Bảo vệ quyền trẻ em theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là hạnh phúc, tương laicủamỗigia đình, làlớp người kế tục sựnghiệp xây dựng và phát triển, quyếtđịnhtương lai đất nước. Với vai trò quan trọng như vậy nhưng trẻ em lại là đối tượng còn non nớt về thể chất và trí tuệ, không tự phát triển vàtrưởng thànhbởi vậy cần được bảo vệ và chăm sóc đặcbiệt. Sựchởche của cha mẹ, gia đình như một lẽ tựnhiên xuất phát từtình yêu thương, máu mủnhưng thiết thực hơn nữa, đólà sựchăm sóc, yêu thươngđược bảođảm bằng pháp luật, hay nói cách khác đó là quyền đượcchăm sóc, yêu thương của trẻ em và nghĩa vụ tương ứngcủa cha mẹ và các thành viên khác trong gia đình.
Công ước về Quyền trẻ em (20/11/1989) quy định: “Các quốc gia thành viên cam kếtbảo vệ trẻem chống tất cả các hình thức bóc lột và lạm dụng tình dục. Vì mục đích này các quốc gia thành viên phải đặc biệt thực hiện tấtcảcác biện pháp quốc gia, song phương và đa phương thích hợp để ngăn ngừa việc xúi giục hay ép buộc trẻ em tham gia bất kỳ hành vi tình dục bất hợp phápnào”1. Ở Việt Nam, chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻem vốnlà truyền thống tốtđẹp, là tư tưởng xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của đất nước qua các thời kỳ. Ngày 20/02/1990, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và là quốc giathứba trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tếvề Quyền trẻ em và đã thực hiện nhiều biện phápđểbảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻem bằng pháp luật và các chương trình, chính sách quốc gia.
Để thực hiện tốt cam kết quốc tế trong việc bảo vệ trẻ em, Việt Namđã ban hành hệ thống chính sách và pháp luật về quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em. Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 1959, Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐnăm 2000 và Luật HN&GĐ năm 2014 được xây dựng trên nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt là bảo vệ các quan hệ hôn nhân và gia đình, trong đó có bảo vệ trẻ em. Thông qua các quyđịnh về điều kiện kết hôn, ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con ; quyền, nghĩa vụ của ông bà nội, ông bà ngoại với cháu; quyền và nghĩa vụ của anh, chị với em; quyền và nghĩa vụ của cô, dì, chú, cậu, bác ruột với cháu ruột ở mỗi giaiđoạn phát triển pháp luật HN&GĐ… đều thể hiện các nguyên tắc bảo vệ trẻ em như:
không phânbiệt đốixửvới con; bảo vệ bà mẹ và trẻ em, tạo điều kiện cho người phụnữthực hiệntốtchức năng làm mẹ… Luật HN&GĐ năm 2014 đặc biệt quan tâm đến quyền của người trực tiếp nuôi dưỡng và quyền của người không trực tiếp nuôi dưỡng trẻ em sau ly hôn… đáp ứng những thay đổi của xã hội, gia đình trong tình hình phát triển kinh tế – xã hội mới. Tuy nhiên, đến nay về lý luận đã nảy sinh những vấn đề mới trong thực tiễn pháp luật như bảo vệ quyền trẻ em trong các trường hợp mang thai hộ
1 Điều 34 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em.
1
vì mục đích nhân đạo cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật có những quy định thiếu tính khả thi đòi hỏi có những nghiên cứu đưa ra giải pháp để bảo vệ các quyềncủatrẻ em được toàn diện hơn. Là một trong các quốc gia đang phát triển, Việt Nam là nước có mức thu nhập bình quân đầungười thấp, tình trạng đói nghèo vẫn tồn tại ở diện rộng, khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, miền đang ảnh hưởng trực tiếp tới việc chăm sóc, phát triển của trẻ em. Bên cạnh đó, do những ảnh hưởng tiêu cực, mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng như quá trình hội nhập kinh tế và những khó khăn do thiên tai, di chứng chiến tranh nặng nề đã khiến cho tỷ lệ trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc
biệt tăng cao như: trẻ em lang thang; sử dụng ma tuý, vi phạm pháp luật; trẻ em bị lạm dụng và xâm hại, bạo lực; trẻ em bị tai nạn thương tích, bị bỏ rơi hoặc bỏ mặc… Việc phát triển công nghệ thông tin cùngvớiviệc quản lý, kiểm soát internet chưa có hiệu quả dẫn đến việc tiếp xúc ngày càng rộng rãi những trò chơi online của trẻ em với thế giới ảo đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển thể chất, tâm lý và nhân cách của con trẻ… Hậu quả dễ thấy trong thời gian qua làtỷlệ trẻ embị bị xâm hại, bị ảnh hưởng tiêu cực khi cha mẹ ly hôn, trẻ em bị suy dinh dưỡng, bị mua bán, bị bạo hành, bị bỏ rơi, bị bắt cóc… ngày càng gia tăng và hậu quả ngày càng nghiêm trọng đã gióng lên hồi chuông báo động về trách nhiệm của gia đình, xã hội trong việc bảo vệ trẻ em. Phân tích các nguyên nhân dẫn đến những hậu quả trên, không thể không xem xét tính hiệu quảcủa các quy tắc ứngxửtrong quan hệ HN&GĐ, đặc biệt những hạn chế, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Luật HN&GĐ hiện hành. Những kẽ hởpháp luật còntồn tạinhư: chưa có chế tài hoặc chế tài chưa đủ nghiêm khắc khi thành viên gia đình vi phạm nghĩa vụ với trẻ em; cha mẹlạmdụng quyền của mình trong việc thực hiện nghĩa vụ giáo dục con…, dẫn đến pháp luật HN&GĐ chưa thực sự bảo vệ tốt các quyền của trẻ em trong gia đình – chủ thể đặc biệt trong quan hệ HN&GĐ.
Trước tình hình trên, việc nghiên cứu một cách toàn diện bảo vệ quyền trẻ em theo Luật HN&GĐ là một yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa trong việc giải quyết những vướng mắccủapháp luật trong thực tiễn đồng thời thay đổi nhận thức về vai trò, trách nhiệm của các bậc làm cha, làm mẹ nhằm bảo vệ trẻ em một cách tốt nhất với phương châm “dành những điều tốt đẹp nhất cho trẻ em”, “trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”. Vì vậy, nghiên cứu đề tài: “Bảo vệ quyền trẻ em theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” là có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống lý luận quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật HN&GĐ; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em trong các quan hệ HN&GĐ;đề xuất các giải pháp hoàn thiện Luật HN&GĐ và cơ chế thi hành pháp luật để bảo vệ tốt hơn các quyền trẻ em trong quan hệ HN&GĐ.
2
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụnghiên cứu là:
– Phân tích, làm sáng tỏ nhữngvấnđề lý luận vềtrẻ em, các đặc trưng cơ bản của trẻ em, quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em.
– Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền trẻ em theo pháp luật HN&GĐ; phân tích, lý giảivai trò của luật HN&GĐ đối với việc bảo vệ các quyền của trẻ em cũng như sự phát triển của trẻ em.
– Phân tích, đánh giá các quy định của Luật HN&GĐ hiện hành về bảo vệ quyền trẻem, chỉ ra các bất cập, hạn chế của pháp luật trong việc bảo vệ quyền trẻ em.
– Nghiên cứu và đánh giá thực tiễn thực hiện Luật HN&GĐ hiện hành trong việc bảo vệ quyền trẻem, trên cơ sở đó chỉ ra những chuyển biến tích cực, những thuận lợi, hạn chế và nguyên nhân của những vướng mắc trong thực tiễn thực hiện pháp luật HN&GĐ trong việc bảo vệ quyền trẻ em.
– Trên cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật HN&GĐ về bảo vệ quyền trẻ em, tác giả đưa ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật HN&GĐ về bảo vệ quyền trẻ em.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ HN&GĐ; quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 và thực tiễn thi hành vềbảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực HN&GĐ.
– Phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài này tác giả tập trung nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền trẻ em theo Luật HN&GĐ năm 2014có sựliên hệ, so sánh với các văn bản pháp luật khác điều chỉnh việc bảo vệ quyền trẻ em trong các mối quan hệ HN&GĐ.
Về thực tiễn: Luận án nghiên cứu thực tiễn thi hành Luật HN&GĐ năm 2014 vềbảo vệ quyền trẻ em từ năm 2015 đến năm 2020 tại Việt Nam.
Luận án không nghiên cứu bảo vệ quyền trẻ em trong các quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm,đường lối của Đảng về các vấn đề HN&GĐ nói chung và bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ HN&GĐ nói riêng. Phương pháp này được sử dụng chủ yếu tại Chương 2 của Luận ánđể lý giải các vấn đề lý luận về trẻ em, bảo vệ quyền trẻ em.
Các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: phương pháp phân tích, hệ thống và logic học, phương pháp tổng hợp, so sánh, chứng minh…được sử dụng đểđánh giá các nội dung thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật HN&GĐ tại Chương 3 của
3
Luận án. Các phương pháp nghiên cứu xã hội học (quan sát, trao đổi, tiếp cận thông tin… ) và phương pháp xã hội học pháp luậtluật được sử dụng đểđánh giá thực tiễn thi hành nội dung Luật HN&GĐ hiện hành về bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ HN&GĐ. Phương pháp tổng hợp, phân tích cũng được sử dụng để xây dựng các giải pháp hoàn thiện Luật HN&GĐ về bảo vệ quyền trẻ em tại Chương 4 của Luận án.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học: Luận án đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ HN&GĐ dựa trên cơ sở của quyền con người và tính tất yếu của quy luật phát triển xã hội. Luận án đã phân tích một cách toàn diệnvấn đềlýluận về bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật HN&GĐ, thực trạng pháp luật về bảo vệquyền trẻ em trong các quan hệ HN&GĐ và thực tiễn thực hiện đểphát hiện những vướng mắc, bất cập và kiến nghị giải pháp khắc phục. Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung và hoàn thiện những vấn đề lý luận của khoa học pháp lý về bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ HN&GĐ.
Về ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án là nguồn tài liệu tham khảo trong công tác giảng dạy, nghiên cứu, hướng dẫn học tập các môn học liên quanđến bảo vệ quyềntrẻ em. Những giải pháp có thể được xem xét điều chỉnh các hành vi của cha mẹ, chính sách của Nhà nước đối với trẻ em hiện còn vướng mắc. Luận án cũng cóthểđượcsửdụng làm tài liệu tham khảo cho cơ quan quản lý nhànước về trẻem, cơ quan quản lý nhà nước vềgia đình và các cơ quan thi hành và áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề có liên quan đến bảo vệ quyền trẻ em.
6. Những đóng góp mới của luận án
Đề tài là công trình nghiên cứu có tính hệ thống, chuyên sâu, toàndiện, đầy đủvề những vấn đề liên quan đến quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em theo Luật HN&GĐ năm 2014 có những điểm mới sau:
– Xây dựng và hoàn thiện khái niệm trẻ em, quyền trẻ em và bảo vệ quyềntrẻem; làm rõ nhữngvấnđề lý luận vềbảo vệ quyền trẻ em theo luật HN&GĐ, đồng thời chỉ ra, phân tích nhữngyếu tố ảnh hưởngtới bảo vệ quyền trẻ em trong tình hình kinh tế – xã hội hiện nay.
– Làm sáng tỏ nội dung bảo vệ quyền trẻ em theo Luật HN&GĐ Việt Nam hiện hành, thông qua việc phân tích đánh giá các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 vềbảo vệquyềntrẻem, có so sánhvớicác luật HN&GĐ trước đâyđể làm rõ tínhkế thừa, phát triển, đồng thời phát hiện những vướng mắc trong quá trình thực tiễn áp dụng Luật HN&GĐ năm 2014 trong việc bảo vệ quyền trẻ em. Phân tích việc xửlýcác vi phạm đến quyền trẻ em trong lĩnh vực HN&GĐ.
– Đề xuất kiến nghị hoàn thiện Luật HN&GĐ hiện hành về bảo vệ quyền trẻ em

và giải pháp mang tính đồng bộ để thực hiện tốt các quy định của Luật HN&GĐ hiện hành để đảm bảo trẻ em được chăm sóc, bảo vệ và giáo dục tốt nhất trong các quan hệHN&GĐ nói riêng và trong các mối quan hệ xã hội nói chung.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và kết luận, Luận án được kết cấu thành 04 chương gồm:
Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Chương 2.Một số vấn đề lýluận về bảovệquyền trẻ em và bảo vệ quyềntrẻem theo luật hôn nhân và gia đình
Chương 3. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình về bảo vệ quyền trẻ em
Chương 4.Định hướng,giải pháp hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đìnhvềbảo vệ quyền trẻ em
5
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Các công trình nghiên cứu khoahọc đã được côngbố cóliên quan đến đề tài của luận án
1.1.1. Các công trình nghiên cứu trongnước
1.1.1.1. Luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học
1.1.1.2. Sách, bài viết trên các tạp chí
1.1.2. Các công trình nghiên cứu ngoàinước
1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án
Qua việc nghiên cứu về các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án, có thể nhận thấy quyền trẻ em làvấn đề đượcsựquan tâm lớn của các ngành khoa học xã hội nói chung và khoa học pháp lý nói riêng. Các công trìnhđềuhướng tới lý giải và nhận định bảo vệ trẻ em là vấn đề quan trọng bên cạnh đó việc nhận diện các hành vi xâm phạm quyền trẻ em cũng hết sức cầnthiết để từđó có những biện pháp, giải pháp đểbảovệ trẻ em. Tuy nhiên, việc nghiên cứu tácđộngcủagiađình đối với bảo vệ quyền trẻ em chưa thật dầy dặn mặc dù với thực tế trẻ em bị xâm phạm từ chính gia đình của mình đang ngày càng đáng lên án. Do đó, có thể nhận định rằng dù ở góc độlý luận hay thực tiễn, các công trình nghiên cứu trước vẫn còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết triệt để. Cụ thể như sau:
1.2.1. Về nhữngvấn đề lý luận
1.2.1.1. Các khái niệm liên quan đến luận án
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều tiếp cận từ các quy định pháp luật cụthểcủa pháp luật quốctế và pháp luật quốc gia, phân tích để rút ra những đặc điểm chung của các khái niệm. Các tác giả khi xây dựng các kháiniệm đều hướngtớigiải quyết các nội dung của đề tài, chưa xây dựng khái niệm trên cơ sởlý giải mang tính
lịch sửtựnhiên và xã hội tất yếu của quá trình phát triển. Các khái niệm liên quan đến trẻ em tại các công trình chưa lý giải được cặn kẽ và đầy đủ mối quan hệ mật thiết, tácđộng qua lại giữa của các quy định trong Luật HN&GĐvới vấn đềbảo vệ quyền trẻ em và ngược lại.
Về khái niệm quyền trẻ em: Trong các công trình hầu hết các tác giả đều nghiên cứu và xây dựng khái niệm trẻ em, quyền trẻ emvà bảo vệquyền trẻ em. Tuy nhiên, ở mỗi công trình các khái niệm này được xây dựng đơnlẻ,riêngrẽ vàđươngnhiên các khái niệm đó sẽgắnvới các đề tàicụthểcủa mỗi công trình. Vì vậy, ba khái niệm liên quan mật thiết là trẻ em, quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em mang tính tổng quát, bao hàm cácđặctrưng,đặc thù của trẻem thì chưa được công trình nào xây dựng đầy
14
đủ và có hệ thống theo những đặc trưng về thể chất và tinh thần của trẻ em. Khái niệm quyền trẻ em được các tác giảđịnhnghĩa còn khá khác nhau như“Quyền trẻem là các quy định pháp luật dành cho một nhóm đối tượng được xác định là trẻ em”, “Quyền trẻ em là những lợi ích của trẻemđược pháp luật bảohộ và bảo đảm thực hiện” hay “quyền trẻemđược hiểu là nhữngđặc quyềntựnhiên mà trẻemđược hưởng, được làm, đượctôn trọng vàthực hiện”.Luận án sẽ tiếp tục hoàn thiện khái niệm này trên cơ sở phân tích bản chất và đặc điểm của quyền trẻ em.
Khái niệm bảovệ quyền trẻ em trong các công trình tương đối tương đồngvềthuật ngữcũng như cách diễn giải. Tác giả Hoàng Thị Thùy Dungđã đưa ra 3 quanđiểm lý giải vềbảo vệquyền trẻ em nhưng hạn chế là chưa có cơ sở cho sự lý giải đóvề lýluận cũng như thực tiễn ở Việt Nam và quốc tế. Việc tácgiảtiếp cận các quyền cơ bản của trẻ theo Luật Chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em năm 2004 là chưa đầyđủ trong hoàn cảnh, thời điểm hiện nay khi đã có Luật Trẻ em năm 2016. Các tác giảkhác đã nêu lên kháiniệm về bảo vệquyềntrẻem trên cơ sở pháp luật thực định nhằm giải quyết mục tiêu cụthể của công trình nghiên cứu mà chưa bao quát được vấn đềbảo vệ quyền trẻ em nói chung. Như vậy, các công trình chưa lý giải về lịch sử hình thành và phát triển của quyền trẻ em đồng thời chưa lý giải quyền trẻ emđược tiếp cận là quyền con người của trẻ em. Nội dung này luận án sẽ tiếp tục kế thừa cách tiếp cận của các tác giả, đồng thời làm rõ thêm lịch sử phát triển quyền trẻ em.
Thêm nữa, chưa có công trình nào đề cập đến việc xây dựng khái niệmbảo vệquyền trẻ em trong quan hệ gia đình. Mối quan hệ giữa các quyền của trẻ em và cơ sở kinh tế – xã hội, ý thức pháp luật, đạo đức, lối sống trong gia đình (nếp nhà) để thực hiện các quyềncủatrẻem trong hoàn cảnh đất nước hiệnnay đặc biệt là sự thayđổi của gia đình hiện đại.
Như vậy, nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục làm rõ khái niệm trẻ em, quyền trẻ em vàkế thừa khái niệm bảo vệ quyền trẻ em trong luận án, trên cơ sở lý luận về quyền con người vớinhận thức rằng trẻ em đóng góp vào sựtái tạo xã hộivềmặt sinh học, cơcấuxãhộivà văn hóavà đặcbiệt nhấn mạnh bảovệ quyềntrẻem chính làbảođảm việc thực hiện các quyền của trẻ em trên thực tế với đặc thù về điều kiện riêng của từng nhóm, trong từng giai đoạn phát triển.
1.2.1.2. Đặc điểm trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em theo luật hôn nhân và gia đình
Các công trình nghiên cứu chưa đề cập nội dung này bởi các công trình đều tiếp cận để giải quyết nội dung quyền trẻ emcụ thể, hoặc trong môi trường gia đình nênđặc điểmcủa quyền trẻ em, bảovệ quyền trẻ em trong quan hệ HN&GĐ hầu nhưkhông được nghiên cứu độc lập.
15
Các công trình chưa khẳng định được tác động của gia đình, pháp luật HN&GĐtác động đến sự phát triển, định hình tính cách của trẻ em đặc biệt nghĩa vụ của cha mẹtrong việc chăm sóc, giáo dục con trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay.
Trong các công trình chưa đề cập tới những đặc điểm về thể chất, tinh thần vànhận thức của trẻ em là một quá trình tự nhiên mang tính xã hội, là cơ sở lý giải việc tại sao phải bảo vệ trẻ em, đặc biệt là bảo vệ trẻ em trong môi trường gia đình.
Với mục đích nghiên cứu lý luận một cách đầy đủ và hệ thống về bảo vệ quyền trẻ em theo luật HN&GĐ, nghiên cứu sinh sẽ triển khai nội dung này trong luậnán đầyđủ và cụ thể.Để chỉ rõcác đặcđiểm của trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em trong quanhệHN&GĐ, nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục phân tích mối liên hệ giữa bảo vệ quyền trẻ em theo pháp luật HN&GĐ với bảo vệ quyền trẻ em theo Luật Trẻ em năm 2016 và một sốquy định khác trong hệ thống pháp luật của Việt Nam.
1.2.2. Nội dung bảo vệ các nhóm quyền của trẻ em theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
1.2.2.1.Bảovệ nhóm quyền được sống, được khai sinh và có quốc tịch, được biết cha mẹ của trẻ em theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Quyền đượcsống là quyền cố hữu, thiêng liêng của bấtcứcon người nào. Tuy nhiên, quyền được sống của trẻ em được bảo đảm bởi cha mẹ, những người thân thích khi họ thực hiện nghĩavụ của mình với trẻ em. Qua nghiên cứu nhận thấy, các công trình nghiên cứu đã trình bày chủ yếuvề thực hiện pháp luật HN&GĐ liên quan đến các vướng mắc trong áp dụng pháp luật về bảo vệ các quyềnbấtkhả xâm phạm thân thể, tính mạng qua cácsựviệc nổi cộm, cósức hút đốivớiđờisống xã hội. Các công trình ítđềcập tới nội dung các quyền như: quyền được khai sinh, có quốc tịch,được chăm sóc sức khỏe, được sống… Về lý luận, các quyền này được đảm bảo thực hiện thì mới có cơ sởđảm bảomới có điều kiện sốngđể trẻ emđượcbảo vệ các quyền khác. Quyền khai sinh của trẻem là quyền nhân thân cơbảnnhưng trẻ em không tựmình thực hiện được mà được thực hiện bằng hành vi của người khác theo quy định BLDS, Luật Hộtịch và các luật khác có liên quan. Nội dung này, nghiên cứu sinhsẽ phân tích, đánh giá thực trạng để làm rõ trách nhiệm của cha, mẹ trong việc thực hiện quyềnđược khai sinh, có quốc tịch của trẻ em.
Bảo vệ quyền được biết cha mẹ mình, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định việc xác định cha, mẹcho trẻ em trong bất cứhoàn cảnh nào. Quyền được biết vềnguồn gốc của trẻ em thể hiện sựtôn trọng của pháp luật đối với sựphát triển bình thường của trẻ bởi liên quan đến huyết thống của trẻ em. Trên thực tế, quyền này đang bị hạn chế trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhưng chưa được đề cập trong các công trình nghiên cứu.
16
Quyền trẻ emđược cha mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng đã được nghiên cứu đề cập trong nhiều công trình. Nghĩa vụ của cha mẹ dành thời gian, công sức, tiền bạc và tình yêu thươngcủamình để chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, đáp ứng đầy đủ về dinh dưỡng,đời sống tinh thần để trẻ em được phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ.
Như vậy, các công trình liên quan đến quyền được sốngcòn của trẻ em nhưng chưa phân tích được Luật HN&GĐ năm 2014 cần quy định nhưthếnào để bảo vệ trẻ em trước những hành vi xâm hại. Trách nhiệm trông nom, chăm sóc, quán xuyến,“đểmắt” củacha mẹ và những người thân thíchvới trẻem nhưthếnào để tránh những tai nạn đáng tiếc xảyra cho trẻ em. Các hành vi xâm hại đến trẻ từphía bên ngoài có những chếtài rõ ràng,vậynếu các hành vicố ý xâm hại trẻ em từcha, mẹ những người thân yêu nhất của trẻ phải bị các chế tài nghiêm khắc hơn không? Câu hỏi này, luận án sẽ luận giải theo hướng áp dụng chế tài nghiêm khắc hơn đối với những người có nghĩa vụ chăm sóc, yêu thươngtrẻ lạicố ý hành hạ trẻ em gây hậu quả, thương tích nặng nề để tước đi mạng sống của trẻ em.
1.2.2.2. Bảo vệ nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Trẻ emcần được bảo vệ, bởikhi bị rơi vào tình huống hoàn cảnh khó khăn trẻ em khó có thểtựmình vượt qua. Bảo vệ để trẻ em không bị xâm hại về thể chất và tinh thần và bao gồmcả việc ngăn ngừa và khắc phục những hoàn cảnh, tình huống gây khó khăn bấtlợichođời sống củatrẻ. Các công trìnhhướngtớithực hiệnviệc bảo vệquyền trẻ em trong các lĩnh vực sau:
Bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực kết hôn chưa được thể hiện trong các công trình nghiên cứu. Kết hôn chính là một trong những cơ sở để xây dựng gia đình hạnh phúc,đảm bảolà tổ ấm cho trẻ em sau này đồng thời là điều kiện để các quyền cơ bản của trẻ em được đảm bảo trên thực tế, nghiên cứu sinh sẽ triển khai các nội dung bảo vệ quyền trẻ em trong quy định về điều kiện kết hôn trong luận án đầy đủ hơn.
Bảo vệ quyền trẻ em trong phòng chống tai nạn, thương tích cho trẻ. Trong Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp trường “Pháp luật về quyền trẻ em và thực tiễn thực hiện
tại Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nộiđã đề cập tới thực trạng này. Nhóm tác giả đã phân tích các nguyên nhân của tình trạng tai nạn, thương tích của trẻ em tại Việt Nam, trong đónguyên nhân chủyếu là thiếu sựquan tâm củacha mẹ và người chăm sóc trẻ em. Luận án sẽ tiếp tục khai thác thực trạng này để làm minh chứng cho việc cha mẹ đã chưa thực hiện tốt nghĩa vụ của mình, là nguyên nhân trực tiếp gây nên hậu quả xấu cho trẻ em.
Nhóm công trình nghiên cứu về bạo lực gia đình của tác giả Nguyễn Thanh Hương, xâm hại tình dục trẻ em của tác giả Nguyễn Vương Thùy Dương… đã nghiên cứu về các hành vi xâm hại về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của trẻ em. Trong nội
17
dung nhóm quyền sống còn, các hành vi nàyđượcxác địnhlà các hành vi nghiêm trọng dẫn đến tửvong ở trẻ em. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về trẻ em bị xâm hại, hành hạ, tước đi mạng sống… còn mờ nhạt. Ngoài ra, các công trình nghiên cứu đãphân tích và trình bày về thực trạng các hành vi vi phạm đến quyềnđược sống, được chăm sóc và phát triển trong môi trường an toàndẫn đếnnhiều trẻ em bị bỏ rơi, lang thang cơ nhỡ, không ai chăm sóc… Luận ánsẽ tiếptụcphân tích các yếutố tác động đến môi trường sống an toàn của trẻ em, từ đó cha, mẹ trẻ em cần làm gì để bảo vệ con mình trong môi trườngđó, sựhỗ trợcủa các tổ chức, biện pháp của Nhà nước để giúp cho cha mẹ có điều kiện bảo vệ con. Đặc biệt,vấn đềbảo vệ trẻ em khi cha mẹ ly hôn sẽ được thể hiện sâu sắc trong luận án.
Như vậy, nhóm quyền được bảovệcủa trẻ em chưa được phân tích rõ trong các công trình, đặc biệt nội dung chế tài đối với các hành vi xâm phạm đến nhóm quyền này chưa thể hiện một cách hệ thống để từ đó có hướng xây dựng các giải pháp để bảo vệ trẻ em tốt hơn từ chính gia đình của trẻ em.
1.2.2.3. Bảo vệ nhóm quyền được phát triển của trẻ em theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp TrườngcủaTrường Đại học Luật Hà Nội có một chuyên đề về quyền học tập của trẻ em, tuy nhiên công trình chưa phân tích quyền học tập của trẻ em theo hướng phù hợp với nhu cầu, điều kiện về thểchất và khả năng
nhận thức, thái độ của trẻ em, đồng thời cũng chưa thể hiện đầyđủquyền được giáo dục của trẻ em theo Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em. Bởi quyền được giáo dục bao hàm được giáo dục phát triển về nhân cách, tâm lý, xã hội…
Có thểnhận thấy, các công trình nghiên cứuchưa theo hướngtiếp cậnquyềnđượcphát triển tự nhiên của trẻ em, cũng nhưcác yếu tố tác động đến sựphát triển của con người dưới cách tiếp cận của các khoa học sinh học, triết học, xã hội học… Luận án sẽ làm rõ: Sựphát triển của trẻ em là mộtquá trình trong đó những nhu cầu phát triển về thể chất, tinh thần và các kỹ năng xã hội được tích lũy, tạo ra những thay đổi về chất và lượng. Ở những độ tuổi khác nhau, trẻ em cósựphát triển của lứa tuổivề thể chất và suy nghĩ, có khả năng và nhu cầu khác nhau. Vì vậy, ở mỗi giaiđoạn, trẻem có những nhu cầu, đòi hỏi cần được đáp ứng thích hợp với sự phát triển toàn diện của trẻ em. Cha mẹ và người thân thích của trẻ emphải nhận thức được điều đó để bảo vệ các quyền của trẻ em một cách hiệu quả nhất.
1.2.2.4. Bảo vệ nhóm quyền được tham gia của trẻ em theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Tại bài viết Thực hiện quyền tham gia của trẻ em tại Việt Nam của tác giả Quách Thị Quế, đã khẳng định Công ước Quốc tếvề Quyền trẻ em không đề cập riêng “quyền được tham gia” trong một điều khoản riêng biệt nào mà được lồng ghép trong
18
các quyềnđượcbày tỏ ý kiến, quyền được lắng nghe(Điều12); quyền tìm kiếm thông tin và tự do bày tỏ ý kiến (Điều 13); Quyền riêng tư(Điều16); Tác giả đã nhận định: Pháp luật Việt Namđãquyđịnhkháđầyđủtrách nhiệmcủachamẹtrong việcbảođảm quyền của trẻ em nói chung và quyền tham gia nói riêng. Tuy nhiên, các nhà làm luật Việt Nam đang còn lúng túng trong việc xácđịnhranh giới giữa việc áp dụng các biện pháp giáo dụccủagia đình với các hìnhthức bịpháp luật cấm. Mộtthực tếhiện nay cho thấy, việc tham giacủatrẻem trong gia đình và nhà trườngvẫncònbịảnh hưởngnặngnềcủatruyền thống văn hoá Á Đông khi coi ý kiếncủangườilớntuổi hay “bềtrên”là“tốithượng”,là luôn luôn đem lại nhữngđiềutốtđốivới ngườiít tuổi vàđặcbiệt là trẻ em, do vậy, trẻ em buộc phải tuân thủ.
Đây làthực tếáp dụng pháp luậttạiViệt Nam, luận ánsẽtiếptụcgiải quyết nội dung trong quyđịnhquyền hỏi ý kiếncủatrẻ em và phân tích vai tròcủachamẹđểthực hiện quyền tham giacủatrẻem, cũng như nghĩavụlắng nghecủachamẹvới con. Tuy nhiên,đểthực hiện các quyền này đòihỏisựchung tay của nhiềutổchức, xãhộigiúp sức cho chamẹđểtạođiềukiện cho trẻ em thực hiện các quyền tham gia, đặc biệt làtrẻem sinh sống tại các “rốn nghèo”, các vùng dântộcthiểusốcủaViệt Nam.Đồngthời, luận ánsẽtiếpcậnquyềnđượclấyý kiến củatrẻem trong các quyết định liên quan đến trẻ em, đặc biệt là các quyếtđịnhcủacha,mẹđốivới trẻemđểthấy đượcý nghĩa của nhóm quyền này trong sự phát triển toàn diện củatrẻem.
Như vậy, nội dung các quyền trẻ emcầnđượcbảo vệ đã được cáctác giả trình bàyđa dạngdướinhiều góc tiếp cận.Bảo vệquyền trẻ em nhiều trường hợp là việcthể chếtrong cácchếđịnhcủa Luật HN&GĐ năm 2014 và các luật khác có liên quan khi quyđịnh nghĩa vụ của cha, mẹ với con chưa thành niên. Việc phân định các nhóm quyềntrẻemcầnđượcbảovệ làmcơ sở đối chiếuvới các chế định của Luật HN&GĐ để dễ dàngđánh giá, nhận xét việc thực hiện nghĩa vụ của thành viên gia đình với trẻ em như thế nào, từ đó có những điều chỉnh cho phù hợp.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của nghiên cứu sinhđối với luận án
Qua việc nghiên cứu, đánh giá các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án, nhận thấy, các tác giả đãthểhiện nhiều quan điểm đánh giá khác nhau vềvấnđề nghiên cứu, đặc biệt là đối với pháp luật thực định.Để hoànthiện luận án, nghiên cứu sinh cần phải tiếp thu những luận điểm, luận cứ khoa học đồng thời tiếp tục hoàn thiện những luận điểm còn nhiều mâu thuẫn giữa các tác giả. Những bất cập trong thực tiễn khi thực thi pháp luật cũng như những phát sinh trong quá trình áp dụng pháp luật. Luận án sẽ tiếp tục làm rõ để đưa ra những luận điểm khoa học mới phù hợp với thực tiễn áp dụng, góp phần hoàn thiện những quy định về bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ HN&GĐ.
19
1.3.1. Câu hỏi, giả thuyết và định hướng nghiên cứu liên quan đến những vấn đềlý luận
Câu hỏi nghiên cứu 1: Trẻ em là gì? Quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em được hiểu như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu 1:
Khái niệm trẻ em sẽ được xác định như thế nào nếu không căn cứ vào độ tuổi. Các tính chất khác của trẻ em có thể thay thế độ tuổi để định nghĩa trẻ em
Quyền trẻ em là các các nhóm quyền theo quy định của Công ước Quốc tế về quyền trẻem. Quyềntrẻem đượcbắtnguồn từ quyền con người. Căn cứ trên lý luận về quyềnđược bảo vệ của trẻ em, điển hình các quyền cơ bản của trẻ em, Luận án sẽ nghiên cứu theo hướng các quy định đã thể hiện việc bảo vệ quyền trẻ em như thế nào.
Kết quả nghiên cứu 1:
Trẻ em là một nhóm người trong xã hội được phân biệt với người lớn thông qua độtuổi và cácđặctrưng cơbảncủatrẻem mang tính quy luật. Theo CôngướcQuốctếvềquyền trẻ em, trẻ em là người dưới 18 tuổi, tuy nhiên tại Việt Nam trẻ em là người dưới 16 tuổi. Mỗi trẻ em là một con người với những đặc điểm về thể chất và tâm lý khác nhau. Với mỗi độ tuổi, trẻ em liên tục phát triển về thể chất, tâm lý nên rất khác người lớn (ổn định hơn thể chất và tâm lý) tạo nên đặc tính chung của trẻ em.
Các quyền trẻ em bắt nguồn từ quyền con người nhưng ở trẻ em có những quyền đặc biệt hơn bởi chủ thể thực hiện quyền của mình lại là người khác. Nghiên cứu quyền trẻ em tương quan với nhu cầu của trẻ em để thấy được quyền trẻ em giống các quyền khác của con người như được phát triển, được bình đẳng… thì quyền trẻ em còn phải bắt nguồn từnhững nhu cầu của trẻ em và đặc biệt quyền trẻ em bắt buộc trách nhiệm phải thực hiện của cha mẹ, người thân thích của trẻ em. Quyền trẻ em là những đòi hỏi cơ bản, chính đáng của trẻ em phải có để tồn tại và phát triển, được đáp ứng tốt nhất để trẻ em được phát triển bình thường trong môi trường sống và học tập. Luận án sẽ nghiên cứu dựa trên Công ước Quốc tếvề Quyền trẻ em và các văn bản quốc tế khác mà Việt Nam ký kết và phê chuẩn, đặc biệt xuất phát quyền con người với nhận thức rằng trẻ em đóng góp vào sự tái tạo xã hội về mặt sinh học, tổ chức và văn hóa. Do đó, trẻ em có yêu cầu chính đáng được chia sẻ với người lớn trong tất cả các lĩnh vực của đời sống văn hóa, xã hội.
Bảo vệ quyền trẻ em là bảo vệ quyền con người của trẻ em, là đảm bảo các quyền của trẻ em được thực hiện đầy đủ và phù hợp với từng giai đoạn phát triển của trẻ với nhiều cấpđộ khác nhau. Bảo vệ quyền trẻ em vừa là hệ thống các thiết chế để đảm bảo quyền trẻ emđược thực hiện, vừa là hệ thống các quy định để quản lý các vấn đề của trẻ em và bảo vệ trẻem trước các nguy cơ bị xâm hại, làm tổn thương đến trẻ em. Bảo vệ quyền trẻ em là hệthống các biện pháp, các cơ chế cách thức hoạt động được pháp luật quy định nhằmđảm
20
bảo có hiệu quả việc phòng ngừa, can thiệp, tình hình trẻ em bị bỏ rơi, xao nhãng, xâm hại, bóc lột hoặc bạo lực nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền cơ bản của trẻ em trong thực tế.
Câu hỏi nghiên cứu 2: Bảo vệ quyền trẻ em theo luật HN&GĐ được hiểu như thế nào và có những đặc điểm gì?
Giả thuyết nghiên cứu 2:
Bảovệquyềntrẻem theo luật HN&GĐ là việc nghiêncứucác quyđịnhcủaluật HN&GĐ đã thể hiện việc bảo đảm thực hiện các quyền trẻ em đến đâu và như thế nào trong các mối quan hệ của trẻ em với các thành viên của gia đình. Từ cơ sở này tính đặc thù của bảo vệ quyền trẻ em theo luật HN&GĐ có những điểm khác biệt so với bảo vệ quyền trẻem trong các ngành luật khác.
Xuất phát từ việc trẻ em không tự thực hiện các quyền của mình nên luật HN&GĐ sẽquy định việc thực hiện quyền trẻ em thông qua nghĩa vụ và trách nhiệm của cha mẹ, người thân trong gia đình đối với trẻ em. Ngoài ra, cần đặc biệt nhấn mạnh bảo vệ quyền trẻ em chính là việc bảo đảm thực hiện các quyền của trẻ em phù hợp với điều kiện riêng của từng nhóm trẻ, trong từng giai đoạn phát triển của trẻ em.
Bảovệquyềntrẻem theo luật HN&GĐ có nhữngđiểmkhác sovớiviệcbảovệquyền trẻ em trong các quan hệ pháp luật khác đó là trẻ em chính là chủ thể trong các quan hệ xã hội khác còn trong quan hệ HN&GĐ thì vai trò chủ thể của trẻ em được thực hiện thông qua nghĩa vụ của cha mẹ, người thân thích khác của trẻ em. Như vậy, vai trò chủ thểbảo vệ quyền trẻ em trong Luật HN&GĐ khác với việc bảo vệ trẻ em khi trẻ em là chủ thểcủa các quan hệ pháp luật khác.
Đặt ra giả thuyết về việc khi trẻ em là người thụ hưởng các quyền của mình thông qua cha mẹ, người thân trong gia đình thì lợi ích và quyền của trẻ em có còn đượcđảm bảo đầyđủ.
Kết quả nghiên cứu 2: Xuất phát từ quyền trẻ em là quyền con người vì vậy quyền trẻem có đầy đủ đặc điểm về quyền con người như được sống, được phát triển, được bảo vệ…
Ngoài ra, trẻ em có quyền riêng đó là việc thực hiện các quyền của trẻ em luôn được thực hiện đồng bộ, vì khi không thực hiện một quyền dẫn đến không thực hiện được các quyền tiếp theo.
Quyềntrẻemđượcxây dựng trên cơsởđốitượnglàtrẻem,chủthểđặcbiệt của quyền con người để bảo vệ các nhu cầu của trẻ em được đảm bảo thực hiện. Các quyền trẻemsẽtheo suốt quá trình phát triểncủa trẻvìvậycác quyền cóthểphải thực hiện ngay, nhưng cũng có những quyền được thực hiện dần dần theo quá trình phát triển của trẻ. Khi trẻem là chủ thể của quanhệpháp luật HN&GĐsẽthực hiện thường xuyên, liêntụcvàrộng khắp, bắt nguồn từ bản chất của mối quan hệ của trẻ trong gia đình mang yếu tố tình cảm, yêu thương chi phối, còn trong các ngành luật khác trẻ em là công dân với cơ quan
21
nhà nước không mang yếu tố tình cảm. Các yếu tố đó là sự tác động qua lại giữa việc thực hiện quyền trẻ em với nếp văn hóa trong gia đình, làng xã, quan điểm và tư tưởng giáo dục trẻ em. Bảo vệ trẻ em trong gia đình luôn bắt nguồn từ sự yêu thương, tự nguyện với trẻ em. Bởi vậy, bảo vệ quyền trẻ em phải là hành động của các thành viên trong gia đình ở mọi lúc (mang thai, sinhđẻ),mọinơi (mọi môi trường),từkhitrẻem sống trongđiềukiện bình thường và khi quyền trẻ em có nguy cơ bị xâm phạm hoặc bị xâm phạm trên thực tế, và trẻem trở thành nạn nhân của các hành vi đó. Trong khi đó, các ngành luật khác chỉ bảo vệquyền trẻ em khi có sự kiện pháp lý liên quan đến trẻ em hoặc quy định chung về quyền con người.
Câu hỏi nghiên cứu 3: Bảo vệ quyền trẻ em theo luật HN&GĐ cần theo nguyên tắc, hay không?
Giả thuyết nghiên cứu 3: Xây dựng nguyên tắc bảo vệ quyền trẻ em là vô cùng cần thiết, để bảo vệ trẻ em được hữu hiệu. Xuất phát từ đối tượng bảo vệ là trẻ em với thể chất và tâm thần non nớt, không tự thực hiện được các quyền của mình nên các cha mẹ, gia đình và xã hội phải dành những điều tốt đẹp nhất cho trẻ em. Khi thực hiện mọi việc có nguyên tắc sẽ tạo được tính hiệu quả trong việc thực hiện. Xác định nguyên tắc sẽ xác định được trách nhiệm của mỗi chủ thể trong việc bảo vệ quyền trẻ em. Quyền trẻ em chính là quyền con người, là quyềntựnhiênvốncó trên cơsởnhucầuvàđặcđiểmcủatrẻem vì vậy nguyên tắc thực hiện quyền trẻ em mang đặc thù riêng. Cần nhìn nhận trẻ em như một con người với những nhu cầu, suy nghĩ tình cảm riêng. Người lớn cần tôn trọng những nhu cầu, tình cảm, suy nghĩ đó của trẻ em.
Kết quả nghiên cứu 3: Bảo vệ quyền trẻ em theo luật HN&GĐ được thực hiện trên những nguyên tắc nào?
Thứ nhất: Trẻ em phải được bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền và bổn phận của trẻem trong gia đình. Để thực hiện tốt bốn nhóm quyền cơ bản của trẻ em, cần xây dựng hệthống pháp luật đảm bảo các thành viên gia đình có trách nhiệm thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với trẻ em. Hệ thống pháp luật này phải đầy đủ từ việc ghi nhận các quyền con người của trẻ em, quyền chỉ riêng có của trẻ em, việc tổ chức thực hiện các quyền đó vàcó cơ chế giám sát, xử lý, kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm quyền trẻ em trong gia đình, đặc biệt với các chủ thể có hành vi vi phạm là thành viên gia đình với trẻ em.
Thứhai: Trẻemđượctôn trọng, khôngbịphân biệtđốixử.Trong gia đình không phân biệtđốixửgiữatrẻem namdựatrên giới tính, màu da,sắctộc, hoàn cảnh rađời, không phân biệt trẻ lành lặn phát triển bình thường hay trẻ khiếm khuyết bẩm sinh, tàn tật. Sự thiên vị, đối xử bất bình đẳng trong gia đình sẽ gây những tổn thương đáng kể cho trẻem, đẩy trẻ em đến những khiếm khuyết trong phát triển tâm lý và thể chất.
Thứ ba: Bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em trong các quyết định liên quan đến trẻ em
22
Bảovệquyền trẻ em phảiđược thựchiện trên cơ sở các lợi ích tốt nhấtcủatrẻemđược đảm bảo khi các quyết định của người lớn có liên quan đến trẻ em, phù hợp với nhu cầu khác nhau của trẻ em như: độ tuổi; điều kiện kinh tế-xã hội, điều kiện học tập nơi trẻ em
sinh sống…. Bên cạnh đó, mọi người cần tôn trọng ý kiến của trẻ, tôn trọng sự phát triển
bình thườngcủatrẻtrong các hoạtđộng,chính sách, quy hoạch quốc gia liên quan hoặc không liên quan trực tiếp đến trẻ em. Bảo vệ các quyền của trẻ em theo luật HN&GĐ phảiđảm bảo tính thống nhất và hệ thống với các quy định về quyền trẻ em trong pháp luật quốc tế mà Việt Nam đã tham gia cũng như Luật Trẻ em năm 2016.
1.3.2. Câu hỏi, giả thuyết và định hướng nghiên cứu liên quan đến những quy định pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Câu hỏi nghiên cứu 4: Bảo vệ quyền trẻ em thể hiện trong các quy định về điều kiện kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 và thực tiễn thực hiện như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu 4:
– Khi nam, nữ kết hôn tuân thủ các quy định về điều kiện kết hôn như độ tuổi kết hôn, sự tự nguyện, năng lực chủ thể,… là bảo vệ các quyền của trẻ em.
– Trường hợp cha, mẹ trẻ em đã đăng ký kết hôn nhưng vi phạm một trong các điều kiện kết hôn như: chưa đủ tuổi kết hôn; bị cưỡng ép, bị lừa dối; những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc những người khác có họ trong phạm vi ba đời kết hôn với nhau; người bị mất năng lực hành vi dân sự kết hôn… sẽ bị hủy kết hôn trái pháp luật. Tuy nhiên, đối với con chung sẽ được xem xét giải quyết như khi ly hôn. Luận án giải quyết vấn đề theo hướng hậu quả pháp lý và hậu quả trên thực tế khi các quy định về điều kiện kết hôn bị vi phạm đểlàm rõ cơ sở, ý nghĩa của các quy định pháp luật trong việc bảo vệ quyền trẻ em.
Kết quả nghiên cứu 4:
– Mục đích của quy định các điều kiện kết hôn là các bên nam nữ, sẽ tạo dựng một giađình hạnh phúc, là tổ ấm đúng nghĩa để bao bọc và bảo đảm để các quyền cơ bản của trẻ emđược đảm bảo trên thực tế. Khi nghiên cứu thực tế chúng tôi nhận thấy, tuy các quy định vềkết hôn không bảo vệ trực tiếp các quyền trẻ em nhưng khi các bên nam nữ thực hiện tốt các quy định về điều kiện kết hôn thì các quyền của của trẻ em được bảo đảm thực hiện, đặc biệt là các quyền về khai sinh, có quốc tịch… của trẻ em. Luận án sẽ làm sáng tỏ việc thực thi của các quy định về điều kiện kết hôn trong thực tiễn đời sống xã hội nước ta, đặc biệt làvùng dân tộc thiểu số nơi vẫn tồn tại nhiều tập tục lạc hậu liên quan đến hôn nhân như: tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống… ảnh hưởng đến chất lượng nòi giống của các thế hệ sau. Về điều kiện kết hôn là độ tuổi đã bảo vệ trực tiếp quyền được phát triển của trẻ em, bởi với việc quyđịnhtuổikếthônđãlà ngưỡngđảmbảocho trẻ em có các cơ hộiđểthực hiện quyền được phát triển. Trên cơ phân tích của các nhà khoa học, kết quả nghiên cứu về hậu
23
quả của việc vi phạm các điều kiện kết hôn tới trẻ em để chứng minh thực tiễn áp dụng quyđịnh pháp luật về độ tuổi kết hôn ở nước ta.
– Việc giải quyết hậu quả là con chung trong trường hợp hủy kết hôn trái pháp luật trên thực tế có nhiều vướng mắc. Việc nhận diện những vướng mắc đó khi áp dụng pháp luật HN&GĐ có ý nghĩa đối với việc bảo vệ quyền trẻ em.
Câu hỏi nghiên cứu 5:
Quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình theo Luật HN&GĐ năm 2014 và thực tiễn thực hiện thể hiện việc bảo vệ quyền trẻ em như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu 5:
– Quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong quan hệ hôn nhân có tác động nhất định đến bảo vệ quyền trẻ em. Việc tôn trọng và thực hiện các quyền nhân thân giữa vợ chồng sẽ tạo môi trường sống lành mạnh, văn minh giúp con phát triển. Các quyền về tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng cũng được quy định một mặt để bảo vệ quyền sở hữu tàisảncủavợchồng,mặtkhác làđảmbảothực hiện quyền và nghĩavụchăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Để bảo vệ quyền của trẻ em thì một số quyền nhân thân, tài sản của vợ hoặc chồng cũng bị hạn chế trong một số trường hợp.
– Quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ với con là nhiệm vụ quan trọng của luậnán bởi đây là các quy định có tác động trực tiếp đến bảo vệ các quyền của trẻ em trong giađình. Các nghĩavụchăm sóc, nuôi dưỡng,bảovệvà giáodục trẻem có làcơ sởđểcác quyền cơ bản của trẻ em được thực hiện hay không, đặc biệt là quyền được sống của trẻ em. Trong trường hợp cha mẹ và các thành viên khác trong gia đình không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ với trẻ em sẽ dẫn đến các quyền trẻ em bị xâm hại trong chính gia đình của trẻ em thì cần làm giải quyết thế nào để đảm bảo vừa xử lý hành vi vi phạm vừa đảm bảo quyền của trẻ em. Các hình thức xâm hại đa dạng và gây những hậu quảkhác nhau đối với từng đứa trẻ. Các hành vi giống nhau nhưng chưa chắc đã gây những hậu quả giống nhau, nhưng những tổn thương chắc chắn sẽ tồn tại trong mỗi đứa trẻ.
– Để bảo vệ trẻ em, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định quyền và nghĩa vụ của thành viên khác trong gia đình gồm: anh, chị với em, ông bà nội ngoại, cô, dì, chú bác với cháu… Nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc của các thành viên khác trong gia đình đối với trẻ em được thực hiện khi trẻ em không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng để chăm sóc, nuôi dưỡng con.
Kết quả nghiên cứu 5:
– Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong các quy định về quyền nhân thân và quyền tài sản là nền tảng tạo môi trường sống tốt đẹp cho trẻ em. Vợ chồng cùng thực hiện các quyền và nghĩa vụ với nhau và cùng có nghĩa vụ chung là nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con
24
chưa thành niên nên người. Khi vợ chồng cùng thực hiện tốt các nghĩa vụ với nhau sẽ là cơsở cho việc cùng thực hiện nghĩa vụ chung với con.
– Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con, quyền vànghĩa vụ vợ chồng trong việc bảo vệ quyền được sinh hoạt, đảm bảo chỗ ở cho gia đình, việc sử dụng nguồn lợi, lợi tức, chỗ ở duy nhất của vợ chồng… không được làm ảnh hưởngđếnsinh hoạt bình thườngcủacon. Trong trườnghợply hôn hoặc các trườnghợpkhác, người cha hoặc người mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên phải có nghĩa vụ đóng góp để nuôi dưỡng con, có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục con theo quy định của pháp luật, quy định cho chế độ thăm con đối với người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con sau ly hôn… Các nghĩa vụ của cha mẹ với trường hợp nuôi con nuôi với mục đích xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình.
Khi trẻ em không còn người nuôi dưỡng, chăm sóc thì các nghĩa vụ này sẽ do thành viên khác của gia đình thực hiện để đảm bảo cho trẻ em không bị bỏ rơi, không người nuôi dưỡng. Ngoài ra những nội dung cụ thể sẽ được nghiên cứu bao gồm:
(i) Nghiên cứu về trách nhiệm đáp ứng điều kiện dinh dưỡng và tình yêu thương của của cha mẹ đối với con trong trường hợp trẻ em sau ly hôn. (ii) Bảo vệ quyền được biết cha mẹmình theo Luật HN&GĐ năm 2014 quyđịnhcăncứxácđịnhcha,mẹchotrẻem. Quyền được biết về nguồn gốc của trẻ em thể hiện sự tôn trọng của pháp luật đối với sựphát triển bình thường của trẻ cũng như liên quanđếnhuyết thốngcủa trẻsau này. Trên thực tế, quyền này đang bị hạn chế trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
– Luận án nghiên cứu về các hành vi xâm hại về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của trẻ em từ cha, mẹ, người thân thích của trẻ. Nhóm hành vi này sẽ được phân tích dưới hai góc độ đó là dưới góc độ nhóm quyền sống còn của trẻ em và nhóm quyền bảo vệ trẻ em. Trongnộidung nhóm quyền sống còn, các hành vi nàyđượcxácđịnhlà các hành vi nghiêm trọng dẫn đến tử vong ở trẻ em. Khi trẻ em bị xâm hại, hành hạ… tước đi mạng sống của trẻ thì việc xử lý cần nghiêm khắc hơn để tính răn đe của pháp luật được tôn trọng vàhạn chế những hành vi bạo lực như vậy với trẻ em. Luận án sẽ làm rõ các nguy cơ từ môi trường sống, yếu tố kinh tế – xã hội, trình độ hiểu biết của cha mẹ, người chăm sóc… đe dọa tước đi mạng sống của trẻ em. Chỉ khi phân tích được các nguy cơ này thì việc xây dựng các biện pháp phòng ngừa tai nạn, phòng ngừa các hành vi gây tổn thương cho trẻ em, từ đóxây dựng các quy định cụ thể để cha mẹ thực hiện, giảm bớt những nỗi đau trong mỗi giađình và xã hội.
– Trước thực tế trẻ em bị xâm hại ngày càng gia tăng, đặc biệt là việc xâm hại tình dục trẻ em trong gia đình ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tinh thần của trẻ em. Bên cạnh đó, những hoàn cảnh khách quan như thiên tai, dịch bệnh, cha mẹ ly hôn… cũng khiến trẻ em bị sốc
25
tâm lý, gây hoang mang, sợ hãi cho trẻ. Nghĩa vụ của cha mẹ và các thành viên gia đình như thế nào để giúp đỡ trẻ em nhanh chóng thoát khỏi tình trạng như vậy.
– Luận án sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích môi trường gia đình thiếu an toàn, sự lơlà và thiếu nhận thức của cha mẹ và người trực tiếp chăm sóc trẻ về nguy cơ tai nạn thương tích có thể xảy ra với trẻ em… Đồng thời, luận án đề cập đến vấn đề rối loạn tâm lý của trẻem hiện đang gia tăng cả về số lượng và mức độ tổn thương để làm rõ trách nhiệm của cha mẹ đối với việc quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em trước áp lực học hành, bạo lực giađình, bạo lực học đường…
Câu hỏi nghiên cứu 6: Quy định về ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 và thực tiễnáp dụng thể hiện việc bảo vệ quyền trẻ em như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu 6: Khi cha mẹ ly hôn, quyền được chung sống cùng cha mẹ của trẻ em không được đảm bảo thực hiện. Do vậy pháp luật quy định việc giao con chưa thành niên cho một bên trực tiếp nuôi, quyền và nghĩa vụ của người trực tiếp nuôi con, quyền vànghĩavụcủabên không trực tiếp nuôi con. Các quyđịnhđónhằmmụcđích giảm thiểu những tác động tiêu cực đối với trẻ em khi cha mẹ ly hôn.
Kết quả nghiên cứu 6:
– Từ Điều 81 đến Điều 84 Luật HN&GĐ năm 2014 thể hiện rõ việc bảo vệ quyền trẻem khi cha mẹ ly hôn như: Phân tích điều kiện sống đảm bảo cho sự phát triển của trẻ khi quyết định trẻ sống cùng cha hoặc mẹ, hỏi ý kiến trẻ khi đủ 7 tuổi trước khi quyết định trẻ sẽởcùng ai,chế độ cấpdưỡngcủamộtbên không trực tiếp nuôi con nhằmđảmbảocon cócuộc sống đầy đủ… Việc phân tích khủng hoảng tâm lý của trẻ em, điển hình là sợ sệt trước những biến cố, luận án sẽ tiếp tục phát triển để làm rõ hơn các khủng hoảng của trẻ em khi gặp những hoàn cảnh dễ gây tổn thương cho trẻ em, qua đó để thấy được trách nhiệm của cha hoặc mẹ trẻ trong việc giúp trẻ em nhanh chóng tìm được sự cân bằng để tiếp tục phát triển.
– Quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ sau ly hôn đã được quy định rõ, tuy nhiên trong thực tế còn những vướng mắc liên quan đến vấn đề cấp dưỡng, chăm sóc con hay việc thăm nom con… Luận án nghiên cứu để đưa ra những kiến nghị nhằm khắc phục những tồn tại, vướng mắc cũng như hạn chế những tác động tiêu cực đối với trẻ em khi cha mẹ ly hôn.
Câu hỏi nghiên cứu 7: Bảo vệ quyền trẻ em thể hiện trong các quy định về hạn chếquyềncủachamẹvớicon theo Luật HN&GĐ năm 2014 vàxửlý các hành vi vi phạm quyền trẻ em như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu 7: Các hành vi vi phạm quyền trẻ em của cha, mẹ, người thân thích phải được xem xét xử lý với các chế tài tương ứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm và hậu quả gây ra đối với trẻ em.
Kết quả nghiên cứu 7:
26
– Để bảo vệ quyền trẻ em, cha, mẹ có thể bị Tòa án quyết định hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, xử lý vi phạm hành chính hoặc hình sự tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm quyền trẻ em.
– Hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên được coi là biện pháp chế tàiáp dụngđốivớingườicha,ngườimẹkhi có hành vi xâm phạm nghiêm trọngđếntính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con chưa thành niên hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên. Biện pháp này được áp dụng khi các hành vi xâm phạm chưa đến mức xử lý hành chính.
– Khi cha mẹ có những hành vi vi phạm quyền trẻ em đến mức xử lý vi phạm hành chính và pháp luật hình sự sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật xử lý vi phạm hành chính vàpháp luật hình sự.
1.3.3. Câu hỏi,giảthuyết vàđịnhhướngnghiêncứuliên quanđến địnhhướng hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình về bảo vệ quyền trẻ em
Câuhỏinghiêncứu8:Địnhhướngnghiêncứuđốivớicác quyđịnhpháp luật HN&GĐ trong việc bảo vệ quyền trẻ em như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu 8:
– Bảo vệ quyền trẻ em theo pháp luật HN&GĐ nói chung và Luật HN&GĐ nói riêng cần tuân theo nhữngđịnhhướngnhấtđịnh.Địnhhướngđóđảmbảo tính thống nhất của pháp luật, tôn trọng quyền con người của trẻ em nhưng phải phù hợp và hài hòa và quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khác trong gia đình và xã hội.
– Bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ HN&GĐ bảo đảm phù hợp với xu hướng thờiđại và tiến tới các chuẩn mực quốc tế về bảo vệ quyền trẻ em. Là quốc gia đang phát triển, Việt Nam đang phải đối mặt với sự tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường, những thách thức từ việc mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ kéo theo nhiều vấn đề xã hội có liên quanđến trẻ em và gia đình… nên việc định hướng hoàn thiện pháp luật HN&GĐ trong việc bảo vệ quyền trẻ em là vô cùng cần thiết.
Kết quả nghiên cứu 8:
Bảo vệ quyền trẻ em trên nguyên tắc đảm bảo quyền con người không chỉ là xu hướng phát triển phát luật của riêng bất kỳ một quốc gia nào mà đã trở thành xu thế tất yếu trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật của các nước trên thế giới. Pháp luật Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó.
Trên cơ sở đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người, hệthống pháp luật Việt Nam, pháp luật HN&GĐ có tránh nhiệm cụ thể hóa đường lối chính sáchcủaĐảngvà Nhànướcvềquyền con người, quyềntrẻem vàbảovệquyềntrẻem
27
trong các vănbảnpháp luậtđể điềuchỉnh và quản lý xãhộinói chung vàbảovệ thếhệtương lai của đất nước nói riêng.
Việc định hướng hoàn thiện pháp luật HN&GĐ phải kế thừa truyền thống văn hóa tốtđẹp của dân tộc, xác định và hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền trẻ em trên cơ sở gia đình tiếp tục là tổ ấm, là “pháo đài” trong việc bảo vệ trẻ em và quyền trẻ em.
1.3.4. Câu hỏi, giả thuyết và định hướng nghiên cứu liên quan đến giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình về bảo vệquyền trẻ em
Câu hỏi nghiên cứu 9: Các giải pháp hoàn thiện Luật HN&GĐ năm 2014 về bảo vệquyền trẻ em và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em theo Luật HN&GĐ?
Giả thuyết nghiên cứu 9:
Trên cơ sở phân tích định hướng hoàn thiện pháp luật HN&GĐ, nghiên cứu sinh đềxuất một số giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật HN&GĐ về bảo vệquyền trẻ em. Trong đó, các kiến nghị tập trung vào việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con.
Các quyền và lợi ích hợp pháp của con không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ, tuy nhiên có một số trường hợp cha mẹ không phải là vợ chồng, không còn là vợchồng nên không sống chung với nhau thì việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với con cónhững điểm khác so với trường hợp cha mẹ sống chung với nhau. Vì vậy, cần có quy định mang tính khái quát để bảo vệ trẻ em trong trường hợp cha mẹ không sống chung với nhau.
Kết quả nghiên cứu 9:
– Luật HN&GĐ năm 2014 cần có quy định cụ thể để định hướng hành vi của cha mẹvà người thân thích của trẻ em trong việc yêu thương, chăm sóc, trông nom trẻ em để bảođảm quyền của trẻ em một cách hiệu quả nhất, đồng thời làm căn cứ đối chiếu, so sánh vàxử lý khi cha mẹ có hành vi vi phạm quyền trẻ em.
– Cần thiết đặt ra thứ tự ưu tiên trong việc trông nom, chăm sóc trẻ em để tránh trường hợp cha, mẹỷ lại việctrông nom, chăm sóc trẻ em cho ông bà hoặc ngược lại có những người làm cha, mẹ từ chối, ngăn cản việc ông bà trông nom, chăm sóc cháu.
– Quy định về nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con khi cha mẹ không sống chung với nhau nhằm hướng đến mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của con chưa thành niên… tạođiều kiện thuận lợi nhất cho trẻ em có thể phát triển bình thường trong mọi hoàn cảnh, không bị ảnh hưởng bởi quan hệ của cha mẹ.
28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu các nội dung về quyền trẻ em rất phong phú, bởi đâylàchủthểđặcbiệtđể được hưởng và thực hiện các quyền con người. Trên thực tế các công trình nghiên cứu về vấn đề trẻ em rất đa dạng, dưới nhiều hình thứcđồng thời đâycũng là chủ đề được nhiều nhà khoa học nghiên cứu,đặc biệt các nhàkhoa học xã hội.
Về tình hình nghiên cứu ở nước ngoài, Luận ánđãđề cập đến cácvấn đềcơ sởlý luận, thực trạng và các giải pháp bảo đảm quyền trẻ em theo pháp luật quốc tế màtiêu biểu Công ước Quyền trẻ em. Các công trình nghiên cứu khoa học của các trường đại học của Hà Lan, Mỹ, Anh… ; các bài viết được dịch từ nước ngoài của các tổ chức phi chính phủ như Unicef; Tổ chức bảo vệ trẻ em của Thụy Điển quỹQuyền trẻ em, các tài liệu tập huấn về quyền trẻ em… Hầu hết các tác giả đềuluận giảivề trẻem, quyền trẻ em và các biện pháp thúc đẩy thực hiện quyền trẻ em được xem là một trong các hình thức bảo vệ trẻ em.
Về tình hình nghiên cứu ở trong nước, các công trình nghiên cứulà luận án, luận văn, các bài viết chuyên khảo, các bài tạp chí khoa học chuyên ngành, bài tạp chí trong nước… đã cung cấp cơ sở lý luận, thực trạng và các giải pháp về bảo vệ quyền trẻ em trong thực tiễn với những nội dung, nhóm hoặc quyền trẻ emcụ thểcụ thể. Công trình khoa học có giá trị tham khảo cho luận án là Đề tàinghiên cứu khoa học của Trường Đại học Luật Hà Nội đã tiếp cận việc bảo vệ quyền trẻ em trong môi trường gia đình.
Trên cơ sở đó, luận án đã đánh giá, nhận xét và xác định nội dung nào trong các công trình được kế thừa, nội dung nào luận án tiếp tục phát triển, làm rõ trên cơ sở các nhóm quyền cơ bản của trẻ em phù hợp với đề tài của luận án.
Luận án cũng đã xác định 09 (chín) giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu theo từng nội dung để luận án sẽ làm rõ ở các chương cụ thể. Nội dung này luận án trình bày lần lượt gồm câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu và kết quả nghiên cứu để thấy rõ từng bước nghiên cứu của luận án.
29
Chương 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM
VÀ BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
2.1. Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền trẻ em 2.1.1. Khái niệm trẻ em
Trẻ em là thuật ngữđược sửdụng thường xuyên trong đời sống xã hội cũng nhưtrong các ngành khoa học. Tùy từng góc độ tiếp cận khác nhau mà có thể đưa ra những cách hiểu khác nhau về trẻ em.
Dưới góc độ triết học Mác – Lênin về bản chất con người, trẻ em được xem xét là con người trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển của tự nhiên và xã hội. Sựhình thành và phát triển của con người tuân theo các quy luậttựnhiên đồng, thời tácđộng vào tựnhiên nhằm cải biến tự nhiên theo mục đích của con người. Quá trình này
tạo nên “tính xã hội của con người”15. Với tính chất là một thực thể sinh học, trẻ em cósựphát triển thống nhất, hài hòa giữa yếu tốsinh học và yếu tố xã hội. Về mặt sinh học, đó là quá trình từkhi hình thành phôi thai, đến khi trẻ đượcsinh ra và trưởng thành, là quá trình phát triển theo quy luật sinh học tựnhiên của đời sống con người mà không thể thay đổi được. Trong quá trình phát triển tự nhiên theo quy luật sinh họcđó, trẻ em luôn chịu tác động, ảnh hưởng của các yếu tố xã hội, chính là môi trường sống của trẻ em. Về mặt xã hội, đó là quá trình phát triển tâm lý, tình cảm, nhận thức,ý thức, thái độ, đạo đức, nhân cách… của trẻ em thông qua các mối quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống hằng ngày, qua quá trình giáo dục, học tập, laođộng của trẻ em với những người xung quanh, mà trước hết là với cha mẹ, người thân trong gia đình.
Dưới góc độ xã hội, trẻ em là một thành phần của cơ cấu xã hội, theo các tiêu chí như: nhân khẩu, giới tính, người già, người trẻ. Dưới góc độ này, trẻ em là một đối tượng của các hoạt động thống kê xã hội học, là lực lượng lao động quyết định sự phát triển xã hội sau này, là người đang trong quá trình tiếp nhận, học hỏi những chuẩn mực xã hội.
Dưới góc độsinh học, dựa trên những quy luật, đặc điểm các giaiđoạn phát triển của con người về thể chất trẻ em. Theo đó, trẻ em là con người, là thực thể đang phát triển, tựvận độngtheo quy luật tự nhiên của giai đoạn phát triển đầu trong vòng đời, bắt đầu từtrong bào thai và sinh ra đến trước tuổi trưởng thành. Có nghĩa “trẻ em” là con ngườitừkhi mới sinh ra cho đến khi trưởng thành. Trên cơ sở nghiên cứu nhân chủng học sinh học hay nhân học thể chất đối với lịch sử phát triển của loài người thì
15 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học Mác – Lê nin, Nxb. Chính trị quốc gia, 2006, trang 392.
30
hầu hết trẻ em đều tuân theo cùng một sơ đồ tăng trưởng và phát triển. Tuy nhiên, tuỳthuộc vào nhân tố di truyền, bẩm sinh, vào hoàn cảnh sống và giáo dục của gia đình vàcộng đồng mà mỗi trẻ em lại tăng trưởng và phát triển một cách riêng. Như vậy, dưới góc độ sinh học, trẻ em là con người chưa phát triển đầyđủ về thểchất và các chức năng trong cơ thể đang tiếp tục được hình thành, thayđổi và phát triển ở từng giai đoạn theo quy luật sinh học tự nhiên.
Dưới góc độ tâm lý học, trẻ em chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý – nhân cách con người. Các nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu sự phát triển tâm lý của con người nói chung và trẻ em nói riêng trong độtuổi từlúc lọt lòng đến hết tuổi dậy thì. Tâm lý học trẻ em dựa trên triết học duy vật biện chứng. Phân tích cơ chế về sự phát triển của trẻ em có thể nhận ra những đặc điểm, những mối quan hệ giữa nền văn hoávới sựphát triển của trẻ em, giữa hoạt động của chính trẻ em với sự phát triển của nó, giữa giáo dục của người lớn với sựphát triển của trẻ em… Những mối quan hệ này mang tính phổ biến và tính tất yếu, ảnh hưởng lớn đếnsựphát triển tâm lý trẻem.Điều này chứng minh rằng tâm lý, ý thức con người do xã hội quyết định. Một trong các yếutố ảnh hưởng đến sựhình thành nhân cách, các khả năng riêng biệtcủamỗiđứa trẻ đó chính là môi trường giáo dục, đặc biệt là giáo dục của gia đình.
Qua nghiên cứu của khoa họctâm lý và khoa học sinh học nhận thấy,mỗigiaiđoạn phát triển về thể chất của trẻ em sẽ có sự phát triển tương ứng về tâm lý của trẻem thông qua những nét tính cách, tâm lý luôn phù hợp với lứa tuổi. Khoa học di truyền đã chứng minh các điều kiện sinh học như các yếutố cấu tạocơ thể người,hệthần kinh, bộ não người mà trẻem nhận được từcha mẹ mình…là tiền đề vậtchất, là phương tiện để nảy sinh và phát triển tâm lý. Các yếu tố trên có khả năng trở thành các cơ quan hoạt động tâm lý cực kỳ phức tạp mà chỉ con người mới có. Bộ não của con người cùng với các cơ quan của cơ thể là tiền đề vật chất để một cá thể trở thành một con người. Cùng với tiền đề vật chất đó,trẻ em được hòa mình vào các quan hệvới những người khácđể hình thành nhận thức, tình cảm, ý chí… Từkhi chỉ đơn giản làtiếng khóc, nụ cười, dần đến tiếp xúc, vận động, biết chơi và bắt chước, cao hơn nữa làbiết phân biệt, thểhiện cá tính, hình thành nếp sống, thói quen, những hành vi có ýthức. Với mỗi lứa tuổicủatrẻ em, các nhà tâm lý đã khái quát các đặc điểmtâm lýtheo sự phát triển tương ứng với từng độ tuổi. Các đặc điểm tâm lý này là sự phát triển khách quan theo quy luật vận động và phát triển… với sựđịnh hướng giáo dục của người lớn tạo nên những đặc điểm tính cách của trẻ. Những đặc điểmnày mang tính phổ quát của từng lứa tuổi. Từ0 đến1 tuổi trẻ đã cảm nhận được tình cảm của người mẹ, của các thành viên trong gia đình.Từ01 đến 03 tuổi trẻ phát triển ngôn ngữ, chủ động tiếp xúc với người lớn, hiểu lời nói trước khi biết nói. Từ 03 đến 06 tuổi, trẻ em nhận ra vị trí của mình giữa mọi người. Từ 06 đến 11 tuổi, nhân cách của trẻ em được hình thành với những nếp sống, thói quen, những hành vi có ý thức, tự khép mình vào
31
quy tắc xã hội hoặc theo những giá trị bản thân đã chấp nhận.Từquan hệ ruột thịt dần dần chuyển sang quan hệ xã hội, trẻ có sự thay đổi môi trường sống, không phải môi trường quen thuộc như trước đây mà vươn ra quan hệ ngoài xã hội như là quan hệ thầy cô, bạn bè. Từ 11 đến 16 tuổi, trẻ em có sự thay đổi cấu trúc nhân cách, từ trẻ em sang người lớn trưởng thành, các em cần có chỗ dựa tình cảm của người thân để tâm sự và chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm16. Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp ngoại lệ, một số trẻkhông tuân theo các quy luật chung bởi các khiếm khuyết hoặc tác động của môi trường bên ngoài, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trẻ.
Dưới góc độ luật học, các văn kiện pháp lý quốc tế và hệ thống pháp luật của các quốc gia đều xác định trẻ em căn cứvào độ tuổi. Độ tuổi đó là mốc cơ bản phân biệt giữa trẻ em và người trưởng thành trên cơ sở nghiên cứu của các ngành khoa học như: tâm lý học, y học, giáo dục học… Thông qua độ tuổi sẽ xácđịnhđược những đặc tính chung tương ứng về các giai đoạn phát triển thể chất, nhận thức và tâm sinh lý của con người trong quá trình phát triển.
Trong các văn kiện pháp lý quốc tếnhư: Tuyên ngôncủaLiên Hiệp Quốcvề Quyền trẻ em năm 1959, Tuyên ngônThếgiới về Quyền con người năm 1948, Công ước Liên Hiệp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989 (sau đây gọi là Công ước về Quyền trẻ em), Công ước 138 của Tổ chức Lao động quốc tế về tuổi tối thiểu làm việc năm 1976… thì tuổi trẻ em được xácđịnhtương đối thống nhất. Theo đó, các văn kiện pháp lý quốc tế đều thống nhất quan điểm trẻ em, do chưa trưởng thành về tinh thần và thể lực cần có sựbảo vệ và chăm sóc đặcbiệt, bao gồm sựbảo vệ vềmặtpháp lý thích hợp, trước cũng như sau khi sinh và xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi. Theo Điều 1 Côngước vềQuyền trẻ em, văn bản pháplý được thừa nhận rộng rãi trên toàn thế giới, ghi nhận: “Trẻ em là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
Ở các văn bản khác của các tổ chức quốc tế như: Liên Hiệp Quốc (LHQ), QuỹDân số (UNFPA), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO)đều xác định độ tuổi củatrẻ em là người dưới 18 tuổi và xácđịnhđộ tuổi tối thiểu để trẻ emcó thể tham gia các hoạt động lao động khác.
Trên cơ sở các văn kiện pháp lý quốc tế, so sánh pháp luậtcủa một số quốcgia trên thế giới nhận thấy, đa số quốc gia quy định trẻ em là người dưới 18 tuổi. Điều 2 Luật Bảo vệ người chưa thành niên của Trung Quốc quy định: Trẻ em còn được gọi là trẻ chưa thành niên, là công dân dưới 18 tuổi,… Pháp luật Nhật Bản, tại Điều 4 Luật Phúc lợi trẻ em năm 1947 và pháp luật hiện hành quyđịnh trẻ em là người dưới 18
16 Đơn vị Tâm lý – Bệnh viện Nhi đồng Thành phố, “Các giai đoạn phát triển tâm lý của trẻ từ 0 đến 16 tuổi”, ngày 20/8/2020. https://bvndtp.org.vn/cac-giai-doan-phat-trien-tam-ly-cua-tre-tu-0-den-16-tuoi/. Ngày truy cập 29/8/2020.
32
tuổi. “Theo Luật Liên bang Nga số 124 – FZ ngày 21/7/1998 (sửa đổi), thì trẻ em được hiểu là ngườiở độ tuổidưới 18 tuổi”17. Theo pháp luật Liên bangcủaHoa Kỳ thì “trẻem là người dưới 18 tuổi”. Tại một số quốc gia Bắc Âu như Thụy Điển, Đan Mạch, Hà Lan… là những nước có nền kinh tế phát triển ổn định, chú ý nhiều hơn đến vấn đề an sinh xã hội cho con người thì có quy định lớn hơn về độ tuổi trẻ em. Cụ thể, luật pháp các quốc gia này quy định trẻ em là người dưới hai mươi tuổi 18.
Do điều kiện, chính sách pháp luật của mỗi quốc gia khác nhau và trên cơ sởquyđịnh của Công ước về Quyền trẻ em, một số quốc gia trên thếgiới xác địnhđộtuổi của trẻ em là thấp hơn so với quy định tại Điều 1 Công ước. Với tư cách là thành viên của Liên Hiệp Quốc, Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và nước thứ hai trên thếgiới tham gia Công ước về Quyền trẻ em (vào năm 1990). Theođó,Việt Nam nội luật hóa các qui định của Công ước trong văn bản pháp luật về trẻ em. Theo Điều 1 Luật Trẻem năm 2016 thì “trẻ em là những người dưới 16 tuổi”. Cùng với khái niệm trẻ em, pháp luật Việt Nam còn có khái niệm “người chưa thành niên”. Theo đó, khái niệm “trẻ em” hẹp hơn khái niệm “người chưa thành niên”, bởi người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em và những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Quy định này của pháp luật Việt Nam không trái với Công ước về Quyền trẻ em vì việc xác định độ tuổi của trẻ em được căn cứvào các yếutố nhân chủng học, các chỉsố phát triển tâm sinh lí, thể lực, trí lực của con người nói chung, cũng như các điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam.
Như vậy, hầu hết các quốc gia đều nhìn nhận trẻ em dựa trên cơ sở độ tuổi và có sựkhác nhau ở một số quốc gia. Việc qui định khác nhau như vậy dựa vào điều kiện lịch sử, văn hóa và kinh tế của mỗi đất nước.Do đó, có những quốc gia qui định độtuổi trẻ em là dưới 18 tuổi, có quốc gia quy định tuổi trẻ em dưới 16 tuổi, có quốc gia lại quy định tuổi trẻ em dưới 20 tuổi.
Theo quan điểm của chúng tôi, xác định trẻ em theo độ tuổi là căn cứ phù hợp với thông lệ quốc tế, trên cơ sở khoa học sự phát triển về thể chất, tâm lý của trẻ em. Trẻ em dù ở độ tuổi nào theo cách xác định của các quốc giađượchưởng mọi quyền con người và quyềntựdo đãđược nêu ra trong các Côngước Quốc tế vềquyền con người mà không bịbấtcứmột sựphân biệtđối xửnào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc quan điểm khác, địa vị, nguồn gốc dân tộc và xãhội, tài sản, dòng dõi hoặc mối tương quan khác. Bởitrẻ em là người chưa trưởng thành nên có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ và tham gia mọi vấn đề liên quan đến bản thân mình để bày tỏ quan điểm, chính kiến của mình. Tuy độ tuổi được
17 Tăng Thị Thu Trang, Quyền trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện Khoa học xã hội, 2016, tr.25.
18 Hoàng Thị Thùy Dung (2014), Các quyền cơ bản của trẻ em theo pháp luật Việt Nam hiện hành, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.5.
33
coi là trẻ em ở mỗi quốc gia có khác nhau nhưng nhìn chung các quốc gia đều thống nhất quan điểm: trẻ em có đặc điểm thể chất và trí tuệ chưa trưởng thành nên cần có sựchăm sóc, giáo dụcđặc biệt của gia đình, nhà trường, xã hội cả vềmặt đạo đức và pháp lý.
Như vậy, có thể hiểu: Trẻ em là những người đang ởmột độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu phát triển của con người, có những đặc điểm về thể chất và tâm lý chưa hoàn thiện cần được pháp luật bảo vệ và điều chỉnh bằng quy chế pháp lý đặc biệt.
Kết quảnghiên cứu của các ngành khoa học xác định trẻ em có những nét riêng biệt mang tính phổ quát chung về thể chất và tâm lý con người cụ thể như sau:
Về thể chất: Trẻ em làmộtthực thể chưa phát triểnđầy đủvềthể chất, sẽ tiếp tục thay đổi, trưởng thành tuân theo quy luật chung về sinh học. tự vận động theo quy luật của bản thân nó. Sự vận động về thể chất mang tính tất yếu của trẻ em do quá trình
phát triển bên trong của mỗingười.Mọitrẻemđều tuân theo những giai đoạntăng trưởng và phát triển nhất định về cơ thể (xương, răng, chiều cao, cân nặng, năng lực vận động, lẫy, bò, đi, chạy… ) và về tâm lí – xã hội (phát triển ngôn ngữ, tư duy, tình cảm, quan hệ bạn bè… ). Khoa học về nhân chủng học cũng chứng minh sự phát triển của các hoóc- môn tăng trưởng ở người (HGH- Human Growth Hormone) do tuyến yên tại não tiết ra có nhiệm vụ giúpbảotrì và tái tạo cáctế bào sẽđặc biệtphát triển mạnh mẽ trong giai đoạn sơ sinh và dậy thì của mỗi đứa trẻ. Các hóc-môn này tiết ra mạnh mẽ nhất khitrẻ em được hoạt động và ngủ đầy đủ.Như vậy, với sinh hoạt bình thường của mỗi đứa trẻ, các hóc-môn tăng trưởng sẽ tăng tiết theo sựphát triển một cách tự nhiên theo từng giai đoạn phát triển và điều kiện sống bình thường. Trẻ em làmột cơ thể đang lớn và phát triển vì vậy tăng trưởng là một đặc điểm sinh học cơ bản của trẻ em. Tăng trưởng gồm hai quá trình: lớn và phát triển. Quá trình lớn chỉ sự tăng trưởng khối lượng do sự tăng sinh và phì đại của tế bào. Quá trình phát triển chỉ sự biệt hóa về hình thái vàsựtrưởng thành về chức năng của các bộ phận và hệ thống trong cơ thể19. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trẻ em được tính từ 0 đến 18 tuổi và chia thành các giai đoạn sau: Sơ sinh từ 0 -1 tháng tuổi, trẻ bú mẹ từ1- 23 tháng tuổi, trẻ em tiền học đường từ 2 – 5 tuổi, Trẻ nhi đồngtừ6 – 12 tuổi và trẻ vị thành niên từ 13 – 18 tuổi. Mỗi giai đoạn này đều gắn với những đặc điểm phát triển, hoàn thiện dần của các bộ phận, chức năng của các cơ quan trong cơ thể: Ví dụ: (i) Giai đoạn sơ sinh và nhũ nhitừ0 đến 2 tuổi: là giaiđoạncác cơ quan trong cơ thể đang dần hoàn thiện,hệmiễn dịch còn non yếu. (ii) Giai đoạn tiền học đường từ2 đến 5 tuổi: Chức năng cơ
19 Tổng hội y học Việt Nam – Viện Y học ứng dụng Việt Nam, “Phát triển thể chất cuả trẻ em”,
http://vienyhocungdung.vn/phat-trien-the-chat-cua-tre-em-20160331141007081.htm, 01/4/2016, truy cập ngày 23/8/2020.
34
bản của các bộ phận dần hoàn thiện, chức năng vận động và hệ cơ phát triển nhanh, trí tuệ trẻ phát triển nhanh, đặc biệt về ngôn ngữ. (iii) Thời kỳ nhi đồngtừ6 đến 12 tuổi: Các cơ quan cũng đã hoàn chỉnh về cấu tạo và chức năng. Vỏ não đã hoàn toàn biệt hóa, các chức năng phát triển mạnh và phức tạp hơn. Trẻ đã biết suy nghĩ, phán đoán và trí thông minh cũng dần phát triển. (iiii) Thời kỳ vị thành niên: Tuổi dậy thì được giới hạn khác nhau tùy theo giới tính, môi trường và hoàn cảnh kinh tế – xã hội. Trẻ emgái thường bắt đầu từlúc 13 – 14 tuổi, kết thúc vào 17 – 18 tuổi. Trẻ em trai thường bắt đầutừ15 – 16 tuổi, kết thúc lúc 19 – 20 tuổi. Trong giai đoạn này, chức năng các tuyến sinh dục hoạt động mạnh., tâm sinh lý như cảm xúc giới tính, tính khí, nhân cách cũng thay đổi20.
Như vậy, sự phát triểnvề thểchấtcủatrẻ em qua các giaiđoạnhoàn toàn tuân theo qui luật tự nhiên, đặc biệt sẽ phát triển tốt hơn khi được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu. Nhữngbiến động ở cáclứa tuổi trong các giai đoạn phát triển thể chất nhất định sẽ kéo theo sựphát triển tâm lý và hình thành tính cách mà khó có thể tác động để kìm hãm hay kéo dài sự phát triển.
Về tâm lý, nhận thức: Mỗi trẻ em là một con người với tâm sinh lý chưa trưởng thành, tiếp tục hình thành và phát triển theo từng độ tuổi phùhợpvới quá trình phát triển thểchất, chịu sựtác độnglớn của môi trường xã hội. Trong quá trình tăng trưởng và phát triển của trẻ em, cơ thể đạt đến một độ chín nhất định thì năng lực, chức năng tương ứng mới có cơ sở để hình thành. Nguyên lý phát triển thừa nhận mọi sựvật đều vận động không ngừng và chuyển hoá lẫn nhau để luôn tạo ra cái mới. Cái mới chỉ có thể nảy sinh bằng cách phủ định cái trước đó, để rồi tự hình thành và hoàn thiện bản thân trên cơ sở của chính mình. Mỗi con người trưởng thành đều cần trải qua quá trình trẻ em lĩnh hội kinh nghiệm lịchsử- xãhộiđượcloài người sángtạora vàgiữlại trong nền văn hoá, bằng hoạt động của chính trẻ em và luôn luôn được người lớn hướng dẫn – tức là giáo dục. Đây chính là cơ chế về sự phát triển tâm lý của trẻ em. Phân tích cơ chếvề sựphát triển của trẻ tadễ nhận ra những đặcđiểm, những mối quan hệ giữa nền văn hoá vớisựphát triển tâm lý của trẻ em, giữa hoạt động củatrẻem với sự phát triển của chính nó, giữa giáo dục của người lớn với sự phát triển của trẻ em… Những mối quan hệ này mang tính phổ biến và tính tất yếu ảnhhưởng lớn đến sựphát triển tâm lý trẻ em, đó chính là quy luật.
Cùng với quy luật phát triển của con người, mọi trẻ em đều trải qua những giaiđoạn phát triển tâm lýđặc trưng giống nhau theomộttrìnhtựnhất định.Trong giai đoạnsơ sinh (từ 0 đến 1 tuổi), các em chỉ cần được người lớn thỏa mãn những nhu cầu bản năng như ăn, ngủ, đi lại, chơi… Giaiđoạn từ1 tuổi đến 3 tuổi, các em đã đủ hiểu
20 VIETLIFE CLINIC, “Các giai đoạn phát triển của trẻ”, https://vietlifeclinic.com/cac-giai-doan-phat-trien-cua- tre/, 23/8/2018, truy cập ngày 23/8/2020.
35
và biết để tò mò về thế giới xung quanh, có thể tự tiếp xúc bằng cảm giác và vận động. Cùng với sự phát triển ngôn ngữ, các em có thể chủ động giao tiếp với người lớn thông qua lời nói và hành vi. Giai đoạntừ3 đến 6 tuổi, các em đãbiết tựmình khám phá thế giới xung quanh, , biết yêu cầu khi có mong muốn, hiểu người lớn nói gì, hay đặt câu hỏi tạisao vàbắtđầucó ýkiến riêng, cái tôiđược hình thành,bắtđầu nhận thứcvề giới tính. Giai đoạn từ 6 đến 11 tuổi là thời kỳ bắt đầu đi học. Suy nghĩ mở rộng, các hoạt độngchuyển đổi qua lại, quan hệ với thầy cô và bạn bè trên tinh thần hợp tác và tựtin cá nhân. Nhân cách được hình thành, thể hiện nếp sống, thói quen, những hành vi có ý thức. Giai đoạn từ 11 đến 16 tuổi, đặc điểm tâm lý của các em rất phức tạp, tâm lý tựlập đượcphát triển, sự bắt chước đã mang tính chất lựa chọn, tính tự trọng cao, khá nhạy cảm với những đánh giá của mọi người xung quanh, có ý thức mạnh về giới tính củamình21… Ở giaiđoạn này, các emcầncó sựquan tâm, hỗtrợ và hướng dẫn của người lớn, giúp các em từng bước tựchủ trong mọi hoạt động. Cha mẹ và các thành viên khác của gia đình là chỗ dựa tình cảm vững chắc, giúp các em thoải mái vàcó những suy nghĩ tích cực Những giai đoạn phát triển tâm lý trên đây của trẻ em cóthể ví như những bậc thang, tuy nhiên các bậc thang này không giống nhau. Có những thời kỳchuyển biến về thể chất và tâm lý tương đối chậm, từtừtrong suốt thời gian dài. Có những thời kỳthayđổi rõ rệt, nhảy vọt về thể chất cũng như những nét tính cách của trẻ. Bên cạnh những khác biệtvề nhịp độ và tốcđộ phát triển, ở trẻ em còn bộc lộ những khác biệt trong các phẩm chất tâm lý cá nhân như tính cách, năng lực, hứng thú. Ngay cả trong cùng một điều kiện sống và giáo dục, cùng trong một gia đình thì những đứa trẻ cùng giới tính cũngvẫnkhông giống nhau về sự phát triển thể chất và tâm lý… Như vậy, có thể khẳng định rằng, mỗi trẻ em là cá thể riêng biệt, chưa hoàn thiện về thể chất, tinh thần có quá trình phát triển khác nhau tuân theo những quy luật phát triển nhất định của tự nhiên và xã hội theo hướng ngày càng hoàn thiện năng lực cá nhân.
2.1.2. Khái niệm và đặc điểm của quyền trẻ em
Lịch sửthế giới ghi nhận nhiều nhà tư tưởng quan tâm, đấu tranh cho quyền trẻ em. Thomas Spence (1750-1814), một nhà cách mạng cấp tiến hàng đầu của nước Anh cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, được coi là người đầu tiên đưa ra khái niệm về quyền con người (rights of man), quyền con người của trẻ sơ sinh (The rights of infants) đểphản ánh về hiện thực xã hội lúc đó củanhững người nghèo, chống lại giới quý tộc. Qua những tác phẩm của ôngđãthể hiện quan điểm vềsựđấu tranh giành lạicác quyền lợi về đất đai, tài sản của những người nông dân, thợ hầm mỏ nghèo và đặc biệt
21“Đặcđiểmtâm lýcủatrẻemởtuổi nhiđồngvàvịthành niên”, Vinmec, ngày 9/7/2019, truycậpngày 22/9/2019.
https://www.vinmec.com/vi/tin-tuc/thong-tin-suc-khoe/dac-diem-tam-ly-cua-tre-em-do-tuoi-nhi-dong-va-vi- thanh-nien/.
36
là việc không để trẻ sơ sinh sống trong đói nghèo và bị lạmdụng22.Đến đầu Thế kỷthứ20, thuật ngữpháp lý “quyền trẻ em” mới được đề cập sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918). Cuộc chiến tranh đã khiến rất nhiều trẻ em ở châu Âu bị rơi vào hoàn cảnhđặc biệt khó khăn nhưmồ côi không nơi nương tựa,đóikhát, bệnh tật và thương tích… Tìnhcảnh đó đãthúc đẩy việc thành lập hai tổ chức cứu trợ trẻ em đầutiên trên thế giớiởAnh và ThuỵĐiển vào năm 1919.Đếnnăm 1923, bà Eglantyne Jebb – người sáng lập Quỹ cứu trợ trẻ em của nước Anh đã soạn thảo một bản Tuyênbốgồm7 điểm, trong đó kêu gọi thừa nhận và bảo vệ các quyền của trẻ em23.
Lịch sửđã chứng minh, việc đấutranh về quyền con người, đặc biệt là quyền con người của trẻ embắt đầu từhiện thực xã hội có những ứng xử thiếu công bằng đối với trẻem. Năm 1924, Tuyên ngôn về Quyền trẻ em (Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ)củaĐại hội đồngquốc liên ra đời.Sự kiệnnày là mốc đánh dấu thời điểm thuật ngữ“quyền trẻ em” lần đầu tiên đượcnêu chính thức trong pháp luật quốc tế, tạo bước ngoặt trong nhận thức và hành động bảo vệ trẻ em trên thế giới. Từ đây, quyền trẻ emđã mở rộng cơ sở của các hoạt động bảo vệ trẻ emtừcác khía cạnh đạo đức, xã hội sang khía cạnh pháp lý, bác bỏ hoàn toàn quan niệm trước đâycoi trẻ em như là những đối tượng hoàn toàn phụ thuộc của các bậc cha mẹ. Điều này là bởi một khi trẻ em được coi là một chủ thể của quyền, các hành động liên quan đến trẻ emsẽ không còn đơn thuần đặt trên nền tảng của tình thương, lòng nhân đạo hay sự che chở nữa, mà còn là nghĩa vụ của các chủthểcó liên quan,kể cả cácbậccha mẹ. Tuy nhiên, Tuyên ngôn chưa sửdụng cách tiếp cậnquyền để địnhnghĩa “quyền trẻ em” mà chỉ dừng lại ở việc yêu cầu trách nhiệm bảo đảm quyền trẻ em của các chủ thể. Năm 1948, Tuyên ngôn thế giới vềquyền con người (sau đây gọi là Tuyên ngôn về quyền con người) ra đời. Ngay Lời nóiđầu đã thể hiện tư tưởng tiến bộ của nhân loại về quyền con người. Theo đó, con người sinh ra đều có quyền bình đẳng về phẩm giá và các quyền dân sự, chính trị, kinh tế xãhội và văn hóa (Điều 1). Hai tuyên bố trên chính là cơ sở cho việc khẳng định quyền con người của trẻ em tại Tuyên ngôn về Quyền trẻ em (năm 1959) được thông qua tại Liên Hiệp Quốc. Tuyên ngônnày đã sửdụng cách tiếp cận quyền để đặt ra các nguyên tắc đối với trẻ em. Khái niệm “Quyềntrẻ em” được xácđịnhvới nội dungđầy đủ và tiến bộ hơn. Với tính nhân văn và tinh thần nhân đạo, Tuyên ngôn kêu gọi “Hãy giành những gìtốtnhất chotrẻem màngườilớncó”.Tuyên ngônđãđưara yêucầukhôngđượcphân biệtđốixửvớitrẻem,cầntạomọicơhộiđểtrẻem phát triểntựdo trong nhân phẩm, được yêu thương vàcảmthông, được học hành và vui chơi giải trí… Nhưvậy, trẻem đượcthừa nhận làchủthểbìnhđẳng vớingườilớn trong việc hưởng tấtcảcác quyền và tự do cơ bản được ghi nhận trong luật nhân quyền quốc tế.
22https://en.m.wikipedia.org/wiki/Thomas_Spence; https://en.m.wikipedia.org/wiki/Children’s_rights.
23 Nguyễn Đăng Dung – Vũ Công Giao – Lã Khánh Tùng (2011), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nhà xuất bản Đại học quốc gia, Hà Nội, trang 254
37
Năm 1989, Côngước Quốc tếvềQuyền trẻ em rađờilà một bướcngoặt đánh dấu sựthayđổi nhận thức về địa vị của trẻ em. Giờ đây, vấn đề trẻem không chỉ là vấn đề của riêng gia đình mà đã trở thành mối quan tâm chung của xã hội và toàn nhân loại. Trẻ emđược khẳng định là chủ thể củaquyền chứkhông phải là đối tượng của các chính sách xã hội. Mục tiêu cơ bản mà Liên Hiệp Quốc hướng tới là xác lập một khuôn khổ pháp lý quốc tế, để các quốc gia xây dựng pháp luật sao cho tạo điều kiện cho sự bảo vệ và phát triển toàn diện trẻ em. Bên cạnh đó, Công ước còn thể hiện một khát khao lớn lao là những đứa trẻ được chăm sóc nuôi dưỡng bằng tình yêu thương và sựtôn trọng nhân phẩm sẽ là thế hệ con người tương lai xua đi mọi hận thù, bất công và bảo đảm cho hòa bình và an ninh con người trên toàn thế giới.
Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đã ghi nhận quyền con ngườinhấn mạnh đếnmộtsốquyền cơ bảncủacon người như quyềnđượcsống, quyềntựdo và an ninh cá nhân, quyền tựdo tư tưởng,tựdo tín ngưỡng, quyền học tập, quyền được chăm sóc sức khỏe… Công ước Quốctếvề các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội đã khẳng định rằng “Các quốc gia thành viên của Côngước này cam kết bảođảm rằng các quyền được nêu trong công ước nàysẽ được thực thi không có sự phân biệt đốixửnào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc xã hội, tài sản, dòng dõi hay các điều kiện khác” (Điều 2). Quy định này đã có cơ sở để đảm bảo quyền của mọi cá nhân nói chung và quyền của trẻ em nói riêng trong điều kiện xã hội hiện nay khi mà những người (gồm cả trẻ em) ở giới tính thứ ba (những người đồng tính nam, đồng tính nữ, song tính và chuyển giới gọi tắt là nhóm “LGBT”) đang tồn tại như một thực tế khách quan, họ cũngcần được bảo vệ, đượchưởng thụ những quyền cơ bản của con người nói chung như những người khác.
Như vậy, có thể khẳng định, quyền trẻ em xuất phát từ quyền con người hay nói cách khác là quyền conngườicủa trẻ em theo tiến trình lịch sử. Bắtđầu từviệc coitrẻem là đối tượng của sựthương hại, yếu thế nên cần bảo vệ (Các cuộc đấu tranh vềquyền con người; Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ 1924) chuyển sang cách tiếp cận trẻ em làmột conngườicó tư cách chủthể (Tuyênbốvề Quyền trẻ emcủaLiên Hiệp Quốc năm 1959; Công ước Quyền trẻ em). Cách tiếp cận này cho thấy trẻ emcó đầy đủ các quyền của con người và là chủ thể đặc biệt của quyền con người. Vì vậy, trẻ em cầnđược ghi nhận các quyền đặc thù như được chăm sóc, bảo vệ đồng thời xác lập nghĩa vụ của các chủ thể khác. Cha mẹ yêu thương, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con không đơn thuần là tình cảmtựnhiên mà đó còn là nghĩa vụ đối với con khi con chưa phát triển đầy đủ về thể chất, trí tuệ và tinh thần. Trẻ em chưa thể tự mình thực hiện vàbảo vệ các quyền của mình, do đó cần có sựbảo trợ, hướng dẫn, chỉ bảocủa người
lớn. Mặc dù vậy, cần nhìn nhận rằng trẻ em làmộtchủthể độc lập, có quyềntựquyết, chủ động thực hiện quyền của mình, với sự hỗ trợ, giúp đỡ của các chủ thể khác.
38
Trên cơsởCôngước Quốc tếvề Quyền trẻ em, Việt Nam quy định các quyền của trẻ em phù hợp với điều kiện của đất nước trong Luật Chăm sóc, Giáo dục và Bảo vệ trẻ em năm 2004 trước đây và Luật Trẻ em năm 2016 hiện hành. Dưới góc độ là các lợi ích mà trẻ em hướng tới, các đặc quyền tự nhiên của trẻ em… được pháp luật ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm thực hiện nhằmbảo vệsựsống còn, quyền được tham gia và phát triển toàn diện của trẻ em tại Luật Trẻ em 201624.
Có thể thấy ở mỗiđộ tuổi khác nhau thì trẻ em được hưởng quyền và có những nghĩa vụ khác nhau. Việc xem xét quy định và thực hiện quyền trẻ em phải xuất phát
từđặccủa trẻ em, vì vậyquyền trẻ em là những đặc lợi mà trẻ em được hưởng theo quy định của pháp luật.
Nhưvậy, quyền trẻ em là những quyền con người được áp dụng dành riêng cho trẻ em, là nhữngđặc quyền tự nhiên mà trẻem được hưởng, được tôn trọng, được công nhận và được bảo đảm thực hiện trên cơ sở pháp luật phù hợp với sự phát triển toàn diện về thể chất, tâm lý xã hội của trẻ em.
Qua phân tích ở trên, quyền trẻ em có một số đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, quyềntrẻem xuất pháttừquyền con người, mang tính tự nhiên gắn với quá trình phát triển của trẻ em.
Những đặcđiểm và tính chất cơ bản của quyền con người được nghiên cứu vàghi nhận trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử. Tiếp cận dưới góc độ quyền con người, quyền trẻ em trước hết phải được ghi nhận từ các quyền cơ bản của con người.
Quyền trẻ em là các quyền tự nhiên gắn liền với quá trình phát triển về thể chất, tâm lý, sinh lý của trẻ em. Đồng thời, các quyền của trẻ em cómốiliên hệ chặt chẽ với nhau. Việc thực hiện tốt quyền này sẽ là tiền đề để thực hiện các quyền khác. Ngược
lại, khi một quyền nàođó bị xâm phạm thì sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện và thụ hưởng các quyền khác. Chẳng hạn, khi quyền được sống của trẻ em được đảm bảo thìquyền được tham gia, được bảovệ,chăm sóc và giáo dục của trẻem mới đượcđảm bảo. Mặc dù mọi trẻ em đều được hưởng quyền nhưng mức độ thụ hưởng quyền có sựkhác biệt, phụ thuộc vào năng lực cá nhân của mỗi đứa trẻ và pháp luật của mỗi quốc gia. Năng lực cá nhân bao hàm năng lực chủ thể của trẻ em khi tham gia vào mối quan hệ xã hội nhất định theo sự điều chỉnh của pháp luật ở mỗi giai đoạn phát triển của trẻ. Năng lực cá nhân của trẻ emảnh hưởng rất lớn từsựchăm sóc, điều kiện sống và hoàn cảnh của mỗi quốc gia, nền giáo dục và gia đình nơi trẻ sinh sống. Bên cạnh đó, chế độ chính trị, văn hóa, gia đình, xã hội… cóảnhhưởng đếnquyềncủatrẻ em. Ở mỗi vùng, mỗi quốc gia khác nhau, quyền trẻ em mang những sắc thái, đặc trưng riêng gắn liền với trình độ phát triển kinh tế – xãhộiở khu vực đó. Bởi vậy, mỗi quốc gia quy định
24 Xem từ Điều 12 đến Điều 36 Luật Trẻ em 2016.
39
về quyền trẻ em có khác nhau, song vẫn phải phù hợp với đặc thù phát triển của trẻ em về thể chất, tâm lý, sinh lý thì các qui định về quyền trẻ em mới đạtđược mục đích là bảo vệ quyền trẻ em. Khi các quyền của trẻ em đã được pháp luật ghi nhận thì không thể tùy tiện bị tước bỏ hay hạn chế bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan nhà nước. Các quyền này tồn tại một cách tựnhiên như vốn dĩ đã có đối với sựra đời và phát triển của trẻ em, nhưng cần được pháp luật ghi nhận mới trở thành quyền trẻ em.
Thứ hai, quyền trẻ em mang tính phổ biến và tính đặc thù.
Quyền trẻ em không chỉ là các quyền tựnhiên, vốn có mà còn mang tính phổbiến, tính đặc thù. Tính phổ biến của quyền trẻ em thể hiện ở chỗ: Quyền con người của trẻ em là quyền bẩmsinh, gắn liền với bản chất của con người, được áp dụng chung cho tất cả trẻ em, không phân biệt màu da, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân và đặc biệt là không phân biệt quốc gia, lãnh thổ. Trẻ em có quyền được hưởng đầyđủ các quyền con người như một chủ thểtrong xã hội. Tuy nhiên, xuất phát từđặc điểmvề thể chất, tinh thần chưa phát triển đầyđủ mà trẻ em còn được hưởng các đặc quyền, đó là quyềnđược chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quyền được bảo vệ. Vì vậy, dù ở trong những chế độ xã hội riêng biệt, thuộc những nền văn hóa và kinh tế khác nhau, những thể chế chính trị khác nhau, trẻ emvẫn được công nhận là con người, là một chủ thể bình đẳng25 và được hưởng những quyền và tựdo cơ bản của con người.
Là con người nhưng “do chưa trưởng thành về tinh thần và thể lực cần có sự bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, bao gồm sự bảo vệ về pháp lý thích hợp, trước cũng như sau khi sinh”26, nên pháp luật quyđịnhcác quyền trẻ em cũng dựa trên đặc điểm củatrẻem. Vì vậy, các quyền trẻ em mang tínhđặcthù. Các quyền củatrẻem đềuhướngtới mục tiêu là: (1) Trẻ em phải được phát triển một cách bình thườngcả về thể chất và tinh thần; (2) Trẻ đói phải được cho ăn, trẻ ốmphải được chữa trị, trẻ lạc hậu phải được giúp đỡ, trẻ phạm tội phải được giáo dục, trẻ mồ côi và lang thang phải có nơi trúẩn và phải được chăm sóc; (3) Khi xảy ra tai họa, trẻ em là người đầu tiên được cứu trợ; (4) Trong đời sống, trẻ em có quyền được kiếm sống và phải được bảo vệ chống
lại mọihình thức bóc lột; (5) Trẻ em phải được nuôi dưỡng theo nhận thức rằng, tài năng của chúng phải phục vụ cho đồng bào mình27. Hầu hết các quyền của trẻ em đều gắn với nghĩa vụ của các chủ thể khác và được bảo đảmthực hiện bởi các chủ thể khác. Tính đặc thùcủaquyền trẻ em làđặc điểm đểphân biệtvớicác quyền con người của các nhóm người khác trong xã hội. Sự thừa nhận tính đặc thù của quyền trẻ em cho
25 Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con ngưởi, Khoa Luật, Đại học Quốc gia tr 330. 26 Lời nói đầu – Tuyên bố của LHQ về quyền trẻ em năm 1959.
27 Lã Văn Bằng, “Pháp luật quốc tế về quyền trẻ em và kinh nghiệm thực thi ở một số nước”, Lý luận chính trị, ngày 02/02/2016. http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/quoc-te/item/1307-phap-luat-quoc-te-ve-quyen-tre-em-va- kinh-nghiem-thuc-thi-cua-mot-so-nuoc.html. Ngày truy cập 20/12/2019
40
phép các quốc gia có quyền đưa ra các quy định pháp luật cụ thể, không trái với các chuẩn mực quốc tế vềquyền trẻ em. Tính đặc thù của quyền trẻ emđược ghi nhận nhưng các quốc gia là thành viên của Công ước quốc tế về Quyền trẻ em sẽ không thểviện lý do về chế độ chính trị, điều kiện kinh tế để tùy tiện nội luật hóa pháp luật trái với nội dung của Công ước quốc tế về Quyền trẻ em, cũng như Công ước quốc tếvề Quyền con người.
Thứ ba, quyền trẻ em mang tính pháp lý vàđược côngnhậnvà đảm bảo bởicác quy phạm pháp luật, được quyết định bởi trình độ phát triển kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa quốc gia, khu vực.
Với đặc điểm chung của khái niệm quyền, (i) đó là phải có sự ghi nhận về mặt pháp lý và được bảo đảmthực hiện bởi các quy định pháp luật; (ii) là phải có sự thừa nhận về mặt xã hội, gắn liền với chủ thể cá nhân, được thể hiện cụ thể trong thực tế đời sống thông qua các quan hệ xã hội của cá nhân trong cộng đồng nhất định28. Theo đó, quyền của trẻ em đượcpháp luật ghi nhận trong các quy định pháp luật là như nhau, bảo đảm bình đẳng và không phân biệt giữa các chủ thể là trẻ em. Tuy nhiên, các điều kiện xã hội này rất đa dạng thể hiện rõ tính giai cấp, chế độ chính trị, môi trường sống
tựnhiên, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa, lịch sửcủa quốc gia… tạo nên hệ sinh thái đặc trưng của quyền trẻ em trong xã hội loài người.
Thứ tư, quyền trẻem không chỉ đượcthực hiện bởitrẻem mà cònđược đảm bảo thực hiện bởi các chủ thể khác.
Để thực hiện các quyền trẻ em mộtcách hiệu quả, Công ướcvề Quyền trẻ em quyđịnh mang tính nguyên tắc: Trong mọi hoạt động liên quan tới trẻ em, dùđược thực hiện bởi các cơ quan phúc lợi xã hội của nhà nước hay tư nhân, bởi tòa án, các nhà chức trách hành chính hay cơ quan pháp luật, thì lợi ích tốt nhất của trẻ em phải làmối quan tâm hàng đầu29. Cóthểthấy, quyền trẻ em được ghi nhậnvà đảm bảothực hiện thông qua các thiết chế xã hội liên quan đến sựtồn tại và phát triển của trẻ em như: gia đình, nhà trường, các cơ quan nhà nước, các cơ sở dịch vụ xã hội… Trong đó, gia đình có nghĩa vụ trước tiên trong việc thực hiện và bảo đảm quyền của trẻ em bởi gia đình là môi trường xã hội đầu tiên, là nơi phần quan trọng nhất trong việc xã hội hóa cá nhân ngaytừkhi cá nhânđược sinh ra. Vì vậy, các thành viên trong gia đình phải có trách nhiệm chăm sóc cho các em lớn khôn về thể chất và trí tuệ, đồng thời có trách nhiệm giáodụccác em những điều tốt đẹp, đạo nghĩa, để các em biết quan tâm, chăm sóc cuộc sống của mình và những người khác trong gia đình và cộng đồng xã hội30.
28 Bộ Tư pháp – Viện Khoa học pháp lý (2006),“Từ điền Luật học”, Nxb. Từ điển Bách khoa – Nxb. Tư pháp, HàNội, tr 648.
29 Khoản 1 Điều 3 Công ước quốc tế về Quyền trẻ em.
30 Xem Luật Trẻ em năm 2016, Chương VI, Điều 96 đến Điều 102.
41
Việc các quyềncủatrẻ emđược thực hiện không chỉ bởi trẻem chính làđặc điểm riêng cócủabảovệ quyền trẻ em. Điều này tạosựphụ thuộc giữa chủ thể hưởng quyền với chủ thể thực hiện nghĩa vụ. Khi chủthể hưởng quyền là trẻ em có sựphụthuộc rất lớn vào các chủ thể có nghĩa vụ, nên việc bảo đảm quyền trẻ em ngoài việc quy định rõ ràng, chặt chẽ nghĩa vụ của các chủ thể khác thì còn cần phải có sự giám sát chặt chẽ của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện quyền trẻ em.
Nhưvậy, với các đặc điểmvề quyền trẻ em có thể nhận thấy: Các quyền này là thống nhất không thể tách rời, có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, việc thực hiện tốt quyền nàysẽlà cơ sở đảmbảocác quyền khác cũngđượcthực hiện tốt, tạo sựbìnhđẳng đối với trẻ em trên toàn thế giới.
2.1.3. Khái niệm bảo vệ quyền trẻ em, các cấp độ, biện pháp vàchủ thể bảo vệquyền trẻ em
2.1.3.1. Khái niệm bảo vệ quyền trẻ em
Quyền trẻemđãđượcthừa nhận và quyđịnh trong pháp luật quốctế và pháp luật quốc gia. Quyền trẻ em có nguồngốctựnhiên nhưngđểthực hiện quyền trẻ em thì mỗi quốc gia, dân tộc có những biện pháp nhất định. Một trong các biện pháp đó chính là ghi nhận quyền trẻ em, bảo đảm các quyền đó trên thực tế đồng thời xử lý các hành vi vi phạm các quyền trẻ em đã được ghi nhận. Vì vậy, để trẻ em được hưởng các quyền của mình thì xã hội và Nhà nước luôn cần có những cơ chếđể bảo đảm thúc đẩy thực hiện các quyền của trẻ em trên thực tế.
Hiện nay, có một số quan điểm khác nhau về khái niệm bảo vệ quyền trẻ em. Cóquan điểm cho rằng, bảo vệ quyền trẻ em là chống lạimọi sựxâmphạm đến trẻ em, xuất phát từ nội hàm của từ“bảo vệ”theo Từ điển Tiếng Việt. Điều này có thể lý giải trong hoàn cảnh bình thường, hành động bảovệchỉ phát sinh khi trẻ em gặp những tình huống, hành vi xâm hại đến các quyền bất khả xâm phạmcủatrẻ em. Cũng có quan điểm cho rằng, bảo vệ quyền trẻ em cần được xem xét ở nghĩa rộng, trong mọi hoàn cảnh đều phải bảo vệ. Việc ghi nhận các quyền của trẻ em và việc bảo đảm thực hiện tốt các quyền của trẻ em cũng được coi là hình thức bảo vệ.
Theo cách tiếp cận khác từ Công ước quốc tế về quyền trẻ em thì khái niệm bảo vệ quyền trẻ em còn có thể hiểu quyền được bảo vệ của trẻ em. Bởi các quyền trẻ em theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em có thể nhóm lại theo nhóm các quyền tham gia, nhóm cácquyền được bảo vệ vànhóm các quyền về cung cấp tuân theo 3 chữ P
(participation; protection; provition)31. Nếu đặt ra khái niệm trongngữcảnh này thìviệc bảo vệ trẻ embị giới hạn trong một nhóm quyền nhất định, sẽ không truyền tải đầy đủ các nộidung bảo vệ quyền con ngườicủatrẻ em.Bởi bảovệ quyền trẻ em là
31 Wolfgang Benedek (2008), “Tìm hiểu về quyền con người”, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, trang 242.
42
một quá trình có thể thay đổi theo các điều kiện kinh tế, xã hội, pháp luật của mối quốc gia chứkhông đóng khung trong các tính chất gồm các quyền được tham gia,được cung cấp và được bảovệ.
Mỗi chếđộnhà nước và pháp luật khác nhau sẽ tác động đến việc bảo vệ quyền trẻ em, tuy nhiên không thể phủ nhận vai trò quan trọng hàng đầu trong việc bảo vệquyền con người nói chung quyền trẻ em nói riêng của phápluật. Đểbảo vệquyền trẻ em thì phải thể chế hóa quyền trẻ em thành các quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật, phải có cơ chế bảo đảmcho các quyđịnh đó đượcthực hiện trong thực tế, tạo thành đảm bảo pháp lý thực hiện quyền trẻ em. Nói cách khác, đảm bảo pháp lý bảo vệquyền trẻ em chính là đảm bảo thực hiện quyền trẻ em bằng pháp luật.
Nhưvậy, để bảovệ các quyềntrẻem thì việc các quốc gia thành viên của Côngước phải nội luật hóa các các quyền trẻ em trong pháp luật làđiều kiện “cần” nhưng chưa “đủ”. Muốn “đủ” phải có các biện pháp để bảo vệ các quyền khỏi bị vi phạm vàthúc đẩy sựtôn trọng và thực hiện các quyền trên thực tế. Do đó,bảovệ quyền trẻ em phải bảo đảm việc ghi nhận các quyền trong hệ thống pháp luật quốc gia, tổ chức thực thi pháp luật và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về quyền trẻ em thì mới bao trùmđược các yếu tố, nội dung của bảo vệ trẻ em.
Trên cơsởtiếpcậnkhái niệm bảovệquyền trẻ em theo nghĩa rộng nhất của nội hàm cụm từ“bảo vệ”đồng thời bảo vệ trẻ em được xem xét dưới góc độ bảo vệ theo pháp luật vì vậy. Bảo vệ quyền trẻ em phạm vi Luận án thể hiện ở ba khía cạnh sau:
Thứ nhất:Bảo vệquyền trẻ em bằng việc ghi nhận các quyền cơ bảncủa trẻem phù hợp với điều kiện để trẻ em có thể tự thực hiện các quyền của mình đồng thời xácđịnh nghĩa vụ tôn trọng các quyền đó của các chủ thể khác trong xã hội.
Thứ hai:Bảovệ quyền trẻ em trong việctổchức thực thi pháp luật một cáchđầy đủ, tạo điều kiện về cơ chếthực hiện, thủ tục hành chính, các biện pháp đảm bảođể trẻ em, người chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em được thực hiện các quyền cho trẻ thuận lợi; có các biện pháp để phòng ngừa khôngđể trẻ em bịxâm hại, bị đốixửbấtbìnhđẳng, bị xâm phạm các quyền đã được pháp luật ghi nhận.
Thứ ba:Bảo vệ quyền trẻ em được thể hiện qua các biện pháp xử lý, các hình phạt, các chế tài thích đáng do pháp luật qui định, đủ tính răn đe, ngăn chặn, phòng ngừa các hành vi xâm phạm quyền trẻ em, hoặc các hành vi do không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩavụcủa cácchủthể có nghĩavụdẫn đến quyềntrẻ em bịxâm phạm.
Như vậy, bảo vệ quyền trẻ em là việc Nhà nước ghi nhận các quyền của trẻ em phù hợpvới điều kiện kinh tế – xã hội của đất nướcđồng thời quyđịnh các phương thức, biện pháp phù hợp với pháp luật để bảo đảmcác quyền củatrẻ emđược thực
43
hiện, chống lạimọisựxâm phạm quyền củatrẻ em. Có nghĩa là, việc bảođảm các quyền củatrẻ em đượcthực hiện trên thực tế cũng là một hình thức bảo vệ trẻ em. Bảo vệ quyền trẻ em cần sửdụng nhiều phương thức, biện pháp trong các lĩnh vực khác nhau, đểtrẻ emđược sống an toàn,đượcphát triển,đảm bảo không rơi vào các tình huống nguy hiểm trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm. Các biện pháp này tạo thành một hệ thống toàn diện về kinh tế, chính trị, y tế, giáo dục, đạo đức, pháp luật với nhiều cấp độ để bảo vệsựphát triển bình thường, toàn diện của trẻ em và trợ giúp trẻem có hoàn cảnh đặc biệt. Trong các biện pháp đó, bảo vệ quyền trẻ em bằng pháp luật là biện pháp hữu hiệu nhất. Vì vậy, các cơ quan Nhà nước, các cấp chính quyền bằng việc xây dựng hệ thống pháp luật và đảm bảo thực thi những quy định pháp luậtđó, đểtrẻ em được hưởng các quyền của mình, đồng thời ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý những hành vi xâmhạihoặc cókhảnăng xâmhạitrẻem,ảnhhưởngđếnsựphát triển bình thườngcủatrẻem.
Trong khoa học pháp lý, cùng với khái niệm bảo vệ quyền trẻ em, còn có khái niệm bảo vệtrẻ em. “Bảo vệ trẻ em là việc thực hiện các biện pháp phù hợpđể đảm bảo trẻ em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; trợ giúp trẻ em có hoàncảnh đặc biệt”32. Có thể thấy, khái niệm bảo vệ trẻem và khái niệm bảo vệ quyền trẻ em có nhữngmốigiao thoa nhấtđịnh,trong nhiều trường hợp có thể đồng nhất hai khái niệm này. Việc sử dụng đồng nhất trên cơsở trẻ em là con người, có vị trí, địa vị và có các quyền cơ bản của con người vì vậy bảo vệ một con ngườitrước các hành vi xâm phạm cũng là bảo vệ các quyền con người của trẻ, tức là bảo vệ quyền trẻ em.
Để phân biệt có thể hiểu, bảo vệ trẻ em là một khái niệm bao hàm khái niệm bảo vệ quyền trẻ em. Bảo vệ trẻ em là bảo vệ con người, một cá thể cụ thể của trẻ em với tư cách là một con người trước những hành vi xâm phạm, mang tính thông dụng, dân dã. Bảo vệ quyền trẻ em là bảo vệ các quyền của trẻ em được tôn trọng, đươc bảo đảm thực hiện trên thực tế và không bị xâm phạm. Các quyền này là những giá trị gắn liền với trẻ em, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ có tính hữu hình và tồn tại trong những ngành khoa học, lĩnh vực nghiên cứu cụ thể.
Như vậy, khi thực hiện bảo vệ quyền trẻ em thì cũng đồng thời bảo vệ trẻ em vàngược lại, bảo vệ trẻ em trước tiên được thực hiện thông quabảo vệcác quyền của trẻ em… Bảo vệ trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em luôn gắn bó, tác động qua lại lẫn nhau và đều vìmục đích để đảm bảocho trẻ em được tồn tại và phát triển là một thực thể trong xã hội loài người.
Từnhững lập luận trên có thể hiểu, bảo vệ quyền trẻ em là bảo đảm sự an toàn và phát triển toàn diện của trẻ em thông qua hệ thống các quy định pháp luật, chính
32 Khoản 1 Điều 4 Luật Trẻ em năm 2016.
44
sách xã hội do Nhà nước ban hành hoặc thể chế hóa, qua đó ghi nhận các quyền của trẻem, nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm thực hiện các quyền trẻ em của các chủ thể khác cũng như các biện pháp ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm quyền trẻ em.
2.1.3.2. Các cấp độ bảo vệ quyền trẻ em
Bảo vệ quyền trẻ em được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của trẻ em theo từng mức độ thích hợp với những hoàn cảnh nhất định. Cấp độ bảo vệ quyền trẻ em là các mức độ khác nhau của các biện pháp bảo vệ quyền trẻ em. Các cấp độbảo vệđược xây dựngtrên cơ sở tương ứng với ba khía cạnh bảo vệ quyền trẻ em: ghi nhận quyền trẻ em; tổ chức thực thi quyền trẻ em; xử lý hành vi vi phạm quyền trẻ em. Theo quy định của Luật Trẻ em năm 2016, cóba cấp độ bảo vệ trẻ em:
Cấp độ phòng ngừa: Cấp độ phòng ngừa gồmcác biện pháp bảovệ được áp dụng đốivớicộng đồng, gia đình và mọi trẻ em nhằm nâng cao nhận thức, trang bịkiến thức về bảo vệ quyền trẻ em, xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho trẻ em, giảm thiểu nguy cơ trẻ em bị xâm hại hoặc rơi vào hoàn cảnh đặc biệt33. Các biện pháp bảo vệ trẻ em cấp độ phòng ngừa bao gồm: tuyên truyền, phổ biến cho cộngđồng, gia đình, trẻ emvề mối nguy hiểm và hậu quả củacác yếutố, hành vi gây tổn hại, xâm hại trẻ em; về trách nhiệm phát hiện, thông báo trường hợp trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi; Cung cấp thông tin, trang bị kiến thức cho cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em, người làm việc trong cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ quyền trẻ em về trách nhiệm bảo vệ quyền trẻ em, kỹ năng phòng ngừa, phát hiện cácyếutố,hành vi gây tổn hại, xâmhạitrẻ em; Trang bị kiến thức, kỹ năng làm cha mẹ để bảo đảmtrẻ em được an toàn; Giáo dục, tư vấn kiến thức, kỹ năngtự bảo vệchotrẻem; Xây dựng môi trường sống an toàn và phùhợpvới trẻ em.Đâylàcấpcómứcđộ thấp nhất trong ba cấp độbảo vệ trẻ em nhưng có tác dụng lớn làm thayđổi nhận thức của người lớnđối với việc bảovệ trẻ em. Cácbiện pháp ở cấp độnày được các chủ thể trong xã hội thực hiện thường xuyên, liên tục dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm trang bị những kiến thức cơ bản, tối thiểu để việc bảo vệ trẻ em được xuyên suốt.
Cấp độ hỗ trợ:Cấp độhỗ trợ bao gồm các biện pháp bảo vệ được áp dụng đối với trẻ em có nguy cơbị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi hoặc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhằm kịp thời phát hiện, giảm thiểu hoặc loại bỏ nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em34. Ởcấp độ này các biện pháp bảo vệ đã hướng đến những nhóm trẻ em cụ thể trong xã hội. Với mục đích kịp thời giúp đỡ,hỗ trợtrẻ em trong những hoàn cảnh nhất định bằng các biện pháp cụ thể để trẻ em có cơhộiđể phát triển bình thường, tránh nguy cơ trẻ embị rơi vào hoàn cảnh đặc biệt. Các biện pháp bảo vệ trẻ emở cấp độ hỗ trợ bao
33 Khoản 1 Điều 48 Luật Trẻ em năm 2016. 34 Điều 49 Luật Trẻ em năm 2016.
45
gồm: Cảnh báo về nguy cơ trẻ em bị xâm hại; tư vấn kiến thức, kỹ năng, biện pháp can thiệp nhằm loạibỏhoặc giảm thiểu nguy cơ xâmhạitrẻ em cho cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em, người làm việc trong cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em và nhằmtạolập lạimôi trường sống an toàn cho trẻ em có nguy cơ bị xâm hại; Tiếp nhận thông tin, đánh giá mức độ nguy hại, áp dụng các biện pháp cần thiết để hỗ trợ trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi nhằm loại bỏ hoặc giảm thiểu nguy cơ trẻ embị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi; Hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật này; Hỗtrợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và gia đình của trẻ em được tiếp cận chính sách trợ giúp xã hội và các nguồntrợgiúp khác nhằm cải thiện điều kiện sống cho trẻ em. Tùy từng tình huống mà sử dụng một hoặc nhiềubiện pháp ở cấp độ hỗtrợđể bảo vệquyền trẻ em. Như vậy, với cấpđộbảo vệ này, việc các chủ thể phải sử dụng một hay nhiều biệp pháp được khuyến khích sử dụng với mục đích đảm bảo thực hiện các quyền của trẻ em.
Cấp độ can thiệp: Cấp độ can thiệp bao gồm các biện pháp bảo vệ được áp dụngđối vớitrẻ em và gia đình trẻ em bị xâm hại nhằm ngăn chặn hành vi xâm hại; hỗ trợchăm sóc phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt35. Đây làcác biện pháp bảo vệ mang tính chất giải quyết hậu quả khi có các hành vi xâm hại đến trẻ em, giúp cho trẻ em mau chóng phục hồi lại trạng thái ban đầu để cóthểtiếp tục phát triển. Các biện pháp bảo vệ quyền trẻ em cấp độ can thiệp bao gồm: chăm sóc y tế, trị liệu tâm lý, phục hồi thể chất và tinh thần cho trẻ em bị xâm hại, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần can thiệp; bố trí nơi tạm trú an toàn, cách ly trẻ em khỏi môi trường,đối tượng đe dọa hoặcđang có hành vi bạo lực, bóc lột trẻ em; Bố trí chăm sóc thay thế tạm thời hoặc lâu dài cho trẻ em không thể sống cùng cha, mẹ vìsựan toàn của trẻ em; cha,mẹ không có khả năngbảovệ, nuôi dưỡng trẻem hoặc chính là người xâm
hại trẻ em; Đoàn tụ gia đình, hòa nhập trường học, cộng đồng cho trẻ em bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi; tư vấn, cung cấp kiến thức cho cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em, các thành viên gia đình trẻem có hoàn cảnh đặcbiệt vềtrách nhiệm vàkỹnăng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục hòa nhập cho trẻ em thuộc nhóm đối tượng này; tư vấn, cung cấp kiến thức pháp luật, hỗ trợ pháp lý cho cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em.
Các biện pháp hỗ trợ trẻ em bị xâm hại và gia đình của trẻ em về chăm sóc sức khỏe, giáo dục và điều kiện vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật trong trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số, sinh sống tại các xã biên giới, miền núi, hải đảo; Theo dõi, đánh giá sựan toàn của trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại.
Tóm lại, việc quyđịnhcác cấp độ bảo vệ trẻem có ý nghĩa phân định, hướng dẫn cá nhân, tổ chức thực hiện, giúp cho trẻ em tránh được những nguy cơ trong quá trình phát triển, đồng thời hỗtrợgiúpđỡcha, mẹ trẻ em bổ sung các kiến thức trong
35 Điều 50 Luật Trẻ em năm 2016.
46
việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các cấp độ bảo vệ đượchướng dẫn cụ thể giúp cho cha, mẹ và người thân thích trong gia đìnhtrẻem ý thức tốt hơn trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, với các cấp độ bảo vệ theo quy định thể hiện mức độ bảo vệ trẻem còn thụ động, hạn chế. Trên cơ sở các quy định đó, đòi hỏi tính chủ động của các chủ thể có nghĩa vụ thực thi pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em nêu cao tinh thần “phòng bệnh hơn chữa bệnh” sẽ hạnchế được ít nhấtáp dụng cấp độ can thiệp trong việc bảo vệ trẻ em tại mỗi địa phương, địa bàn dân cư.
2.1.3.3. Các biện pháp bảo vệ quyền trẻ em
Các biện pháp bảo vệ quyền trẻ em có thể được hiểu là: các cách thức cụ thể bắt buộc các cá nhân, tổ chức phải thực hiện những nghĩavụtrách nhiệm nhấtđịnhđể bảo đảm cho trẻ em được phát triển an toàn, ổnđịnhĐể bảo vệ quyền trẻ em córất nhiều biện pháp được đặt ra. Các biện pháp này có thể là ngắn hạn, có thể là dài hạn. Theo Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em, “các quốc gia thành viên phải thi hànhtất cảcác biện pháp lập pháp, hành chính và các biện pháp thích hợp khác đểthực hiện những quyền được thừa nhận trong Công ước này”36. Các biện pháp dưới đây được đánh giálà các biện pháp mang tính phổ biến và có hiệu quả trong công tác bảo vệ trẻ em. Bảo vệ quyền trẻ em trước hết được thể hiện qua việc ghi nhận đầy đủ, toàn diện, hệ thống các quyền của trẻ em trong hệ thống pháp luật. Trong các công cụ để điều chỉnh xãhội, Nhà nước luôn ưu tiên sửdụng công cụ hữu hiệu nhất đó là hệ thống pháp luật. Do đó, trong việc bảo vệ quyền trẻ em, biện pháp hữu hiệu nhất là xây dựng hệ thống pháp luật về trẻ em. Với nền tảng là Tuyên bố của Liên Hiệp Quốc về Quyền trẻ em, Công ước về Quyền trẻ em là văn bản pháp luật quốc tế quan trọng, đánhdấu sựthayđổi nhận thức về địa vị của trẻ em, xáclậpcác nguyên tắcbảovệ các quyềncủatrẻem. Theo đó, mỗi quốc gia dù có sự khác biệt về chính trị, kinh tế, văn hóa nhưng khi tham gia Côngước buộc phải ghi nhận và tôn trọng những quyền cơ bản của trẻem trong hệ thống pháp luật. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật còn quy định nghĩa vụ của các chủ thể liên quan và tạo cơ chế cho việc thực hiện quyền trẻ em. Các nghĩa vụ của các chủ thể khác được xác lập tương ứng với các quyền,các cấp độ bảo vệ trẻem đãquy định. Bảo vệ quyền trẻ em là vấn đề mang tính liên ngành bởi vậy, việc ghi nhận các quyền trẻ em và các biện pháp, hình thức bảo vệ quyền trẻ em có thể trong nhiều ngành luật của quốc gia.
Bảo vệ quyền trẻ em bằng cơ chế bảo đảm thực hiện:
Trong khoa học pháp lý, “cơ chế điều chỉnh pháp luật” được hiểulà “hệ thống các phương tiện, cách thức pháp lý mà thông qua đó pháp luật thể hiện sự tác động lên hành vi, ý chí của chủthểpháp luật (Từđiển Luật học, trang 194). Như vậy, cóthểhiểu “cơ chế” là “phương thức vận động”, là “cách thức sắp xếp tổ chức”, là “hình thức và phương pháp điều chỉnh”, là “hệ thống các biện pháp tác động”.v.v. của sựvật
36Điều4 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em
47
hay hiện tượng. Từ đó có thể hiểu, cơ chế bảođảmthực hiện quyền trẻ em là tổng thể các yếu tố có quan hệ mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau tạo thành những phương thức, cách thức, biện pháp để bảovệ quyền củatrẻ em, nhằmbảođảm trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh và ổn định đểphát triển toàn diện. Cơ chếbảo vệ quyền trẻ em bao gồm các yếu tố: Thể chế và phương thức thực hiện, trong đó thể chế là hệ thống các quyđịnh pháp luật, hành lang pháp lý ghi nhận quyền của trẻ em, phương thức là những biện pháp, thực hiện trên thực tế nhằm bảo đảm quyền củatrẻemđượcthực hiện. Theo đó, cơ chế bảo đảm thực hiện quyền trẻ em bao gồm:
Thứ nhất, bảo đảm việc tổ chức thực hiện các quyền của trẻ em.
Các quyền của trẻ em được ghi nhận bằnghệ thống pháp luật tạo hành lang pháp lýđiềuchỉnh các hành vi của các chủ thể thực hiện pháp luật. Các vănbảnpháp lý này không chỉ là ghi nhận các quyền của trẻ, mà còn đưa ra những biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện các quyền của trẻ em trên thực tế. Việc quy định các biện pháp để tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ em có thể tựthực hiện các quyền của mình tốt nhất cóthể. Ví dụ, quy định về trẻ em có quyền đi học thì các biện pháp đảm bảo quyền đi học của trẻ em như: hệ thống trường học được xây dựng đầy đủ, an toàn, thuận lợi cho trẻem có thể tới trường, đồng thời các văn bản pháp luật quy định trẻ em trong độ tuổi đi học phải được đến trường…
Để đảm bảo cácquyền của trẻ em, pháp luật cần quy định các chủ thể có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ của mình để bảođảmthực hiện các quyền của trẻ em. Ví dụ:để đảmbảo quyền sống còn của trẻ em thì cha, mẹ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng; để đảm bảo quyền học tập, phát triển năng khiếu của con thì cha, mẹ, các thành viên khác trong gia đình, phải tạo môi trường,điều kiệnvề vật chất và tinh thầnđể trẻem được học tập, phát triển các năng khiếu cho trẻ em; …
Trẻ em được sinh ra lớn lên trong môi trường gia đình nhưng có trưởng thành, phát triển toàn diện không cần trải qua các môi trường xã hội. Bởi vậy, các cơ quan cóchức năng, tổ chức xã hội thực hiện và bảo vệ các quyền trẻ em trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đặc biệt là sựphối hợp với nhau có trách nhiệm tạo môi trường xãhội để trẻem có thể học tập, trải nghiệm và trưởng thànhtừmôi trường đó. Các chủ thể trong xã hội cần tạo điều kiện thực hiện tốt nhất để đảm bảo các quyền của trẻ em được thực thi trong xã hội.
Thứ hai, bảo đảm cơ chế giám sát việc thực hiện pháp luật về trẻ em.
Cơ chế giám sát là sự theo dõi, quan sát mang tính chủ động thường xuyên của cơ quan, tổ chức hoặc nhân dânđối với hoạt động củacác cơ quan, tổ chức, cá nhân, gia đình có trách nhiệm thực hiện quyền trẻ em bằng các biện pháp tích cực để buộc và
48
hướng các hoạt động đó đi đúngquỹ đạo37. Để quy định về quyền của trẻ em thực thi có hiệu quả, hoạt động giám sát việc thực hiện pháp luật về trẻ em đóng vai trò quan trọng. Thông qua hoạt động giám sát có thể đánh giá việc thực hiện pháp luật về quyền trẻ em, việctổchức thực hiện của các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong công tác bảo vệ,chăm sóc và giáo dụctrẻem. Trên cơsởđó,đưa ra nhữngđề xuất,kiến nghị liên quan đến việc bảo vệ quyền trẻ em.
Hoạt động giám sát tối cao cũng là cơ sở quan trọng để Quốc hội xem xét, đánh giá tính hợp lý và khả thi của các chính sách pháp luật về trẻ em, làm cơ sở cho việc sửa đổi,bổ sung pháp luật. Hoạt động giám sát tập trung vào cácnộidung cơ bản như: giám sát việc tuân thủ pháp luật về trẻ em và pháp luật có liên quan; đánh giá hiệu quảcủa việc thực thi pháp luật về trẻ em; xem xét các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành nhằm bảo đảm thực hiện quyền trẻ em.
Ngoài ra, cơ chế giám sát được thực hiện có hiệu quảlà sựgiám sát của người dân đốivới hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ quyền trẻ em. Đâykhông phải giám sát tầmvĩ mô nhưng có ý nghĩa kịp thời để giải quyết những tình huống cụ thể, tạođược tính trách nhiệm cộngđồng đốivới bảovệquyền trẻ em ở Việt Nam, đặc biệt trong những trường hợp trẻ em rơi vào cấp độ cần hỗ trợ.
Tùy theo cách thức tổ chức mà mỗi quốc gia có thể giao hoạt động giám sát việc thực hiện pháp luật vềquyền trẻ em cho mộtcơ quan nhất định. Sẽrất hiệu quả nếu thành lập một cơ quan giám sátđộclập,được Nhànướcphânbổnguồn lựcvà chịu trách nhiệm giải trình về cơ chế giám sát quyền trẻ em. Cơ chế này cũng hỗ trợ trẻ em tham gia vào việc đưa ra các quyết định quan trọng, tăng nhận thức về quyền trẻ em.
Thứ ba, bảo đảm bằng các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội
Quyền và bổn phận của trẻ emở mỗi quốc gia được bảo đảmthực hiện bằng thể chế chính trị, bằng sự ổn định chính trị, hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị và sựlãnh đạo, điều hành của Nhà nước đó. Điều này là đúng với mọi thể chế chính trị. Ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo Đảng, việcbảo đảm cácquyền và bổn phận của trẻem cần có mốiquanhệ chặt chẽvớicác tổ chức xã hội, đặc biệt vai trò của cơ quan chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về trẻ em cũng như các tổ chức kinh tế,xã hội để tập trung xây dựng cơ chế và nguồn lực để tổ chức thực hiện quyền trẻ em. Cơ chếĐảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ là bảo đảm về chính trị trong việc thực hiện các quyền trẻ em. Với cơ chế này, Việt Nam luôn được coi là quốc gia có sựổn định về chính trị, do vậy, các quyết sách dành cho trẻ em mang tính ổn định và phát triển bền vững.
37 Xem Bộ Tư pháp – Viện Khoa học pháp lý (2006),“Từ điển Luật học”, Nxb. Từ điển Bách khoa – Nxb. Tưpháp, Hà Nội, trang 292.
49
Bảo vệ quyền trẻ em bằng nền tài chính vững vàng và tiềm lực kinh tế. Hiện nay Nhà nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước đãvà đang ngày càng dành nhữngđiều kiệnkinh tế cần thiết để quyền trẻem được thực hiện thông qua nhiều chính sách liên quan đến thực hiện quyền trẻ em. Với mục tiêu phát triển kinh tế để dân giàu nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, trẻ em trong mỗi giađình đềuđãvà đang được hưởng thụ từnhững chính sách thúc đẩy kinh tế, giảm chi phí cho việc học tập của trẻem… Chiến lược phát triển kinhtếxãhội củaNhànướclà đặt conngườivàovị trí trung tâm, giải phóng và phát huy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, tập thể, điều này chính là tiền đề, điều kiện bảo đảm kinh tế phát triển là cơ sở để bảo vệ quyền trẻ em.
Bảo vệquyềntrẻem bằng việcgiữvững tư tưởng và truyền thống văn hóa.ỞViệt Nam với quan điểm của Chủ nghĩa Mác, Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, đạo đức và truyền thống dân tộc, con người Việt Nam, sự thống nhất của chính trị, tưtưởng và đạo đức, sựphát triển về trìnhđộvăn hóa, xã hội là những bảo đảm về mặt tư tưởng cho việc thực hiện các quyền trẻ em hiện nay. Cùngvớigiao lưu văn hóa, Việt Nam đã xây dựng nền văn hóa xãhộichủ nghĩa là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, có tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại. Theo đó, đời sống tinh thần tốt đẹp, phong phú, đa dạng, có nội dung nhânđạo, dân chủ, tiếnbộ,hướng tới xây dựng con người phát triển toàn diệnvề đức, trí, thể, mỹ, có ý thức cộng đồng, có tấmlòng nhân ái, lối sống có văn hóa và thiết lậpđược mốiquan hệhài hòa với gia đình, cộngđồngvà xã hội. Trẻ em khiđượcsống trong nền văn hóa đó, được tôn trọng bản sắc của mình, được giao lưu, được học hỏi nền văn hóa văn minhđó thì sẽ sớmhình thành tư chất có văn hóa. Nhà văn Pearl Buck (1892 – 1937), nữ nhà văn Mỹ đầu tiên được giải Nobel về văn chương,đãnói: “Sự văn minhcủa một xã hội được xác định ở chỗ: Xã hộiđóquan tâmthếnào đến các thành viên yếuđuối củamình”38. Phát triển kinh tế nhưng gắn liền với việcđảmbảoan sinh xã hội, xóa bỏ, hạn chế khoảng cách giàu nghèo, đảmbảokhông ai bị bỏ lại phía sau, đặc biệt đối với trẻ em, người yếu thế…
Bảo vệ quyền trẻ em bằng việc xử lý nghiêm minh hành vi vi phạm.Vớitính chấtcủachế tài pháp luật, việc xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm quyền trẻ em là một trong các biện pháp để răn đe đối với chủ thể có hành vi vi phạm, đảm bảo sựcông bằng trong xã hội. Việc xây dựng các chế tài để buộc cácchủthể có quyền và có nghĩa vụ thực hiện nghiêm quyđịnh pháp luật là điều kiện quan trọng trong bảo vệ quyền trẻ em. Để bảo vệ quyền trẻ em được thực hiện hiệu quả bên cạnh việc ghi nhận các quyền trẻ em, việc xây dựng các cấp độ bảo vệ quyền nhằm xác định mức độ của của các hành vi vi phạm để xử lý cho phù hợp. Tùy vào các cấp độ bảo vệ, Nhà nước
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM

