Biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

MỞĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Tham nhũng là hiện tượng xảy ra ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và trởthành mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Những năm gần đây tham nhũng được Đảng Cộng sản Việt Nam xácđịnh làmột trong những nguy cơ, thách thức gắn với sự tồn vong của chế độ. Với quyết tâm, nỗ lực của cả hệ thống chính trị, công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN)ởViệt Namđã có nhiều chuyển biến tích cực vềnhận thức và hành động. Một trong những chuyển biến đáng ghi nhận đó là Đảng và Nhà nước ta ngày càng xây dựng đa dạng các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm nói chung và tình hình

tộiphạm tham nhũng nói riêng. Đồngthời, việc tổchức thực hiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng trên thực tế cũng là một nội dung được quan tâm, nhấn mạnh. Biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng được coi là công cụ hữu hiệu của Nhà nước để đấu tranh với những diễn biến và biểu hiện ngày càng biến đổi không ngừng của loại tội phạm này trên thực tế. Do đó, việc hoàn thiện hơn nữa những biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng cũng chính là một hoạt động góp phần không nhỏ vào nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm tham nhũng.

Tuy nhiên, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên cùng với nạn quan liêu nên các tội phạm tham nhũng ở Việt Nam chưađượcngăn chặn,đẩylùi. Theo đánh giácủaTổchức Minh bạch Quốctế

(Transparency International–TI), năm 2017, Việt Namđứngthứ107/180 trên bảng xếp hạng toàn cầu về chỉ số cảm nhận tham nhũng, được cho là nằm trong nhóm các nước tham nhũng nghiêm trọng trong khu vực công. Tình hình tội phạm tham nhũng ởViệt Nam trong những năm vừa qua có diễn biến ngày càng phức tạp, đối tượng phạm tội có sự cấu kết chặt chẽ, thủ đoạn gây án và che giấu tội phạm rất tinh vi, xảo quyệt, nhiều vụ phạm tội cótổchức, hình thành những đường dây phạm tội khép kín, lợi dụng những sơ hở của cơ chế, chính sách, sự lỏng lẻo trong công tác quản lí, kiểm tra, giám sát, đểthực hiện tội phạm. Theo báo cáo về công tác PCTN năm 2021 của Chính phủ, trong vòng một năm vừa qua, các Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân đã thụ lýđiều tra 582 vụ án, 1.262 bị can phạm tội về tham nhũng; trong đó khởi tố mới 310 vụ, 665 bị can (tăng 20 vụ, 49 bị can so với kỳ báo cáo năm trước). Đã kết luận điều tra và

1

đề nghị truy tố 305 vụ, 804 bị can; tạm đình chỉ điều tra 37 vụ, 58 bị can; đình chỉ điều tra 04 vụ, 03 bị can ; xử lý khác (thay đổi tội danh, nhập vụ án…) 10 vụ, 13 bị can; hiệnđang điều tra 226 vụ, 384 bị can. Thiệt hại trong các vụ ánthụlý: trên 800 tỷ đồng, 398.643,83 m2 đất, 21 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố: Viện kiểm sát nhân dân các cấp thụ lý giải quyết 402 vụ/1.222 bị can, trong đó án mới 369 vụ/1100 bị can (tăng 29 vụ/363bịcan tươngđương8,2% sovớicùngkỳnăm 2020);đãgiải quyết 330 vụ/989 bị can (đạt 82%, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2020). Trong đó: Truy tố 329 vụ/983bịcan (chiếm 99,6% tổngsốánđãgiải quyết); đìnhchỉ1 vụ/6bịcan. Hiệnđang giải quyết 72 vụ/233 bị can. Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 415 vụ với 1.163 bị cáo; đã xét xử sơ thẩm 254 vụ với 631 bị cáo về các tội tham nhũng (so với cùng kỳnăm trước thụ lý giảm 21 vụ và 12 bị cáo, xét xử giảm 15 vụ và 14 bị cáo). Trong số631 bị cáo phạm tội tham nhũng đã xét xử, các Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt tùchung thân 6 bị cáo; xử phạt tù từ trên 15 năm đến 20 năm đối với 22 bị cáo.

Những con số này cho thấy mặc dù công tác đấu tranh, PCTN những năm vừa qua được đánh giá là có chuyển biến tích cực nhưng không thể phủ nhận những mặt còn tiêu cực, hạn chế trong PCTN nói chung, trong xây dựng và tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng nói riêng. Một trong những yêu cầu đặt ra của việc xây dựng biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng làbảo đảm tính khả thi trên thực tế, phù hợp với tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa của Việt Nam. Tuy nhiên, những yêucầunàyởmộtsốbiện pháp còn chưađượcbảođảm.Bên cạnhđó,việctổchức thực hiệnsốbiện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng vẫn chưa phát huy hiệu quả cao nhất, chưa thực sự có chuyển biến mang tính đột phá và còn nhiều khó khăn trong quá trình áp dụng.

Nguyên nhân nào làm hạn chế hiệu quả công tác xây dựng và tổ chức thực hiện biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam hiện nay? Cầntiến hành những giải pháp nào để tăngcườnghiệu quả xây dựng vàtổchức thực hiện biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng?Đâychính lànhững yêu cầucấpthiết mà thực tiễn công tácđấutranh phòng, chốngtộiphạm tham nhũng tại Việt Nam đặt ra. Với những lý do trên, việc nghiên cứu biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng, thực tiễn xây dựng vàtổchức thực hiện các biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũngởViệt Nam hiện nay mang ý nghĩa cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn.

2

Trongbốicảnh nói trên, việc lựachọn nghiêncứuđềtài luận án “Biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam hiện nay” là rất cần thiết và cấp bách nhằm đáp ứng những đòi hỏi về lý luận, thực tiễn và nhu cầu của quá trình hội nhập, phát triển của Việt Nam. Việc đánh giá hệ thống các quyđịnh pháp luật về PCTN, lý luận và thực trạng về xây dựng và tổ chức thực hiện biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng và đề xuất những kiến nghị, hoàn thiện những nội dung này cũng chính là góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống tình hìnhtộiphạm tham nhũng, tăng tínhchủđộngcho các chủthểtham gia vào hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trong thời gian tới.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận nhằm tìm ra những luậncứkhoahọccủa việc xây dựng vàtổchức thực hiện các biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng. Luận án cũng nghiêncứumột cách toàn diện và có hệthống nhữngvấnđềthực tiễnđểchỉra những ưu điểm cũng như những hạn chế, thiếu sót của biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trên cơ sởthiết lập, xây dựng và tổchức thực hiện các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng. Từ đó chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót và đề xuất kiến nghị, hoàn thiện biện pháp phòng ngừa tình hình

tội phạm tham nhũng tại Việt Nam trong thời gian tới.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, Luận án có các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

Mộtlà, phân tích, luận giải, làm rõ nhữngvấnđềlý luậnvềbiện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng;

Hai là, khảo sát, đánh giá thực trạng xây dựng vàtổchức triển khai các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng tại Việt Nam, qua đó chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó;

Ba là, đưa ra dự báo các yếu tố tác động đến xây dựng và tổ chức thực hiện biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng tại Việt Nam; xây dựng các yêu cầu và đềxuất các kiến nghịđổimới, hoàn thiện các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng nhằm tăng cường hiệu quả phòng chống tội phạm tham nhũng của Việt Nam.trong thời gian tới.

3

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là các quan điểm lý luận, các quyđịnhcủa pháp luật và thực trạng xây dựng,tổchức thực hiện biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng của Việt Nam hiện nay.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vivềnộidung:Đềtàitậptrung nghiên cứuhai nhóm biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng: biện pháp phòng ngừa xã hộivàphòng ngừa nghiệp vụ.

Phạm vi về thời gian và không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng xây dựng và tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trên phạm vi cả nước trong vòng 10 năm gần đây (từ năm 2010 đến năm 2020).

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp luận

Phương pháp luận của luận án là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng nói riêng; các học thuyết về phòng ngừa tội phạm, biện pháp phòng ngừa tội phạm của tội phạm học hiện đại.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Đểđạtđược mục tiêu nghiên cứuđã đềra, luận án sửdụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học xã hội.

– Các phương pháphệthống, khảo sát, phân tích, bình luận, suy luận lôgic, so sánh, tổng hợp được sử dụng để làm rõ tổng quan tình hình nghiên cứu của luận án ởchương 1 nhằm rút ra được những kết quả đạt được của các công trình nghiên cứu cóliên quan đến đề tài luận án và các vấn đề đặt ra cho luận án tiếp tục nghiên cứu.

– Các phương pháp lịch sử cụ thể, nghiên cứu tài liệu, phân tích, quy nạp, diễn dịch, hệ thống hóa, so sánh được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu các vấn đề về lý luận tại chương 2 nhằm làm rõ các khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng; phân biệt các biện pháp phòng ngừa tình hình tội

phạm tham nhũng với các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm khác…

– Các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, điều tra xã hội học được sử dụng nghiên cứutrong chương 3 nhằm: 1) khái quát thực trạng xây dựng các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam trong

4

giai đoạn 2010-2020; 2) phân tích thực tiễn tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020; 3) đánh giátình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam hiện nay: nhìn từ kết quả của việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa; 4) đánh giá nhữngkếtquảtích cực, những hạn chế của các biện pháp phòng ngừa và nguyên nhân của các hạn chế để làm căn cứđề xuất cácgiải pháp trong chương 4.

– Các phương pháp phân tích, hệ thống được sử dụng trong chương 4 để làm rõcác quan điểm, giải pháp nhằm bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật đối với các tội phạm tham nhũng phù hợp với yêu cầu đấu tranh PCTN ở Việt Nam.

5. Những điểm mới của luận án

– Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu về pháp luật PCTN trướcđó,luận ánđãlàm rõ hơn khái niệm,đặctrưng và vai tròcủacác biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng. Bên cạnh đó, luận án cũng làm rõ cơ sởxây dựng, các nguyên tắc xây dựng,nộidung vàmụctiêu xây dựng các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng. Từ đó, luận án nêu ra ý nghĩa của việc thực thi các biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũngmộtcách cóhệthống, cụ thể, và sâu sắc.

– Luận ánđã chỉra được nhữngmặttích cực, hiệuquảcầnphát huy vànhững hạn chế của các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm đã áp dụng trong những năm qua để làm cơ sở cho việc đổi mới hoàn thiện trong thời gian tới.

– Luận án đã đưa ra một số dự báo và đề xuất được các giải pháp có giá trịtham khảo cao và cần được lưu ý trong quá trình phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng tại Việt Nam trong thời gian tới.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

– Về mặt lý luận, luận ánđưara góc nhìn đa chiều, toàn diện về vấn đề thực thi các biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũngởViệt Nam hiện nay; xây dựng khung lý thuyết cơ bản để nhận diện dấu hiệu đặc trưng cũng như vai trò của các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam hiện nay; cung cấp những luận cứ khoa học cho việc đổi mới, hoàn thiện và triển khai hiệu quả các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng.

– Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu về thực trạng thực thi các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng của Việt Nam hiện nay cung cấp cho các nhà nghiên cứu, các cơ quan thực thi pháp luật PCTN… những thông tin toàn

5

diện, chi tiếtđểphục vụquá trình nghiêncứuvà làm việc. Những giải pháp màluận án đưa ra sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho Việt Nam trong công tác phòng chống tội phạm tham nhũng. Bên cạnh đó, luận án có thể dùng làm tài liệu giảng dạy và học tập trong chuyên ngành luật hình sự và tội phạm học.

7. Bố cục của luận án

Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,luận án được kết cấu gồm 04 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứuliên quan đếnđềtài và những vấn đề cần tiếp tục đặt ra nghiên cứu.

Chương 2: Nhữngvấnđềlý luậnvềbiện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng.

Chương 3: Thực tiễn xây dựng và tổ chức thực hiện biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam.

Chương 4: Yêucầuvà kiến nghịvềxây dựng vàtổchức thực hiện biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam trong thời gian tới.

6

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về tham nhũng và tội phạm tham nhũng

1.1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về phòng ngừa tham nhũng và phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng

1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

1.1.2.1. Những công trình nghiêncứulý luậnvềtham nhũng và các tội phạm tham nhũng

1.1.2.2. Những công trình nghiên cứu tình hình tội phạm tham nhũng và các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trong phạm vi cả nước

1.1.2.3. Những công trình nghiên cứu tình hình tội phạm tham nhũng và các biện pháp phòng ngừa tội phạm tham nhũng trên các địa bàn cụ thể

1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu và các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

1.2.1. Những nội dung nghiên cứu đã sángtỏvà được luận án kếthừa, phát triển

Qua việc tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước về các biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng, cóthểkhái quát những thành tựu nghiên cứu trong thời gian qua như sau:

Một là, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài cung cấp nhiều cách tiếp cận khác nhau về tham nhũng và tội phạm tham nhũng, cung cấp một tổng thể các cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau để hệ thống hóa khái niệm và các vấn đề lý luận vềcác tội phạm tham nhũng đa chiều, đa diện. Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu nước ngoài đề cập luật pháp quốc tế về tham nhũng, là nguồn tư liệu để luận án cóthểso sánhvớipháp luật Việt Namvềtham nhũng và cáctộiphạm tham nhũng, luận giảiđặcbiệt cho giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tham nhũng vàcác tội phạm tham nhũng.

Hai là, các công trình nghiên cứu ở trong nước ngày càng có nhiều sách, tài liệu chuyên khảo đã được xuất bản, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩđược bảo vệ, các bài tạp chí chuyên ngành của các tác giả là nhà khoa học, cán bộ trong các cơ quan Thanh tra Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân

tối cao, Tòa án nhân nhân tối cao, các viện nghiên cứu và các cơsở đàotạo. Các công trình đã nghiên cứu các vấn đề:

-Vềcơ sởlý luận: 1)vềtham nhũngởcác nộidung: khái niệm, nguyên nhân của tham nhũng; các giải pháp PCTN; cơ chếkiểm soát, phát hiện, xửlýtham nhũng; 2)vềhệthống pháp luậtvềPCTN: thực trạng Luật PCTN ởViệt Nam; các quy định của Bộ luật hình sự về các tội phạm về tham nhũng; mối quan hệ giữa sự minh bạch hoạt động trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước và tham nhũng; quan điểm, phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luậtvề

PCTN ở Việt Nam… Các công trình này có ý nghĩa rất lớn trong phát triển lý luận

21

và hệ thống hóa các vấn đề lý luận tội phạm tham nhũng cho luận án.

– Về thực trạng: 1) thực trạng các tội phạm tham nhũng; 2) thực trạng xử lýhình sự đối với các tội phạm này. Tình hình tội phạm tham nhũng của nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước đã được nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu đã thành công trong việc phân tích, đánh giá tình hìnhtộiphạm tham nhũng trong những phạm vi không gian và thời gian khác nhau, nhận diện các đặc điểm riêngvề tội phạm tham nhũng ở từng địa bàn.

-Vềcác phươnghướngvà giải pháp nâng cao hiệuquảxửlý hìnhsựđối với các tội phạm tham nhũng ở các tỉnh, thành phố trong cả nước: Các giải pháp căn bản được các công trình tập trung vào: 1) Hoàn thiện các quy định pháp luật; 2)Đẩymạnh phát hiện tham nhũng; 3) Tăngcườngkiểm tra, giám sát và thanh tra; 4) Mạnh tayđấutranh, truytốngườicó hành vi tham nhũng; 5)Đẩymạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về PCTN.

1.2.2. Những vấn đề liên quan đến đề tài cần được nghiên cứu làm rõ.

Qua tình hình nghiêncứutrong và ngoàinước nói trên, tácgiảnhận thấy còn có sựthiếu vắng những công trình nghiên cứutổngthểvềbiện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng. Mặc dùnộidung nàyđã phần nàotồntại trong một số công trình nhưng còn chưa khái quát, chưa đầy đủ. Nhiều công trình mới chỉ tập trung vào các biện pháp đấu tranh, chống tội phạm tham nhũng hoặc biện pháp pháp luật chứ chưa có sự quan tâm đúng mức tới biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng nói chung.

Từnhững phân tích trên, những vấnđềcănbảnsẽ được luận án tập trung vào nghiên cứu gồm:

Một là, nghiên cứu làm rõ: nội hàm của khái niệm, đặc trưng, vai trò của các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng; phân loại biện pháp phòng ngừa tình hình tham nhũng dựa vào các quy định của pháp luật và tính đặc thù của các tội phạm tham nhũng, trong đó làm rõ về chủ thể và mối quan hệ phối hợp giữa các chủ thể tham gia biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng; làm rõcơsởxây dựng và nguyêntắcxây dựng các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng. Nêu raýnghĩa của biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng để làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật đối với các tội phạm tham nhũng và triển khai thực hiện biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm trên thực tế.

22

Hai là, phân tích và đánh giá thực tiễn thực hiện các biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũngở ViệtNam trong khoảng thời gian từnăm 2010đếnnay. Luận án làm rõ các vấnđề:1) các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng theo hai nhómvấnđề:nhóm biện pháp phòng ngừa xã hộivànhóm biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ; 2) thực tiễn xây dựng và tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam; 3) phân tích tình hình tội phạm tham nhũng và nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam hiện nay: nhìn từ các biện pháp phòng ngừa.

Ba là, lập luận đưa ra dự báo và đề xuất các giải pháp tăng cường các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh xã hội của Việt Nam hiện nay, đề xuất một số giải pháp tiếp tục cần được áp dụng trong thời gian tới. Luận ánsẽkếthừa những giải pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng đã được nghiên cứu để đề xuất và nghiên cứu các giải pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng từ thực tiễn hoạt động đấu tranh PCTN.

1.3. Cơ sở lý thuyết, câu hỏi nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu

1.3.1. Cơ sở lý thuyết

Nghiêncứumộtsốvấnđềchungvềbiện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng dưới góc độ phòng ngừa tội phạm học, xem xét chúng ở trạng thái vận động phát triển để tìm ra quy luật khách quan.

Khi giải quyết các vấn đề về biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng, luận án tuân theo trình tự: nhận diện biện pháp, xác định đặc điểm, vai trò,ý nghĩa của biện pháp, phân tích chỉ ra những kết quả đạt được và hạn chế trong thực tiễn tổ chức thực hiện các biện pháp, dự báo những yếu tố tácđộng đến việc đổimới, hoàn thiện các biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng trong thời gian tới, từ đó đưa ra các kiến nghị cần thiết.

Trong nghiên cứu, luận ánđưara các quanđiểmchính thống, đồngthời phân tích những quanđiểmkhác nhauđốivớicác vấnđềliên quanđếnđềtài, phân tích một số biện pháp điển hình để làm rõ các quan điểm.

1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu Các câu hỏi nghiên cứu cơ bản đặt ra là:

1) Biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng là gì, có nhữngđặc điểm và vai trò nào?

2) Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và tổ chức thực hiện biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng tại Việt Nam là gì?

3) Thực trạng xây dựng và tổ chức các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020 như thế nào? Có những thành công nào cần phát huy và những hạn chế nào cần khắc phục?

4) Các dự báo và các giải pháp cơ bản, chủ chốt tăng cường chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam trong thời gian tới là gì?

Biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam hiện nay
Biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Đối với các câu hỏi nghiên cứu trên, các giả thuyết nghiên cứu được luận ánđặt ra như sau:

Giả thuyết 1: Biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020 có đặc thù rất khác so với các giai đoạn trước. Nguyên nhânđượcquyết định bởi chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, sự quyết liệt thực hiện của Chính phủ và đặc điểm, tính chất, cơ cấu, diễn biến tình hình tội phạm tham nhũng của Việt Nam giai đoạn này.

Giảthuyết 2: Thực trạngtổchức các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũngở ViệtNam giaiđoạn2010-2020 đa dạng, vô cùng quyết liệt, thu được nhiều thành công nhưng cũng còn tồn tại nhiều hạn chế cần khắcphục.

Giảthuyết 3:Dựbáo các biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng ở Việt Nam trong thời gian tới khả năng sẽ có xu hướng quyết liệt, triệtđểhơn. Giả thuyết nàyđược hình thành trên cơ sở phương pháp quan sát, đánh giátổng quan tình hình hoạtđộngphòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng trong thời gian qua.

Giả thuyết 4: Các giải pháp dự kiến sẽ gắn bó mật thiếtvới các đặctrưng về công tác đấu tranh, phòng chống, xử lý tội phạm tham nhũng ở Việt Nam trong giai đoạn 2010-2020.

24

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua kếtquảtổng quan tình hình nghiêncứuliên quanđếnđềtài luận án “Biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam hiện nay”,đềtài luận án rút ra một số kết luận như sau:

Một là, các công trình nghiên cứu ở trong nước đã nghiên cứu khá tổng thểcác vấn đề liên quan đến tham nhũng như: cơ sở lý luận; thực trạng các tội phạm tham nhũng và thực trạng xử lý hình sự đối với các tội phạm này; phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý hình sự đối với các tội phạm tham nhũng ởcác tỉnh, thành phố trong cả nước. Các công trình này có ý nghĩa rất lớn trong phát triển lý luận và hệthống hóa các vấnđềthực tiễn liên quanđếntộiphạm tham nhũng cho luận án.

Hai là, các công trình nghiên cứu ở ngoài nước và trong nước liên quan đến đề tàiđã đạt được các kết quả và thành công nhất định, cung cấp đa chiều, đa diện về tội phạm tham nhũng, tình hình tham nhũng, và phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng trong phạm vi toàn lãnh thổ cũng như ở một số địa bàn cụ thể. Mặc dùvậy, cònmộtsốvấnđềcầnđượctiếp tục nghiêncứusâu và toàn diện như: các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam trong khoảng thời gian 2010 đến 2020; thực tiễn tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa tình hình

tội phạm tham nhũng ở Việt Nam trong thời gian trên; dự báo thực trạng, diễn biến vàtính chất tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam trong thời gian tới để từ đó đưa ra các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam trong những năm sắp tới trên nhiều phương diện, đa ngành và đa lĩnh vực.

Ba là, thông qua đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu, phân tích cơ sởlý thuyết và phương pháp nghiên cứu: xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu;đề ra mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào trực tiếp về biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam hiện nay như cách tiếp cận của đề tài.

Do đó, việc nghiên cứuđềtài“Biệnpháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng ở Việt Nam hiện nay” một cách toàn diện, sâu sắc, là rất cần thiết và cấp bách, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.

25

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH

TỘI PHẠM THAM NHŨNG

2.1. Khái niệm, đặc điểm, ýnghĩacủabiện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng

2.1.1. Khái niệm biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng 2.1.1.1. Khái niệm tội phạm tham nhũng

Tham nhũng xuất hiện từ rất sớm từ khi có sự phân chia quyền lực và hình thành nhà nước. Tham nhũng là một hiện tượng kinh tế – xã hội gắn liền với sự rađời và phát triển của bộ máy Nhà nước. Tùy thuộc vào điều kiện, mức độ phát triển về xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế khác nhau mà mỗi quốc gia có quan niệm vềtham nhũng cũng khác nhau. Do đó, khó để có thể đưa ra một khái niệm thống nhất vềtham nhũng chomọiquốc gia,mọichếđộchính trị. Thêm vào đó, đâycũng không phải là một khái niệm bất biến phù hợp với tất cả các thời kỳ phát triển của

từng quốc gia, khu vực.

TheoTổchức Minh bạch quốc tế(Transparency International):“Tham nhũng là hành vi của người lạm dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc cố ý làm trái pháp luật để phục vụ cho lợi ích cá nhân” [64].

Theo Ngân hàng thế giới (Worldbank):“Tham nhũng là sự lạm dụng quyền lực công cộng nhằm lợi ích cá nhân”.Ngân hàng thế giới xác định hành vi tham nhũng dựa trên ba yếu tố [76]:

Một là, hành vi tham nhũng liên quan tới việc chào mời, cho, nhận hoặc gạgẫm một thứ gì đó có giá trị nhằm tác động tới hành động của một công chức Nhà nước trong quá trình mua sắm hoặc thực hiện hợp đồng.

Hai là, hành vi gian lận như việc thể hiện sai các thông tin thực tiễn nhằm tácđộngtớimột quá trình mua sắmhoặc quá trình thực hiện hợp đồng gây thiệt hại cho bên vay. Hành vi gian lận bao gồm các hành vi thông đồng giữa các nhà thầu (trước hoặc sau khi dự thầu) nhằm tạo ra các mức thầu giả tạo khi cạnh tranh, và tước đi những lợi ích mà việc cạnh tranh tự do, công khai đem lại cho bên vay.

Ba là, hoạt động mua sắm sai nguyên tắc, xảy ra khi một hợp đồng do ngân hàng tài trợ vi phạm các quy trình mà ngân hàng và các khách hàng đã thỏa thuận và không tuân thủ các điều kiện quy định trong hợp đồng tín dụng.

26

Theo hai định nghĩa trên thì tham nhũng là hành vi của người có địa vị trong xã hội (thường là trong các cơ quan công quyền), lạm dụng công quyền để trục lợi cho bản thân. Định nghĩa trên chưa bao hàm được hành vi tham nhũng xảy ra trong khu vực tư nhân, và chỉ tập trung duy nhất vào tình trạng tham nhũng trong khu vực công. Định nghĩa này phù hợp với quan điểm của Gary Becker, người đã đoạt giải Nobel, cho rằng“nếuchúng ta xóabỏnhànướcthì chúng ta cũng xóabỏđược tham nhũng” [107].

Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng là một trong những văn bản được thảo luận và thống nhất của rất nhiều quốc gia nhưng cũng không đưa ra mộtđịnh nghĩa cụthểnàovềtham nhũng ngoài việc thể hiện sự lo ngại của các

quốc gia thành viên, đó là: “… Lo ngại về tính nghiêm trọng của các vấn đề cũng như những mối đe doạ do tham nhũng gây ra đối với sự ổn định và an ninh xã hội, xói mòn các thể chế và các giá trị dân chủ, các giá trị đạo đức, công lý và gây tổn

hại đến sự phát triển bền vững và chế độ…”[45].

Một trong những định nghĩa về tham nhũng được các nhà nghiên cứu đánh giá cao hiện nay đó là định nghĩa của Vito Tanzi, cựu chuyên gia Quỹ tiền tệ quốc tếIMF: “Tham nhũng là hành độngcốtình không tuânthủcác nguyên tắc công minh nhằm trụclợicho cá nhân hoặc cho nhữngkẻcó liên quantớihànhđộngđó”.Địnhnghĩa nàyđềcậpđếnnguyên tắc công minh, nóđòihỏiquanhệcá nhân hoặc các mốiquan hệkhác khôngđược xen vào các quyếtđịnhkinhtếcóliên quanđếnnhiều bên. Việc đốixửbìnhđẳngvớitấtcảcác chủthểkinhtếlàmột yêucầucầnthiếtđốivớimộtnềnkinhtếthịtrường hoạtđộngcó hiệu quả. Việc thiếu bình đẳng với một số chủ thể kinh tế cụ thể nào đó sẽ vi phạm nguyên

tắc công minh và tạo điều kiện cho tham nhũng xuất hiện. Như vậy, nếu đảm bảo được nguyên tắc công minh thì sẽ triệt bỏ được cơ hội nảy sinh tham nhũng.

TheotừđiểnLuật học:“Tham nhũng làlợidụng quyền hànhđểnhũng nhiễu nhân dân lấy của” [8]. Tuy nhiên, với khoa học pháp lý, định nghĩa này quáđơngiản và chung chung, chưa phản ánhhếtcác dấuhiệuđặctrưng của tham nhũng. Vì tham nhũng không chỉ xảy ra bằng việc gây khó dễ, đối tượng chịu tácđộng không chỉ là nhân dân, tham nhũng có thể diễn ra dưới rất nhiều hình thức và

trong nhiều hoạt động, lĩnh vực như kinh tế, chính trị, hành chính, giáo dục… Bên cạnh đó, mục đích mà chủ thể tham nhũng hướng tới không đơn giản chỉ là lợi ích vật chất mà còn có thể là các lợi ích phi vật chất. Lợi ích vật chất có thể tồn tại ở

27

các dạng như tiền, giấy tờ có giá, của cải, quà tặng có giá trị… Lợi ích phi vật chất có thểtồntại ởcác dạng như lợiíchvềtinh thần:mộtsựthăng tiến trong công việc, một sự bảo đảm sẽ được giúp đỡ khi hành vi vi phạm pháp luật bị phát giác hoặc các lợi ích khác như: lợi ích tình dục, lợi ích về học tập, lợi ích về việc thụhưởng văn hoá, nghệ thuật.

Từnhững phân tích trên, có thể hiểu tham nhũng là hành vicủa ngườicóchức vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật đã lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn đó để nhằm đạt được nhữnglợiích vậtchất, tinh thần hay những lợi ích khác, cho bản thân hay cho người khác.

Ảnhhưởngcủa tham nhũngtớiđờisống xã hộiđược đánh giávớinhiều mức độ. Những hành vi tham nhũng gây nguy hiểm đángkểcho xã hộisẽđược quyđịnhlà tội phạm trong BLHS và mangđầy đủcác dấu hiệu pháp lý của loại tộiphạm này. Khái niệmtộiphạm tham nhũng cũng không tách rờiquyđịnh chung về tội phạm tại Điều 8 BLHS: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạmchế độchính trị, chế độkinh tế, nềnvăn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phảibịxửlý hìnhsự”. Ngoài ra,tộiphạm tham nhũng đangđược xếpvào nhómtộiphạm chức vụtheo quyđịnhtạiChương XXIII của BLHS, trong đó, khái niệmtộiphạm chức vụđược địnhnghĩa là:“Các tộiphạmvềchức vụlànhững hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người cóchức vụthực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệmvụ”.Như vậy, tộiphạm

tham nhũng–vớitư cách làmộtloạitộiphạmvềchức vụtheo quyđịnhcủa

BLHS Việt Nam – có khách thể là sự hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức; do chủthểlà ngườicó chức vụ, được giao thực hiệnmộtnhiệmvụnhất định và cóquyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ đó. Bên cạnh đó, khái niệm, đặc điểm của tội phạm tham nhũng cũng được làm rõ hơn trong một số pháp luật có liên quan.

Điều 2, Luật PCTN 2018 quy định các hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước và ngoài khu vực nhà nước. Theo đó, các hành vi tham nhũng trong khu

28

vựcnhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vựcnhà nước thực hiện bao gồm: 1) thamôtài sản; 2) nhận hối lộ; 3)lạmdụng chức vụ, quyền hạn chiếmđoạttài sản; 4) lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; 5) lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, côngvụvìvụlợi; 6) lợi dụng chức vụ, quyền hạn gâyảnhhưởngđốivới người khácđể trục lợi;7) giả mạo trong công tác vì vụ lợi; 8) đưa hối lộ, môi giới hối lộđể giảiquyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; 9)

lợi dụng chức vụ, quyền hạnsử dụngtrái phép tàisảncông vìvụlợi; 10) nhũng nhiễu vìvụlợi; 11) không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc khôngđầyđủnhiệm vụ, côngvụvìvụlợi; 12) lợi dụng chức vụ, quyền hạnđể bao che cho ngườicó hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xétxử,thi hành án vì vụ lợi. Các hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước do người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước thực hiện bao gồm: 1) tham ô tài sản; 2) nhận hối lộ; 3) đưahối lộ, môi giới hối lộ để giảiquyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi. Trong số các hành vi này, có7 hành vi tham nhũng bị cấu thành tội phạm về tham nhũng, được quy định ở mục 1, chương XXIII của bộ luật Hình sự năm 2015.

Mặc dù tội phạm tham nhũng có những biểu hiện khác nhau như phân tíchở trên, một số đặc trưng của tội phạm tham nhũng có thể được khái quát như sau:

Thứnhất,tộiphạm tham nhũng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại xâmhạiđến các quan hệ xã hộiđược pháp luật bảo vệ. Thông qua việc xâmhạiđếnkháchthểtrực tiếp là hoạtđộng đúng đắncủa cơ quan, tổchức, tội phạm tham nhũng còn xâm hại đến uy tín của cơ quan, tổ chức trong và ngoài Nhànước, xâm hại đến quyền lợi hợp pháp của công dân.

Thứ hai, tội phạm tham nhũng thường gây hậu quả nghiêm trọng cho các kháchthểđược luật hìnhsựbảovệthểhiện qua đặctrưng của phương pháp,thủđoạn,phương tiện phạmtộilà “lợidụng chức vụquyền hạn”… Tộiphạm tham nhũng do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện thường rất tinh vi, khôn lường, trực tiếp hoặc gián tiếp chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, của tổ chức, tài sản của người khác hoặc xâm hại đến lợi ích của cơ quan, đơn vị và cá nhân.

Thứ ba, tội phạm tham nhũng được thực hiện bởi những người có chức vụ, quyền hạn. Họ được cơ quan, tổ chức trong và ngoài Nhà nước trao cho chức vụ,

29

được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ. Dấu hiệu chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn làđiềukiện bắtbuộc đốivớiloạitộiphạm này. Bằng việc có chức vụ, quyền hạn, chủthểthực hiệntộiphạm tham nhũng cóđiềukiện, khảnăng tiếpcậndễdàng hơn tới tài sản của cơ quan, tổ chức; tài sản của cá nhân khác hoặc dễ dàng thực hiện các hành vi tham nhũng khác vì vụ lợi. Hành vi tham nhũng được thực hiện trong hoàn cảnhchủ để đangthực thi công vụ, nhiệm vụ (bao gồm công việc do Nhà nước giao phó hoặc công việc do cơ quan, tổ chức ngoài Nhà nước giao phó).

Thứtư, tộiphạm tham nhũng là hành vi trục lợicá nhân, cóđộngcơvụ

lợi. Mọi hành vi phạm tội tham nhũng đều bắt nguồn từ động cơ có được lợi ích (vật chất hoặc phi vật chất) dưới mọi hình thức. Chính các lợi ích này thúc đầy người cóchức vụ, quyền hạn thực hiện các hành vi tham nhũng để từ đó họ cố ý thực hiện các hành vi trái pháp luật trong quá trình thực hiện công vụ, nhiệm vụ.

Thứnăm, dướigóc độtộiphạm học,tộiphạm tham nhũng là tội phạm cóđộ ẩn rất cao, khó phát hiện, xử lý. Trong một số tội phạm tham nhũng không cóbị hại như tội nhận hốilộ;thậm chí còntồntạimốiquan hệ không tách rời giữa người nhận hối lộ và người đưa hối lộ. Ngoài ra, do lợi dụng được chức vụ, quyền hạnmà ngườithực hiệntộiphạm tham nhũngdễdàng che giấuđược hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, quá trình điều tra, làm rõ các tội phạm về tham nhũng gặp rất nhiều khó khăn.

Như vậy có thể hiểu, tội phạm tham nhũng là hành vi nguy hiểm cho xã hội,được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có chức vụ, quyền hạn vìvụ lợi màthực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện công vụ, nhiệm vụ.

2.1.1.2. Khái niệm tình hình tội phạm tham nhũng

Tình hình tội phạm là một thuật ngữ khoa học vàđượcdùng tương đối phổbiếnở ViệtNam khi nghiên cứu về tội phạm học. Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu có hai cách định nghĩa: 1) phân biệt rõ giữa tình hình tội phạm và tội phạm và 2) thể hiệnsựkhông rõ ràng giữa tình hình tội phạmvớitội phạm.

Định nghĩa theo cách thứ nhất, theo tác giả Nguyễn Ngọc Hòa: “Tình hình tộiphạm là trạng thái, xuthếvậnđộngcủacáctộiphạm (hoặc nhómtộiphạm hoặc loạitộiphạm)đãxảyra trongđơnvịkhông gian vàđơnvịthời gian xácđịnh”[30]. Định nghĩa nàythể hiện sựphân biệt rõ nét giữa tội phạm và tình hình

30

tội phạm thông quasựkhác nhau giữa bản thân hiện tượng với trạng thái và xuthếvậnđộngcủahiệntượngđó.Bổsung thêm cáchđịnhnghĩa nêu trên, tácgiảDương Tuyết Miên cho rằng:“Tình hìnhtộiphạmđượcthể hiện thông qua thực trạng, diễn biến, cơ cấu, tính chấtcủatộiphạm”[47]. Cùng quan điểmnày, tác giả Nguyễn Xuân Yêm trong cuốn Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạmđịnh nghĩa: “Tình hình tội phạm là toàn bộ tình hình, cơcấu, độngthái, diễn biến của các loại tội phạm hay từng loại tội phạm trong một giai đoạn nhất định xảy ra trong một lĩnh vực,mộtđịa phương, trong phạm vi quốc gia, khuvựchoặc toàn thế giới trong một khoảng thời gian nhất định” [100].

Ởmộtgóc nhìn khác, cáchđịnhnghĩathứhai cómộtsốquanđiểmtiêu biểu như: “Tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực, trái pháp luật hình sự, mang tính giai cấp và thay đổi theo quá trình lịchsử; được thể hiệnở tổng hợp cáctội phạm cụthể đãxảy ra trong xã hội và trong khoảng thời gian nhất định” [16]. Hay: “Tình hìnhtộiphạm làmộthiệntượngxã hội, pháp lí tiêu cực,được thayđổivềmặtlịchsử,mang tính giai cấp, baogồmtổngthểthống nhất(hệthống) cáctộiphạm thực hiện trongmộtxãhội(quốc gia) nhấtđịnhvà khoảng thời gian nhất định” [65]. Đây là các định nghĩa về tình hình tội phạm theo hướng không phân biệt rõ giữa tội phạm và tình hình tội phạm mà cho rằng tình hình tội phạm cũng cóđặcđiểmtrái pháp luật hìnhsựhoặc cónộihàm baogồmcác tội phạmđượcthực hiện trong một xã hội. Tội phạmvớitính cách là hành vi thì luôn luôn tồn tại trong mối liênhệdẫntớitình hình tội phạm, tức là, mỗi hành vi phạm tội đều xảy ra một cách tự phát, song quá trình dẫn tới hành vi phạm tội lại diễn ra có quy luật, chịu sự chi phối hoặcbịquyđịnh bởinhững yếu tố nhấtđịnh của đời sống xã hội. Và khitậphợpchúnglạitheomộtđơnvịthời gian và không gian nhấtđịnhsẽcho phép nhận thức và khái quátvềtình hìnhtộiphạmvớicác quy luật vận động của nó. Do vậy, việc nghiên cứu tình hình tội phạm cóthể đượctiến hànhtừnhững nghiêncứu“cáiriêng” khác nhau,tứclà phải nghiêncứuhàng trăm, hàng ngàn tội phạm khác nhauxảyra trong từng thờikỳnhất định trên mộtđơn vịhành chính lãnh thổ nhấtđịnh vàcó thể nghiêncứu đối vớimột loại hành vi nhấtđịnhnhư trộmcắptài sản, giết người, buônlậuhay thamôtài sản… Song hoạt độngnghiên cứu tình hình tội phạm không phảiđể“tội phạm hóa”/“hình sựhóa”, “phi tội phạm hóa”/“phi hình sự hóa” như pháp luật hình sự phải làm, màđểxácđịnh những đặcđiểmtội phạm học của tình hình những tội phạmđó.Nói cách

31

khác, tình hìnhtộiphạm phảilộttảđượcmứcđộ,cơ cấu,độngthái và tính chất củatừng tình hìnhtộiphạmcụthể, lý giảiđượcnguyên nhân cũng như quy luật vận độngcủa tội phạm cụthể.Từđó, bản chất của tình hình tội phạmsẽtrở thành cơsởcho các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh với tình hình các loại tội phạmcụthể đómột cách hiệu quả hơn.

Đề tài luận án sử dụng định nghĩa tình hình tội phạm theo cách thứ nhất, chỉtrạng thái và xu thế vận động của tội phạm. Trạng thái và xu thế vận động này được thểhiện rõ nét theo phạm vi nhóm, loạitộiphạm (vídụ:tình hìnhtộiphạm xâm

phạm tính mạng, tình hình tội phạm cướp tài sản…) và theo đơn vị không gian, thời gian xác định. Trong tình hình tội phạm có những đặc điểm định lượng và định tính nhưmứcđộ,cơ cấu, diễn biến, tính chấtcủatình hìnhtộiphạm. Ngoài ra, việc nghiên cứu tình hình tội phạm cũng được hiểu và xem xét trạng thái và xu thế vậnđộng của tội phạm trong cả quá khứ và tương lai để thông qua đó phục vụ công tác dự báo và phòng ngừa.

Đốivới nhómtộiphạmvềtham nhũng, tình hìnhtộiphạm tham nhũng chính là trạng thái và xu thế vận động của tội phạm tham nhũng thể hiện qua mứcđộ, cơcấu, diễn biến, tính chất của tội phạm tham nhũng trong một đơn vị không gian và thời gian nhất định.

Có thể thấy, tình hình tội phạm tham nhũng và tội phạm tham nhũng có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ, khách quan và không thể tách rời. Nếu coi mỗi tội phạm tham nhũngxảyra trong xã hộilà cái“đơnnhất” thì tình hìnhtộiphạm tham nhũng chính là khái quát hóa của rấtnhiều cái“đơnnhất”đóđể trở thành“cái riêng” và “cáichung”. Trongmỗigiaiđoạnkhác nhau, tình hìnhtộiphạm tham nhũng có những biến đổi khác nhau phụ thuộc vào sự biến đổi của xã hội và chính sách hình sự trong các thời kỳ.

2.1.1.3. Khái niệm phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng và biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng

Dướigóc độtộiphạm học, phòng ngừa tộiphạm là hoạtđộngvậndụng tổng hợp các biện pháp có quan hệ tác động lẫn nhau, được tiến hành bởi các cơquan nhà nước và các tổ chức xã hội nhằm ngăn chặn tội phạm và hạn chế, loại trừnhững điều kiện, nguyên nhân phát sinh tội phạm.

Vớicác góc nhìn khác nhau, các nhà nghiêncứutộiphạm học hiện đangđưara nhiều định nghĩa về phòng ngừa tình hình tội phạm như: PGS.TS. Nguyễn

32

Chí Dũng và tậpthểtácgiảđịnhnghĩa: “Phòng ngừatộiphạm làsửdụng các phương pháp, chiến thuật, biện pháp, phương tiện nghiệp vụ cần thiết, với sự tham giacủacác lực lượngnhằm khắc phục mọi nguyên nhân, điều kiện không để tội phạm phát sinh, pháttriển”. Đồngthời, tậpthểtácgiảcũngchỉra trong phòng ngừa tội phạm có hai nhóm biện pháp là phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng. Theo đó: phòng ngừa chung là sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, chính trị,

văn hóa –xã hội, pháp luật… nhằm loạibỏcác yếutốcóthểtrởthành nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh, phát triển tội phạm, được toàn xã hội tham gia thực hiện; phòng ngừa riêng là các biện pháp pháp luật, nghiệpvụdo các cơ quan

chuyên môn (Công an, Thanh tra, Kiểm sát, Tòa án, Kiểm lâm, Cảnh sátbiển…) tiến hành nhằm vào những đối tượng cụ thể [15]. TS. Lê Thế Tiệm và tập thể tác giảlại phân tích: “Phòng ngừa tội phạm tức là không để cho tội phạm xảy ra và gây nên

những hậu quả nguy hiểm cho xã hội, không để cho các thành viên của xã hội phải gánh chịu các hình phạt khắc nghiệtcủapháp luật. Vànếutộiphạm cóxảyra thìphảikịpthời phát hiện,xửlýđểđảmbảochotộiphạm khôngthểtránh khỏi hình

phạt, giáodụcvàcảitạongườiphạmtộitrởthành công dân có ích choxã hội…” [80]. GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa lại định nghĩa khái niệm này như sau: “Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của các cơ quan, tổ chức và công dân, thực hiện tổng thể các biện pháp tác động trực tiếp vào các nhóm nguyên nhân của tội phạm để kiểm soát,

hạn chế tác dụng và loại trừ dần những nhóm nguyên nhân này…”[29].

Nhìn chung, có nhiều khái niệm khác nhauvềphòng ngừa tình hình tội phạm xuất pháttừsựkhác nhau trong cách xácđịnhphạm vi (mục đích) của phòng ngừa tình hình tội phạm. Theo GS. TS. Đỗ Ngọc Quang, theo nghĩa rộng, phòng ngừa tình hìnhtộiphạm bao hàm việc khôngđểchotộiphạmxảyra,thủtiêu nguyên nhân, điều kiện phạm tội và bằngmọicách ngăn chặn tội phạm, kịp thời phát hiện tội phạm, xử lý nghiêm minh các trường hợp phạm tội và cuối cùng là cải tạo, giáo dục người phạm tội; theo nghĩa hẹp, phòng ngừa tình hình tội phạm là không để cho tội phạm xảy ra, không để cho tội phạm gây hậu quả cho xã hội, khôngđểcho thành viên của xã hộiphải chịu hình phạt của pháp luật, tiết kiệm được những chi phí cần thiết cho Nhà nước trong công tác điều tra, truy tố, xétxửvà cải tạo giáo dục người phạm tội [53]. Cùng quan điểm với cách xác định phạm vi của phòng ngừa tình hìnhtộiphạm theo nghĩa rộng, GS. TS. Võ Khánh Vinh cho rằng: “Phòng ngừa tình hình tội phạm là hệ thống các biện pháp Nhà nước và xã

33

hội nhằm khắc phục nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm làm giảm bớt hoặc tiến tới loại trừ tình hình tội phạm ra khỏi đời sống xã hội ởtương lai” [92].Đâycũng là quanđiểmđượctácgiảtiếp nhận vàsửdụng nghiêncứutrongđềtài luận án.

Về chủ thể tham gia vào hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm, xuất phát

từ bản chất tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của tội phạm trong một khoảng không gian và thời gian nhất định, cần có sự tham gia của nhiều chủ thể với những nhiệm vụ, vai trò khác nhau. Sự đa dạng các chủ thể tham gia vào phòng ngừa tình tình tội phạm nhằm giúp cho hoạt động phòng ngừa có tính toàn diện, đa chiều và hiệu quả. Công cụ, phương tiện để các chủ thể tham gia vào hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm chính là các biện pháp phòng ngừa. Các biện pháp này không tồn tại độc lập, riêng lẻ mà có sự liên kết, hỗ trợ với nhau tạo thành hệ thống, từ đó ngăn chặn tội phạm và hạn chế, loại trừ những điều kiện, nguyên nhân phát sinh tội phạm.

Khôngnằmngoài nhữngnộidung cơ bảnnêu trên của phòng ngừa tình hìnhtộiphạm nói chung, phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng chính là những hoạtđộngcủacác chủthểkhác nhau, vậndụnghệthống các biện pháp khác nhau nhằm nhằm ngăn chặn, loại trừ các nguyên nhân, điều kiện phát sinh, vận độngcủa tình hình tội phạm tham nhũng, qua đó từng bước hạn chế, tiến tới đẩy lùi tình hình tội phạm tham nhũng ra khỏi đời sống xã hội.

Trên thực tế, phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng không thể tách rời khỏi những dấu hiệu đặc thù của tình hình tội phạm tham nhũng (mức độ, cơ cấu, diễn biến, tính chất của tình hình tội phạm tham nhũng) và có đối tượng hướng tới là nguyên nhân, điều kiện phát sinh, vận động của tình hình tội phạm tham nhũng. Từ những yêu cầu này, các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng sẽ được xây dựng và tổ chức thực hiện một cách phù hợp và hiệu quả.

Với vai trò là một nội dung của phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng, biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng chính là cách thức, phương pháp, công cụ mà các chủ thể tham gia vào công tác phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng sử dụng trên thực tế. Theo Đại từ điển tiếng Việt thì “biện pháp” là “cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể” [99]. Do đó, biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm cũng chính là cách thức tiến hànhđểnhằm ngăn chặn, loạitrừcác nguyên nhân, điều kiện phát sinh, vận động của tình hình tội phạm tham nhũng.

Có nhiều cách tiếpcậnbiện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham

34

nhũng khác nhau. Cáchthứnhất, coi biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng là mộtphần hoạtđộngcủa công tác PCTN. Biện pháp PCTN gồm biện pháp phòng ngừa và biện pháp phát hiện, xử lý những hành vi lợi dụng chức vụ, quyềnhạnđềvụlợi. Cáchthứhai, coi biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng bao hàm cả biện pháp chống tham nhũng vì khi có một cơ chếphát hiện hữu hiệu và một thái độ xử lý nghiêm khắc tham nhũng thì cũng có tác dụng phòng ngừa không để xảy ra các hành vi tham nhũng mới, tức là có tác dụng phòng ngừa to lớn. Tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định thì có những biện pháp thểhiện rõ, nhấn mạnh mục tiêu phòng ngừa tộiphạm tham nhũng, từđó phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng như biện pháp giáo dục đạođức tưtưởng hay biện pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về quản lý kinh tế –

xã hội… Phạm vi đề tài luận án tiếp cận biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng theo cách thứ nhất, coi biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng là một phần của công tác PCTN.

Từnhững phân tích trên, có thểđịnhnghĩa khái niệm biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng là cách thức tác động, triệt tiêu những yếu tốtiêu cực hình thành nguyên nhân, điềukiện hoặc nhữngyếutốlà nguyên nhân,điều kiện làm phát sinh tình hình tội phạm tham nhũng.

Như vậy, biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng chính là các hoạt động tác động vào nguyên nhân hoặc các yếu tố trong sự tác động lẫn nhau làm phát sinh tình hình tội phạm tham nhũng. Từ đó nhằm làm cho tội phạm tham nhũng không xảy ra hoặc đã xảy ra thì cũng được phát hiện nhanh chóng, kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm khắc. Biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũngcầnphảiđảmbảotínhhệthống và tính toàn diệnbởitình hìnhtộiphạm tham nhũng hết sức phức tạp trong đó có cả yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã

hội… Chỉkhiđảmbảotínhhệthống và tính toàn diện thì các biện phápđưara mới đảm bảo được tính hiệu quả khi áp dụng vào thực tiễn cuộc sống.

2.1.2. Đặc điểm của biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng Thứ nhất, đặc điểm về đối tượng tác động của biện pháp phòng ngừa tình

hình tội phạm tham nhũng

Biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng tácđộngtớinhững yếu tố tiêu cực trong môi trường xã hội mà những yếu tố này là nguyên nhân làm phát sinh tình hìnhtộiphạm tham nhũng hoặc nhữngyếutốnày góp phần hình

35

thành nguyên nhân làm phát sinh tình hìnhtộiphạm tham nhũng. Nhữngyếutốnày có thể là sự quản lý lỏng lẻo của hệ thống cơ quan trong và ngoài Nhà nước đối với tàisản chung của tổ chức; do công tác thanh tra, kiểm tra còn yếu kém; ởmột số cơ quan, đơn vị lãnh đạo còn có biểu hiện bao che cho hành vi tham nhũng

vì lợi ích nhóm hoặc muốn giữ uy tín cho cơ quan, tổ chức…

Ngoài ra, biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng còn tác

động tới những yếu tố thuộc bản thân chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng – yếu tốcó chức vụ, quyềnhạntrongbộmáy công quyền hoặc trong các cơ quan, tổchức ngoài Nhà nước. Yếu tố có chức vụ, quyền hạn này là nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm tham nhũng thể hiện qua một số góc độ như: việc cóchức vụ, quyềnhạnkhiến chongườiphạmtộidễdàng thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; hơn nữa họ thường là những người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, có nhiều hiểu biết về kiến thức kinh tế, xã hội có nhiều mối quan hệxã hộikhác nhau nên cóthểdễdàng thực hiệntộiphạm, thậm chí thực hiệntộiphạm tham nhũngmộtcách tinh vi, xảoquyệt. Ngoài ra, dochủthểtội phạm tham nhũng là nhữngngườicó chức vụ, quyềnhạnvà đasốlà lãnhđạo, quản lý nêncấpdướihoặc nhữngngườikhác có biết thông tinvềtham nhũng cũng ít khi dám tố cáo, khai báo vì sợ bị trù dập, trả thù, điều này càng khiến cho

tội phạm tham nhũng dễ dàng nảy sinh và phát triển.

Nhữngđặcđiểmvề đốitượng tácđộngnêu trênđòihỏicác biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng phải có tínhhệ thống, baogồmcác biện pháp khác nhau, trongđócó sự đan xen lẫn nhau, nhiều biện pháp phòng ngừa cùng hướng tới một hướng tác động và một biện pháp phòng ngừa có thể cóảnhhưởngđếnnhiềuhướngtácđộngkhác nhau. Đặcbiệt là, dođốitượngtácđộng của biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng là yếu tố có chức vụ,quyền hạn nên các biện pháp phòng ngừa này cũng có nhữngđiểmđặcthùnhư: không cần quá tập trung vào các biện pháp nâng cao trình độ, nhận thức, học vấn của các chủ thể vì đa số các chủ thể của tội phạm tham nhũng đều có trình độchuyên môn cao; ngược lại, cầntăngcườnggiáo dục đạođức công vụ, ýthức trách nhiệm, tinh thần phục vụ tổ chức và nhân dân, ý thức công khai, minh bạch

trong hoạt động…

Thứhai, đặc điểmvềtính chất tác độngcủabiện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng

36

Tính chất tácđộngcủa biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng mang tính đa dạng thể hiện ở phạm vi tácđộngcủa các biện pháp. Một sốbiện pháp phòng ngừa có tính chất tác động chung đối với toàn xã hội, hướng đến tấtcác các chủthểkhác nhau trongđờisống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Mộtsốbiện pháp phòng ngừa lạicó tính chất tácđộngriêngđốivớimộtsốđối tượng “không vững vàng” trong xã hội để họ không nảy sinh ý định phạm tội hoặc không dám thực hiện hành vi phạm tội tham nhũng. Các biện pháp này bao gồm các chếtài pháp luật như xửphạt vi phạm hành chính, hình phạt trong pháp luật hình sự. Bảnthân phạm vi tácđộngcủa cácchếtài này cũng mang tính chất đa dạng khi không chỉ nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền hoặc lợi ích hợp pháp của người phạm tội tham nhũng mà còn có thể bao gồm các biện pháp thu hồi tài sản

do phạm tội mà có, hạn chế hoặc loại bỏ các điều kiện phạm tội trong tương lai… Những biện pháp này lại có sự tác động qua lại lẫn nhau làm hạn chế nguyên nhân và điều kiện phát sinh tình hình tội phạm tham nhũng.

Bên cạnh đó, biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng còn mang tính chất tác động tổng thể trên mọi mặt trận như chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội…Biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng chỉđạt hiệuquảcao nhất khi có sự tác động tới toàn bộ các góc cạnh của đời sống xã hội như: giáo

dục, y tế, pháp luật, xây dựng, đầu tư công… Đặc điểm này xuất pháttừ đặc điểm của tội phạm tham nhũng và tình hình tội phạm tham nhũng. Những nguyên nhân của tình hình tội phạm tham nhũng không bó hẹp trong phạm vi một lĩnh vực nhưđầu tư công, y tế hoặc giáo dục mà tiềm ẩn trong rất nhiều lĩnh vực khác. Phòng ngừa tình hình tội phạm không chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan, tổ chức hay của một ngành khoa học nào trong lĩnh vực tư pháp hình sự mà đó là nhiệm vụ chung của toàn xã hội trên tổngthểcác phương diện. Trong đó, theo chức năng, ngành khoa học vềtộiphạm phải xây dựngđược cơ sởvà các nguyên tắc trong hoạt động phòng ngừa, xác định chủ thể phòng ngừa, lập và xây dựng kế hoạch phòng

ngừa, nhận diện diễn biến tội phạm và tình hình tội phạm trong tương lai… Từ đó từngbướcđưacác biện pháp phòng ngừa tình tìnhtộiphạm tham nhũng đi vào thực hiện trên thực tế trên tất cả các phương diện nêu trên.

Ngoài ra, phòng ngừa tình hình tội phạm còn mang tính chất chủ động, tích cựcvớimục tiêu giúp Nhà nước và xã hội không phải gánh chịu nhữnghậu quảmà tội phạm tham nhũng gây ra và không phải mất đi những chi phí, sức lực cho

37

hoạt độngđiều tra, truy tố, xét xử và khắc phục hậu quả. Tính chủ động, tích cực thểhiện rõ nétởchức năng mô tả, giải thích và dự báo tình hìnhtộiphạm tham nhũng, bởilẽhoạtđộngnày giúp Nhà nước và xã hội tìm ra biện pháp tácđộng vào quy luật phát sinh, tồntạivà phát triển của tộiphạm, đồngthời khắc phục được các nguyên nhân và điều kiện phạm tội trước khi tội phạm được thực hiện.

Hơn thế nữa, các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng còn mang tính chất thường xuyên, liên tục và có tính lâu dài. Biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng hướng tới các thành tố tạo thành nguyên nhân của loạitộiphạm này là nhằmhạnchế, triệt tiêu các thànhtốnày. Các thànhtốtạo thành nguyên nhân của loại tội phạm này rất đa dạng, gắn với tấtcảcác mặtcủađời sống xã hội, luôn biến đổi theo sự phát triển kinh tế, xã hội; cơ chế hình thành và tác động của các thành tố này cũng rất phức tạp. Do vậy, các biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng cũng không thể chỉlà các biện pháp đơnlẻhoặc diễn ra trong một khoảng thời giancốđịnh. Các biện pháp này là hoạtđộng chủ động không chỉ của Đảng, Nhà nước mà còn là của toàn xã hội và phảicó sựchung sứccủa tấtcảmọi công dân. Ở khía cạnh này, có thể nói hoạt động phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng là hoạtđộngcông và hoạtđộngtư, là hoạtđộng mang tính liên tục, gắn liền và có sự thay đổi linh hoạt phù hợp với quá trình phát triển của xã hội nói chung. Do vậy mà khó có thể liệtkê được một cách đầyđủ các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng cụ thể mà chỉ có thểkhái quát thành các nhóm biện pháp phòng ngừa tình hìnhtộiphạm tham nhũng và các định hướng phòng ngừa loại tội phạm này.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM

THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam hiện nay Biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *