Phát triển nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần bưu chính chi nhánh Viettel Đắk Nông

Phát triển nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần bưu chính chi nhánh Viettel Đắk Nông

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm – dịch vụ là vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp & được xem như là chìa khóa để thành công cho các DN . Trong bối cảnh ngày nay, sự tiến bộ về mặt công nghệ, dịch vụ mạng internet đã trở nên phổ biến và không thể thiếu đối với mọi người trong cuộc sống hàng ngày. Sự kiện gần đây là Việt Nam đã ghi danh trên bản đồ viễn thông thế giới và bản đồ internet toàn cầu. Qua đó cho thấy sự lớn mạnh của ngành viễn thông tại Việt Nam. Đặc biệt là khi có khá nhiều đối thủ cạnh tranh thì sự nghiên cứu về chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng của mỗi doanh nghiệp là vô cùng cần thiết để giữ chân khách hàng đã có cũng như lôi kéo những khách hàng tiềm năng.

Thực tế kinh doanh cho thấy, một DN nếu gia tăng được 5% khách hàng trung thành nhờ sự hài lòng của họ về sản phẩm, dịch vụ, thì lợi nhuận sẽ tăng lên được khoảng 25% đến 85% (Lê Văn Huy, 2017). Điều này cũng hoàn toàn đúng với ngành dịch vụ viễn thông di động ở nước ta, nơi đang được xem là một trong những thị trường có tiềm năng tăng trưởng bậc nhất châu Á. Sự khác biệt của dịch vụ viễn thông di động so với các ngành khác là ở chỗ: làm khách hàng thỏa mãn thì cần phải có những phương thức riêng gắn liền với chất lượng dịch vụ viễn thông di động được khách hàng cảm nhận rất dễ dàng. Khi không làm thỏa mãn sự hài lòng của khách hàng thì không những nhà cung cấp dịch vụ đó rất khó giữ được khách hàng hiện tại, mà còn đứng trước nguy cơ làm mất đi các khách hàng tiềm năng khác.

Vì vậy, các nghành dịch vụ không những phải đảm bảo tiêu chuẩn về chất lượng dịch vụ mà cả chất lượng phục vụ ngày càng đòi hỏi cao khi mà nhiều doanh nghiệp lựa chọn giải pháp thu hút thật nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ của mình mà quên mất việc giữ chân khách hàng hiện có của mình.

Xuất phát từ tầm quan trọng như vậy, tôi xin được lựa chọn đề tài : “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ internet tại Trung tâm viễn thông khu vực nam Đắk Lắk” làm đề tài luận văn.

Chất lượng dịch vụ internet tại Khu vực nam Đắk Lắk hiện nay đã đáp ứng sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng như thế nào? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ internet? Nghiên cứu này bước đầu khám phá sự ảnh hưởng của các yếu tố chất lượng dịch vụ tác động đến sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ internet tại thị trường Khu vực nam Đắk Lắk.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn tập trung 3 mục tiêu chính sau đây:

– Nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng. Tìm ra mô hình chỉ rõ mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ internet tại thị trường Khu vực nam Đắk Lắk.

– Xây dựng hệ thống thang đo và biến quan sát cho các nhân tố trong mô hình đánh giá.

– Đưa ra những hàm ý chính sách đối với cấp lãnh đạo Internet tại Khu vực nam Đắk Lắk, nhằm góp phần nâng cao mức độ hài lòng của KH.

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ internet tại Trung tâm viễn thông khu vực nam Đắk Lắk.

* Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu với những KH đang sử dụng dịch vụ internet tại thị trường Khu vực nam Đắk Lắk .

+ Phạm vi về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong khoảng từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2023.

1.4. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này tác giả đã kết hợp phương pháp định tính và định lượng.

– Phương pháp định tính: Qua việc thu thập thông tin, phát phiếu điều trả khảo sát.

– Phương pháp định lượng: Sử dụng công cụ SPSS để kiểm định mô hình.

1.5. Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận,bố cục đề tài gồm có 4 chương:

Chương 1: Tổng Quan nghiên cứu.

Chương 2: Cơ sở lý luận và các mô hình nghiên cứu thực tiễn.

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu.

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu.

Chương 5: Hàm ý chính sách và kiến nghị.

1.6. Tổng quan đề tài nguyên cứu

Phát triển nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần bưu chính chi nhánh Viettel Đắk Nông
Phát triển nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần bưu chính chi nhánh Viettel Đắk Nông

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC MÔ HÌNH

NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN

2.1. KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ VÀ DỊCH VỤ INTERNET

2.1.1. Khái niệm dịch vụ

Theo Từ điển tiếng Việt. Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công.

Theo Zeithaml& Britner (2000), “Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công vệc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”.

Theo Kotler & Armstrong (2004), “Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng”.

Theo ISO 8402, “Dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của bên cung ứng để đáp ứng nhu cầu khách hàng”.

Dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt, không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể như hàng hóa nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội. Dịch vụ có nhiều đặc tính khách với các loại hàng hoá khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất giữ. Những đặc tính này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường được.

2.1.2. Bản chất của dịch vụ

Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng. Sản phẩm của dịch vụ có thể thay đổi trong phạm vi của sản phẩm vật chất. Giá trị của dịch vụ gắn liền với lợi ích mà họ nhận được từ dịch vụ.

2.1.3. Đặc điểm của dịch vụ

Tính vô hình: Được thể hiện ở chỗ người ta không thể nào dùng các giác quan để cảm nhận được các tính chất cơ lý hóa của dịch vụ.

– Tính không đồng nhất: Khó có thể có một tiêu chuẩn chung nào để đánh giá được chất lượng của dịch vụ (thậm chí cùng một loại hình dịch vụ cũng không có tiêu chí để đánh giá chất lượng bởi vì chất lượng của sản phẩm nói chung sẽ được đánh giá trước tiên thể hiện qua chỉ số kỹ thuật, tuy nhiên vì dịch vụ mang tính vô hình nên rất khó có được những chỉ số kỹ thuật và ở đây chất lượng dịch vụ được thể hiện ở sự thỏa mãn, hài lòng của người tiêu dùng – nhưng sự hài lòng của người tiêu dùng cũng rất khác nhau, nó có thể thay đổi rất nhiều).

– Tính không thể tách rời: Dịch vụ thường được cung ứng và tiêu dùng một cách đồng thời, khác với hàng hoá vật chất thường phải sản xuất ra rồi nhập kho, phân phối qua nhiều nấc trung gian, rồi sau đó mới dến tay người tiêu dùng cuối cùng.

– Tính không lưu giữ được: là hệ quả của tính vô hình và không thể tách rời. Ở đây nhà cung cấp dịch vụ không cất trữ những dịch vụ nhưng họ cất trữ khả năng cung cấp dịch vụ cho những lần tiếp theo. Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp. Do vậy, dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi có nhu cầu thị trường thì đem ra bán.

– Tính không chuyển quyền sở hữu được: Khi mua một hàng hoá, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu hàng hoá mình đã mua. Khi mua dịch vụ thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ, được hưởng lợi ích mà dịch vụ mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi.

2.1.4.Khái niệm và quy chuẩn chất lượng dịch vụ Internet

2.1.5.1. Khái niệm dịch vụ Internet

Internet là “một hệ thống thông tin toàn cầu” có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau. Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa (giao thức IP). Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh nghiệp, của các viện nghiên cứu và các trường đại học, của người dùng cá nhân và các chính phủ trên toàn cầu. Internet cung cấp nhiều dịch vụ dùng để tạo, truy cập và trao đổi thông tin trên nhiều lĩnh vực khác nhau, từ nghiên cứu khoa học đến hoạt động giải trí, thương mại …

Dịch vụ Internet là những dịch vụ được cung cấp trên Internet bao gồm dịch vụ truy nhập Internet và dịch vụ kết nối Internet. Trong đó: Dịch vụ truy nhập Internet là dịch vụ cung cấp cho người sử dụng Internet khả năng truy nhập đến Internet; Dịch vụ kết nối Internet là dịch vụ cung cấp cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng viễn thông khả năng kết nối với nhau để chuyển tải lưu lượng Internet.

2.1.4.2. Quy chuẩn chất lượng dịch vụ Internet

  1. Trên thế giới:

Hiện tại, một số khuyến nghị về quy chuẩn chất lượng dịch vụ Internet đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới được tham vấn bởi Liên hiệp Viễn thông Quốc tế hoặc Liên minh Viễn thông Quốc tế, viết tắt là ITU, là một tổ chức chuyên môn của Liên Hiệp Quốc nhằm tiêu chuẩn hoá viễn thông quốc tế.

Liên minh viễn thông quốc tế (ITU) là tổ chức quốc tế liên chính phủ được thành lập năm 1932 tại Hội nghị viễn thông thế giới ở Madrid (Tây Ban Nha) để thay thế Liên minh điện báo quốc tế được thành lập năm 1865 tại Pari (Pháp). Từ ngày 01/01/1954, hoạt động của ITU được điều chỉnh bằng Công ước được kí kết tại Hội nghị quốc tế Ở Buênôt Airet (Buenos Aires; Achentina) ngày 22/12/1952. Ngày 15/11/1946. Hiệp định điều chỉnh quan hệ giữa Liên hợp quốc và ITU với tự cách là tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc được Đại hội đồng Liên hợp quốc biểu quyết tán thành. Hiện nay ITU có 189 nước thành viên. Mục đích của ITU là duy trì và phát triển sự hợp tác quốc tế để sử dụng, khai thác hợp lí, hiệu quả mọi hình thức viễn thông, tăng cường và mở rộng việc sử dụng viễn thông, phối hợp hoạt động của các quốc gia trong lĩnh vực viên thông…Một trong các Tôn chỉ mục đích của ITU là: Tạo lập tiêu chuẩn viễn thông thế giới, nhưng vẫn bảo đảm chất lượng dịch vụ viễn thông. Theo đó, một số khuyến nghị về quy chuẩn chất lượng dịch vụ Internet của ITU đưa ra như:

– Khuyến nghị ITU-T G.1000 (2001)

– Khuyến nghị Y.1540 (2007)

– Khuyến nghị ITU-T Y. 1541 (2011)

  1. Tại Việt Nam

Do ý nghĩa quan trọng của dịch vụ truy nhập Internet nói chung và dịch vụ truy nhập Internet cố định băng rộng nói riêng, các cơ quan chức năng Việt Nam rất quan tâm đến vấn đề quản lý chất lượng dịch vụ này. Theo đó, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành một số quy định và tiêu chuẩn liên quan đến chất lượng dịch vụ truy nhập internet cố định băng rộng. Hiện tại, một số quy định và tiêu chuẩn đã được ban hành và áp dụng là:

– Quyết định số 27/2008/QĐ-BBTTTT của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ngày 22 tháng 04 năm 2008 ban hành Danh mục các dịch vụ viễn thông bắt buộc quản lý chất lượng. Trong quyết định này, dịch vụ truy nhập Internet ADSL và dịch vụ kết nối Internet là các dịch vụ viễn thông bắt buộc quản lý chất lượng.

– Thông tư số 05/2012/TT của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ngày 28 tháng 05 năm 2012 ban hành quy định về Phân loại các dịch vụ viễn thông. Trong thông tư này, dịch vụ truy nhập Internet cố định băng rộng đã được quy định cụ thể có tốc độ tải thông tin xuống từ 256kb/s trở lên.

– QCVN 34:2011/BTTTT: “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dịch vụ truy nhập internet ADSL”.

– Quyết định số 24/2007/QĐ-BKHCN ngày 28 tháng 09 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành quy định về chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy và công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy.

– QCVN 34:2019/BTTTT: “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia  về chất lượng dịch vụ truy nhập internet mặt đất”.

2.2. CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ

2.2.1. Khái niệm và đặc điểm

Parasuraman & cộng sự (1988, 1991), Parasuraman & ctg (1988, trang 17) định nghĩa “Chất lượng dịch vụ là mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ”.

Đặc điểm của chất lượng dịch vụ: tính vượt trội, tính đặc trưng của sản phẩm, tính cung ứng, tính thỏa mãn nhu cầu, tính tạo ra giá trị.

2.2.2. Các nhân tố quyết định chất lượng dịch vụ

Năm 1985, Parasuraman đã đưa ra 10 nhân tố quyết định chất lượng dịch vụ là: khả năng tiếp cận, chất lượng thông tin liên lạc, năng lực chuyên môn, phong cách phục vụ, tôn trọng khách hàng, đáng tin cậy, hiệu quả phục vụ, tính an toàn, tính hữu hình, am hiểu khách hàng.

Đến năm 1988, ông đã khái quát hóa thành 5 nhân tố cụ thể như sau: sự tin cậy, hiệu quả phục vụ, sự hữu hình, sự đảm bảo, sự cảm thông.

2.2.3. Mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ

* Mô hình năm khoảng cách chất lượng DV (Parasuraman &ctg, 1985)

Khoảng cách thứ nhất xuất hiện khi có sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ và cảm nhận của các nhà quản trị công ty cung ứng dịch vụ về kỳ vọng của khách hàng.

Khoảng cách thứ hai xuất hiện khi công ty dịch vụ gặp khó khăn trong việc chuyển đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính của chất lượng.

Khoảng cách thứ ba xuất hiện khi nhân viên phục vụ không chuyển giao dịch vụ cho khách hàng theo những tiêu chí đã được xác định.

Khoảng cách thứ tư xuất hiện do hoạt động quảng cáo và truyền thông của công ty dịch vụ tác động vào kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ.

Khoảng cách thứ năm xuất hiện khi có sự khác biệt giữa chất lượng được kỳ vọng bởi khách hàng và chất lượng mà họ cảm nhận được. Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào khoảng cách thứ năm này.

Tóm lại, chất lượng dịch vụ là hàm số của khoảng cách thứ năm. Khoảng cách thứ năm này phụ thuộc vào các khoảng cách trước đó. Như vậy, mô hình chất lượng dịch vụ có thể được biểu diễn như sau:

CLDV = f (KC5) = f (KC1, KC2, KC3, KC4)

+ CLDV: là chất lượng dịch vụ.

+ KC1, KC2, KC3, KC4, KC5: là các khoảng cách 1, 2, 3, 4 và 5.

* Mô hình chất lượng kỹ thuật/ chất lượng chức năng của Gronroos (1983):

Mô hình chất lượng dịch vụ của Groncroos (1983) cho rằng chất lượng dịch vụ được xem xét dựa trên hai tiêu chí là chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng.

2.2.4. Năm thành phần của chất lượng dịch vụ

Parasuraman & ctg (1988) đã kết luận chất lượng dịch vụ bao gồm 5 thành phần cơ bản sau: phương tiện hữu hình, tin cậy, đáp ứng, năng lực phục vụ, đồng cảm.

2.2.5. Chất lượng dịch vụ ngành viễn thông di động – Tiêu chuẩn ngành TCN 68-186:2006

“Chất lượng dịch vụ là kết quả tổng hợp của các chỉ tiêu thể hiện mức độ hài lòng của người sử dụng dịch vụ đối với dịch vụ đó”. Bao gồm: Chỉ tiêu chất lượng kỹ thuật; Chỉ tiêu chất lượng phục vụ.

2.3. LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG SỰ HÀI LÒNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ

2.3.1. Mô hình lý thuyết về chỉ số hài lòng của khách hàng (CSI)

Chỉ số hài lòng của khách hàng (Customer Satisfaction Index –CSI) được ứng dụng nhằm đo lường sự thõa mãn của khách hàng đối với các ngành, các doanh nghiệp ở nhiều quốc gia phát triển trên thế giới. Xây dựng và ứng dụng chỉ số CSI của các ngân hàng giúp cho việc xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin về sự hài lòng của khách hàng, làm cơ sở cho các việc hoạch định chiến lược cạnh tranh, tiếp thị, xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại nhằm gia tăng năng lực cạnh tranh của ngành khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Chỉ số hài lòng của khách hàng bao gồm các nhân tố (biến), mỗi nhân tố được cấu thành từ nhiều yếu tố cụ thể (indicators, items) đặc trưng của sản phẩm hoặc dịch vụ. Sự hài lòng khách hàng (customer satisfaction) được định nghĩa như là một sự đánh giá toàn diện về sự sử dụng một dịch vụ hoặc hoạt động sau bán của doanh nghiệp và đây chính là điểm cốt lõi của mô hình CSI. Xung quanh biến số này là hệ thống các mối quan hệ nhân quả (cause and effect) xuất phát từ những biến số khởi tạo như sự mong đợi (expectations) của khách hàng, hình ảnh (image) doanh nghiệp và sản phẩm, chất lượng cảm nhận (perceived quality) và giá trị cảm nhận (perceived quality) về sản phẩm hoặc dịch vụ kèm theo đến các biến số kết quả của sự hài lòng như sự trung thành (customer loyalty) hay sự than phiền của khách hàng (customer complaints).

– Mô hình CSI của Fornell et al (ACSI).

Mô hình chỉ số hài lòng của Mỹ (ACSI), giá trị cảm nhận chịu tác động bởi chất lượng cảm nhận và sự mong đợi của khách hàng. Khi đó, sự mong đợi của khách hàng có tác động trực tiếp đến chất lượng cảm nhận. Trên thực tế, khi mong đợi càng cao, có thể tiêu chuẩn về chất lượng cảm nhận của khách hàng đối với sản phẩm càng cao hoặc ngược lại. Do vậy, yêu cầu về chất lượng sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho khách hàng cần phải đảm bảo và được thỏa mãn trên cơ sở sự hài lòng của họ. Sự hài lòng của khách hàng được tạo thành trên cơ sở chất lượng cảm nhận, sự mong đợi và giá trị cảm nhận, nếu chất lượng và giá trị cảm nhận cao hơn sự mong đợi sẽ tạo nên lòng trung thành đối với khách hàng, trường hợp ngược lại, đấy là sự phàn nàn hay sự than phiền về sản phẩm mà họ tiêu dùng.

Sự than phiền (Complaint)

Sự mong đợi (Expectations)

Chất lượng cảm nhận (Perceived quality)

Sự trung thành (Loyalty)

Hình2.1: Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ

(American Customer Satisfaction Index – ACSI)

– Mô hình chỉ số hài lòng của Châu Âu (ECSD) :

Mô hình chỉ số hài lòng châu Âu (ECSI) có một số khác biệt nhất định. So với ACSI, hình ảnh của sản phẩm, thương hiệu có tác động trực tiếp đến sự mong đợi của khách hàng. Khi đó, sự hài lòng của khách hàng là sự tác động tổng hòa của 4 nhân tố hình ảnh, giá trị cảm nhận, chất lượng cảm nhận về cả sản phẩm hữu hình và vô hình. Thông thường, chỉ số ACSI thường áp dụng cho lĩnh vực công còn chỉ số ECSI thường ứng dụng đo lường các sản phẩm, các ngành.

Chất lượng cảm nhận về – sản phẩm (Perceved quality-Prod)

– dịch vụ (Perceved quality–Serv)

Sự trung thành (Loyalty)

Hình ảnh (Image)

Sự mong đợi (Expectations)

Hình 2.2: Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng các quốc gia EU

(European Customer Satisfaction Index – ECSI)

2.3.2. Mô hình SERVQUAL

a) Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự (1985)

Mô hình chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự (1985) được xây dựng dựa trên phân tích các khoảng cách chất lượng dịch vụ.

Mô hình chất lượng dịch vụ theo các nhà nghiên cứu này có thể được biểu diễn như sau:

CLDV = F((KC_5 = f (KC_1, KC_2, KC_3, KC_4))

Trong đó, CLDV là chất lượng dịch vụ và KC_1, KC_2, KC_3, KC_4, KC_5 là các khoảng cách chất lượng 1, 2, 3, 4, 5.

Mô hình chất lượng dịch vụ của Prasuraman & ctg (1985) cho ta bức tranh tổng thể về chất lượng dịch vụ. Parasuraman & ctg (1985) cho rằng, bất kỳ dịch vụ nào, chất lượng dịch vụ cảm nhận bởi khách hàng có thể mô hình thành 10 thành phần, đó là: Tin cậy, Đáp ứng, Năng lực phục vụ, Tiếp cận, Lịch sự, Thông tin, Tín nhiệm, An toàn, Hiểu biết khách hàng, Phương tiện hữu hình.

Đến năm 1988, mô hình này được đặt tên là mô hình SERVQUAL, dùng để đánh giá chất lượng dịch vụ và rút bớt 10 đặc tính chất lượng dịch vụ thành 5 đặc tính chất lượng dịch vụ: Tin cậy, Đáp ứng, Năng lực phục vụ, Đồng cảm, Phương tiện hữu hình.

b) Thang đo SERVQUAL

Dựa trên định nghĩa truyền thống về chất lượng dịch vụ, Parasuraman đã xây dựng thang đo SERVQUAL để đánh giá chất lượng dịch vụ gồm 22 biến thuộc 5 thành phần để đo lường chất lượng kỳ vọng và dịch vụ cảm nhận: Sự tin tưởng (reliability); Sự phản hồi (responsiness); Sự bảo đảm (Năng lực phục vụ) (assurance); Sự đồng cảm (empathy); Sự hữu hình (tangibility).

Phương pháp cơ bản được vận dụng trong SERVQUAL là phân tích nhân tố – một phương pháp phân tích thống kê cho phép thu gọn dữ liệu đa biến ban đầu để hình thành các nhân tố trong đánh giá của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Bộ thang đo gồm hai phần, mỗi phần có 22 phát biểu. Phần thứ nhất nhằm xác định kỳ vọng của khách hàng đối với loại dịch vụ của doanh nghiệp nói chung. Phần thứ hai xác định cảm nhận của khách hàng đối với việc thực hiện dịch vụ của doanh nghiệp khảo sát.

2.3.3. Mô hình SERVPERF của Cronin & Taylor (1992)

Mô Mô hình SERVPERF được Cronin & Taylor (1992) giới thiệu, phát triển dựa trên nền tảng của mô hình SERVQUAL, nhưng đo lường chất lượng dịch vụ dựa trên đánh giá chất lượng dịch vụ thực hiện được chứ không phải là khoảng cách giữa chất lượng kỳ vọng và chất lượng cảm nhận. Do có xuất xứ từ thang đo của mô hình SERVQUAL, các thành phần và biến quan sát của mô hình SERVPERF giống như SERVQUAL. Bộ thang đo cũng sử dụng 22 mục phát biểu tương tự như phần hỏi về cảm nhận của khách hàng trong mô hình SERVQUAL, bỏ qua phần hỏi về kỳ vọng.

2.3.4. Mô hình đánh giá chất lượng kỹ thuật/chức năng của của Gronroos (1984)

Theo mô hình này, chất lượng dịch vụ được đánh giá bằng cách so sánh giữa giá trị mà khách hàng mong đợi trước khi sử dụng dịch vụ và giá trị mà khách hàng nhận được khi sử dụng dịch vụ.

Để đo lường chất lượng dịch vụ, Gronroos đưa ra ba tiêu chí: chất lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng và hình ảnh.

– Chất lượng kỹ thuật: mô tả dịch vụ được cung cấp là gì và chất lượng mà khách hàng nhận được từ dịch vụ.

– Chất lượng chức năng: mô tả dịch vụ được cung cấp thế nào hay làm thế nào khách hàng nhận được kết quả chất lượng kỹ thuật.

– Hình ảnh: là yếu tố rất quan trọng, được xây dựng chủ yếu dựa trên chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng của dịch vụ

Ngoài ra còn một số yếu tố khác như truyền thống, truyền miệng, chính sách giá, PR).

2.4. Tổng quan tình hình nghiên cứu các đề tài có liên quan

2.5.1. Nghiên cứu nước ngoài

+ Nghiên cứu của Simon Morgan và Krishna Govender (2017): “Khám phá lòng trung thành của khách hàng trong lĩnh vực viễn thông di động Nam Phi”.

+ Nghiên cứu của Masoodul Hassan, Saad Hassan, Muhammad Saqib Nawaz và Ibrahom AKSEL (2013): “Đo lường sự hài lòng và trung thành của khách hàng thông qua sự công bằng dịch vụ, chất lượng dịch vụ và công bằng giá cả: Nghiên cứu của ngành viễn thông di động Pakistan”.

+ Nghiên cứu của Moon – Koo Kim, Myeong – Cheol Park và Dong – Heon Jeong (2004): “Ảnh hưởng của sự hài lòng của khách hàng và rào cản chuyển đổi đối với lòng trung thành của khách hàng đối với các dịch vụ viễn thông di động của Hàn Quốc”.

2.4.2. Nghiên cứu trong nước

+ Võ Xuân Vinh và Phạm Thị Thùy Trang (2011): “Các yếu tố tác động tới sự thỏa mãn của khách hàng sử dụng dịch vụ MegaVNN tại TP. Hồ Chí Minh”.

+ Hà Nam Khánh Giao và Đồng Thanh Hiền (2018): “Sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ 4G của Vinaphone tại TP. Hồ Chí Minh”.

+ Tôn Đức Sáu và Lê Văn Huy (2018): “Đo lường chỉ số hài lòng khách hàng và các yếu tố ưu tiên cải tiến chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực viễn thông di động: Minh họa thực tiễn tại các tỉnh miền Trung”.

+ Hà Nam Khánh Giao và Trần Hữu Ái (2012): “Tác động của chất lượng dịch vụ đến lòng trung thành của khách hàng sử dụng ADSL tại TP. Hồ Chí Minh”.

+ Phan Thị Kim Tuyến (2012): “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ internet của Công ty Viễn thông Thừa Thiên Huế”.

+ Hồ Minh Sánh (2009): “Đo lường chất lượng dịch vụ, sự thỏa mãn và lòng trung thành của khách hàng đối với dịch vụ ADSL”.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Chương 1 tác giả tập trung tổng quan các nghiên cứu về chất lượng dịch vụ, sự hài lòng về chất lượng dịch vụ. Các kết luận của chương 1 sẽ là nền tảng để xây dựng thiết kế nghiên cứu cho chương 2.

Về chất lượng dịch vụ, tác giả đã tổng quan các khái niệm về dịch vụ, chất lượng dịch vụ, các yếu tố cấu thành, nhân tố ảnh hưởng. Mặc dù còn các quan điểm khác nhau, tuy nhiên khái niệm chất lượng dịch vụ là những gì khách hàng cảm nhận được chứ không phải nhà dịch vụ công bố. Đây cũng là nền móng cho sự nghiên cứu trong các chương tiếp theo.

Về sự hài lòng, tác giả đã tổng quan khái niệm sự hài lòng, các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng. Qua đó phân tích mối quan hệ giữa sự hài lòng của khách hàng và chất lượng dịch vụ. Để từ đó đưa ra nền tảng để nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ sau này.

CHƯƠNG 3

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1.1. Tổng quan về Trung tâm viễn thông khu vực nam Đắk Lắk- trụ sở Khu vực nam Đắk Lắk

a. Lịch sử hình thành và phát triển

b. Chức năng, nhiệm vụ

c. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý

3.1.2 Thực trạng hoạt động cung cấp dịch vụ internet tại Khu vực nam Đắk Lắk

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE CUONG CHI TIET/ Phát triển nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần bưu chính chi nhánh Viettel Đắk Nông

Phát triển nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần bưu chính chi nhánh Viettel Phát triển nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần bưu chính chi nhánh Viettel Phát triển nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần bưu chính chi nhánh Viettel

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *