BÁ CÁO THUC TAP_ ĐƠN VỊ THỰC TẬP BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG

BÁO CÁO THUC TAP_ ĐƠN VỊ THỰC TẬP BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG

1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BHXH HUYỆN KRÔNG BÔNG

1.1. Quá trình hình thành và phát triển

Thực hiện Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 của Chính phủ, ngày 15/6/1995 Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam có Quyết định số 18/QĐ-BHXH-TCCB về việc thành lập BHXH tỉnh Đăk Lăk. Ngày 29/07/1995, Giám đốc BHXH tỉnh Đăk Lăk ban hành Quyết định số 01 QĐ/TC-CB về việc thành lập Bảo hiểm xã hội huyện Krông Bông.

Là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh đặt tại huyện, có chức năng giúp Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện theo quy định.

BHXH huyện Krông Bông có trụ sở tại Tổ dân phố 1, thị trấn Krông Kmar, huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk.

Tính đến tháng 12/2023, BHXH huyện có 11 lao động, trong đó có 5 nam, 6 nữ.

1.2. Chức năng, nhiệm vụ và cao cấu bộ máy

1.2.1. Vị trí, chức năng

Bảo hiểm xã hội huyện là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh đặt tại huyện, có chức năng giúp Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện theo quy định.

Bảo hiểm xã hội huyện chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh và chịu sự quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn của Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Bảo hiểm xã hội huyện có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và trụ sở riêng.

Không tổ chức đơn vị Bảo hiểm xã hội huyện tại đơn vị hành chính là thành phố trực thuộc tỉnh, nơi có trụ sở Bảo hiểm xã hội tỉnh đóng trên địa bàn.

1.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn

– Xây dựng trình Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh kế hoạch dài hạn, ngắn hạn về phát triển bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn và chương trình công tác hàng năm; tổ chức thực hiện kế hoạch, chương trình sau khi được phê duyệt.

– Phối hợp với các phòng, ban liên quan tham mưu cho Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện xây dựng, ban hành nghị quyết, kế hoạch chỉ đạo tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện.

– Thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến các chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.

– Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ theo phân cấp của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Bảo hiểm xã hội tỉnh, cụ thể:

+ Cấp, quản lý mã số bảo hiểm xã hội; cấp sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế cho người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quản lý, sử dụng phôi sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế theo đúng quy định;

+ Xác định, khai thác, phát triển, quản lý người tham gia và hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế. Tổ chức thu hoặc ký hợp đồng ủy quyền cho tổ chức dịch vụ thu các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế đối với các tổ chức và cá nhân tham gia. Từ chối việc đóng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế không đúng quy định của pháp luật. Kiểm tra việc đóng nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng lao động. Thực hiện các giải pháp nhằm hạn chế tình trạng trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo phân cấp của Bảo hiểm xã hội tỉnh;

+ Giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế tại Bảo hiểm xã hội huyện; Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính cấp huyện; theo dõi tăng, giảm số người hưởng chế độ bảo hiểm xã hội;

+ Tiếp nhận hồ sơ giải quyết việc tính thời gian công tác cho người lao động có thời gian công tác trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 (bao gồm trường hợp người lao động không còn hồ sơ gốc thể hiện thời gian làm việc trong khu vực nhà nước và điều chỉnh làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm) theo phân cấp của Bảo hiểm xã hội tỉnh;

+ Chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; từ chối chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế không đúng quy định;

+ Tiếp nhận khoản kinh phí từ ngân sách Nhà nước chuyển sang để đóng, hỗ trợ đóng cho người tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội tự nguyện;

+ Quản lý, sử dụng, hạch toán kế toán các nguồn kinh phí và tài sản của Bảo hiểm xã hội huyện theo phân cấp;

+ Tổ chức ký hợp đồng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế với các cơ sở khám, chữa bệnh có đủ điều kiện theo quy định hiện hành; thực hiện tạm ứng, giám định chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, thanh quyết toán chi khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội Việt Nam đối với các cơ sở khám, chữa bệnh được phân cấp ký hợp đồng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế; thanh toán trực tiếp chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế cho người có thẻ bảo hiểm y tế; bảo vệ quyền lại của người tham gia bảo hiểm y tế và chống lạm dụng, trục lợi chế độ bảo hiểm y tế;

+ Tổ chức thực hiện các hoạt động hỗ trợ, giải đáp, tư vấn chính sách pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; khảo sát, đo lường sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện.

– Giải quyết các khiếu nại, kiến nghị, phản ánh về việc thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế đối với các tổ chức, cá nhân tham gia và các cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế theo quy định.

– Thực hiện chương trình, kế hoạch cải cách hành chính; công tác kiểm soát thủ tục hành chính và công tác pháp chế theo chỉ đạo, hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội tỉnh. Tổ chức triển khai hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN vào hoạt động của Bảo hiểm xã hội huyện.

– Tổ chức thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định.

– Thực hiện số hóa hồ sơ, giấy tờ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính và số hóa hồ sơ, tài liệu hành chính, nghiệp vụ; thực hiện công tác lưu trữ hồ sơ, tài liệu hành chính, nghiệp vụ; hồ sơ của người tham gia và hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế (gồm cả giấy và điện tử) theo quy định.

– Hướng dẫn việc thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho các tổ chức, cá nhân tham gia.

– Chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội trên địa bàn, các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế để giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định. Phối hợp với các đơn vị có liên quan trình Ủy ban nhân dân cấp huyện xây dựng kế hoạch giao chỉ tiêu phát triển người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và phát triển người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên cơ sở kế hoạch được giao.

– Đề xuất, kiến nghị, phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế. Tham gia đoàn thanh tra, kiểm tra do Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh thành lập.

– Có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn. Gửi văn bản kiến nghị khởi tố kèm theo chứng cứ, tài liệu có liên quan đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tại cấp huyện để xem xét, khởi tố theo quy định của pháp luật khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định của Bộ luật Hình sự.

– Đề nghị các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương thực hiện điều tra lại các vụ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo phân cấp quản lý.

– Định kỳ cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin về việc đóng, quyền được hưởng các chế độ, thủ tục thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho người lao động, người sử dụng lao động hoặc khi người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức công đoàn yêu cầu; cung cấp đầy đủ và kịp thời tài liệu, thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

– Triển khai thực hiện các quy chế, chương trình, kế hoạch phối hợp với các cơ quan, đơn vị theo ký kết của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và của Bảo hiểm xã hội tỉnh.

BÁ CÁO THUC TAP_ ĐƠN VỊ THỰC TẬP  BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG
BÁ CÁO THUC TAP_ ĐƠN VỊ THỰC TẬP BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG

– Quản lý viên chức, người lao động của Bảo hiểm xã hội huyện.

– Tham gia nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; khai thác và bảo mật dữ liệu công nghệ thông tin; thực hiện chế độ thông tin, thống kê, báo cáo, thi đua – khen thưởng theo phân cấp của Bảo hiểm xã hội tỉnh.

– Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh giao và theo quy định của pháp luật.

1.2.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy

Theo sơ đồ thì Giám đốc BHXH huyện Krông Bông chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ hoạt động của cơ quan với sự tham gia của các bộ phận nghiệp vụ. Các bộ phận này có quan hệ chặt chẽ, hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình quản lý các hoạt động của BHXH huyện Krông Bông.

GIÁM ĐỐC

CÁC PHÓ GIÁM ĐỐC

Bộ phận một cửa

Bộ phận Kế hoạch -Tài chính

Bộ phận thu – sổ thẻ

Bộ phận chế độ BHXH

Bộ phận truyền thông

Bộ phận Giám định BHYT

Bộ phận văn thư – lưu trữ, văn phòng

2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐĂK LĂK

2.1. Phân tích môi trường hoạt động của Bảo hiểm xã hội huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk

2.1.1. Các yếu tố thuộc môi trường tự nhiên

Huyện Krông Bông nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Đăk Lăk, trung tâm huyện lỵ cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 55 km về phía Đông – Nam theo Quốc lộ 27. Phía Tây giáp huyện Lắk, Phía Tây Bắc giáp huyện Cư Kuin, huyện Krông Ana. Phía Bắc giáp huyện Krông Pác, huyện Ea Kar. Phía Đông giáp huyện M’Drăk, huyện Vĩnh Khánh (Khánh Hòa). Phía Nam giáp huyện Lạc Dương (Lâm Đồng).

Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 1.257,49 km2 chiếm 6,38% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, tổng dân số khoảng 95.074 người, toàn huyện có trên 16 dân tộc khác nhau, trong đó: người kinh chiếm trên 71%, các dân tộc thiểu số còn lại chiếm 29%.Huyện có 13 xã và 01 thị trấn gồm: Thị trấn Krông Kmar và các xã: Yang Reh, Ea Trul, Hòa Sơn, Hòa Lễ, Hòa Phong, Cư Pui, Cư Drăm, Yang Mao, Khuê Ngọc Điền, Cư Kty, Hòa Tân, Hòa Thành, Dang Kang. Trình độ dân trí ở vùng đồng bằng dân tộc tại chỗ còn hạn chế nên công tác định canh định cư không ổn định, tỷ lệ đói nghèo còn cao, nhiều vùng đồng bào còn thiếu đất và vốn để sản xuất.

Bản đồ hành chính huyện Krông Bông

Krông Bông nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhưng do vừa bị ảnh hưởng của độ cao, vừa bị ảnh hưởng của các dãy núi lớn Cư Yang Sin nên khí hậu Krông Bông có hai mùa mưa nắng rõ rệt với những đặc trưng chính sau:

– Nắng nhiều: trung bình 180 giờ/tháng. Năng lượng bức xạ tổng cộng lớn: trung bình từ 150 – 160 kcal/cm2 năm. Nhiệt độ cao và ôn hòa: nhiệt độ trung bình năm từ 23,7 – 27,30C. Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 12 và tháng 1, nhiệt độ có thể xuống đến khoảng 17,3 – 20,10C. Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 4 và tháng 5, nhiệt độ trung bình có thể lên đến 28 – 300C. Bên cạnh đó, chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm khá lớn (mùa khô biên độ nhiệt trên 100C).

– Lượng mưa: Có hai tiểu vùng mưa: vùng phía Đông bao gồm xã Hòa Phong và 3 xã Cư Pui, Cư Drăm, Yang Mao, có mùa mưa kéo dài và kết thúc cũng muộn hơn. Lượng mưa nhiều hơn so với các xã phía Tây và phía Bắc của huyện. Nhìn chung, trên toàn huyện có lượng mưa lớn (trung bình từ 1.800 – 2.200 mm/năm), mùa mưa dài.

2.1.2. Các yếu tố kinh tế – xã hội

Huyện Krông Bông có địa bàn rộng 1.257,49 km2 dân cư đông, phân bố không đều, kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, mũi nhọn là trồng cây thuốc lá, cây mì, bắp, đậu các loại, giá cả các mặt hàng nông sản không ổn định. Kinh tế – xã hội phát triển chậm, thuộc một trong 5 huyện nghèo của tỉnh Đăk Lăk. Các doanh nghiệp trên địa bàn huyện có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, gặp khó khăn trong việc sản xuất, kinh doanh do thiên tai, dịch bệnh gây ra.

a. Lực lượng lao động

Dân số toàn huyện năm 2023 khoảng 108.996 người gồm: nam giới chiếm 50,6% tổng dân số và nữ giới chiếm 49,4%; dân số thành thị chiếm 7,6% và dân số nông thôn chiếm 92,4%, trong đó lực lượng lao động trên 15 tuổi khoảng 53.900 người.

Bảng 1. Dân số và lực lượng lao động huyện Krông Bông giai đoạn 2021-2023

Mục202120222023
Tổng cộng (người)106.156107.713108.996
Theo giới tính   
Nam ( người)53.70454.54555.195
Tỷ lệ (%)50,5950,6450,64
Nữ ( người)52.45253.16853.801
Tỷ lệ (%)49,4149,3649,36
Theo địa bàn   
Thành thị ( người)8.1978.2398.239
Tỷ lệ (%)7,72 7,65 7,56
Nông thôn ( người)97.95999.474100.757
Tỷ lệ (%) 92,28 92,35 92,44
Lao động trên 15 tuổi52.68653.24153.900
Tỷ lệ (%)56,13 49,43 49,45

b. Điều kiện kinh tế – xã hội

Năm 2021, mặc dù chịu tác động ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19, nhưng với sự lãnh đạo,chỉ đạo sát sao của Huyện ủy, HĐND, UBND huyện, sự đồng thuận của nhân dân,nên tình hình kinh tế – xã hội trên địa bàn huyện duy trì ổn định và phát triển. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất tăng 5,84% so với cùng kỳ năm 2020; giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp đạt 2.824 tỷ đồng; giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng đạt 1.682 tỷ đồng; giá trị thương mại và dịch vụ đạt 2.653 tỷ đồng.

Năm 2022, giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiêp đạt 3.084 tỷ đồng, tăng 9,21%; giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng đạt 1.895 tỷ đồng, tăng 12,66%; giá trị thương mại, dịch vụ đạt 2.960 tỷ đồng, tăng 11,57% so với năm 2021.

Năm 2023, giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiêp đạt 3.329 tỷ đồng, tăng 7,94%; giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng đạt 12.106 tỷ đồng, tăng 11,13%; giá trị thương mại, dịch vụ đạt 3.537 tỷ đồng, tăng 19,49% so với năm 2022.

Bảng 2. Điều kiện kinh tế – xã hội tại huyện Krông Bông

giai đoạn 2021-2023

Chỉ tiêuNăm 2021Năm 2022Năm 2023So sánh %/(+ – )
2022/20212023/2022
Tổng giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp (tr.đ)2.8243.0843.3299,217,94
Tổng giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng (tr.đ)1.6821.8952.10612,6611,13
Tổng giá trị thương mại và dịch vụ (tr.đ)2.6532.9603.53711,5719,49

2.1.3. Các yếu tố thuộc môi trường nội bộ

a. Nguồn nhân lực của BHXH huyện Krông Bông giai đoạn 2021 – 2023

Năm 2023, tổng số cán bộ viên chức, người lao động trong cơ quan có 11 người đã qua kinh nghiệm thực tiễn, có phẩm chất đạo đức tốt, có nghiệp vụ chuyên ngành đào tạo cơ bản, trong đó: có 01 viên chức trình độ Thạc sĩ, 09 người có trình độ đại học, 01 người lao động có trình độ phổ thông, số cán bộ nữ là 6 người. Về cơ cấu tổ chức bao gồm: Giám đốc, 01 Phó Giám đốc, 01 Kế toán trưởng, số cán bộ còn lại được phân công vị trí việc làm tại các bộ phận nghiệp vụ.

BHXH huyện Krông Bông có 01 đội ngũ cán bộ viên chức trẻ, tuổi trung bình 38 tuổi, người nhỏ nhất 30 tuổi, người cao nhất 48 tuổi, ngày càng được củng cố về chất lượng, ý thức trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân của viên chức không ngừng được nâng lên, luôn nêu cao tình thần đoàn kết phối hợp cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Bảng 3. Nguồn nhân lực của BHXH huyện Krông Bông giai đoạn 2021 – 2023

MụcNăm 2021Năm 2022Năm 2023
Số lượng (người)111011
Đại học trở lên (người)10910
Phổ thông trung học (người)111
Độ tuổi dưới 40 tuổi989
Độ tuổi trên 40 tuổi222

b. Môi trường công nghệ:

Ngành BHXH với quan điểm xuyên suốt “Lấy người dân, doanh nghiệp làm chủ thể, trung tâm phục vụ”, tất cả các kết quả, nhiệm vụ của ngành BHXH Việt Nam đều nhằm mang tới những lợi ích tối ưu, tốt hơn cho người tham gia, thụ hưởng các chính sách BHXH, BHYT, BHTN.

Công tác chuyển đổi số của ngành được thực hiện mạnh mẽ, toàn diện, tạo chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức của người đứng đầu đến từng cán bộ; thấy được tầm quan trọng của công tác ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số với hoạt động của ngành.

Các lĩnh vực hoạt động của ngành đều được số hóa và ứng dụng công nghệ thông tin, với gần 30 hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin quản lý các quy trình nghiệp vụ, hàng nghìn tài khoản trong ngành thường xuyên truy cập, khai thác và sử dụng để thực hiện các nghiệp vụ.

Hệ thống thông tin giám định BHYT của ngành đang kết nối với cơ sở KCB BHYT có hợp đồng khám chữa bệnh trên toàn quốc. Đây là công cụ hiệu quả, giúp công tác KCB BHYT công khai, minh bạch, đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người tham gia BHYT.

Việc giao dịch điện tử trong lĩnh vực BHXH không chỉ góp phần giảm tải áp lực giải quyết hồ sơ, thủ tục cho cơ quan BHXH, mà còn giúp các tổ chức, cá nhân tiết kiệm được nhiều thời gian, công sức và chi phí đi lại khi giao dịch với cơ quan BHXH.

Như vậy, 100% thủ tục của ngành đã được cung cấp dịch vụ công trực tuyến và tích hợp trên Cổng dịch vụ công BHXH Việt Nam; đồng thời từng bước tích hợp trên Cổng dịch vụ công quốc gia. Gần như tất cả các hoạt động của ngành, cũng như các giao dịch của người người dân, doanh nghiệp với cơ quan BHXH đã được thực hiện trên môi trường số.

c. Chiến lược phát triển của BHXH huyện Krông Bông đến năm 2030.

BHXH huyện Krông Bông nằm trong hệ thống BHXH Việt Nam, vì vậy chiến lược của ngành BHXH Việt Nam cũng là chiếc lược của BHXH huyện Krông Bông không thể tách rời được.

Ngày 11/01/2024, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 38/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành BHXH Việt Nam đến năm 2030, nhằm phát triển ngành BHXH Việt Nam theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; thực hiện tốt các chế độ, chính sách BHXH, BHTN, BHYT cho người lao động và Nhân dân.

Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2025, đạt khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHXH, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện chiếm khoảng 2,5% lực lượng lao động trong độ tuổi (năm 2030, các chỉ tiêu này lần lượt đạt khoảng 60% và 5%); có khoảng 55% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, BHXH hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội (năm 2023: 60%); khoảng 35% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHTN (năm 2030: 45%); trên 95% dân số tham gia BHYT (năm 2030: trên 97%).

Đến năm 2025, mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về giải quyết thủ tục hành chính đạt tối thiểu 90% (năm 2030: 95%). Chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia BHXH trên 85% (năm 2030: 90%). Số người nhận các chế độ BHXH, BHTN qua các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt tại khu vực đô thị trên 68% (năm 2030: 75%).

Về lĩnh vực chuyển đổi số, đến năm 2025, phấn đấu đạt: (1) 100% dịch vụ công trực tuyến toàn trình được cung cấp trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị di động; (2) 95% hồ sơ công việc của ngành BHXH Việt Nam được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước); (3) 100% người tham gia BHXH, BHTN, BHYT có tài khoản giao dịch điện tử, đã cài đặt ứng dụng VssID – BHXH số có thể theo dõi quá trình đóng, hưởng các chế độ BHXH, BHTN, BHYT, tra cứu thông tin, thực hiện dịch vụ công trực tuyến; (4) 100% người dân tham gia BHYT đã được cấp Căn cước công dân có thể sử dụng thay thế thẻ BHYT khi đi khám chữa bệnh.

Đến năm 2030: (1) Hoàn thành xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm; (2) Kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành khác để triển khai dịch vụ công và tạo thuận lợi cho người dân, đơn vị sử dụng lao động và triển khai kiểm tra, kiểm soát dựa trên dữ liệu lớn; (3) 100% các hệ thống thông tin của BHXH Việt Nam có liên quan đến người dân, tổ chức, doanh nghiệp được tái cấu trúc và ứng dụng công nghệ hiện đại, đưa vào vận hành, khai thác được kết nối, liên thông qua các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu; (4) 100% hồ sơ công việc của ngành BHXH Việt Nam được xử lý trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước).

2.2. Kết quả hoạt động của Bảo hiểm xã hội huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 2021 – 2023

2.2.1. Về công tác tổ chức và điều hành

Trên cơ sở dự toán được BHXH tỉnh giao, Chi bộ BHXH huyện đã xây dựng Nghị quyết ngay từ đầu năm, hằng tháng sinh hoạt có đánh giá, kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết, khắc phục những mặt còn tồn tại nhằm xây dựng Nghị quyết cho sát đúng với tình hình thực tế để lãnh đạo chính quyền tổ chức thực hiện nhiệm vụ một cách có hiệu quả.

Cơ quan xây dựng Kế hoạch công tác cụ thể của từng bộ phận theo từng tháng, từng quý trong năm. Phân công cán bộ ngoài thực hiện công tác chuyên môn còn phải bám sát đơn vị mình phụ trách hướng dẫn lập danh sách, đôn đốc thu để đạt và vượt kế hoạch cấp trên giao.

2.2.2. Về phối hợp với cấp ủy chính quyền địa phương

Hằng năm, công tác phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương luôn được quan tâm, chú trọng. BHXH huyện Krông Bông đã chủ động tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT trên địa bàn; tham mưu, đề xuất đưa mục tiêu, kế hoạch thực hiện lộ trình BHXH, BHYT vào nghị quyết, chương trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương; tham mưu thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT; tiếp tục triển khai có hiệu quả việc phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHYT đạt kết quả cao.

Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, công tác khai thác thu và phát triển người tham gia BHXH, BHYT có sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức và hành động của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân về vai trò, trách nhiệm cũng như mục đích, ý nghĩa của việc tham gia BHXH, BHYT, góp phần tạo niềm tin sâu sắc trong toàn xã hội về các chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước nói chung và chính sách BHXH, BHYT nói riêng.

2.2.3. Công tác thu, phát triển người tham gia BHXH, BHTN, BHYT của BHXH huyện Krông Bông giai đoạn 2021 – 2023

Trong giai đoạn 2021-2023 trên địa bàn huyện Krông Bông xảy ra nhiều thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh Covid-19, dịch bệnh sốt xuất huyết diễn biến phức tạp…, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đời sống, sinh hoạt của người dân. Hơn thế nữa, trong giai đoạn này UBND huyện Krông Bông xây dựng kế hoạch tinh giản biên chế hằng năm giảm 10% do vậy lao động trong khu vực hành chính sự nghiệp không tăng; các doanh nghiệp trên địa bàn hoạt động ở quy mô nhỏ và siêu nhỏ nên số lao động trong khối này là rất hạn chế. BHXH Krông Bông luôn xác định công tác thu và phát triển đối tượng là nhiệm vụ trọng tâm, Lãnh đạo cơ quan đã đưa ra nhiều giải pháp đảm bảo hoàn thành và hoàn thành vượt mức một số chỉ tiêu thu, phát triển người tham gia nêu tại Nghị quyết số 21-NQ/TW, Nghị quyết số 28-NQ/TW và Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ, cụ thể:

Bảng 4. Kết quả phát triển người tham gia BHXH, BHYT, BHTN của BHXH Krông Bông giai đoạn 2021 – 2023

Năm

  

Loại

hình

Năm 2021Năm 2022Năm 2023
Kế hoạchSố người Tỷ lệ %Kế hoạchSố người Tỷ lệ %Kế hoạchSố người Tỷ lệ %
BHXH bắt buộc3.1713.2451022.9912.9911002.9942.999100,2
BHTN2.4372.423992.3802.3801002.3772.383100,3
BHXH tự nguyện1.0881.07599855855100785785100
BHYT92.06493.043100,495.07495.07410095.07495.133100

Giai đoạn 2021 – 2023, công tác phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHYT, BHTN của BHXH huyện Krông Bông đều đạt kế hoạch giao. Tuy nhiên, qua bảng số liệu ta thấy: số người tham gia BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện giảm theo từng năm, điều đó chứng tỏ công tác phát triển người tham gia BHXH rất khó khăn, một phần huyện Krông Bông là một huyện nghèo của tỉnh Đăk Lăk, doanh nghiệp trên địa bàn huyện nhỏ và siêu nhỏ, thu nhập người dân bấp bênh. Bên canh đó, số người tham gia BHYT tăng lên từng năm, năm 2021 có 93.043 người tham gia đến năm 2023 có 95.133 người tham gia BHYT. Đây là sự nỗ lực của toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của BHXH huyện Krông Bông trong công tác vận động, phát triển người tham gia BHYT.

Bảng 5. Kết quả thu BHXH, BHYT, BHTN của BHXH Krông Bông

giai đoạn 2021 – 2023

Năm

 

 Loại

hình

Năm 2021Năm 2022Năm 2023
Kế hoạchThực hiệnTỷ lệ %Kế hoạchThực hiệnTỷ lệ %Kế hoạchThực hiệnTỷ lệ %
BHXH bắt buộc47.63748.15210149.80349.63810054.47655.188101,3
BHTN3.2423.161983.0452.980984.0793.33781,8
BHXH tự nguyện3.0192.778923.4073.292973.6363.61699,45
BHYT16.72920.51512318.21918.38010118.83221.209102,62
Cộng70.627 74.606 10674.474 74.290 10081.02383.300102,81

Giai đoạn 2021 – 2023, công tác thu BHXH, BHYT, BHTN của BHXH huyện Krông Bông đều đạt kế hoạch giao, số thu năm sau cao hơn năm trước. Năm 2021 thu đạt 74.606 triệu đồng đến năm 2023 thu đạt 83.300 triệu đồng, tăng 8.964 triệu đồng, đây là một kết quả đáng khích lệ cho tập thể BHXH huyện Krông Bông.

2.2.4. Công tác quản lý đối tượng và chi trả chế độ của BHXH huyện Krông Bông giai đoạn 2021 – 2023

BHXH Krông Bông thông qua Bưu điện huyện thực hiện việc chi trả trợ cấp BHXH hàng tháng cho đối tượng và thực hiện giám sát thường xuyên và chặt chẽ, do vậy luôn đảm bảo việc chi đúng, đủ, kịp thời cho đối tượng.

Ngoài ra BHXH hướng dẫn và yêu cầu Bưu điện huyện thực hiện tốt công tác quản lý đối tượng theo địa bàn xã để quản lý nên các đối tượng tăng giảm đều được phát hiện và thực hiện kịp thời, không để xảy ra tình trạng thu hồi đối với các đối tượng chết, chuyển đi báo giảm không kịp thời, không có biểu hiện tiêu cực xảy ra trong việc quản lý đối tượng hưởng trợ cấp BHXH.

Đối tượng hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng, tính đến 31/12/2023 là 803 người. trong đó đối tượng hưởng qua tài khoản ATM là 459 người, đạt tỷ lệ 57,16%. Trong giai đoạn 2021-2023 đã thực hiện quản lý và chi trả, cụ thể như sau:

Bảng 6. Công tác quản lý đối tượng và chi trả chế độ của BHXH huyện Krông Bông giai đoạn 2021 – 2023

NămChi lương hưu, trợ cấp hàng thángChi qua ATMGhi chú
Số ngườiSố tiền (tr.đ)Số ngườiTỷ lệ % 
202177741.47531540,54 
202279547.52841051,57 
20238035741445957.16 

2.2.5. Công tác giải quyết các chế độ BHXH của BHXH huyện Krông Bông giai đoạn 2021 – 2023

Thực hiện kiểm tra hồ sơ chặt chẽ, tra cứu trước khi xét duyệt. Công tác chi trả chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, chế độ một lần cho đối tượng và người lao động đảm bảo đúng quy định không dây dưa chậm trễ gây phiền hà cho đối tượng.

Trong 3 năm giai đoạn 2021-2023 đã giải quyết được:

+ Chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe: 693 lượt.

+ Chế độ hưu trí: 135 người.

+ Chế độ BHXH 1 lần: 2.684 người.

Bảng 7. Công tác giải quyết các chế độ BHXH của BHXH huyện Krông Bông giai đoạn 2021 – 2023

Chỉ tiêuNăm 2021Năm 2022Năm 2023Cộng
Ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe (lượt)249241203693
Hưu trí ( người )293571135
BHXH 1 lần ( người)5025058491856
Tổng Cộng78078111232684

2.3. Sự ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội đến sự phát triển của bảo hiểm y tế hộ gia đình

a. Thuận lợi

Với điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội, năm 2023, huyện Krông Bông đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị và chính quyền các xã, thị trấn tập trung triển khai nhiều giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội. Kết quả tích cực thể hiện trên từng lĩnh vực cụ thể, như: Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất năm 2023 tăng 10,87% so với năm 2022; giá trị sản xuất bình quân đầu người ước đạt 79,7 triệu đồng/năm; huy động vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 925,8 tỷ đồng (tăng 13,28% so với năm 2022)… Huyện cũng đã phát triển thêm 10 doanh nghiệp; cấp giấy phép thành lập mới 4 hợp tác xã; phát triển 185 hộ kinh doanh. Tổng mức luân chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ trên địa bàn huyện ước đạt 3.537 tỷ đồng (tăng 19,49% so với năm 2022). Đây là điều kiện thuận lợi để mở rộng, góp phần giúp người dân tham gia BHYT HGĐ.

b. Khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi huyện Krông Bông cũng gặp không ít khó khăn như việc làm của người dân không ổn định. Giá cả một số mặt hàng nông sản chủ lực bấp bênh không ổn định, diễn biến phức tạp của thời tiết, biến đổi khí hậu, dịch bệnh đang ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống của người dân. Ngoài ra, những bất cập trong chính sách BHYT luôn thay đổi, không ổn định, còn thụ động bất cập dẫn đến người thực hiện gặp nhiều khó khăn chưa theo kịp kinh tế thị trường: chất lượng KCB còn thấp, số người tham gia BHYT hộ gia đình chưa nhiều và chưa thường xuyên liên tục, mức tham gia BHYT HGĐ cao so với thu nhập của người dân, nhất là người dân thuộc khu vực nông thôn… điều đó gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tuyên truyền nhằm thay đổi nhận thức trong nhân dân để thực hiện mở rộng đối tượng tham gia BHYT nói chung và BHYT HGĐ nói riêng.

2.4. Kết quả thu BHYT của BHXH huyện Krông Bông giai đoạn 2021 – 2023

Nhìn chung, số thu BHYT giai đoạn 2021 – 2023 tăng lên từng năm, năm 2022 tăng 9,56% so với năm 2021, năm 2023 tăng 15,01% so với năm 2022. Trong đó BHYT HGD năm 2022 số thu giảm 20,98% so với năm 2021, năm 2023 số thu tăng 3.8% so với năm 2022. Cụ thể như sau:

Bảng 8. Kết quả thu BHYT của BHXH huyện Krông Bông giai đoạn 2021 – 2023

Chỉ tiêuNăm 2021Năm 2022Năm 2023So sánh %/(+-)
2022/20212023/2022
Thu BHYT (tr.đồng)16.83218.44121.2099.5615.01
+ Trong đó thu BHYT HGD (tr.đồng)6.4345.0845.277-20.983.80

2.5. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế

Giai đoạn 2021 – 2023, BHXH huyện Krông Bông luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Thường trực Huyện ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện; Sự phối hợp chặc chẽ của các cơ quan, ban, ngành có liên quan, đặc biệt là sự chỉ đạo trực tiếp của BHXH của tỉnh Đăk Lăk, đã tạo điều kiện cho BHXH huyện hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, cụ thể:

Bảng 9. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tại địa bàn huyện Krông Bông giai đoạn 2021 – 2023

Chỉ tiêuĐVTNămSo sánh (%)/(+/-)
2021202220232022/20212023/2022
Số người tham gia BHYT (người)Người93.03895.07495.1332,190,06
Trong đó, số người tham gia BHYT HGĐNgười9.6729.46310.774-2,1613,85
Tỷ lệ người tham gia BHYT HGĐ%10,049,9511,33-4,2613,78
Dân số toàn huyệnNgười105.156107.713108.9962,431,19
Tỷ lệ bao phủ BHYT%88,4888,2787,28-0,24-1,12
Số người chưa tham gia BHYTNgười12.11812.63913.8634,309,68

Qua bảng số liệu thể hiện tình hình phát triển BHYT trên địa bàn huyện Krông Bông, năm 2022 số người tham gia BHYT trên địa bàn là 95.074 người, tăng 2.306 người so với năm 2021 (tương ứng là 2,19%). Năm 2023, số người tham gia BHYT trên địa bàn tăng 59 người so với năm 2022 (tương ứng tăng 0,06%). Số người tham gia BHYT HGĐ đạt từ 10,04% đến 11,33% so với tổng số người tham gia BHYT trên địa bàn huyện qua các năm. Như vậy, đây là điểm khởi sắc trong nỗ lực phát triển BHYT toàn dân trên địa bàn huyện Krông Bông.

Số người chưa tham gia BHYT, theo số liệu cho thấy số người chưa tham gia BHYT tăng dần qua từng năm trong giai đoạn 2021-2023. Năm 2022, tỷ lệ người dân chưa tham gia BHYT tăng 4.3%%, tương ứng tăng thêm 521 người; năm 2023, tỷ lệ người chưa tham gia BHYT tăng 9,68% tương ứng tăng thêm 1.224 người.

Bảng 10. Thống kê số lượng tham gia BHYT theo nhóm đối tượng giai đoạn 2021 – 2023 trên địa bàn huyện Krông Bông

Nhóm đối tượngĐVTNămSo sánh (%)/(+/-)
2021202220232022/20212023/2022
Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng (Nhóm 1)Thẻ2.8952.8692.789-0,90-2,79
Nhóm do tổ chức BHXH đóng (Nhóm 2)Thẻ765736803-3,799,10
Nhóm Ngân sách nhà nước đóng (Nhóm 3)Thẻ70.41770.44067.6920,03-3,90
Nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng (Nhóm 4)Thẻ9.2891.156613.07524,5113,05
Nhóm tham gia BHYT HGĐ (Nhóm 5)Thẻ9.6729.46310.774-2,1613,85
Tỷ lệ người tham gia BHYT theo các nhóm đối tượng tham gia BHYT trên tổng số người tham gia BHYT
Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng%3,113,02 2,93 -0,03-0,03
Nhóm do cơ quan BHXH đóng%0,820,77 0,84 -0,060,09
Nhóm do ngân sách nhà nước đóng%75,6974,09 71,16 -0,02-0,04
Nhóm do ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng%9,9812,17 13,74 0,220,13
Nhóm tham gia BHYT hộ gia đình%10.409.95 11.33 -0.040.14

Qua bảng số liệu trên ta thấy, số người tham gia BHYT tại nhóm 3 và nhóm 4 chiếm đa số. Đối tượng nhóm 3 là nhóm Ngân sách nhà nước đóng gồm có người nghèo, người dân sống ở vùng đặc biệt khó khăn, bảo trợ xã hội…. Đối tượng thuộc nhóm 4 là nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng gồm những người thuộc hộ gia đình cận nghèo, học sinh, sinh viên, hộ gia đình nông lâm ngư nghiệp có mức sống trung bình. Đối tượng thuộc nhóm 5 là nhóm tham gia BHYT HGĐ, tức là tự đóng, không được nhận sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước. Ta thấy, nhóm đối tượng tham gia BHYT HGĐ đều tăng qua các năm, năm 2023 tăng 13,85%% so với năm 2022. Tỷ lệ tăng này tương đối cao so với các năm trước.

Nhóm người lao động và người sử dụng lao động đóng (nhóm 1) chiếm tỷ lệ 3%; Nhóm do tổ chức BHXH đóng (nhóm 2) chiếm 0,8%; Nhóm ngân sách nhà nước đóng (nhóm 3) chiếm tỷ lệ 74%; Nhóm tự đóng được ngân sách nhà nước hỗ trợ 1 phần (nhóm 4) chiếm 11%; Nhóm tham gia BHYT theo hộ gia đình (nhóm 5) chiếm tỷ lệ 11% trong tổng.

Qua phân tích có thể thấy một điều rằng, tỷ lệ tham gia BHYT hộ gia đình có xu hướng tăng lên khi độ tuổi của người dân tăng lên. Điều này phản ánh đúng thực tế việc quan tâm chăm sóc sức khỏe của bản thân, người càng lớn tuổi càng hay đau ốm nên sẽ quan tâm đến việc tham gia BHYT hộ gia đình.

2.6. Về chất lượng cung cấp dịch vụ bảo hiểm y tế hộ gia đình

a. Mạng lưới cơ sở KCB BHYT

Trên địa bàn toàn huyện Krông Bông năm 2023 có 1 cơ sở KCB ký hợp đồng KCB BHYT: trung tâm y tế huyện với 140 giường bệnh và 14 trạm y tế xã, thị trấn thuộc trung tâm y tế huyện. Trong những năm gần đây, hệ thống cơ sở y tế trên địa bàn huyện đã được xây dựng hoàn thiện, đầy đủ. Mạng lưới y tế đã được bao phủ toàn huyện. Trong giai đoạn 2021-2023, huyện chủ yếu tập trung nâng cấp một số cơ KCB chứ chưa đầu tư xây mới.

b. Đội ngũ cán bộ y tế

Phát triển BHYT HGĐ ngoài việc phát triển của cán bộ BHXH phục vụ cho công tác cấp, phát thẻ, tuyên truyền đến người dân thì đội ngũ cán bộ y tế phục vụ công tác KCB cho người dân tham gia BHYT cũng hết sức quan trọng. Nhìn chung, cán bộ y tế trên địa bàn tỉnh có trình độ ngày càng tăng, giúp cho công tác KCB cho người dân mang lại hiệu quả cao hơn.

Bảng 11. Đội ngũ cán bộ y tế tại huyện Krông Bông gia đoạn 2021 -2023

Số lượng y bác sĩ theo

trình độ chuyên môn

Số lượng (người)Tốc độ phát triển BQ (%)
Năm 2021Năm 2022Năm 2023
Bác sĩ3738392,66
Dược sĩ20242410
Y sĩ26313516,07
Đại học, trung cấp khác181180171-2,77
Tổng2642732690,97

c. Công tác KCB tại huyện Krông Bông giai đoạn 2021 – 2023

Tình hình KCB bằng BHYT HGĐ tại các cơ sở y tế trong giai đoạn năm 2021-2023 như sau:

Bảng 12. Công tác KCB tại huyện Krông Bông giai đoạn 2021 – 2023

Chỉ tiêuĐVTNămSo sánh (%)/(+/-)
2021202220232022/20212023/2022
Số lượt KCB bằng BHYTLượt70.78679.10993.10511,7617,69
Trong đó lượt KCB bằng BHYT HGĐLượt13.43812.63612.799-5,971,29
Chiếm tỷ lệ%18,9815,9713,75-15,86-13,94

Bảng số liệu thể hiện, số lượt KCB bằng BHYT HGĐ giảm mạnh năm 2022 giảm 5,97% so với 2021; năm 2023 tăng 1,29% so với năm 2022. Tỷ lệ lượt KCB bằng thẻ BHYT HGĐ từ 18,98% năm 2021 giảm còn 13,75% năm 2022 so với tổng lượt KCB bằng BHYT.

d. Chất lượng dịch vụ BHYT HGĐ

Chất lượng KCB BHYT tại các cơ sở y tế là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc tham gia BHYT HGĐ. Vẫn có nhiều ý kiến đánh giá của người dân về thủ tục hành chính, thời gian chờ đợi khi KCB, cơ sở vật chất chưa đảm bảo nhất là bệnh viện tuyến huyện. Các yếu tố này nếu không thực hiện khoa học, chuyên nghiệp sẽ khiến người dân lo ngại mỗi khi vào viện cũng như tham gia BHYT HGĐ.

Để nâng cao chất lượng KCB nhất là KCB BHYT, trong những năm qua ngành y tế đã chú trọng đầu tư hệ thống cơ sở y tế, đưa nhiều trang thiết bị kỹ thuật mới vào sử dụng, góp phần nâng cao chất lượng KCB và năng lực chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân.

Có thế nói, chất lượng dịch vụ KCB đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao uy tín, khẳng định vị thế của các cơ sở KCB.

Rõ ràng, ngoài việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia BHYT HGĐ, các cơ sở KCB cũng cần nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế giúp người dân được hưởng lợi một cách tốt nhất các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Cũng là giải pháp quan trọng để vận động người dân tham gia BHYT HGĐ hiện nay.

3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM Y TẾ HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG BÔNG

3.1. Yếu tố khách quan

3.1.1. Thu nhập của hộ gia đình

Trên thực tế, thu nhập ảnh hưởng đến chi tiêu của hộ gia đình, khi có thu nhập cao thì nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cũng tăng lên. Bên cạnh thu nhập, việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi, xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế – xã hội, nó chi phối mọi hoạt động cá nhân và xã hội.

Trên địa bàn huyện hiện nay dân cư phân bố trong các ngành nghề khác nhau từ cán bộ công chức, nhân viên ngân hàng, nông dân… nên mức thu nhập của mỗi người là khác nhau, chênh lệch, không đồng đều. Những người có thu nhập cao thường sử dụng dịch vụ KCB theo yêu cầu hơn là KCB bằng thẻ BHYT, họ thường đi KCB tại các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng. Vì họ cho rằng thời gian KCB bằng BHYT rất lâu, không thuận tiện. Còn đối với người dân có thu nhập thấp, có thể họ không dành tiền mua BHYT mà dành tiền vào nhu cầu thiết yếu hàng ngày.

3.1.2. Nhận thức của hộ gia đình về bảo hiểm y tế

Thực tế hiện nay vẫn còn một số người dân ít được tiếp cận với chính sách BHYT. Nguyên nhân có thể là do vùng sâu, vùng xa, không được sự tuyên truyền, vận động cũng như việc chưa tin tưởng vào chất lượng KCB cũng như vào chính sách BHYT.

Một điều đáng lưu ý nhất hiện nay là người dân vẫn chưa thấy rõ tính cộng đồng của chính sách BHYT và người dân tham gia BHYT HGĐ có quyền lựa chọn khi tham gia BHYT, tức là bất kỳ thời điểm nào trong năm và hạn sử dụng thẻ BHYT thậm chí có giá trị sử dụng ngay kể từ thời điểm đóng (nếu gián đoạn thẻ BHYT dưới 03 tháng trong năm tài chính). Chính vì vậy, có một nhóm người lợi dụng điều này để chỉ khi nào ốm đau, bệnh tật mới tham gia BHYT.

3.2. Yếu tố chủ quan

3.2.1. Hệ thống Tổ chức dịch vụ thu bảo hiểm y tế hộ gia đình

Hệ thống Tổ chức dịch vụ thu BHYT HGĐ như là cánh tay nối dài của cơ quan BHXH với người dân, đưa chính sách BHYT HGĐ đến gần hơn tới mọi người dân trên địa bàn huyện. Thực tế cho thấy, hệ thống Tổ chức dịch vụ thu BHYT HGĐ ngày càng được mở rộng về số lượng, nhưng hiệu quả hoạt động chưa cao, chưa chủ động trong vận động, khai thác đối tượng, đối tượng tăng chủ yếu là cho người dân chủ động tới đăng ký tham gia.

3.2.2. Về mức đóng BHXH HGĐ

Theo luật mới năm 2015 thì mức đóng BHYT bằng 4,5% mức lương cơ sở/tháng (hiện nay là 972.00 đồng/năm). Nhưng khuyến khích đóng theo hộ gia đình thì BHYT sẽ được giảm theo số lượng người đóng BHYT trong gia đình, người thứ nhất đóng bằng 4,5% mức lương cơ sở; người thứ 2 đóng bằng 70% mức đóng của người thứ nhất; người thứ 3 đóng bằng 60% mức đóng của người thứ nhất; người thứ 4 đóng bằng 50% mức đóng của người thứ nhất; người thứ 5 trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất. Đây là cũng tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích cho mọi người dân đều tham gia BHYT, nhưng cũng là thách thức, vì người dân rất thực dụng và nhìn ngắn hạn, họ thường chỉ tham gia BHYT khi sức khỏe họ có vấn đề.

3.2.3. Về quy trình khám chữa bệnh

Khi tham gia BHYT HGĐ thì thủ tục KCB bằng thẻ BHYT là một trong những vấn đề luôn được người dân quan tâm, ảnh hưởng không nhỏ đến việc tham gia BHYT HGĐ. Khi đi khám phải xuất trình đủ giấy tờ, chuyển tuyến phải cần giấy xác nhận. Nên ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định của người dân khi tham gia BHYT HGĐ trong khi còn ái ngại là thủ tục vẫn còn phức tạp.

3.2.4. Về đội ngũ cán bộ y tế

Chất lượng dịch vụ KCB BHYT không chỉ thể hiện qua cơ sở vật chất, kỹ thuật, mà còn thể hiện qua thái độ phục vụ của y bác sĩ dành cho người bệnh. Người nông dân khi đi khám bằng thẻ BHYT thường bị đối xử không bằng với người không có thẻ BHYT. Đây là vấn đề gây ra bức xúc có người dân khi tham gia BHYT, dẫn đến người dân mất dần niềm tin vào việc sử dụng thẻ BHYT để KCB.

3.2.5. Về công tác thông tin truyền thông

Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHYT được triển khai một cách toàn diện, thường xuyên tổ chức thông tin, tuyên truyền và phản ánh kịp thời các hoạt động liên quan đến tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHYT. Tuy vậy, vẫn còn nhiều người dân chưa nhận biết và hiểu rõ bản chất nhân văn, tính nhân đạo sâu sắc của chính sách này. Rất nhiều người chưa có điều kiện tiếp cận với các phương tiện truyền thông hiện đại nên kênh tuyên truyền chính vẫn là thông qua người đại diện tại các thôn, buôn, xã dẫn đến việc tuyên truyền mở rộng đối tượng tham gia BHYT HGĐ chưa thực sự đạt hiệu quả.

4. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA BAO HIỆM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐĂK LĂK

4.1. Kết quả đạt được

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ BHXH tỉnh giao, BHXH Krông Bông làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương thường xuyên chỉ đạo và phối hợp chặt chẽ đầy trách nhiệm với các cơ quan liên quan của huyện.

Luôn tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của BHXH tỉnh và phối hợp chặt chẽ với các phòng nghiệp vụ để xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao. Gia đoạn 2021 – 2023, BHXH huyện Krông Bông đã đạt được kết quả cụ thể như sau:

Công tác thu, phát triển đối tượng: Khai thác và đôn đốc thu BHXH, BHYT, BHTN đảm bảo tiến độ, thu đạt và vượt 100 % kế hoạch BHXH tỉnh giao.

Công tác quản lý đối tượng và chi trả chế độ: BHXH huyện Krông Bông thông qua Bưu điện huyện thực hiện việc chi trả trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng cho đối tượng và thực hiện giám sát thường xuyên và chặt chẽ, do vậy luôn đảm bảo việc chi đúng, đủ, kịp thời cho đối tượng.

Công tác giải quyết các chế độ ngắn hạn: Thực hiện kiểm tra hồ sơ chặt chẽ, tra cứu trước khi xét duyệt. Công tác chi trả chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, chế độ một lần cho đối tượng và người lao động đảm bảo đúng quy định không dây dưa chậm trễ gây phiền hà cho đối tượng.

Công tác in, cấp sổ bảo hiểm xã hội và thẻ bảo hiểm y tế: Bảo hiểm xã hội huyện Krông Bông đã phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện trong việc rà soát, lập danh sách để in và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng kịp thời. Ngoài ra, thông báo cho các đơn vị hết hạn thẻ bảo hiểm y tế trước 01 tháng để đơn vị lập danh sách đề nghị gia hạn thẻ BHYT.

Công tác giám định bảo hiểm y tế: Phân công một giám định viên thường trực tại Bệnh viện đa khoa huyện để quản lý, thẩm định việc sử dụng quỹ khám chữa bệnh và cùng tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong quá trình khám, điều trị cho bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế. Thực hiện tốt công tác giám định tập trung theo tỷ lệ, giám định theo tổ tại Bệnh viện đa khoa huyện và trạm y tế các xã, thị trấn. Đã đảm bảo đúng yêu cầu của Phòng Giám định tỉnh Đăk Lăk.

Về công tác phát triển BHYT HGĐ:

Thứ nhất, số người tham gia BHYT tăng qua từng năm trong giai đoạn 2021 – 2023. Năm 2023 tăng 13,85%% so với năm 2022 và 11,39% so với năm 2021. Tỷ lệ tăng này tương đối cao so với các năm trước.

Thứ hai, trung tâm y tế huyện, trạm y tế xã đã được nâng cấp trang thiết bị, tăng cường nhân lực cả về số lượng cũng như chất lượng.

Thứ ba, công tác thông tin, tuyên truyền về chính sách BHYT nói chung và chính sách BHYT HGĐ nói riêng đã được BHXH huyện Krông Bông triển khai bằng nhiều hình thức khác nhau từ huyện đến xã, thôn, buôn, tổ dân phố.

Thứ tư, Sự quan tâm chỉ đạo của Huyện ủy, UBND huyện đến công tác đẩy mạnh độ bao phủ BHYT nói chung và BHYT HGĐ nói riêng trên địa bàn nhằm đảm bảo mục tiêu bảo vệ sức khỏe và góp phần thực hiện an sinh xã hội. Điều này có sức ảnh hưởng nhằm lan tỏa đến người dân sinh sống trên địa bàn, đẩy mạnh công tác phát triển đối tượng tham gia BHYT HGĐ.

4.2. Những mặt hạn chế

Krông Bông là huyện nghèo của tỉnh, địa bàn rộng, giao thông đi lại khó khăn, thành phần dân cư đa dạng, trình độ dân trí của một bộ phận người dân còn thấp nên chưa có ý thức tự giác tham gia BHXH, BHYT, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn cao so với dân số toàn huyện gây ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách BHXH, BHYT.

Những năm gần đây, tình hình thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình sản xuất nông nghiệp và đời sống của bộ phận người dân, gây tác đông lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,

Ngoài ra, đại bộ phận các doanh nghiệp trên địa bàn huyện có quy mô sản xuất nhỏ lẻ nên rất khó trong công tác quản lý thực hiện chế độ chính sách BHYT cho người lao động. ý thức tuân thủ pháp luật về BHYTcủa một số chủ doanh nghiệp tư nhân chưa cao.

Về công tác phát triển BHYT HGD:

Thứ nhất, tỷ lệ bao phủ BHYT toàn dân cao nhưng tỷ lệ tham gia BHYT HGĐ mới chỉ đạt 11,33% năm 2023. Số người tham gia BHYT tại nhóm 3 và nhóm 4 chiếm đa số. Đối tượng nhóm 3 là nhóm Ngân sách nhà nước đóng gồm có người nghèo, người dân sống ở vùng đặc biệt khó khăn, bảo trợ xã hội…. Đối tượng thuộc nhóm 4 là nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng gồm những người thuộc hộ gia đình cận nghèo, học sinh, sinh viên, hộ gia đình nông lâm ngư nghiệp có mức sống trung bình. Đối tượng thuộc nhóm 5 là nhóm tham gia BHYT HGĐ, tức là tự đóng, không được nhận sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước.

Thứ hai, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHYT chưa đạt được hiệu quả chưa cao.

Thứ ba, tại một số nơi, nhận thức về vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền trong việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật về BHYT chưa thực sự đầy đủ, dẫn đến hiệu quả trong công tác chỉ đạo chưa cao.

Thư tư, Chất lượng khám chữa bệnh và dịch vụ y tế chưa đáp ứng nhu cầu KCB của nhân dân nhất là tuyến xã, thủ tục thanh toán chi phí KCB BHYT rườn rà, nhiều giấy tờ.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\BAO CAO 2024/ BÁ CÁO THUC TAP_ ĐƠN VỊ THỰC TẬP BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐĂK LĂK

BÁ CÁO THUC TAP_ ĐƠN VỊ THỰC TẬP BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG BÁ CÁO THUC TAP_ ĐƠN VỊ THỰC TẬP BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG BÁ CÁO THUC TAP_ ĐƠN VỊ THỰC TẬP BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG BÁ CÁO THUC TAP_ ĐƠN VỊ THỰC TẬP BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG BÁ CÁO THUC TAP_ ĐƠN VỊ THỰC TẬP BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG BÁ CÁO THUC TAP_ ĐƠN VỊ THỰC TẬP BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG BÔNG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *