật tài sản trong giai đoạn điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội Định tội cướp giật tài sản trong giai đoạn điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội Định tội cướp giật tài sản trong giai đoạn điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội Định tội cướp giật tài sản trong giai đoạn điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội Định tội cướp giật tài sản trong giai đoạn điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội Định tội cướp giật tài sản trong giai đoạn điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội Định tội cướp giật tài sản trong giai đoạn điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội Định tội cướp giật tài sản trong giai đoạn điều tra từ thực tiễn thành phố Hà Nội


